Khái niệm thị trường chứng khoán • Thị trường chứng khoán Securities Market là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các trái phiếu, cổ phiếu v
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán
- Giữa thế kỷ 15 ở Tây phương, tại những thành phố trung tâm buôn bán, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để bàn bạc về việc mua bán, trao đổi các loại hàng hóa (chủ yếu là nông sản, khoáng sản), ngoại tệ và giá khoán động sản
- Những cuộc bàn bạc này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người gia tăng, rồi hình thành một "khu chợ riêng"
- Tại những cuộc bàn bạc này, họ trao đổi, thương lượng, nhưng chỉ là những lời nói miệng với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ, hàng mẫu nào trong tay cả Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các "hợp đồng" mua bán, trao đổi thực hiện ngay, và những hợp đồng cho tương lai 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm sau mới thực hiện
- Cuối thế kỷ 15, "khu chợ riêng" trở thành một thị trường" Ở đó họ thống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng Dần dần những quy ước đó được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung
- Giao lưu kinh tế ngày càng phát triển, những phiên chợ cách nhau cả tháng không còn phù hợp, họ đã rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày
- Phiên chợ được diễn ra đầu tiên vào năm 1453 tại một lữ điểm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Tại lữ điểm Vanber có một bảng hiệu hình 3 túi da với một từ tiếng Pháp "Bourse" tức là "Mậu dịch trường" hay còn gọi là "Sở giao dịch"
- "Mậu dịch trường" là một bảng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho 3 nội dung: Mậu dịch trường hàng hóa, Mậu dịch trường ngoại tệ và Mậu dịch trường giá khoán động sản
Trang 2- Vào năm 1547, thành phố Bruges mất đi sự phồn vinh do eo biển Even
bị cát lấp, tàu bè ra vào khó khăn, "Mậu dịch trường" ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers, một hải cản lớn của Bỉ thời đó
- Mậu dịch trường Auvers phát triển rất nhanh Giữa thế kỷ 16, viên quan đại thần tài chính Anh quốc Theomes Gresham đến đây thị sát và sau đó đã thiết lập một "Mậu dịch trường" tại London, nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán London Các "Mậu dịch trường" khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu
→ Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều bước thăng trầm Lịch sử đã ghi nhận 2 đợt khủng hoảng lớn, đó là khi các thị trường chứng khoán lớn ở Mỹ, Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản sụp đổ chỉ trong vài giờ vào
"ngày thứ năm đen tối", 29/10/1929 và "ngày thứ hai đen tối" 19/10/1987 Song, trải qua các cuộc khủng hoảng, cuối cùng thị trường chứng khoán lại được phục hồi và tiếp tục phát triển, trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
II Khái niệm và phân loại thị trường chứng khoán
1 Khái niệm thị trường chứng khoán
• Thị trường chứng khoán (Securities Market) là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các trái phiếu,
cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh - hợp đồng tương lai, quyền chọn, chứng quyền, chứng khế…
• Theo Longman giải thích, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán theo những nguyên tắc cho trước
+ Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng
+ Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu nó đối với tổ chức phát hành
2
Trang 32 Phân loại thị trường chứng khoán
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, thị trường chứng khoán có thể được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau Thông thường ta có thể xem xét các cách thức
cơ bản là: phân loại theo hàng hoá, phân loại theo quá trình luân chuyển vốn, phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường
a Phân loại theo hàng hoá
+ Thị trường Trái phiếu (Bond Markets): là thị trường mà hàng hoá được
mua bán tại đó là trái phiếu
Trái phiếu là công cụ nợ Nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức
có hoàn trả cả gốc lẫn lãi Người cho vay không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành có trách nhiệm hoàn trả cho trái chủ theo cam kết đã được xác định trong hợp đồng vay Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trung hạn hay dài hạn Trái phiếu cho lợi tức ổn định
+ Thị trường Cổ phiếu (Stock Markets): là nơi giao dịch mua bán, trao
đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông
Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình
Hàng hoá trên thị trường này là: cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư
Chứng chỉ quỹ đầu tư do Quỹ đầu tư (tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp) phát hành Ở Việt Nam có 1 loại chứng chỉ quỹ đầu tư là VF1 (Vut Fund Management), ở TP HCM có: 49 loại cổ phiếu và 1 loại VF1
Cổ phiếu có thời gian đáo hạn là không xác định Sự tồn tại của cổ phiếu
là sự tồn tại của công ty (công ty còn cổ phiếu còn, công ty mất cổ phiếu mất)
Cổ phiếu cho một lợi tức không ổn định vì cổ đông có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như tài sản của công ty khi tài sản này được đem bán
+ Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivative Markets): là nơi các
chứng khoán phái sinh được mua và bán
Trang 4Hàng hoá trên thị trường này là loại chứng khoán phái sinh từ 2 loại chứng khoán gốc cổ phiếu và trái phiếu Chứng khoán phái sinh phát hành kèm
theo với cổ phiếu (→ Phân biệt giữa Trái phiếu và Cổ phiếu?)
b Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
+ Thị trường sơ cấp (Primary Market): là nơi mua bán các loại chứng
khoán phát hành lần đầu ra công chúng
Tại thị trường này, giá của chứng khoán là giá phát hành Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành (Chính phủ
có thêm nguồn thu ngân sách, DN huy động thêm vốn đầu tư)
+ Thị trường thứ cấp (Secondary Market): là nơi mua bán các loại chứng
khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội
Như vậy, TT sơ cấp và TT thứ cấp có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau Thị trường sơ cấp tồn tại thì thị trường thứ cấp mới tồn tại Thị trường thứ cấp phát triển sẽ thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển: tạo ra tính thanh khoản (tính lỏng) cho các loại chứng khoán của thị trường sơ cấp, thúc đẩy các doanh nghiệp phát hành chứng khoán
Tóm lại: Hai thị trường này đều quan trọng và mục đích của việc hình
thành thị trường chứng khoán là để huy động vốn Trên thực tế, thị trường sơ cấp là nơi để các doanh nghiệp huy động vốn Như vậy, vốn mới thực sự đi từ nơi có đến nơi cần vốn (từ tiết kiệm đến đầu tư), còn thị trường thứ cấp chỉ là nơi vốn hoạt động từ nhà đầu tư này đến nhà đầu tư khác (vốn vận động trên TT thứ cấp là tư bản giả, không tác động đến việc tích tụ và tập trung vốn) Vì vậy, cần phát triển thị trường sơ cấp hơn
(→ Hãy cho biết mqhệ giữa TT sơ cấp với TT thứ cấp?)
4
Trang 5c Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường
+ Sở giao dịch chứng khoán (Stock Exchange): là thị trường chứng khoán
tập trung, là nơi các chứng khoán được giao dịch mua bán tại một địa điểm nhất định
Sở giao dịch chứng khoán được quản lý chặt chẽ bởi Uỷ ban chứng khoán quốc gia, các doanh nghiệp và các nhà đầu tư muốn mua và bán chứng khoán phải đăng ký tại đây, tức là chỉ có các loại chứng khoán đủ tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch tại đây Ở Việt Nam chỉ mới có trung tâm giao dịch chứng khoán
(CK đủ tiêu chuẩn niêm yết căn cứ vào: Vốn điều lệ của công ty, tình hình tài chính của công ty, điều kiện hoạt động của công ty…)
+ Thị trường OTC (Over the Counter Market): là thị trường phi tập trung,
trên thị trường này chứng khoán không được giao dịch mua bán tại 1 địa điểm tập trung mà nó diễn ra ở các sàn giao dịch của các công ty chứng khoán Thị trường OTC là một thị trường có tổ chức (không phải là thị trường chợ đen) dành cho những chứng khoán không niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
Theo định hướng Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ trở thành thị trường OTC trong tương lai
(Thị trường "chợ đen" chỉ những cửa hàng vàng bạc, những điểm trao đổi
tự phát như Bờ Hồ, phố Hà Trung ở Hà Nội Thị trường chính thức qua các điểm giao dịch của hệ thống ngân hàng, cửa hàng vàng bạc của các doanh nghiệp nhà nước
Nhưng tỷ giá giao dịch của hai thị trường luôn chênh lệch quá nhiều Tỷ giá trên thị trường ngân hàng luôn thấp hơn tỷ giá tự do Chính vì thế, hầu hết người có ngoại tệ, những người đi nước ngoài về đều ra phố Hà Trung, điểm
"chợ đen" nổi tiếng nhất của Hà Nội Ngược lại, nếu mua ngoại tệ hay vàng, người ta lại đến ngân hàng để được giá rẻ hơn chợ đen.)
+ Thị trường tự do: là nơi diễn ra giao dịch mua và bán bất kỳ loại chứng
khoán nào tại bất kỳ nơi đâu vào bất kỳ thời gian nào
Trang 6III Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán
(→ Có những chủ thể nào tham gia vào TTCK?)
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau:
+ Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
+ Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
2 Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK.+ Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận
+ Nhà đầu tư có tổ chức: là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các tổ chức này có các bộ phận chức năng bao gồm các chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa
ra các quyết định đầu tư
3 Các tổ chức có liên quan đến TTCK
+ Cơ quan quản lý Nhà nước: là những cơ quan do Chính phủ thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và đảm bảo cho nền kinh tế TTCK phát triển bền vững
+ Sở giao dịch chứng khoán: ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và Uỷ ban chứng khoán
+ Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán: là tổ chức bao gồm các công ty chứng khoán được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
6
Trang 7+ Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán.
Trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán
+ Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch
vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm lực chính của tổ chức phát hành cho các nhà đầu tư (quyết định mua hay không mua chứng khoán bằng hệ số tín nhiệm)
IV Chức năng của thị trường chứng khoán
(→ TTCK có những chức năng gì?)
1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng
khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công
chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú, phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia
3 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá chứng khoán tăng cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm cho thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK là phong vũ biểu của nền kinh tế, là công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô (Chính phủ mua và bán trái phiếu để tạo nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát, ngoài ra cũng có thể sử dụng một
Trang 8số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối)
V Ưu điểm của thị trường chứng khoán
(→ Hãy cho biết những ưu điểm của TTCK?)
1 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK các nhà đầu tư
có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư, là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu
tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường
2 Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp:
+ Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá, so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
+ Sự biến động không ngừng của giá chứng khoán, đặc biệt là giá của cổ phiếu, nhà đầu tư có thể đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan và khoa học tại bất kỳ thời điểm nào
+ Đối với các công ty niêm yết, nghĩa vụ công khai thông tin trên TTCK, giúp các nhà đầu tư, các nhà quản lý thị trường có thể đánh giá sự tăng trưởng ổn định hay suy thoái bất ổn định của các công ty
3 Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển:
+ TTCK hỗ trợ chương trình cổ phần hoá, việc thành lập và phát triển của công ty cổ phần qua việc quảng bá thông tin, định giá doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán một cách nhanh chóng, tạo tính thanh khoản cho chúng, dẫn đến thu hút các nhà đầu tư góp vốn vào công
ty cổ phần
8
Trang 9+ Chính sự phát triển của mô hình công ty cổ phần làm phong phú, đa dạng các loại hàng hoá trên TTCK, thúc đẩy sự sôi động của TTCK.
+ Có thể nói TTCK và công ty cổ phần là 2 định chế song hành hỗ trợ nhau cùng phát triển
4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: TTCK không những thu hút các nguồn
vốn trong nội địa mà còn giúp Chính phủ và doanh nghiệp có thể phàt hành chứng khoán ra thị trường vốn quốc tế để thu hút thêm ngoại tệ
VI Một số hoạt động thiếu minh bạch trên thị trường chứng khoán
Tác động của TTCK được ví như con dao hai lưỡi Một mặt nó là yếu tố quan trọng thiết yếu cho sự phát triển của nền kinh tế, mặt khác nếu không vận hành đúng quy luật nó sẽ gây nên những tác động tiêu cực trên TTCK Sau đây
là một số hành vi tiêu cực khá phổ biến trên các TTCK:
1 Đầu cơ chứng khoán, lũng đoạn thị trường: Các nhà đầu tư cấu kết với
nhau để mua hoặc bán chứng khoán với số lượng lớn gây nên cung hay cầu giả tạo, làm giá cổ phiếu tăng hay giảm đột biến lũng đoạn thị trường
2 Bán khống: Là việc các nhà đầu tư bán chứng khoán mà họ chưa có quyền
sở hữu Thực tế, việc bán khống đem lại lợi nhuận rất cao nếu họ tiên đoán đúng xu hướng của thị trường Nhưng đây là hành vi lũng đoạn thị trường nếu nó được thực hiện bởi sự cấu kết của nhiều người Mua bán khống với số lượng lớn tạo ra cung cầu giả tạo về chứng khoán gây ra khủng hoảng thị trường tác hại xấu đến nền kinh tế
3 Mua bán nội gián: Là hành vi của những kẻ lợi dụng quyền hành hay sự
ưu tiên trong việc nắm giữ những thông tin nội bộ của một công ty có phát hành chứng khoán ra thị trường để cố tình mua vào hay bán ra cổ phiếu của công ty cổ phần có báo giá trên thị trường Sau khi thông tin được công bố rộng rãi công khai thì sẽ có sự thay đổi lớn về giá cổ phiếu, đây là thời cơ tốt cho những kẻ mua bán nội gián kiếm được lợi nhuận lớn, nhưng nó đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc công bằng về công khai thông tin cho mọi nhà đầu tư trên TTCK
4 Những hành vi làm thiệt hại lợi ích người đầu tư:
Trang 10+ Làm trái lệnh đặt mua, bán của nhà đầu tư.
+ Không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định
+ Tự ý mua, bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng hoặc mượn danh nghĩa của khách hàng để mua, bán chứng khoán
+ Các hành vi khác làm thiệt hại đến lợi ích người đầu tư
5 Xung đột quyền lực trong tổ chức: làm thiệt hại cho quyền lợi của các cổ
đông
6 Thông tin sai sự thật: Là một hành vi thiếu đạo đức nhằm mục đích làm
cho giá cổ phiếu của công ty khác sụt giảm hoặc giá cổ phiếu của công ty mình được tăng cao do việc phao tin đồn thất thiệt trên thị trường Do vậy, các công ty niêm yết cần phải thường xuyên cập nhật thông tin, thông tin đầy đủ, chính xác nếu không sẽ làm thiệt hại lợi ích nhà đầu tư
và gây rối loạn thị trường Như vậy, công ty đó sẽ bị xử lý thích đáng như đình chỉ niêm yết, huỷ bỏ niêm yết
VD: Ngày 30/12/2008 có một nguồn thông tin về công ty Chứng khoán
VN & INDEX rằng: Công ty đang gặp khó khăn và sắp có khả năng bị phá sản, gây tâm lý bất an cho các nhà đầu tư Đây là thông tin giả tạo, hiện chưa rõ nguồn tin từ đâu, nhưng hành động này là thông tin sai sự thật
10
Trang 11CHƯƠNG 2 CÔNG TY CỔ PHẦN
I Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần
1 Khái niệm
Công ty cổ phần (Joint stock Company) ra đời là do yêu cầu tất yếu khách quan của nền đại công nghiệp - cơ khí, với trình độ khoa học - kỹ thuật cao Công ty cổ phần có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường
Theo Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần (CTCP) là doanh nghiệp trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phiếu của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
2 Đặc điểm
• Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người chủ sở hữu vốn cổ phần gọi là cổ đông Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần
• Công ty có thể phát hành nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông (cổ phần thường) Ngoài ra, công ty có thể phát hành cổ phần ưu đãi: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi điều lệ
• Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần ưu đãi của công đông sáng
Trang 12lập công ty trong 3 năm đầu → cho phép nhà đầu tư có khả năng chuyển đổi hình thức và mục tiêu đầu tư một cách linh hoạt.
• Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty → cổ đông chỉ chịu trách nhiệm pháp lý hữu hạn đối với phần vốn góp của mình vào công ty (khác với tính chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân trong doanh nghiệp tư nhân)
• Công ty được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng → khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn và rộng rãi trong công chúng
• Cổ đông của CTCP tối thiểu phải là 3 và không hạn chế số lượng tối đa (khác với công ty trách nhiệm hữu hạn là không được vượt quá 50 thành viên) Vì CTCP được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng nên số lượng cổ đông của CTCP thường rất đông
II Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của công ty cổ phần
1 Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần
Công ty cổ phần có đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc (tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát
• Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần Bao gồm các loại sau:
+ Đại hội đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông qua điều lệ công ty
+ Đại hội đồng thường kỳ được tiến hành hàng năm từ một đến hai lần, được triệu tập vào cuối mỗi năm tài chính hoặc bất kỳ lúc nào mà hội đồng quản trị hoặc kiểm soát viên thấy cần thiết để giải quyết các công việc của công ty.+ Đại hội đồng bất thường được triệu tập để sửa đổi điều lệ công ty hoặc thảo luận những vấn đề khẩn cấp có nguy cơ đe doạ đến sự hoạt động bình thường của công ty như gặp khó khăn về tài chính, cần thay đổi chiến lược kinh doanh
12
Trang 13Thành phần tham dự đại hội đồng cổ đông: về nguyên tắc mọi cổ đông của CTCP đều có quyền tham dự Đại hội đồng để thảo luận, bàn bạc và quyết định những vấn đề tổ chức và quản trị của công ty Thực tế, có những công ty
có số lượng cổ đông lớn và có trường hợp số vốn góp cổ phần của các cổ đông vào công ty không bằng nhau nên thường tiến hành đại hội đại biểu cổ đông Số lượng đại biểu tham dự Đại hội đồng thường được ấn định trước và phân theo số cổ phần hoặc số vốn góp vào công ty
• Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công
ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông Thành viên hội đồng quản trị do đại hội cổ đông bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm Hội đồng quản trị bầu chủ tịch hội đồng quản trị trong số thành viên hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho công ty
• Giám đốc (Tổng giám đốc): Do hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người điều
hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Chủ tịch hội đồng quản trị có thể kiêm giám đốc (tổng giám đốc) Trường hợp điều lệ công ty không quy định chủ tịch hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật, thì giám đốc (tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty
• Ban kiểm soát: Đây là bộ phận do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có nhiệm
vụ giám sát, kiểm tra hoạt động của Hội đồng quản trị nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông - những người chủ sở hữu đối với công ty
• Bản điều lệ công ty cổ phần: Tư cách pháp nhân của CTCP thể hiện trong
điều lệ công ty Bản điều lệ này do các cơ quan quản lý Nhà nước quy định Điều lệ công ty là một bản cam kết của tất cả các cổ đông về thành lập và hoạt động của công ty được thông qua tại Đại hội đồng thành lập Điều lệ
Trang 14công ty sau khi được Đại hội đồng thành lập thông qua sẽ trở thành văn bản pháp lý làm căn cứ xử lý mọi vấn đề có liên quan phát sinh trong việc tổ chức quản lý hoạt động của công ty và bắt buộc mọi cổ đông của công ty phải tuân theo Nến muốn sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty phải đưa ra thảo luận tại Đại hội đồng cổ đông và phải được biểu quyết theo đa số phiếu quá bán.
2 Nguyên tắc hoạt động của công ty cổ phần
CTCP hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính
• Nhóm nguyên tắc đạo đức:
- Phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng
- Thực hiện nghĩa vụ tư vấn, cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng, giải thích rõ các rủi ro khách hàng có thể gặp phải
- Không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình
- Phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường hợp công ty mất khả năng thanh toán
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCP không được phép
sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng
- Không được tiến hành các hoạt động làm khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động gây thiệt hại cho khách hàng
• Nhóm nguyên tắc tài chính:
14
Trang 15- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán , báo cáo theo quy định của UBCK Nhà nước Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
- Không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng
- Phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của công ty, không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản
Trang 16CHƯƠNG 3 HÀNG HOÁ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I Khái niệm, đặc điểm và phân loại chứng khoán
1 Khái niệm chứng khoán
Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh
2 Đặc điểm chứng khoán
Chứng khoán là một tài sản tài chính có các đặc điểm cơ bản sau:
• Tính thanh khoản (tính lỏng): Là khả năng chuyển đổi tài sản tài chính đó
thành tiền mặt Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ thời gian chuyển đổi
+ phí chuyển đổi
+ rủi ro giảm giá trị tài sản
Chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn so với tài sản khác thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường, chứng khoán khác nhau có khả năng chuyển nhượng khác nhau
Trái phiếu có tính thanh khoản thông thường cao hơn so với cổ phiếu vì trái phiếu có thời hạn là hữu hạn, còn cổ phiếu là vô hạn
Tín phiếu có tính thanh khoản cao hơn so với trái phiếu dài hạn
• Tính rủi ro: Là khả năng gây ra nhiều tổn thất xảy ra ngoài dự kiến.
Chứng khoán là tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống
+ Rủi ro có hệ thống: là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các loại chứng khoán Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất, thị trường Theo lý thuyết, rủi ro có hệ thống không thể loại bỏ được
16
Trang 17+ Rủi ro không có hệ thống: Là loại rủi ro chỉ tác động đến một hoặc một nhóm các tài sản Có 3 loại:
- Rủi ro kinh doanh: xảy ra do tình trạng cung cầu trên thị trường
và ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của công ty
- Rủi ro tài chính: phụ thuộc vào khả năng thanh toán, cổ tức, tiền lãi của công ty
- Rủi ro quản lý: do những quyết định của ban lãnh đạo công ty.Theo lý thuyết, có thể làm giảm hoặc triệt tiêu rủi ro không có hệ thống
∑ rủi ro
rủi ro có hệ thống
số lượng các loại chứng khoán
• Tính sinh lời: Khi đầu tư vào một loại chứng khoán, nhà đầu tư mong
muốn nhận được một khoản thu nhập lớn hơn trong tương lai Thu nhập này được đảm bảo bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường Khả năng sinh lợi bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản, vì nguyên lý: mức độ chấp nhận rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn
3 Phân loại chứng khoán
Tuỳ theo cách chọn tiêu thức, ta có thể phân loại chứng khoán thành nhiều loại khác nhau Thông thường, chứng khoán được phân thành 3 loại theo tính chất của chứng khoán là: chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, chứng khoán phái sinh
a) Chứng khoán vốn
rủi ro không có hệ thống
Trang 18Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận phần vốn góp, quyền sở hữu vốn góp và những quyền hợp pháp khác của người sở hữu đối với tổ chức phát hành.
Chứng khoán vốn gồm: Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư
b) Chứng khoán nợ
Chứng khoán nợ là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả
nợ bao gồm vốn gốc và lãi của nhà phát hành đối với chủ sở hữu
Điển hình cho chứng khoán nợ là: trái phiếu, tín phiếu
c) Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của người mua và người bán, phát triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường chứng khoán
II Cổ phiếu
a Khái niệm: Là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với vốn và tài sản của công ty cổ phần
b Đặc điểm:
- Cổ phiếu là giấy chứng nhận sự góp vốn vào công ty cổ phần
- Cổ phiếu không có kỳ hạn
- Cổ phiếu cho lợi tức không ổn định: khi DN có Dthu cao thì cổ tức mà
cổ đông được hưởng cao, ngược lại khi DN có Dthu thấp thì cổ tức mà cổ đông được hưởng thấp hoặc không có
- Cổ phiếu có thể được phát hành lúc công ty thành lập hoặc là lúc công ty cần huy động thêm vốn
- Giá cổ phiếu biến động nhanh, đặc biệt là trên thị trường thứ cấp
- Khi công ty phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của Tài sản thanh lý
c Phân loại:
18
Trang 19• Cổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu mà cổ tức của nó phụ thuộc vào tình
hình hoạt động của công ty, vào mức lợi nhuận của công ty thu được, tức
là công ty không định mức số lãi sẽ chia vào cuối mỗi niên độ
- Người mua cổ phiếu thường là cổ đông thường
- Cổ đông thường có những quyền lợi sau:
+ Quyền có thu nhập: được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với số phiếu sở
hữu gọi là cổ tức
+ Quyền bầu cử: có quyền tham gia đại hội đồng cổ đông, thực hiện quyền bầu
cử hội đồng quản trị qua phiếu bầu tương ứng với số vốn góp
+ Quyền phát biểu: trong các buổi họp đại hội đồng cổ đông, được quyền phát
biểu về các mặt hoạt động của công ty, giá trị của các phát biểu này cũng tương ứng với phần vốn góp
+ Quyền được chia tài sản thanh lý: rủi ro công ty bị giải thể, cổ đông có quyền
được chia phần những giá trị tài sản khi thanh lý, nhưng là người cuối cùng được hưởng
• Cổ phiếu ưu đãi: Là loại chứng khoán lai tạp có những điểm vừa giống
cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu Đó là loại cổ phiếu mà người sở hữu nó so với cổ đông thường sẽ có một số quyền ưu tiên như:
+ Được hưởng một cổ tức nhất định vào cuối năm không phụ thuộc vào tình hình hoạt động của công ty
+ Được ưu tiên chia cổ tức trước cổ đông thường
+ Khi công ty phá sản hoặc giải thể, được ưu tiên trả nợ trước cổ đông thường
Tuy nhiên, cổ đông ưu đãi bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn là không được tham gia ứng cử, bầu cử vào hội đồng quản trị
- Các loại cổ phiếu ưu đãi trên thế giới:
1) Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ: người mua nó được hưởng cổ tức nhất định, nhưng
trong trường hợp công ty hoạt động thua lỗ thì phần cổ tức còn thiếu sẽ được tích luỹ sang năm sau hay vài năm sau khi công ty có đủ lợi nhuận để trả
2) Cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ: năm nào công ty hoạt động thua lỗ thì cổ tức
của cổ đông bị mất
Trang 203) Cổ phiếu ưu đãi có chia phần: cổ đông của loại cổ phiếu này ngoài phần cổ
tức được chia cố định, khi công ty làm ăn có lãi nhiều, sẽ được hưởng thêm một phần lợi tức phụ trội theo tỷ lệ quy định
4) Cổ phiếu ưu đãi không chia phần: cho dù năm đó công ty hoạt động vượt bậc
nhưng cổ đông vẫn không được hưởng thêm một khoản lãi nào
5) Cổ phiếu ưu đãi có thể bồi hoàn được: loại cổ phiếu này cam kết trả một cổ
tức cao định kỳ hằng năm nhưng đến một năm nào đó doanh nghiệp có thể mua lại cổ phiếu này được
6) Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi: Đến một thời điểm nào đó có thể chuyển
đổi thành cổ phiếu thường của công ty
- Các loại cổ phiếu ưu đãi ở Việt Nam:
1) Cổ phiếu ưu đãi có quyền biểu quyết: cổ phiếu này chỉ phát hành cho những
cổ đông sáng lập ra công ty và cổ đông cam kết phải giữ nó như cổ phiếu thường
2) Cổ phiếu ưu đãi cổ tức: cho phép cổ đông được hưởng cổ tức ưu đãi Cổ đông
nào sở hữu cổ phiếu này thì không có quyền biểu quyết
3) Cổ phiếu ưu đãi có thể hoàn lại: người mua nó có quyền yêu cầu doanh
nghiệp hoàn trả lại vốn cho mình nếu như họ không muốn nắm giữ nữa Cổ đông nào sở hữu cổ phiếu này thì không có quyền biểu quyết
d Các loại giá của cổ phiếu:
• Mệnh giá: Là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu Mệnh giá của cổ
phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa
Thông thường khi công ty mới thành lập, mệnh giá cổ phiếu được tính như sau:
Mệnh giá cổ phiếu Vốn điều lệ của công ty cổ phần
Trang 213.000.000Lưu ý:
Tất cả các loại CP ở Việt Nam đều quy về mệnh giá 10.000đ Thực tế, giá trị thực của CP cũng như giá bán của CP trên thị trường thoát ly mệnh giá nên mệnh giá chỉ mang giá trị danh nghĩa và không ảnh hưởng đến giá giao dịch của CP trên thị trường
• Thư giá: Là giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn
cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định
• Hiện giá: Là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại và các nhà đầu
tư căn cứ vào giá trị này để đưa ra quyết định có nên đầu tư vào cổ phiếu Tại điểm cân đối giữa cung và cầu, hiện giá của cổ phiếu là giá cả hợp lý của cổ phiếu được nhà đầu tư chấp thuận
• Thị giá: Là giá cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm nhất định đang
giao dịch trên thị trường
Ví dụ: Cổ phiếu của Ngân hàng Sacombank hiện sáng nay (16/10) là 65.000đ
e Định giá cổ phiếu:
Định giá cổ phiếu cũng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của việc định giá tài sản nói chung, bao gồm việc định giá của DN phát hành ra chính cổ phiếu đó
e1 Cổ phiếu thường:
• Tỷ suất sinh lợi mong đợi:
Trang 22I1: cổ tức thu được trong tương lai.
r: lãi suất định giá cổ phiếu trên thị trường
VD: Mua CP với giá P0 = 10.000đ Sau 1 năm cổ tức thu được là I1 =1.000đ Nếu bán sau 1 năm CP đó với giá P1 = 10.500đ thì tỉ suất sinh lợi mong đợi là bao nhiêu?
• Công thức định giá cổ phiếu theo luồng thu nhập cổ tức:
Tiền lãi ở các kỳ trước được nhập chung vào vốn gốc để tính lãi tiếp cho
kỳ sau gọi là lãi kép
Giả sử 1 CP được nắm giữ đến năm thứ n, cổ tức chi trả từ năm 1 → năm
n lần lượt là I1, I2,… In Biết giá bán CP vào năm thứ n là Pn và tỉ lệ lợi tức r không đổi, ta có công thức tính giá CP theo luồng thu nhập cổ tức sau:
Trang 23(1 + r) k
Trong đó có các trường hợp đặc biệt sau:
+ Cổ tức của công ty không đổi: I1 = I2 = … = In = I; g = 0
Thì
P0 = I
r
+ Cổ tức tăng trưởng hàng năm theo 1 tỷ lệ tăng trưởng (g) không đổi:
Mô hình Gordon: Giả sử công ty tăng trưởng với tỷ lệ không đổi hàng năm là g (%/năm)
Khi đó, cổ tức chia ở năm hiện tại như sau:
I1 = I0 (1 + g)
I2 = I1 (1 + g)= I0 (1 + g)2
…
In = I0 (1 + g)n
Trong đó: g: tốc độ tăng trưởng cố định của công ty (%/năm)
I0: cổ tức ở năm hiện tại
In: cổ tức nhận được vào cuối năm nThì
r: Lãi suất mong đợi/ LS định giá CP trên thị trường
Ví dụ:
Giả sử công ty cổ phần ABC chia cổ tức hiện tại cho cổ phiếu thường là 2.000đ/CP trong năm vừa qua, tốc độ tăng trưởng ổn định là 10% Lãi suất định giá cổ phiếu này trên thị trường là 13% Xác định giá của cổ phiếu này?
ĐS: P0 = 73.333,33 VNĐ
P 0 = I 0 (1+g)
r - g
Trang 24+ Mô hình 2 giai đoạn tăng trưởng: (g < r < gs)
Trang 25e2 Cổ phiếu ưu đãi:
PUĐ = IUĐ
rUĐ
Trong đó: IUĐ: cổ tức của cổ phiếu ưu đãi mỗi năm
rUĐ: lãi suất định giá cổ phiếu ưu đãi trên thị trường
Ví dụ:
Một công ty cổ phần chia cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi vào cuối mỗi năm là 15.000đ/CP Lãi suất định giá cho cổ phiếu ưu đãi này trên thị trường là 13% Hãy xác định giá của loại cổ phiếu này? Nếu mua cổ phiếu này với giá 120.000đ thì nhà đầu tư sẽ được một tỷ suất sinh lợi là bao nhiêu?
ĐS: PUĐ = 115.385 VNĐ
r = 12,5%
Trang 26III Trái phiếu
1 Khái niệm: Là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành
và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn Trên trái phiếu có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái phiếu
2 Đặc điểm:
- Là một loại giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài hạn, còn gọi là CK nợ, có kỳ hạn nhất định: 3 - 5 năm (trung hạn);
từ 6 năm trở lên (dài hạn), cuối kỳ đáo hạn phải trả lại vốn góp cho trái chủ
- Trái chủ được hưởng lãi cố định, và tỷ suất lãi không cao, nhưng không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, ít rủi ro (Trường hợp TP là công trái thì hầu như không có rủi ro)
- Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông
3 Các yếu tố liên quan đến trái phiếu:
• Mệnh giá (C): là số tiền ghi trên trái phiếu và nó là căn cứ để tính số tiền
lãi cuối mỗi kỳ trả cho trái chủ, đến khi đáo hạn thì trái chủ sẽ được nhận lại số tiền bằng mệnh giá đó
• Lãi suất trái phiếu (i): là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu được quy định
mức lãi mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm, là căn cứ để tính tiền lãi trả vào cuối mỗi kỳ (I) - Trái tức: I = C x i
Ví dụ: C = 100.000đ ; i = 10%/năm
Số tiền nhận được vào cuối mỗi năm là:
I = C x i = 100.000 x 10% = 10.000đ
• Kỳ trả lãi: phụ thuộc vào từng loại trái phiếu
I: số tiền lãi nhận được vào cuối mỗi kỳ
Ví dụ: C = 200.000 ; i = 12%/năm
I = C x i = 24.000Mỗi năm trả lãi 2 lần thì số tiền lãi nhận được mỗi lần là I = 12.000 (đầu năm nhận 1 lần, cuối năm nhận 1 lần)
26
Trang 27• Thời hạn trái phiếu (n): được tính từ ngày phát hành đến ngày đáo hạn
thông thường được xác định 5, 10năm
• Thời gian còn lưu hành trái phiếu (m):
Trái phiếu có thời hạn 10 năm, đã lưu hành 2 năm thì thời gian còn lưu hành là 8 năm
4 Phân loại:
- Theo chủ thể phát hành:
+ Trái phiếu Chính phủ: do Chính phủ phát hành → huy động vốn.+ Trái phiếu doanh nghiệp: do doanh nghiệp phát hành
- Theo phương thức trả lãi và vốn:
+ Trái phiếu coupon: là trái phiếu có mức lãi suất phát sinh trên số tiền gốc sau một thời gian nhất định
+ Trái phiếu chiết khấu: khi mua sẽ trả số tiền nhỏ hơn mệnh giá và khi đáo hạn sẽ nhận được số tiền bằng mệnh giá
+ Trái phiếu consol: thời hạn của trái phiếu là vô hạn, bản chất là cho vay,
số tiền lãi vào mỗi kỳ là xác định
+ Trái phiếu trả lãi và vốn khi đáo hạn: vào ngày đáo hạn nhận được cả vốn gốc và lãi
+ Trái phiếu hoàn trả bằng các kỳ khoản cố định: trả lãi định kỳ và đến ngày đáo hạn trả lại vốn gốc = mệnh giá TP
5 Định giá trái phiếu:
a Cách định giá TP:
Có 1 TP có mệnh giá C, Lsuất TP i (%/năm), nhận lãi trả vào cuối mỗi năm với thời hạn TP là n:
Giá TP bao gồm 2 khoản rõ ràng:
- Thu nhập của TP trong thời gian hoạt động của nó Đó là dòng thu nhập được thanh toán định kỳ và cố định (lượng không đổi) cho tới kỳ đáo hạn
Trang 28- Mệnh giá của TP Đó là số tiền phải hoàn trả khi TP đến kỳ thanh toán.
Nên công thức định giá TP là:
1 + rTP (1 + rTP) 2 (1 + rTP) 3 (1 + rTP) m (1 + rTP) m
GTP = I x 1 - (1 + rTP) -m + C x (1 + rTP) -m
rTP
Trong đó: I: tiền lãi trả định kỳ của trái phiếu (lợi tức TP hàng năm)
I = C x i (C: mệnh giá TP; i: lãi suất trái phiếu)
m: thời gian còn lưu hành của TP
rTP: lãi suất định giá trái phiếu trên thị trường
Ví dụ: Một công ty phát hành trái phiếu với mệnh giá 200.000đ, lãi suất trái phiếu là 11%/năm, tiền lãi trả vào cuối mỗi năm; thời hạn của trái phiếu là 5 năm và trái phiếu đã lưu hành 2 năm Xác định giá của trái phiếu trong các trường hợp sau:
a/ rTP = 10%
b/ rTP = 11%
c/ rTP = 12%
ĐS: a/ 204.974 VNĐb/ 200.000 VNĐc/ 195.196 VNĐ
Trang 29b Tính lãi suất đáo hạn của TP:
Trang 30IV Các công cụ có nguồn gốc chứng khoán (chứng khoán phái sinh)
1 Chứng quyền (quyền tiên mãi, quyền ưu tiên mua trước, quyền mua cổ
phần )
a Khái niệm: Chứng quyền là một quyền ưu đãi được gắn với một cổ
phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra để huy động thêm vốn, chứng quyền cho phép các cổ đông cũ được quyền ưu tiên mua trước một số lượng cổ phiếu nhất định với mức giá xác định thấp hơn giá chào bán ra công chúng trong một thời hạn nhất định Mỗi cổ phiếu tương ứng với một chứng quyền
b Đặc điểm:
- được phát hành kèm theo một đợt phát hành cổ phiếu thường, dành cho
cổ đông hiện hữu
- là một công cụ ngắn hạn được sử dung trong vòng 30 - 45 ngày
- mức giá xác định là giá ưu đãi thấp hơn giá trị thị trường hiện hành
c Cách tính giá của một chứng quyền:
+ Giá của cổ phiếu sau đợt phát hành:
G' = G x n + g' x n'
n + n'
Trong đó: n: số CP đang lưu hành trên thị trường
G: giá CP đang lưu hànhn': số CP mới phát hànhg': giá CP mới phát hành trên thị trườngG': giá CP sau đợt phát hành
+ Giá trị của một chứng quyền (G q ): có 2 cách tính
Trang 31Gq = (G - g') x n'
n + n'
Ví dụ: Công ty A phát hành 10.000.000 cổ phiếu thường (tức có 10.000.000
chứng quyền) với giá 30.000đ/CP Nếu công ty phát hành thêm 1.000.000 cổ phiếu mới cho cổ đông cũ với giá 24.000đ/CP Xác định giá CP sau đợt phát hành và giá của chứng quyền?
Giải:
Phân phối 1.000.000 CP mới này cho cổ đông cũ theo tỉ lệ % số cổ phiếu
họ đã mua, tức là số CP cũ cần thiết để mua 1 CP mới là:
Giá trị của một chứng quyền là:
Gq = 29.454 - 24.000 = 5.454 = 545,4đ/CQ
Bài tập: Một công ty cổ phần ABC có 40.000 CP đang lưu hành trên thị trường,
mệnh giá 20.000đ Giá CP này trên thị trường là 30.000đ/CP Công ty dự định
sẽ tăng vốn thêm 200.000.000đ bằng cách phát hành 10.000 CP mệnh giá 20.000đ với giá trên thị trường là 22.000đ cho cổ đông cũ Xác định giá CP sau đợt phát hành và giá của chứng quyền?
ĐS: 28.400đ/CP ; 1.600đ/CQ
2 Chứng khế
a Khái niệm: Chứng khế là loại chứng khoán được phát hành kèm theo
trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người nắm giữ chứng khoán đó được quyền mua một khối lượng cổ phiếu nhất định với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định
Trang 32b Đặc điểm:
- được phát hành ra công chúng như một công cụ để tăng tính hấp dẫn của các loại chứng khoán khác như trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi
- là một công cụ dài hạn được sử dụng trong vòng 5-10 năm
- mức giá xác định thường cao hơn giá thị trường hiện hành
Tại thời điểm phát hành chứng khế, giá mua cổ phiếu ghi trong chứng khế bao giờ cũng cao hơn giá thị trường cổ phiếu cơ sở, (và giá đó có thể ổn định, có
thể được tăng lên trong tương lai) Ví dụ, giá cổ phiếu thường 45.000đ, phát
hành chứng khế cho phép nhà đầu tư mua với giá 80.000đ trên danh nghĩa, nhà đầu tư quan sát giá thị trường tăng lên 80.000 thì họ quyết định bán chứng khế
để thu lãi
3 Hợp đồng quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng cho phép người sở hữu nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng hàng hoá cơ sở nhất định tại một mức giá xác định trong một thời gian nhất định
Trong hợp đồng quyền chọn, người bán trao quyền cho người mua để đổi lấy một khoản tiền gọi là phí quyền chọn (giá quyền chọn) Mức giá mà tại đó quyền chọn có thể được mua hoặc được bán gọi là mức giá thực thi quyền
* Mục đích sử dụng quyền chọn:
- Phòng ngừa rủi ro.
Ví dụ: Một nhà đầu tư mua 1.000 CP loại C với giá 36.000đ Sau đó ông mua 1 hợp đồng quyền chọn bán: được quyền bán 1.000 CP loại C đó với giá 32.000đ vào ngày 31/12/2009 Như vậy, ông ta đã sử dụng quyền chọn vì phòng tránh những rủi ro trong tương lai giá CP có thể giảm mạnh
- Đầu tư kiếm lời.
Ví dụ: Một nhà đầu tư mua hợp đồng quyền chọn mua: 2.000 CP loại A với giá 45.000VNĐ/CP, phí phải mất cho việc mua hợp đồng là P = 2.000đ/CP (tức phải trả 4.000.000đ cho 1 hợp đồng), ngày đáo hạn là 31/12/2009
Đến ngày 31/12/09, nếu:
32
Trang 33- giá CP trên thị trường là 50.000VNĐ → thực hiện quyền chọn mua (vì chỉ mua với giá = 45.000 + 2.000 = 47.000VNĐ/CP)
- 48.000VNĐ → thực hiện quyền chọn mua
- 47.000VNĐ → thực hiện quyền chọn mua (vì lúc này hoà vốn, nếu không thực hiện phải mất 4 triệu cho phí mua hợp đồng)
- 45.000VNĐ → không thực hiện quyền sẽ mất P = 2.000đ/CP tức mất 4 triệu cho 1 hợp đồng Nếu thực hiện quyền cũng mất khoản tiền 47.000 - 45.000 = 2.000đ/CP, tức mất = 2.000CP x 2.000đ/CP = 4 triệu → như nhau
- 44.000VNĐ → không thực hiện quyền Nếu thực hiện sẽ lỗ mất 47.000 - 44.000 = 3.000đ/CP, tức mất = 2.000CP x 3.000đ/CP = 6 triệu Còn không thực hiện chỉ mất 4 triệu cho 1 hợp đồng
4 Hợp đồng kỳ hạn
Là một thoả thuận giữa người mua và người bán để thực hiện một giao dịch hàng hoá trong tương lai với một số lượng và mức giá đã được ấn định trước
Ví dụ: Người A mua 10.000 CP của người B, giá 44.000VNĐ/CP Hợp đồng đến 31/12/09 cả hai bên phải thực hiện hợp đồng tức B sẽ bán cho A và A sẽ phải trả tiền cho B
- đều là các công cụ có nguồn gốc từ chứng khoán
- đều là công cụ để phòng ngừa rủi ro kinh doanh, rủi ro biến động giá bất lợi
- đều là công cụ cho các nhà đầu cơ
+ Khác nhau:
Là hợp đồng riêng biệt giữa hai bên Là hợp đồng trao đổi trên thị trường
Trang 34chứng khoánKhông chuẩn hoá hợp đồng Tiêu chuẩn hoá hợp đồng
Thường xuyên giao hàng hoá vào ngày
riêng
Ngày giao hàng nhất định
Thanh toán ở thời điểm chấm dứt hợp
đồng
Thanh toán hàng ngày
Khi giao hàng hoặc khi thanh toán tiền
mặt thường thực hiện lập hợp đồng
Hợp đồng thường được lập trước khi thực hiện nó
V Các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán
1 Các nhân tố ảnh hưởng giá cổ phiếu
Có nhiều nguyên nhân gây ra sự dao động của giá cổ phiếu, thông thường người ta chia ra làm 3 nhóm nhân tố:
• Nhân tố phi kinh tế
Bao gồm những thay đổi trong điều kiện chính trị như: chiến tranh, thay đổi cơ cấu quản lý hành chính, thời tiết, điều kiện tự nhiên khác hoặc thay đổi điều kiện văn hoá, tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
• Nhân tố thị trường
34
Trang 35Những nhân tố thị trường hay nhân tố nội tại của thị trường bao gồm sự biến động thị trường và mối quan hệ cung - cầu đều ảnh hưởng đến giá chứng khoán (ước đoán giá cổ phiếu cao hay thấp).
2 Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu
• Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu
Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn đề vốn Do đó nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của người cung cấp trái phiếu Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ thể phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên TTCK (mặc dù lãi suất cao nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn)
• Thời gian đáo hạn
Một trái phiếu thời gian đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp
• Dự kiến về lạm phát
Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả theo lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, do vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các loại chứng khoán khác
• Biến động lãi suất thị trường
Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá của các chứng khoán
có lãi suất cố định
Lãi suất tăng → lợi tức trái phiếu thay đổi
• Thay đổi tỷ giá hối đoái
Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán bằng nội tệ hoặc bằng đồng ngoại tệ Ví dụ: đồng Đôla Mỹ có giá trị tăng cao hơn so với đồng Bảng Anh thì sẽ làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng Đôla Mỹ
VI Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian đối với TTCK
Các tổ chức tài chính trung gian bao gồm: các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các quỹ hưu trí
Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian:
Trang 36- huy động các nguồn vốn bằng cách phát hành quyền truy đòi ra công chúng (chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, hoặc cho vay).
- các tổ chức này thực hiện việc quay vòng và sử dụng số tiền này để mua chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc những công cụ tài chính không được mua bán như các khoản tín dụng tiêu dùng, tín dụng thương mại
- giúp di chuyển nguồn vốn từ người cho vay đến người đi vay
VII Phát hành chứng khoán ra công chúng
1 Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành chứng khoán là tổ chưc huy động vốn bằng cách bán chứng khoán do mình phát hành cho nhà đầu tư Bao gồm: Chính phủ, các doanh nghiệp và các quỹ đầu tư
+ Doanh nghiệp:
- Cổ phiếu: Công ty cổ phần phát hành
- Trái phiếu: Công ty cổ phần, công ty TNHH, DN Nhà nước phát hành
+ Các quỹ đầu tư: phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.
Quỹ đầu tư là những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, được hình thành bằng vốn góp của các nhà đầu tư để tiến hành đầu tư vào chứng khoán và các loại hình đầu tư khác (huy động vốn từ các nhà đầu tư bằng cách phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư)
+ Chính phủ: phát hành trái phiếu, tín phiếu (để huy động vốn, để chi tiêu,
để tạo nên các quỹ tiền tệ, bù đắp thiếu hụt ngân sách )
2 Phương thức phát hành
• Phân loại theo đợt phát hành: theo 2 phương thức
- Phát hành lần đầu: lần đầu tiên tổ chức phát hành chứng khoán đáp ứng tiêu chuẩn của Uỷ ban CK Nhà nước
- Phát hành các đợt tiếp theo: là hoạt động phát hành nhằm mục đích tăng thêm vốn của tổ chức phát hành đó bằng việc phát hành các đợt tiếp theo khi
đã có chứng khoán phát hành và giao dịch trên thị trường thứ cấp
• Phân loại theo đối tượng mua bán chứng khoán: 2 phương thức
36