Hiệu quả trong thị trường chứng khoán giao dịch nhỏ trường hợp của thị trường chứng khoán Việt Nam. Có nhiều bài nghiên cứu xem xét liệu các thị trường chứng khoán mới nổi có thích ứng phù hợp với Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) hay không. Bài viết này cũng có những mục tiêu tương tự, tác giả dựa trên sự xem xét quá trình phát triển của Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Thành phố Hồ Chí Minh, thị trường chứng khoán chính của Việt Nam, kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động từ khoảng giữa năm 2000.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BÁO CÁO MÔN TÀI CHÍNH HÀNH VI PHÂN TÍCH BÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 3VI Kết quả nghiên cứu
Trang 4I.GIỚI THIỆU
Có nhiều bài nghiên cứu xem xét liệu các thị trường chứng khoán mới nổi có thích ứng phù hợp với Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) hay không Bài viết này cũng có những mục tiêu tương tự, tác giả dựa trên sự xem xét quá trình phát triển của Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Thành phố Hồ Chí Minh, thị trường chứng khoán chính của Việt Nam, kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động từ khoảng giữa năm 2000
4
Trang 5II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Kiểm định tính hiệu quả ở mức độ yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam, trường hợp Trung tâm Giao Dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Bài nghiên cứu này mục đích để có cái nhìn tổng quát hơn về TTCK Việt Nam
Mô tả tổng chức của TTCK Việt Nam và sự phát triển của nó,tập trung vào vấn đề liệu TTCK Việt Nam hiệu quả
ở mức độ yếu
Cung cấp bằng chứng thất bại trong việc ủng hộ sự hiệu quả của thị trường ở mức độ yếu, thì không cần thiết nghiên cứu EMH với nhiều cấp độ yêu cầu ở mức độ trung
Trang 6LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Một số các nghiên cứu bác bỏ giả thiết các thị trường chứng khoán là thị trường hiệu quả ở mức độ yếu như Wheeler và các cộng sự (2002) tại thị trường chứng khoán Warsaw; Grieb và Reyes (1999) tại thị trường chứng khoán Brazil; Karemera et al (1999) tại Chile và Mexico….
Một số nghiên cứu khác cho thấy thị trường chứng khoán
ở một số thị trường chứng khoán mới nổi là thị trường hiệu quả như Dockery và Vergari (1997) về thị trường chứng khoán của Budapest;Karemera (1999) và Buguk và Brorsen (2003)tại Thổ Nhĩ Kỳ; Dickinson và Muragu (1994),
và Olowe (1999)tại Nigeria …
Chưa có bất kỳ nghiên cứu nào cho thị trường chứng
Trang 7III.GIỚI THIỆU TTCK VIỆT NAM
Thị trường chứng khoán chủ yếu của Việt Nam là Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM, bắt đầu hoạt động vào ngày 28/7/2000 chỉ với hai công ty niêm yết, Công ty
cổ phần Cơ điện lạnh (REE) và Công ty cổ phần Cáp và Vật liệu Viễn thông Sài Gòn (SACOM) với tổng số vốn hóa thị trường khoảng 28,20 triệu USD
Cuối năm 2005, tổng cộng có 32 công ty cổ phần đã được lưu hành cổ phiếu của họ trên các TTGDCK với tổng vốn hóa thị trường khoảng 402,38 triệu USD
Trang 8của chỉ số VN-INDEX
- +13,8 -22,1 -8,9 +43,3 +28,5
Trang 9Giá trị giao dịch hàng ngày trong thời kỳ
2000-2005
Trang 10III.GIỚI THIỆU TTCK VIỆT NAM(TT)
Trong suốt thời gian đầu, lượng vốn hóa thị trường tăng lên đáng kể và liên tục, từ 444.000 triệu VND(khoảng 28,2 triệu USD) ở phiên giao dịch đầu tiên 28/7/2000 tăng lên 2.650.197 triệu VND (168,32 triệu USD) vào cuối năm 2002, và 6.337.480 triệu VND (396,06 triệu USD) vào 30/12/2005.
Tuy nhiên, tỷ lệ vốn hóa thị trường trên GDP không đáng kể mặc dù nó
đã tăng qua các năm.
Giá trị giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán nhỏ, giá trị giao dịch hằng ngày giảm trong hai năm 2002 và 2003 trước khi tạm thời di chuyển trở lên trong 6 tháng đầu năm 2004 và, sau đó, trong 6 tháng cuối năm 2005
Tỷ số giá trị giao dịch trên GDP rất thấp, suy giảm năm 2002-2003, mặc
dù nó tăng cao vào năm 2004
Vốn thị trường thấp ứng với khối lượng giao dịch ít làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam là thấp nhất khu vực
Trang 11Chỉ số VN-INDEX từ 28/07/2000 đến
30/12/2005
Trang 1212
Trang 13IV Mô tả dữ liệu
• Dữ liệu được sử dụng bao gồm giá hàng tuần lấy giá đóng cửa của ngày thứ 4 của VN-index và 5 cổ phiếu trên STC là REE, SAM, HAP, TMS, và LAF
• Các dữ liệu sử dụng lấy từ ngày 28/07/2000 đến ngày 31/12/2004 trên trang web www.bsc.com.vn
• Lợi suất tuần được tính như sau:
rt = log (pt) – log (pt-1) = log(pt/pt-1)
Trong đó pt và pt-1 giá chứng khoán tại thời điểm t và
Trang 14t-B ng 4: Mô t th ng kê c a VN-Index và ả ả ố ủ
Trang 15V PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Có 3 phương pháp được sử dụng:
1 Kiểm định tự tương quan (Autocorrelation tests)
2 Kiểm định chuỗi (Runs test)
3 Kiểm định tỷ lệ phương sai (Variance ratio test)
Trang 16Kiểm định tự tương quan
Là kiểm định mối quan hệ giữa giá cổ phiếu qua các phiên giao dịch có hoàn toàn độc lập với nhau hay
Trang 17Kiểm định tự tương quan (tt)
Thống kê Q của Ljung-Box được sử dụng để kiểm
định với giả thuyết H0: ρ1= ρ2= ρ3=……= ρk=0
Giá trị Q được tính như sau:
Trang 18Kiểm định chuỗi
Với giả thuyết H0: Sự thay đổi trong giá cổ phiếu là
ngẫu nhiên, tổng số chuỗi (runs) kỳ vọng được tính
Trang 190,5: giá trị điều chỉnh cho tính liên tục
Nếu R ≥ m thì giá trị điều chỉnh -0.5
Nếu R ≤ m thì giá trị điều chỉnh là +0.5
Trang 20Kiểm định tỷ lệ phương sai
Kiểm định này dựa trên giả thuyết là độ lớn của các sai
số trong bước đi ngẫu nhiên phù hợp với số quan sát
q là lượng thay đổi theo thời gian của phương sai
Var (pt –pt-q) – qVar(pt –pt-q) với q là số nguyên, dương
Hệ số phương sai VR(q):
Trang 21Kiểm định tỷ lệ phương sai (tt)
Với kích thước nq+ 1 quan sát (po, p1, , pnq)
Trong đó:
Trang 22Kiểm định tỷ lệ phương sai (tt)
Giả định phương sai sai số không đổi (homoscedastic)
và phương sai sai số thay đổi (heteroscedastic)
ø(q), ø*(q) tương tự là tiệm cận phương sai của hệ số phương sai với phương sai sai số không đổi và
phương sai sai số thay đổi δ^(j) là phương sai sai số thay đổi
Trang 23Ước lượng lợi nhuận thực
Thị trường chứng khoán Việt Nam đặc trưng bởi các giao dịch yếu và không thường xuyên nên làm cho các kết quả về thị trường bị lệch lạc Để loại bỏ ảnh hưởng
đó thì mô hình trung bình động đã được đánh giá và dùng để điều chỉnh Mô hình AR(1) tương đương để điều chỉnh
Mô hình: Rt =αo + α1 Rt-1 + εt
Sau đó thu nhập được điều chỉnh theo cách tính sau:
R Adj là hệ số điều chỉnh với giao dịch yếu vào thời
Trang 24VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định tự tương quan
Ghi chú: a,b có ý nghĩa thống kê tương ứng 1% và 5%
Bảng 5: Kết quả kiểm định tự tương quan với lợi suất tuần
Trang 25Kiểm định tự tương quan (tt)
Bảng 6: Kết quả kiểm định tự tương quan với lợi suất điều chỉnh tuần
Trang 26Kiểm định tự tương quan (tt)
Kết quả kiểm định tự tương quan cho thấy giả
thuyết giá cổ phiếu qua các phiên giao dịch là độc lập
bị bác bỏ đối với VN-index và tất cả cổ phiếu được chọn ngoại trừ REE
Trang 27Kiểm định chuỗi
Giá trị Tổng số quan sát
(N) Số chuổi thực tế quan sát (R) Số chuổi mong đợi (m) Giá trị thống kê Z
Quan sát lợi suất tuần
Trang 28Kiểm định chuỗi (tt)
- Kết quả chỉ ra rằng giả thuyết H0 về sự thay đổi giá cổ phiếu là ngẫu nhiên bị bác bỏ cho chỉ số thị trường và tất cả những cổ phiếu riêng lẻ đã chọn trừ HAP
- Tuy nhiên khi sử dụng lợi suất điều chỉnh thì kết quả của kiểm định chuỗi không bác bỏ giả thuyết Ho đối với HAP, nhưng nó lại bác bỏ đối với REE và LAF
Trang 29Kiểm định tỷ lệ phương sai
Trang 30VI Kết quả nghiên cứu
Kiểm định tỷ lệ phương sai (tt)
Trang 31VI Kết quả nghiên cứu
Kiểm định tỷ lệ phương sai (tt)
-Kết quả ước lượng: giả thuyết H0 của bước đi ngẫu nhiên theo giả định của phương sai sai số không đổi bị bác bỏ cho toàn bộ và cho những giá trị của q Thống kê
Z cho số liệu lớn hơn so với giá trị thông thường (1,96 cho mức ý nghĩa 5%)
-Về phương sai sai số thay đổi kiểm định hệ số phương sai cho thấy giả thuyết H0 về bước đi ngẫu nhiên không thể được chấp nhận cho bất kỳ quan sát thu nhập theo tuần nào Thống kê Z*: giả thuyết bước đi ngẫu nhiên bị bác bỏ ở q=2, 4, 8, 16 cho TMS và REE, q= 2, 4,
8 cho VN-INDEX và LAF Riêng HAP: chỉ bác bỏ ở q=2, 4
-Đối với lợi nhuận được điều chỉnh thì kết quả cũng tương tự Sự bác bỏ giả thuyết H0 thì ít rõ rệt cho VN-
Trang 32Kết luận
-Bài này cung cấp những mô tả về thị trường chứng khoán ở Việt Nam và bất cứ trong kiểm tra nào, liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có hiệu quả ở mức thấp nhất Hiệu quả ở mức thấp nhất của chỉ số thị trường và 5 loại cổ phiếu được chọn điểm kiểm định bằng dữ liệu hàng tuần vào thời điểm từ 28/7/2000 đến 31/12/2004
-Kết quả thu được từ kiểm định tự tương quan cho
thấy Ho bị từ chối ở chỉ số thị trường và bốn trên năm
cổ phiếu được chọn, ngay cả trong trường hợp các thu nhập điều chỉnh cho giao dịch yếu
Trang 33Kết luận
- Kiểm định chuỗi cung cấp bằng chứng bác bỏ giả thuyết bước đi ngẫu nhiên cho lợi suất tuần của chỉ số thị trường và tất cả các cổ phiếu được chọn (trừ HAP) Tuy nhiên khi lợi suất điều chỉnh được sử dụng, Kết quả kiểm định chuỗi tại không bác bỏ giả thuyết ngẫu nhiên của REE
và LAF
- Kết quả kiểm định tỷ lệ phương sai của Lo và Mackinley ở 2 giả định: giả định của phương sai sai số không đổi và phương sai sai số thay đổi cả hai lợi suất quan sát và lợi suất điều chỉnh bác bỏ giả thuyết ngẫu nhiên cho chỉ số thị trường và tất cả các cổ phiếu được
Trang 34Kết luận
Nói tóm lại, kết quả chủ yếu của nghiên cứu này là TTCK Việt Nam không hiệu quả ở mức thấp nhất, cả trong trường hợp đặc trưng thị trường giao dịch yếu đã được điều chỉnh
34
Trang 35XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN
SỰ LẮNG NGHE CỦA THẦY
VÀ CÁC BẠN