PHÂN LOẠI QUỸ ĐẦU TƯ

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (Trang 100 - 104)

Căn cứ vào qui mô, cách thức và tính chất góp vốn, quỹ đầu tư chia làm 2 loại:

* Quỹ đầu tư dạng đóng (Closed - end funds)

Đây là quỹ đầu tư mà theo điều lệ qui định thường chỉ tạo vốn qua một lần bán chứng khoán cho công chúng. Quỹ đầu tư dạng đóng có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu. Quỹ không được phát hành thêm bất kỳ một loại cổ phiếu nào để huy động thêm vốn và cũng không mua lại các cổ phiếu đã phát hành. Những người tham gia góp vốn đầu tư thông được phép rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho chính quỹ đầu tư. Tuy

nhiên, chính việc cấm rút vốn làm cho Cấu trúc của quỹ rất chặt chẽ, nên các chứng chỉ quỹ đầu tư dạng đóng thường được niêm yết giao dịch trên SGDCK, vì vậy người đầu tư có thể rút vốn bằng cách bán lại các chứng chỉ quỹ đầu tư trên SGDCK. Với tính chất cơ cấu vốn ổn định cho phép quỹ đầu tư dạng đóng có đăng ký đầu tư vào các dự án lớn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp.

Quỹ đầu tư dạng đóng dùng số vốn của mình đầu tư vào các doanh nghiệp hay TTCK. Sau đó lại dùng số tiền và vốn lãi thu được để đầu tư tiếp Như vậy, qui mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được mà thôi.

*Quỹ đầu tư dạng mở (Open end funds)

Quỹ đầu tư dạng mở còn được gọi là quỹ tương hỗ (Mutual funds). Khác với quỹ đầu tư dạng đóng, các quỹ này luôn phát hành thêm những cổ phiếu mới để tăng vốn và cũng sẵn sàng chuộc lại những cổ phiếu đã phát hành. Các cổ phiếu của quỹ được bán trực tiếp cho công chúng không qua TTCK. Muốn mua cổ phiếu của quỹ đầu tư dạng mở chúng ta không qua môi giới, không phải trả tiền hoa hồng và có thể viết thư hoặc điện thoại trực tiếp cho quỹ xin các giấy tờ cần thiết, do đó tạo cơ hội cho bất kỳ ai cũng có thể tham gia và trở thành chủ sở hữu của quỹ. Tất cả các cổ phiếu phát hành của quỹ này đều là cổ phiếu thường, so với quỹ đầu tư dạng đóng, quỹ đầu tư dạng mở có lợi thế rõ ràng về khả năng huy động, mở rộng qui mô vốn, do đó nó linh hoạt hơn trong việc lựa chọn các dự án đầu tư.

Do cấu trúc hoạt động của quỹ có tính chất “mở” nên rất thuận tiện cho người đầu tư trong việc rút vốn vào bất cứ lúc nào nếu họ thấy hoạt động của quỹ không hiệu quả. Tuy nhiên, đây cũng là điểm bất lợi cho quỹ vì cơ cấu vốn không ổn định cho nên quỹ thường xuyên phải duy trì một tỷ lệ khá lớn những tài sản có tính thanh khoán cao như các trái phiếu Chính phủ hoặc cổ phiếu được niêm yết trên SGDCK, chứ ít có khả năng đầu tư vào các dự án lớn có tiềm năng và những dự án có lợi nhuận lớn nhưng có độ rủi ro cao.

Sự khác nhau giữa quỹ đầu tư dạng đóng và dạng mở có thể tóm tắt như sau:

QUỸ ĐẦU TƯ DẠNG MỞ QUỸ ĐẦU TƯ DẠNG ĐÓNG Loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu

thường.

Có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu.

Số lượng chứng khoán hiện hành luôn thay đổi.

Số lượng chứng khoán hiện hành cố định.

Chào bán ra công chúng liên tục Chào bán ra công chúng chỉ một lần.

- Quỹ sẵn sàng mua lại các cổ phiếu phát hành theo giá trị tài sản thuần.

- Không mua lại các chứng. khoán đã phát hành.

Cổ phiếu được phép mua trực tiếp từ quỹ đầu tư người bảo lãnh phát hành hay môi giới thương gia.

- Cổ phiếu được phép giao dịch trên TTCK chính thức hay phi chính thức (OTC).

Giá mua là giá trị tài sản thuần cộng với lệ phí bán (giá trị tài sản thuần được xác định bằng giá trị chứng khoán trong hồ sơ).

- Giá. mua được xác định bởi lượng cung cầu. Do đó giá mua có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản thuần.

Lệ phí bán được công thêm vào giá trị tài sản thuần. Mọi phí tổn mua lại phải công bố rõ ràng trong bản cáo bạch (Prospectus).

Căn cứ vào mô hình cấu trúc tổ chức - điều hành, quỹ đầu tư được tổ chức dưới 2 hình thức là quỹ đầu tư dạng công ty (Corporate funds) và quỹ đầu tư dạng tín thác (Trust funds).

*Quỹ đầu tư dạng công ty

Theo mô hình công ty, quỹ đầu tư được xem là một pháp nhân đầy đủ, những người góp vốn vào quỹ trở thành các cổ đông và có quyền bầu ra Hội đồng quản trị quỹ. Đây là tổ chức cao nhất trong quỹ đứng ra thuê công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản tài sản quỹ và giám sát việc tuân thủ hoạt động của 2 tổ chức này.

Trong đó ngân hàng giám sát đóng vai trò bảo quản các tài sản quỹ nhận hoặc giao chứng khoán cho quỹ khi thực hiện lệnh giao dịch. Còn công ty quản lý quỹ có trách nhiệm cử người điều hành và sử dụng vốn của quỹ để đầu tư vào các chứng khoán hay các tài sản sinh lợi khác. Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng công ty thường được sử dụng ở các nước có TTCK phát triển, tiêu biểu là thị trường Mỹ và Anh.

*Quỹ đầu tư dạng tín thác

Theo mô hình tín thác, quỹ đầu tư không được xem là một Pháp nhân đầy đủ, mà chỉ là quỹ chung vốn giữa những người đầu tư để thuê các chuyên gia quản lý quỹ chuyên nghiệp đầu tư sinh lợi Theo mô hình này, vai trò của công ty quản lý quỹ khá nổi bật. Đó là tổ chức đứng ra thành lập và sử dụng vốn thu được thông qua việc phát hành các chứng chỉ đầu tư để đầu tư vào những nơi có hiệu quả nhất. Còn ngân hàng giám sát đóng vai trò là người bảo quản an toàn vốn và tài sản của người đầu tư, giám sát các hoạt động của công ty quản lý quỹ trong việc tuân thủ điều lệ quỹ đầu tư Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng tín thác thường được sử dụng ở các TTCK mới nổi (emerging market) đặc biệt là các TTCK đang phát triển ở Châu Á.

CHƯƠNG IX

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN I- KHÁI NIỆM

Đầu tư chứng khoán là chỉ việc bỏ vốn tiền tệ ra mua các chứng khoán để kiếm lời. Việc kiếm lời trong đầu tư chứng khoán có thể là từ thu nhập cổ tức, trái tức nhưng cũng có thể là từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem lại. Mục tiêu của đầu tư chứng khoán là nhằm kiếm lời từ 2 nguồn thu nhập nói trên, nhưng an toàn về vốn trong đầu tư chứng khoán là vấn đề quan trọng.

Mục tiêu đầu tư chứng khoán có đạt được như ý muốn trong chính cách đầu tư hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các rủi ro trong đầu tư. Đối với các chủ đầu tư, rủi ro là nhân tố khách quan vượt ra ngoài tầm quản lý và khống chế của họ. Tác động của rủi ro đến mục tiêu đầu tư hoàn tự phụ thuộc vào môi trường đầu tư. Do đó, đầu tư chứng khoán phải là hành động có cân nhắc, có phân tích khoa học đến môi trường đầu tư, đến rủi ro có thể xảy ra trong thời gian đầu tư.

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (Trang 100 - 104)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(127 trang)
w