1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Triết học - Sau đại học

61 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận môn triết học - Sau đại học
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Triết học - Sau đại học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 836,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế số1 đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức sản xuất, tiêu dùng và lao động trên toàn cầu Kinh tế số được hiểu là một nền kinh tế dựa trên các công nghệ kỹ thuật số, bao gồm Internet, dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, và các nền tảng trực tuyến Các công nghệ này không chỉ thay đổi cách thức các doanh nghiệp hoạt động mà còn tái cấu trúc cả quan hệ lao động (QHLĐ)

Tại Việt Nam, nền kinh tế số đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế chung Chỉ trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các công ty công nghệ lớn như VNG, MoMo, Tiki, Grab, Shopee Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông2, giá trị thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2023 đạt khoảng 16 tỷ USD, với tốc

độ tăng trưởng hàng năm lên tới 20% - 25% Các nền tảng này không chỉ làm thay đổi cách thức tiêu dùng mà còn tác động mạnh đến mô hình lao động3 Điển hình là Grab, nền tảng gọi xe công nghệ, hiện có hơn 200.000 tài xế tham gia tại Việt Nam4, trong khi Shopee, Tiki và Lazada5 cũng tạo ra hàng triệu cơ hội việc làm cho người bán hàng và các nhân viên giao nhận

Dấu hiệu nổi bật của nền kinh tế số chính là sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng công nghệ, đặc biệt là các nền tảng làm việc tự do (freelance platforms) Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)6, số lượng người lao động (NLĐ) tham gia các nền tảng làm việc tự do trên toàn cầu đã tăng trưởng nhanh chóng, với hơn 60 triệu người tham gia vào các nền tảng trực tuyến vào năm 2023 Các nền tảng như Upwork, Fiverr, Freelancer.com, cũng như các ứng dụng công

1 Nguyễn Hữu Hạnh, Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự chuyển mình của nền kinh tế số, Nhà xuất bản Kinh

4 Báo cáo thường niên Grab Việt Nam 2023, Grab Việt Nam, trang 12

5 Nghiên cứu về tác động của thương mại điện tử đối với thị trường lao động Việt Nam, Viện Nghiên cứu

Kinh tế và Chính sách (VEPR), 2023, trang 8

6 The Future of Work: Trends in Digital Platforms and Freelance Labor, Báo cáo toàn cầu, Geneva, 2023,

trang 15

Trang 2

nghệ như Uber, Grab, Gojek, Shopee, Lazada đã thay đổi hoàn toàn bản chất QHLĐ truyền thống7 Những nền tảng này cho phép NLĐ (freelancer) và người sử dụng lao động (NSD LĐ) kết nối trực tiếp mà không qua một tổ chức, doanh nghiệp trung gian8

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích này, NLĐ trong môi trường công nghệ số cũng phải đối mặt với những thách thức lớn9, đặc biệt là về quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các phúc lợi xã hội, do sự thiếu hụt các chính sách bảo vệ phù hợp với mô hình lao động mới

Hệ thống pháp luật (HTPL) hiện hành ở Việt Nam không có sự phân biệt rõ ràng giữa NLĐ

và người cung cấp dịch vụ10 Trong khi các nền tảng số thay đổi nhanh chóng và làm thay đổi cách thức tổ chức công việc, hệ thống pháp lý vẫn chưa có các quy định cụ thể để bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong môi trường này11

Việc áp dụng các quy định pháp lý hiện hành vào nền kinh tế số và các nền tảng lao động

tự do gặp không ít khó khăn12, do sự thiếu đồng bộ và tính không phù hợp của các quy định hiện tại với đặc thù của lao động trong môi trường công nghệ số Lỗi phân loại NLĐ, sự phân loại sai lệch giữa NLĐ và các nhà cung cấp dịch vụ trên nền tảng công nghệ Các nền tảng số như Uber, Grab, hay các dịch vụ freelance trực tuyến thường coi NLĐ là cộng tác viên hoặc nhà cung cấp dịch vụ độc lập13 thay vì công nhận họ là NLĐ chính thức

Điều này dẫn đến việc không có các chế độ bảo vệ lao động đầy đủ, chẳng hạn như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và các quyền lợi cơ bản khác Thêm vào đó, sự thiếu vắng của cơ chế giám sát và kiểm soát khiến cho quyền lợi của lao động không được bảo vệ một cách minh bạch

và hiệu quả Theo đó, các lao động tự do thường không được bảo vệ trong các tranh chấp lao động

và khó có thể yêu cầu giải quyết quyền lợi của mình trước pháp luật

7 Phan Thị Huyền Trang, "Sự phát triển của các nền tảng công nghệ và tác động đến quan hệ lao động ở

Việt Nam," Tạp chí Phát triển và Hội nhập, 2021, tr 13-16

8 Đề tài nghiên cứu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, "Tác động của nền kinh tế số và mô hình

lao động tự do đến quyền lợi của người lao động tại Việt Nam," Báo cáo Nghiên cứu Chính sách, Hà Nội,

2021, tr 25-30

9 Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, "Phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức,"

Hội thảo Quốc gia về Nền kinh tế số, Hà Nội, 2021, tr 5-7

10 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Báo cáo tổng kết thực hiện BLLĐ năm 2019, Hà Nội, 2021, tr

Trang 3

Trong khi nền kinh tế số ngày càng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, HTPL Việt Nam vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa lao động trong nền kinh tế số và lao động truyền thống Bộ luật Lao động (BLLĐ) hiện hành chủ yếu điều chỉnh các QHLĐ có hợp đồng lao động chính thức, dẫn đến sự thiếu hụt trong việc bảo vệ các quyền lợi cơ bản của lao động trong nền kinh tế số, đặc biệt là đối với bảo hiểm xã hội, chế độ nghỉ phép, và quyền lợi y tế14 Sự không đồng đều này dẫn đến một môi trường pháp lý không công bằng, tạo ra

sự bất bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền lợi giữa lao động truyền thống và lao động trong nền kinh tế số

Chưa có khung pháp lý cho các nền tảng công nghệ, sự thiếu một khung pháp lý rõ ràng và toàn diện để điều chỉnh các nền tảng công nghệ15, đặc biệt là các nền tảng kinh doanh dịch vụ như Uber, Grab, Freelancer.com, v.v Các nền tảng này hiện tại không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý về quyền lợi của NLĐ như các công ty truyền thống, mặc dù chúng đang sử dụng một lượng lao động lớn và có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường lao động

Điều này dẫn đến việc thiếu sự giám sát, kiểm tra và quy định rõ ràng về trách nhiệm của các nền tảng đối với NLĐ của họ Các nền tảng công nghệ hiện không chịu trách nhiệm về việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong khi các công ty truyền thống lại phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về lao động, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các nhóm lao động này

Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho các nền tảng công nghệ, đảm bảo rằng chúng phải chịu trách nhiệm đối với quyền lợi của lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong nền kinh tế số một cách minh bạch và hiệu quả hơn

Bên cạnh đó, trong quá trình công tác tại môi trường doanh nghiệp, tôi nhận thấy rõ những hạn chế trong HTPL hiện hành đối với việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong bối cảnh công nghệ

số phát triển mạnh mẽ và nền kinh tế tự do mở rộng Các quy định hiện tại chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn, khiến quyền lợi của NLĐ bị đe dọa trong môi trường làm việc ngày càng phức tạp và đa dạng

Vì vậy, với những lý do đã phân tích, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Đảm bảo quyền lợi người

lao động trong môi trường công nghệ số và kinh tế tự do: Thách thức cho hệ thống pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu, nhằm đề xuất những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp lý, bảo đảm

14 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Luật Bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, được áp dụng cho lao động chính thức, không bao gồm lao động tự do hoặc lao động trong nền kinh tế chia sẻ

15 Nghị định 23/2020/NĐ-CP quy định về các nền tảng công nghệ và vấn đề lao động liên quan, Công báo Chính phủ, 2020, tr 3-6

Trang 4

quyền lợi hợp pháp và lợi ích chính đáng của NLĐ trong bối cảnh chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế số

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Mặc dù nền kinh tế số và các mô hình lao động tự do đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và phân tích về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong môi trường này ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Các công trình nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào các vấn đề

lý thuyết về kinh tế số, lao động tự do và các khía cạnh kỹ thuật của công nghệ, mà chưa chú trọng đến các vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến bảo vệ quyền lợi lao động trong bối cảnh nền kinh tế

“Lao động tự do trong nền kinh tế số: Thực trạng và các giải pháp pháp lý”, tác giả Trần Quốc Tuấn, đăng trên Tạp chí Luật học năm 2020 Nghiên cứu này phân tích thực trạng bảo vệ

quyền lợi lao động tự do trong nền kinh tế số, đặc biệt là tại các nền tảng trực tuyến như Uber, Grab, và các dịch vụ giao hàng trực tuyến Tác giả chỉ ra rằng, các mô hình lao động trong nền kinh tế số này không được công nhận là lao động chính thức và NLĐ gặp khó khăn trong việc đòi hỏi quyền lợi pháp lý của mình Phần lớn các nền tảng công nghệ không có nghĩa vụ pháp lý để bảo vệ quyền lợi của NLĐ, dẫn đến sự bất công và thiếu sự bảo vệ an sinh xã hội cho họ

“Chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong nền kinh tế số và lao động tự do”, tác giả Lê Minh Tuấn, đăng trên Tạp chí Pháp lý và Xã hội năm 2021 Nghiên cứu này tập

trung vào việc phân tích chính sách bảo hiểm xã hội đối với NLĐ trong nền kinh tế số và lao động

tự do, đặc biệt là đối với những lao động làm việc trên các nền tảng công nghệ và freelance Tác giả chỉ ra rằng hệ thống bảo hiểm xã hội hiện nay chưa có quy định phù hợp với đặc thù của NLĐ trong nền kinh tế số, dẫn đến việc họ không thể tham gia đầy đủ vào các chương trình bảo hiểm

xã hội

Ngoài ra, một số Tạp chí khác có những bài viết nghiên cứu đề tài tương như: Tạp chí Kinh

tế và Pháp lý số 5/2019, cũng có bài viết mở rộng về việc ứng dụng công nghệ trong các mô hình

Trang 5

kinh tế mới và những vấn đề về bảo vệ quyền lợi lao động tự do, từ đó làm nền tảng cho việc nhận

diện các vấn đề pháp lý cần được giải quyết trong bối cảnh nền kinh tế số; Tạp chí Luật học số

6/2020, nghiên cứu về mối quan hệ giữa nền kinh tế số và các quy định pháp lý quốc tế về bảo vệ quyền lợi NLĐ tự do, làm rõ các kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển trong việc bảo vệ quyền

lợi của NLĐ trong môi trường số; Tạp chí Pháp lý và Xã hội số 7/2021, các biện pháp cải cách hệ

thống bảo hiểm xã hội tại Việt Nam, đưa ra các giải pháp cải tiến dựa trên mô hình bảo hiểm xã hội quốc tế, nhằm giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống bảo vệ an sinh xã hội cho NLĐ trong nền kinh tế số

Dựa trên các nghiên cứu đã được công bố, có thể thấy rằng, mặc dù một số công trình, bài viết đã đề cập đến các vấn đề pháp lý trong nền kinh tế số và mô hình lao động tự do, nhưng các nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong bối cảnh nền kinh tế số tại Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Hầu hết các nghiên cứu hiện tại chỉ tập trung vào một số khía cạnh như bảo hiểm xã hội, QHLĐ hoặc các vấn đề lý thuyết về kinh tế số, mà chưa đi sâu vào việc phân tích đầy đủ các thách thức pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ tự do và đưa ra các giải pháp cải cách hệ thống pháp lý một cách cụ thể

Do đó, nghiên cứu nàycó tính cấp thiết cao khi đóng góp vào việc hoàn thiện HTPL Việt Nam, đặc biệt trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của nền kinh

tế số và các mô hình lao động tự do

3 Mục tiêu nghiên cứu

Với tiểu luận này, tác giả đặt ra những mục tiêu nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu này đánh giá các thách thức pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi của

NLĐ trong nền kinh tế số và mô hình lao động tự do Nghiên cứu sẽ phân tích sự thiếu hụt các cơ

sở pháp lý rõ ràng đối với các lao động không có hợp đồng chính thức như tài xế Grab, nhân viên giao hàng hay freelancer trên các nền tảng số Việc thiếu hợp đồng lao động chính thức dẫn đến

sự thiếu bảo vệ các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và chế độ nghỉ phép, đồng thời tạo ra sự bất cập trong việc xác định QHLĐ, khi các nền tảng công nghệ không công nhận NLĐ là nhân viên chính thức

Thứ hai, nghiên cứu phân tích sự bất cập trong hệ thống pháp lý hiện hành của Việt Nam

đối với các mô hình lao động mới trong nền kinh tế số và nền kinh tế chia sẻ BLLĐ hiện tại chỉ điều chỉnh các QHLĐ có hợp đồng chính thức và không bao quát các hình thức lao động linh hoạt, đặc biệt là lao động tự do trên các nền tảng công nghệ Các nền tảng này không có nghĩa vụ pháp

Trang 6

lý đối với NLĐ, gây ra tình trạng không có sự bảo vệ đầy đủ về thu nhập, sức khỏe và an sinh xã hội Chính sách bảo vệ NLĐ hiện nay còn thiếu tính linh hoạt và không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thực tế của môi trường lao động số

Thứ ba, từ những bất cập được phân tích, đề xuất các giải pháp cải cách pháp lý để bảo vệ

quyền lợi NLĐ, giúp HTPL Việt Nam thích nghi với nền kinh tế số và mô hình kinh tế chia sẻ Các giải pháp sẽ bao gồm việc điều chỉnh khung pháp lý để bao quát các hình thức lao động không chính thức, phát triển các mô hình bảo hiểm xã hội tự nguyện và linh hoạt, cùng với việc xây dựng

cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả giữa NLĐ và các nền tảng công nghệ Đồng thời, nghiên cứu sẽ khuyến khích sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và nền tảng công nghệ để thực thi các quy định pháp lý, bảo vệ quyền lợi của NLĐ và tạo ra môi trường lao động công bằng trong nền kinh tế số

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Tổng thể, tiểu luận sẽ nghiên cứu và phân tích các yếu tố pháp lý, xã hội, và kinh tế liên quan đến quyền lợi của NLĐ trong môi trường công nghệ số, đồng thời đưa ra các khuyến nghị cải cách pháp lý để đảm bảo bảo vệ đầy đủ quyền lợi của họ trong bối cảnh của nền kinh tế tự do

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận này là các vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ tự do so với lao động truyền thống, đồng thời nghiên cứu hệ thống pháp lý Việt Nam hiện hành quy định QHLĐ trong môi trường công nghệ số Cụ thể, tiểu luận sẽ phân tích những thách thức mà HTPL Việt Nam hiện hành gặp phải khi điều chỉnh các QHLĐ mới phát sinh trong nền kinh tế số, đặc biệt là đối với lao động tự do và lao động trong nền kinh tế chia sẻ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu luận nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền lợi của NLĐ trong nền kinh

tế số và lao động tự do trong nền kinh tế số tại Việt Nam giai đoạn hiện nay, đặc biệt là từ năm

2019 đến nay, khi nền kinh tế số và các mô hình lao động mới phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam

Cụ thể, sẽ tập trung vào các quy định pháp lý hiện hành như BLLĐ và các đạo luật liên quan trong bối cảnh lao động trong nền kinh tế số và các mô hình lao động tự do

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài tiểu luận này, phương pháp nghiên cứu được áp dụng kết hợp các phương pháp

lý thuyết, thực tiễn và phân tích định tính, định lượng để khám phá, làm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi NLĐ trong môi trường công nghệ số và kinh tế tự do

Trang 7

Nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết trong đề tài này tập trung vào

việc phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến lao động trong môi trường số, như “kinh tế số”,

“lao động tự do”, “nền kinh tế chia sẻ”, và “mô hình lao động linh hoạt” Nghiên cứu sẽ sử dụng

các tài liệu pháp lý, lý thuyết xã hội học và các công trình nghiên cứu quốc tế để xây dựng nền tảng lý thuyết vững chắc về các đặc điểm của mô hình lao động trong nền kinh tế số Cùng với đó, nghiên cứu sẽ phân tích sự khác biệt giữa lao động truyền thống và lao động trong nền kinh tế số, cũng như các lý thuyết về lao động tự do và sự chuyển dịch trong QHLĐ Đặc biệt, hệ thống pháp

lý Việt Nam sẽ được đánh giá nhằm chỉ ra các điểm mạnh, yếu và sự không phù hợp trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong nền kinh tế số

Nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn tập trung vào việc tham khảo

các nghiên cứu và báo cáo quốc tế về bảo vệ quyền lợi lao động tự do từ các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Đức, và Singapore Mục tiêu là nghiên cứu các mô hình chính sách bảo vệ lao động

tự do hiệu quả, bao gồm các chính sách bảo hiểm xã hội, thu nhập tối thiểu, chế độ nghỉ phép, và giải quyết tranh chấp lao động Phương pháp này giúp đề xuất các giải pháp thực tiễn, đồng thời khuyến khích việc áp dụng những mô hình đã thành công ở các quốc gia phát triển vào Việt Nam

Phân tích định tính và định lượng: Phương pháp phân tích định tính và định lượng sẽ

được sử dụng để làm rõ các thiếu sót trong hệ thống pháp lý bảo vệ quyền lợi lao động trong nền kinh tế số tại Việt Nam Phân tích định tính sẽ tập trung vào việc nghiên cứu các tình huống pháp

lý điển hình, đặc biệt là các tranh chấp lao động giữa NLĐ và các nền tảng công nghệ, từ đó chỉ ra các lỗ hổng pháp lý, như thiếu hợp đồng lao động chính thức và biện pháp bảo vệ an sinh xã hội Cùng với đó, phân tích định lượng sẽ thu thập dữ liệu thống kê về thu nhập, bảo hiểm, và phúc lợi

xã hội của NLĐ trong nền kinh tế số

6 Bố cục của tiểu luận

Bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, Danh mục viết tắt, và Tài liệu tham khảo Nội dung của Tiểu luận được phân thành ba chương cụ thể:

Chương 1 Lý luận chung về quyền lợi NLĐ trong môi trường công nghệ số và kinh tế tự

Trang 8

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG MÔI

TRƯỜNG CÔNG NGHỆ SỐ VÀ KINH TẾ TỰ DO

1 Khái niệm và đặc điểm của lao động trong nền kinh tế số

1.1 Lao động trong môi trường số

1.1.1 Đặc điểm công việc dựa trên nền tảng công nghệ

Lao động trong môi trường số16 là hình thức lao động mà công việc và các giao dịch lao động được thực hiện chủ yếu thông qua các nền tảng công nghệ như ứng dụng di động, website, phần mềm, hay các hệ thống tự động hóa17 Công việc này không đòi hỏi NLĐ phải có mặt tại một địa điểm cụ thể, mà có thể làm từ bất kỳ đâu có kết nối internet Các công việc này thường liên quan đến các lĩnh vực như lập trình phần mềm, thiết kế đồ họa, dịch thuật, viết nội dung, quản lý mạng xã hội, hoặc các công việc về dữ liệu và phân tích

Đặc điểm nổi bật của công việc dựa trên nền tảng công nghệ là tính linh hoạt về địa điểm

và thời gian làm việc, giúp NLĐ có thể dễ dàng làm việc từ xa, giảm thiểu chi phí và rủi ro đi lại18 Tuy nhiên, môi trường này cũng đụng phải một số vấn đề pháp lý19 về quyền lợi bảo vệ NLĐ như bảo mật thông tin cá nhân, an toàn mạng, và quyền sở hữu trí tuệ

1.1.2 Công việc từ xa và các mô hình làm việc linh hoạt

Công việc từ xa20 đã trở thành một xu hướng chủ đạo trong nền kinh tế số, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0 Đây là mô hình công việc mà NLĐ không cần phải làm việc tại các văn phòng hay cơ sở sản xuất cố định, mà có thể thực hiện công việc từ bất kỳ đâu, miễn là có kết nối mạng Mô hình này21 không chỉ giúp giảm chi phí vận hành cho các doanh nghiệp, mà còn tạo ra cơ hội cho NLĐ ở bất kỳ đâu trên thế giới, miễn là họ có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc tận dụng nguồn nhân lực toàn cầu, đồng thời mở rộng khả năng tuyển dụng đối với các công ty, tổ chức

16 Nguyen, T H., & Le, A K (2023) Legal Challenges in the Digital Economy: Labor Rights and Privacy Concerns Journal of International Labor Law, 15(3), 42-58

17 Bowers, D (2020) Digital Labor and the Gig Economy: A Global Perspective Oxford University Press

18 Phan Thị Hồng, "Vấn đề pháp lý trong môi trường làm việc số và bảo vệ quyền lợi người lao động", Tạp chí Pháp lý Việt Nam, số 8, 2022, tr 50-52

19 Nguyễn Minh Tuấn, "Lao động trong nền kinh tế số: Cơ hội và thách thức đối với người lao động", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 12, 2021, tr 34-36

20 Nguyễn Tuấn Anh, "Công việc từ xa trong nền kinh tế số: Xu hướng và thách thức", Tạp chí Kinh tế và Công nghệ, số 8, 2023, tr 12-15

21 Lê Thị Bích Ngọc, "Cách mạng công nghệ 4.0 và tác động đến mô hình công việc từ xa", Tạp chí Quản

lý và Phát triển nguồn nhân lực, số 5, 2022, tr 20-23

Trang 9

Công việc từ xa mang lại tính linh hoạt về thời gian và địa điểm, giúp NLĐ có thể chủ động hơn trong việc sắp xếp công việc và cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân Đặc biệt, trong thời đại công nghệ 4.0, các công cụ giao tiếp và quản lý từ xa ngày càng trở nên hiệu quả, như các phần mềm quản lý dự án, các nền tảng họp video trực tuyến, hay các công cụ chia sẻ tài liệu và nhắn tin Điều này cho phép các đội ngũ làm việc ở những địa điểm khác nhau vẫn có thể phối hợp hiệu quả và duy trì sự liên kết trong công việc

Tuy nhiên, công việc từ xa cũng đối mặt với một số thách thức không nhỏ Một trong những khó khăn lớn nhất là duy trì sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm khi thiếu sự giao tiếp trực tiếp Điều này có thể dẫn đến cảm giác cô đơn và tách biệt, ảnh hưởng đến động lực làm việc của NLĐ

Bên cạnh đó, bảo mật thông tin và an ninh mạng cũng là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm khi công việc chủ yếu diễn ra trên môi trường trực tuyến Các công ty cần đầu tư vào các hệ thống bảo mật mạnh mẽ để bảo vệ dữ liệu và thông tin quan trọng của mình Ngoài ra, sự khác biệt

về văn hóa và múi giờ giữa các thành viên trong nhóm làm việc từ xa toàn cầu cũng là một yếu tố cần được quản lý tốt để đảm bảo hiệu quả công việc

1.1.3 Mô hình kinh tế chia sẻ và ảnh hưởng đến cơ cấu lao động

Kinh tế chia sẻ22 (sharing economy) là mô hình kinh tế dựa trên việc sử dụng công nghệ để kết nối người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng trực tiếp23, qua đó tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm thiểu chi phí cho cả hai bên Mô hình này cho phép người sử dụng tài nguyên hoặc dịch vụ không cần sở hữu, mà có thể chia sẻ hoặc thuê mượn từ người khác, tạo ra một hệ sinh thái chia sẻ rộng rãi

Đặc điểm nổi bật của kinh tế chia sẻ là tính kết nối thông qua nền tảng công nghệ (website, ứng dụng di động, phần mềm), giúp tạo ra sự tương tác giữa người cung cấp và người tiêu dùng

mà không cần qua các trung gian truyền thống như công ty, tổ chức hay nhà cung cấp dịch vụ cố định Điều này giúp giảm chi phí giao dịch, tối ưu hóa tài nguyên không sử dụng đến và mở rộng

cơ hội kinh doanh cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ Các ví dụ điển hình của mô hình này bao gồm Uber, Grab, Airbnb, và các nền tảng freelance trực tuyến Một trong những yếu tố then chốt

giúp kinh tế chia sẻ phát triển mạnh mẽ là sự tin tưởng và bảo mật giữa người cung cấp dịch vụ

22 Trần Minh Hùng, "Kinh tế chia sẻ: Xu hướng phát triển trong bối cảnh kinh tế số", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Quản lý, số 4, 2021, tr 15-18

23 Nguyễn Thanh Sơn, "Kinh tế chia sẻ và những xu hướng phát triển trong nền kinh tế số", Tạp chí Kinh

tế và Phát triển, số 6, 2022, tr 22-25

Trang 10

và người tiêu dùng, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và nền tảng trực tuyến Các nền tảng này cung cấp hệ thống đánh giá và phản hồi, giúp đảm bảo chất lượng dịch vụ và mức độ tin cậy giữa các bên tham gia

Lao động trong nền kinh tế chia sẻ có đặc điểm là tính chất tạm thời, không ổn định và không thuộc về một hợp đồng lao động dài hạn NLĐ trong mô hình này thường là người cung cấp dịch vụ ngắn hạn, theo nhu cầu của thị trường và không chịu sự kiểm soát trực tiếp từ một nhà tuyển dụng cố định Trong mô hình này, các bên tham gia không chỉ chia sẻ tài nguyên vật chất như phương tiện, nhà cửa mà còn có thể chia sẻ dịch vụ chuyên môn như lập trình viên, tư vấn viên, người thiết kế đồ họa…

Từ đó, kinh tế chia sẻ không chỉ tối ưu hóa tài nguyên, mà còn tạo ra cơ hội phát triển mới cho các ngành nghề và loại hình công việc linh hoạt Tuy nhiên, mô hình này cũng đối mặt với một số thách thức lớn24, như vấn đề bảo mật thông tin, kiểm soát chất lượng dịch vụ, và vấn đề liên quan đến sự thiếu hụt các quyền lợi lao động cơ bản25 như bảo hiểm, nghỉ ốm, nghỉ phép, và các phúc lợi bảo vệ khác

1.2 Lao động tự do (Freelance)

1.2.1 Khái niệm lao động tự do trong nền kinh tế số

Lao động tự do (freelance) là những NLĐ không có hợp đồng dài hạn với một công ty hay

tổ chức nào Thay vào đó, họ làm việc cho nhiều khách hàng khác nhau theo hợp đồng ngắn hạn hoặc dự án Đây là xu hướng ngày càng trở nên phổ biến trong nền kinh tế số, đặc biệt trong các ngành nghề như công nghệ thông tin, sáng tạo, marketing, viết lách, và thiết kế NLĐ tự do thường không bị ràng buộc bởi một nơi làm việc cố định và có thể lựa chọn các dự án hoặc khách hàng

mà họ muốn hợp tác

Theo Khoản 5 Điều 3 BLLĐ năm 2019, “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể”, các QHLĐ được xác định qua hợp đồng

lao động, tuy nhiên, đối với lao động tự do, họ không được điều chỉnh bởi hợp đồng lao động dài hạn mà có thể làm việc theo các hợp đồng ngắn hạn, hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng theo dự án

24 Phan Ngọc Lan, "Tác động của mô hình kinh tế chia sẻ đối với thị trường lao động và quyền lợi người

lao động", Tạp chí Phát triển và Đổi mới, số 9, 2022, tr 60-63

25 Lê Hồng Anh, "Lao động trong nền kinh tế chia sẻ: Thách thức và giải pháp pháp lý", Tạp chí Luật và

Xã hội, số 3, 2023, tr 40-42

Trang 11

Điều này dẫn đến sự thiếu bảo vệ pháp lý cho NLĐ tự do, đặc biệt là trong việc đảm bảo quyền lợi cơ bản như bảo hiểm xã hội, y tế hay các quyền lợi khác

Lao động tự do có tính chất linh hoạt cao, cho phép NLĐ lựa chọn và kiểm soát công việc của mình, không bị ràng buộc bởi một nơi làm việc hay thời gian làm việc cố định26 Họ có thể làm việc từ xa, sử dụng các nền tảng trực tuyến để kết nối với khách hàng và thực hiện các công việc qua Internet Mặc dù điều này mang lại sự tự do và thuận tiện cho NLĐ, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng các rủi ro về quyền lợi, bởi vì NLĐ tự do không thuộc đối tượng bảo vệ của các luật lao động truyền thống

Điều này được thể hiện trong Điều 5 BLLĐ năm 2019, “Người làm việc không có QHLĐ là người làm việc không trên cơ sở thuê mướn bằng hợp đồng lao động”, nơi quy định về quyền và

nghĩa vụ của NLĐ được bảo vệ và quyền lợi của họ Tuy nhiên, hiện nay, lao động tự do chưa được quy định rõ ràng trong các chính sách bảo vệ NLĐ tại Việt Nam, dẫn đến sự thiếu sót trong

hệ thống pháp lý hiện hành trong việc bảo vệ quyền lợi cho nhóm đối tượng này

1.2.2 Đặc điểm lao động tự do: linh hoạt, ngắn hạn và không ổn định

Lao động tự do là hình thức cho phép NLĐ tự do lựa chọn thời gian và địa điểm làm việc Điều này tạo thuận lợi cho họ trong việc cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong các ngành nghề chuyên môn Tuy nhiên, sự linh hoạt này cũng gắn liền với các thách thức về sự ổn định và tính bền vững của thu nhập Cụ thể, lao động

tự do thường không có sự đảm bảo về tính liên tục của công việc, bởi công việc của họ thường mang tính chất ngắn hạn và được ký kết dựa trên các hợp đồng lao động tạm thời, phụ thuộc vào các dự án riêng biệt Điều này dẫn đến sự biến động về thu nhập và quyền lợi bảo vệ, khiến NLĐ gặp khó khăn trong việc duy trì sự ổn định tài chính lâu dài

Theo nghiên cứu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2020), các hình thức hợp đồng lao động ngắn hạn không chỉ gây khó khăn cho việc ổn định thu nhập mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền lợi của NLĐ do thiếu các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ từ phía nhà tuyển dụng

Bên cạnh đó, lao động tự do thường thiếu hụt các quyền lợi bảo vệ lao động cơ bản mà NLĐ chính thức được hưởng, chẳng hạn như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ nghỉ phép, và các phúc lợi khác Trong khi lao động chính thức có thể được bảo vệ bởi hệ thống bảo hiểm xã hội quốc gia và các quy định về quyền lợi lao động, thì lao động tự do phải tự gánh vác mọi trách

26 Điểm a khoản 1 Điều 5 BLLĐ 2019

Trang 12

nhiệm liên quan đến sức khỏe, nghỉ ngơi, và các tình huống khẩn cấp, không có sự hỗ trợ từ nhà tuyển dụng hay các chế độ bảo vệ pháp lý

Điều này gia tăng nguy cơ NLĐ tự do bị bỏ rơi trong các tình huống khủng hoảng về sức khỏe hoặc tài chính Chưa kể, một số nghiên cứu chỉ ra rằng, lao động tự do thường xuyên phải đối mặt với sự thiếu minh bạch trong các thỏa thuận lao động, dẫn đến việc không được bảo vệ đầy đủ trong các trường hợp tranh chấp hợp đồng hoặc yêu cầu đền bù thiệt hại (Đỗ Thị Ngọc Thảo, 2022) Sự thiếu hụt này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ mà còn gây khó khăn cho việc thực thi các quyền lợi cơ bản, qua đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc cải cách HTPL

để bảo vệ lao động trong môi trường kinh tế số và tự do hiện nay

1.2.3 Ảnh hưởng của công việc tự do đến thu nhập và quyền lợi bảo vệ người lao động

Lao động tự do phải đối mặt với nhiều bất lợi, đặc biệt là về sự không ổn định của thu nhập, điều này càng trở nên nghiêm trọng trong các ngành nghề không được bảo vệ bởi hệ thống pháp

lý đầy đủ và vững chắc Do thiếu các hợp đồng lao động dài hạn và không có các quy định bảo vệ lao động như lao động chính thức, NLĐ tự do thường phải chịu áp lực về thu nhập, có thể bị ép giá thù lao hoặc bị bóc lột trong các giao dịch thương mại

Trong thực tế, khi không có các cơ chế pháp lý bảo vệ, các cá nhân lao động tự do dễ bị lợi dụng bởi các bên sử dụng lao động hoặc các nhà thầu, nhất là trong các hợp đồng mang tính tạm thời hoặc ngắn hạn Điều này không chỉ làm gia tăng rủi ro tài chính cho NLĐ mà còn gây ra tình trạng thiếu công bằng trong QHLĐ

Theo nghiên cứu của ILO, trong các ngành nghề không có sự bảo vệ pháp lý đầy đủ, NLĐ

tự do thường xuyên bị bóc lột và không được đảm bảo quyền lợi cơ bản, điều này làm dấy lên mối

lo ngại về sự công bằng và quyền lợi của NLĐ trong nền kinh tế thị trường tự do

Ngoài ra, NLĐ tự do còn phải đối mặt với những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến an toàn lao động, sức khỏe tâm lý và sự thiếu hụt các phúc lợi xã hội Do không thuộc đối tượng áp dụng các chính sách bảo vệ lao động như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và các phúc lợi khác, họ dễ bị tổn thương khi gặp phải các tình huống khẩn cấp về sức khỏe hoặc mất khả năng lao động Đặc biệt trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, lao động tự do càng dễ rơi vào tình trạng thiếu hỗ trợ trong việc bảo vệ quyền lợi sức khỏe và tài chính của mình

Việc thiếu các chế độ bảo hiểm và phúc lợi khiến NLĐ tự do phải tự gánh vác mọi trách nhiệm về sức khỏe, nghỉ ngơi và các nhu cầu cơ bản khác Để đảm bảo quyền lợi cho nhóm lao động này, cần có những biện pháp pháp lý cụ thể, như quy định về mức thu nhập tối thiểu, quyền

Trang 13

bảo vệ sức khỏe, và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp khác mà họ đáng được hưởng Điều này cũng phản ánh sự cần thiết phải cải cách HTPL lao động Việt Nam, để tạo ra một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ tự do trong môi trường kinh tế tự do và công nghệ số hiện nay

2 Các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động

Các nguyên tắc này được thể hiện qua các quyền cơ bản mà người lao động được hưởng, bao gồm quyền được bảo vệ về tiền lương, an sinh xã hội, quyền nghỉ phép, quyền tự do kết hợp công việc với cuộc sống cá nhân và quyền công bằng trong việc phân chia quyền lợi giữa NLĐ và chủ sử dụng lao động

2.1 Quyền được bảo vệ về tiền lương, an sinh xã hội (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội),

quyền nghỉ phép

Một trong những nguyên tắc cốt lõi trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ là quyền được bảo vệ về tiền lương và an sinh xã hội Quyền này không chỉ phản ánh nguyên tắc công bằng trong QHLĐ mà còn thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và chủ sử dụng lao động đối với phúc lợi của NLĐ Bảo vệ quyền lợi về tiền lương và an sinh xã hội là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự công bằng, ổn định và phát triển bền vững trong môi trường lao động, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh

tế tự do và công nghệ số hiện nay

Quyền được bảo vệ về tiền lương: Tiền lương là một trong những yếu tố cơ bản cấu

thành mối QHLĐ Việc bảo vệ quyền lợi này bao gồm các biện pháp bảo vệ chống lại tình trạng bị trả lương thấp, bị chiếm dụng lương hoặc các vi phạm liên quan đến thời gian thanh toán tiền lương Theo quy định tại Điều 90 của BLLĐ Việt Nam 2019, NLĐ

có quyền yêu cầu mức lương tối thiểu đảm bảo phù hợp với mức sống và điều kiện kinh tế hiện tại, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cơ bản của họ Điều này càng quan trọng trong môi trường lao động tự do, nơi mà tình trạng bóc lột lao động có thể xảy ra nếu thiếu các biện pháp kiểm soát chặt chẽ Chính vì vậy, BLLĐ yêu cầu các cơ quan

có thẩm quyền và chủ sử dụng lao động phải đảm bảo thực hiện đúng mức lương tối thiểu, bảo vệ quyền lợi tài chính của NLĐ trong mọi hoàn cảnh

Quyền an sinh xã hội (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội): NLĐ có quyền được bảo vệ

trước các rủi ro về sức khỏe, tai nạn lao động, và nghỉ hưu thông qua các chế độ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, trong môi trường lao động tự do, rất nhiều NLĐ không được hưởng các chính sách bảo hiểm này, dẫn đến nguy cơ cao về tài chính

và sức khỏe khi gặp phải các sự cố ngoài ý muốn Điều này không chỉ ảnh hưởng đến

Trang 14

quyền lợi của NLĐ mà còn tạo ra gánh nặng cho hệ thống y tế và an sinh xã hội của quốc gia Theo Điều 28 và Điều 29 của BLLĐ 2019, hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cần được mở rộng đối với lao động tự do, với các quy định linh hoạt hơn, dễ tiếp cận hơn, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ số, nơi mà nhiều lao động không có hợp đồng chính thức với chủ sử dụng lao động Điều này yêu cầu các chính sách pháp

lý cần được cải cách để bao quát nhóm lao động này, bảo vệ họ trước các rủi ro và bất

ổn trong đời sống xã hội

Quyền nghỉ phép: Quyền nghỉ phép là quyền lợi cơ bản mà mọi NLĐ đều có quyền

hưởng, bao gồm nghỉ phép định kỳ và hưởng lương khi không làm việc Đây là một trong những quyền cơ bản của NLĐ được quy định tại các điều khoản của BLLĐ Việt Nam, nhằm bảo vệ sức khỏe và tạo sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân Quyền nghỉ phép và các chế độ nghỉ ngơi hợp lý không chỉ là công cụ bảo vệ sức khỏe,

mà còn giúp NLĐ duy trì hiệu suất công việc trong dài hạn Trong môi trường lao động căng thẳng và khối lượng công việc lớn như công nghệ số, việc nghỉ phép trở nên vô cùng quan trọng để tránh tình trạng kiệt sức, góp phần bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần cho NLĐ Do đó, các chủ sử dụng lao động cần tuân thủ các quy định về quyền nghỉ phép và đảm bảo rằng NLĐ có thể thực hiện quyền này mà không bị phân biệt đối

xử hay bị gây khó dễ

2.2 Quyền tự do kết hợp công việc với cuộc sống cá nhân

Trong bối cảnh nền kinh tế tự do và sự phát triển mạnh mẽ của môi trường công nghệ số, quyền tự do kết hợp công việc với cuộc sống cá nhân là một trong những quyền cơ bản của NLĐ, đặc biệt là đối với lao động tự do và lao động qua nền tảng công nghệ Quyền này không chỉ là sự bảo vệ quyền tự quyết của NLĐ trong việc tổ chức công việc và cuộc sống mà còn giúp họ duy trì

sự cân bằng giữa công việc và các nhu cầu cá nhân

Theo Điều 5 của BLLĐ 2019, NLĐ có quyền tự do lựa chọn công việc và tổ chức thời gian lao động sao cho phù hợp với nhu cầu cá nhân và gia đình Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh lao động tự do hoặc làm việc qua các nền tảng công nghệ, nơi các công việc không gắn liền với một công ty hay tổ chức cụ thể, và tính linh hoạt là một đặc thù nổi bật Quyền này cho phép NLĐ quyết định thời gian làm việc và nghỉ ngơi mà không bị can thiệp, đồng thời họ có quyền bảo vệ thời gian cá nhân của mình khỏi bị xâm phạm bởi yêu cầu công việc

Trang 15

Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, việc bảo vệ quyền tự do này lại gặp phải không ít thách thức Đặc thù của lao động tự do trong nền kinh tế số là công việc không

bị giới hạn trong một khung thời gian cố định, mà có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi, và đặc biệt không có sự phân định rõ ràng giữa giờ làm việc và giờ nghỉ ngơi Điều này có thể dẫn đến tình trạng lao động bị yêu cầu làm việc quá nhiều, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống cá nhân

Một nghiên cứu của ILO chỉ ra rằng lao động tự do, đặc biệt là lao động qua nền tảng công nghệ, đối mặt với nguy cơ làm việc quá giờ, dẫn đến căng thẳng, kiệt sức và các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng (ILO, 2021) Các nền tảng công nghệ thường không áp dụng các quy định về giới

hạn giờ làm việc như trong các doanh nghiệp truyền thống, khiến NLĐ dễ rơi vào tình trạng “luôn luôn sẵn sàng” làm việc

Vì vậy, một cơ chế pháp lý rõ ràng và cụ thể cần được xây dựng để đảm bảo rằng NLĐ có quyền tự do điều chỉnh khối lượng công việc, có thời gian nghỉ ngơi hợp lý và không bị ép buộc làm việc quá mức Cần thiết phải đưa ra các quy định hạn chế về thời gian làm việc tối đa cho lao động tự do, cũng như các biện pháp bảo vệ để ngăn ngừa tình trạng lao động quá sức, bảo vệ sức khỏe của NLĐ trong nền kinh tế số

2.3 Đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong việc phân chia quyền lợi giữa người lao

động và chủ sử dụng lao động

Một trong những nguyên tắc cốt lõi trong bảo vệ quyền lợi của NLĐ là sự công bằng và bình đẳng trong phân chia quyền lợi giữa NLĐ và chủ sử dụng lao động Nguyên tắc này không chỉ bao gồm việc bảo đảm các quyền lợi tài chính hợp lý như lương và các phúc lợi mà còn mở rộng tới các quyền lợi khác như cơ hội phát triển nghề nghiệp, điều kiện làm việc

Theo Điều 5 của BLLĐ Việt Nam 2019, việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ không chỉ dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền lợi tối thiểu mà còn phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, không phân biệt đối xử về giới tính, tuổi tác, chủng tộc, tôn giáo hay bất kỳ yếu tố nào khác Điều này yêu cầu các chủ sử dụng lao động phải thực hiện một cách nghiêm túc việc phân chia quyền lợi hợp lý, bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng cho tất cả NLĐ, không có sự thiên vị hay phân biệt đối xử

Trong nền kinh tế tự do và nền kinh tế số, nơi mà các mối QHLĐ trở nên đa dạng và thường xuyên thay đổi, nguyên tắc công bằng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt đối với lao động tự do và lao động qua nền tảng công nghệ Trong bối cảnh này, rất nhiều lao động tự do

Trang 16

không được bảo vệ đầy đủ quyền lợi trong các hợp đồng lao động, thường xuyên phải đối mặt với việc trả lương thấp hơn mức xứng đáng hoặc không được hưởng các phúc lợi cơ bản như bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ phép hay chế độ bảo vệ khi gặp tai nạn lao động

Theo ILO, lao động tự do trong nền kinh tế số thường xuyên phải đối mặt với tình trạng bị bóc lột và thiếu các biện pháp bảo vệ pháp lý, trong khi các cơ chế giải quyết tranh chấp vẫn chưa

đủ mạnh để đảm bảo quyền lợi của họ ILO (2021) nhấn mạnh rằng, sự thiếu hụt các cơ chế bảo

vệ và giải quyết tranh chấp hợp lý là yếu tố quan trọng dẫn đến tình trạng lao động tự do dễ bị khai thác và không được đối xử công bằng Điều này cho thấy sự cấp thiết trong việc cải cách và hoàn thiện HTPL Việt Nam, để bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong bối cảnh nền kinh tế số và tự do đang ngày càng phát triển mạnh mẽ

Do đó, để đảm bảo quyền lợi của lao động tự do và bảo vệ họ khỏi sự bất công, cần có các quy định rõ ràng trong BLLĐ và các chính sách của Nhà nước, nhằm đảm bảo công bằng trong phân chia quyền lợi giữa NLĐ và chủ sử dụng lao động, đồng thời xây dựng các cơ chế kiểm tra

và bảo vệ quyền lợi lao động trong mọi hoàn cảnh, tạo ra sự minh bạch và công bằng trong các QHLĐ

Trang 17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương này đã làm rõ các đặc điểm và khái niệm của lao động trong nền kinh tế số, cũng như lao động tự do, nhằm tạo ra nền tảng lý thuyết vững chắc cho việc nghiên cứu bảo vệ quyền lợi NLĐ trong bối cảnh chuyển đổi số Lao động trong môi trường số chủ yếu gắn liền với tính chất công việc dựa trên nền tảng công nghệ, làm việc từ xa, linh hoạt về thời gian và không gian,

và sự phát triển của các mô hình kinh tế chia sẻ Các yếu tố này không chỉ tạo ra sự linh hoạt cho NLĐ mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với sự ổn định công việc, thu nhập, và bảo vệ quyền lợi lao động trong môi trường pháp lý hiện hành

Đặc biệt, lao động tự do (freelance) trong nền kinh tế số đã trở thành xu hướng chủ đạo, nhưng lại tồn tại các yếu tố không ổn định về thu nhập và thiếu bảo vệ về các quyền lợi xã hội như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, và nghỉ phép Những đặc điểm này khiến NLĐ tự do dễ bị tổn thương trong môi trường làm việc thiếu sự điều chỉnh pháp lý chặt chẽ, đồng thời thiếu các chế độ bảo vệ công bằng như trong mô hình lao động truyền thống Điều này đòi hỏi một HTPL linh hoạt,

có khả năng bao quát và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn lao động hiện đại

Để bảo vệ quyền lợi NLĐ trong môi trường công nghệ số, các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi

cơ bản như quyền được bảo vệ về tiền lương, quyền an sinh xã hội, quyền nghỉ phép và quyền tự

do kết hợp công việc với cuộc sống cá nhân cần được đảm bảo Đồng thời, sự công bằng và bình đẳng trong phân chia quyền lợi giữa NLĐ và chủ sử dụng lao động là yêu cầu tất yếu để tránh sự bất công trong môi trường làm việc số Những nguyên tắc này là cơ sở để xây dựng một hệ thống pháp lý công bằng, ổn định và bảo vệ quyền lợi lao động trong kỷ nguyên số, từ đó tạo ra một thị trường lao động minh bạch và bền vững

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ SỐ VÀ KINH TẾ TỰ DO

1 Thực trạng quy định pháp lý hiện tại tại Việt Nam

1.1 Các quy định trong BLLĐ hiện hành

Khoản 2 và Khoản 3 Điều 3 của BLLĐ 2019 quy định rõ về khái niệm NLĐ và NSD LĐ,

trong đó NLĐ được định nghĩa là “người làm công ăn lương dưới sự điều hành, chỉ đạo của người

sử dụng lao động” và NSD LĐ là “cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu người lao động thực hiện công việc trong một khoảng thời gian xác định và trả lương”

Tuy nhiên, các quy định này không đề cập đến những đối tượng lao động có hợp đồng không chính thức, như lao động tự do (freelancer) hay lao động làm việc qua nền tảng công nghệ (gig workers) Điều này dẫn đến sự bất cập trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của những nhóm lao động này, vì họ không được bảo vệ theo những quy định chặt chẽ về hợp đồng lao động truyền thống Hệ quả là nhiều lao động tự do không có sự bảo vệ pháp lý đầy đủ khi tham gia vào các công việc qua nền tảng số, dù họ thực hiện công việc tương tự như lao động chính thức Vấn

đề này càng trở nên nghiêm trọng khi khái niệm “người lao động” không bao quát được đầy đủ các hình thức lao động mới, dẫn đến khoảng trống trong việc đảm bảo các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay các chế độ nghỉ phép

Trong bối cảnh nền kinh tế số, sự xuất hiện của các công việc không chính thức và linh hoạt như công việc trực tuyến, lao động qua nền tảng công nghệ hoặc theo dự án, không hoàn toàn tương thích với các khái niệm truyền thống về NLĐ trong BLLĐ hiện hành Những nhóm lao động này thường làm việc dưới hình thức hợp đồng ngắn hạn, hợp đồng theo từng dự án, hoặc thậm chí không có hợp đồng chính thức nào Sự thiếu rõ ràng trong việc xác định NLĐ theo các mô hình này dẫn đến tình trạng các quyền lợi của họ không được bảo vệ đầy đủ

Theo ILO, lao động trong nền kinh tế số thường xuyên bị bỏ qua trong các hệ thống bảo

vệ lao động truyền thống, vì họ không được coi là “NLĐ” chính thức trong các mô hình hợp đồng truyền thống (ILO, 2021) Do đó, cần có những sửa đổi và bổ sung trong BLLĐ để bao quát đầy

đủ các hình thức lao động này và tạo ra một cơ chế bảo vệ phù hợp

Theo các quy định hiện hành tại BLLĐ 2019, các loại hợp đồng lao động được phân chia thành hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động không xác định thời hạn, và hợp đồng mùa vụ Tuy nhiên, các hình thức hợp đồng này chủ yếu phù hợp với các mối QHLĐ trong

Trang 19

các doanh nghiệp truyền thống, nơi có sự ổn định về công việc và thời gian làm việc Trong khi

đó, trong nền kinh tế số, nơi công việc thường xuyên thay đổi và tính linh hoạt là yếu tố chủ đạo, các loại hợp đồng này chưa hoàn toàn phù hợp với các hình thức lao động mới Chẳng hạn, đối với lao động tự do qua nền tảng công nghệ, việc áp dụng hợp đồng lao động dài hạn hoặc hợp đồng mùa vụ không thực sự phản ánh được bản chất công việc ngắn hạn, không liên tục của họ

Vì vậy, cần có các loại hợp đồng linh hoạt hơn, phù hợp với tính chất của công việc online, công việc theo dự án, hay công việc qua nền tảng công nghệ

Một trong những vấn đề nổi bật là khi áp dụng các quy định về hợp đồng lao động đối với lao động tự do và lao động trong nền kinh tế số, các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và chế

độ nghỉ phép không được điều chỉnh đầy đủ Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc bảo vệ quyền lợi cho lao động tự do, vì họ không có hợp đồng lao động chính thức và không được tham

gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc Trong khi đó, theo Điều 14 của BLLĐ 2019, “Lao động có hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn có quyền tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và các chế độ phúc lợi khác theo quy định của pháp luật.” chỉ có

lao động có hợp đồng lao động chính thức mới được hưởng các quyền lợi này Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế số, nhiều lao động không có hợp đồng lao động dài hạn mà thay vào đó là các hợp đồng ngắn hạn hoặc hợp đồng theo từng dự án, dẫn đến việc họ không được bảo vệ quyền lợi

an sinh xã hội đầy đủ Để giải quyết vấn đề này, cần phải phát triển các cơ chế bảo vệ quyền lợi cho lao động tự do, bao gồm các chương trình bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế, và các phúc lợi khác phù hợp với tính chất công việc linh hoạt của họ

1.2 Vấn đề thiếu sự bảo vệ đối với lao động trong nền kinh tế số

Một trong những vấn đề nổi bật hiện nay trong nền kinh tế số là sự thiếu vắng các quy định bảo vệ đối với lao động tự do, đặc biệt là lao động tham gia vào các nền tảng trực tuyến như Grab,

Uber, Gojek hoặc các freelancer làm việc qua Internet Theo Điều 2 BLLĐ 2019, "NLĐ" được

định nghĩa là người làm công ăn lương dưới sự quản lý của NSD LĐ, nhưng quy định này chưa

đủ để bao quát các hình thức lao động tự do Các quy định pháp lý hiện hành chưa có sự điều chỉnh

rõ ràng về những nhóm lao động này, dẫn đến việc họ không được bảo vệ quyền lợi đầy đủ như các lao động có hợp đồng chính thức Điều này đã tạo ra một khoảng trống pháp lý, khiến lao động

tự do và lao động qua nền tảng công nghệ không được hưởng các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, và các quyền lợi liên quan đến chế độ nghỉ phép hay bảo vệ trong trường hợp xảy ra tranh chấp lao động

Trang 20

Theo ILO, khoảng trống này đang ngày càng trở nên nghiêm trọng khi số lượng lao động trong nền kinh tế số gia tăng nhanh chóng, nhưng không được bảo vệ bởi các hệ thống pháp lý truyền thống (ILO, 2021) Do đó, cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định trong BLLĐ để đảm bảo quyền lợi cho nhóm lao động này

Một vấn đề nghiêm trọng khác đối với lao động trong nền kinh tế số là sự thiếu hụt cơ chế bảo vệ an sinh xã hội, đặc biệt là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và các phúc lợi khác đối với các nhóm lao động không chính thức như freelancer, nhân viên thời vụ hoặc lao động tạm thời Theo quy định hiện hành tại BLLĐ, chỉ những lao động có hợp đồng lao động chính thức và dài hạn mới được tham gia vào các chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế bắt buộc (Điều 4, BLLĐ 2019)

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế số, nơi mà lao động tự do và lao động qua nền tảng công nghệ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, các quy định này không còn phù hợp Các nhóm lao động này không có quyền tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc, và vì thế, không được hưởng các chế độ bảo vệ khi gặp rủi ro về sức khỏe, tai nạn lao động, hay mất việc Một giải pháp có thể

là xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện, linh hoạt hơn, để NLĐ tự do có thể tham gia và hưởng quyền lợi tương đương, nhưng vấn đề về sự thiếu hụt quy định pháp lý và cơ chế triển khai vẫn đang là thách thức lớn đối với HTPL Việt Nam hiện nay

Một vấn đề quan trọng khác là sự mập mờ trong các quy định pháp lý hiện tại, khi không

có sự điều chỉnh cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ của lao động trong môi trường công nghệ số Các nền tảng công nghệ như Uber, Grab, các website freelance hiện nay thường xuyên không ký kết hợp đồng lao động chính thức với NLĐ, mà thay vào đó chỉ có các thỏa thuận hợp tác hoặc hợp đồng dịch vụ ngắn hạn, thiếu sự ràng buộc pháp lý rõ ràng Điều này dẫn đến sự thiếu bảo vệ quyền lợi cho lao động khi có tranh chấp xảy ra

Một ví dụ điển hình là các tài xế của Uber hoặc Grab không được coi là lao động chính thức, mặc dù họ thực hiện công việc có tính chất như lao động chính thức và chịu sự kiểm soát, hướng dẫn của các nền tảng công nghệ này Chính vì vậy, khi có tranh chấp về lương bổng, điều kiện làm việc, hoặc các quyền lợi khác, NLĐ không có cơ sở pháp lý vững chắc để yêu cầu bảo

vệ quyền lợi của mình, vì các nền tảng này không được xem là “người sử dụng lao động” theo định nghĩa trong BLLĐ Điều này cho thấy sự thiếu sót trong các quy định pháp lý hiện tại, đòi hỏi sự cải cách để tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng hơn cho lao động trong môi trường công nghệ số

Trang 21

Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, và các nền tảng công nghệ số, hệ thống pháp lý hiện hành đang bộc lộ sự thiếu thích ứng đối với những thay đổi này Các công nghệ mới đang thay đổi mạnh mẽ cách thức lao động được thực hiện và tạo ra những mô hình lao động mới, như công việc từ xa, công việc theo dự án, hay lao động qua nền tảng số, nhưng các quy định pháp lý của Việt Nam vẫn chưa đủ linh hoạt để bảo vệ quyền lợi của lao động trong những mô hình này Chẳng hạn, việc lao động qua nền tảng công nghệ không luôn đi kèm với hợp đồng lao động chính thức, và sự điều chỉnh các quyền lợi của NLĐ theo các hình thức hợp đồng truyền thống không còn phù hợp

Do đó, cần phải xây dựng các quy định pháp lý mới, linh hoạt hơn, có khả năng bao quát các hình thức lao động hiện đại, đảm bảo bảo vệ quyền lợi cho NLĐ trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ Việc điều chỉnh kịp thời và toàn diện sẽ giúp HTPL Việt Nam đáp ứng được yêu cầu thực tế, bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong nền kinh tế số

1.3 Hệ thống pháp lý chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Hệ thống pháp lý Việt Nam hiện nay thiếu vắng các quy định pháp lý cụ thể dành riêng cho lao động trong nền kinh tế số, đặc biệt là đối với lao động tự do (freelancer) và lao động qua các nền tảng trực tuyến như Grab, Uber, hoặc các công việc từ xa qua mạng Internet Trong khi các loại hình lao động truyền thống như lao động có hợp đồng dài hạn đã được quy định khá đầy đủ trong BLLĐ 2019, các hình thức lao động mới này lại không được điều chỉnh hoặc được điều chỉnh một cách mơ hồ Cụ thể, BLLĐ 2019 không đề cập chi tiết đến các quyền lợi bảo vệ cho nhóm lao động làm việc qua nền tảng công nghệ, làm cho họ dễ bị bỏ qua trong các chính sách bảo vệ quyền lợi cơ bản Điều này dẫn đến một khoảng trống pháp lý đáng kể, khi nhóm lao động này không được bảo vệ bởi các quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cũng như các phúc lợi khác mà họ xứng đáng được hưởng Sự thiếu hụt này cần phải được khắc phục thông qua việc xây dựng các quy định cụ thể hơn về quyền lợi của NLĐ trong môi trường số, bao gồm các tiêu chuẩn bảo vệ quyền lợi lao động freelance, lao động qua nền tảng trực tuyến và lao động từ xa

Khi các quy định của BLLĐ 2019 được áp dụng vào các hình thức lao động không truyền thống, đặc biệt là lao động qua nền tảng công nghệ, có thể thấy rõ những khó khăn trong việc đảm bảo quyền lợi của NLĐ Một ví dụ điển hình là các lao động làm việc qua các ứng dụng như Grab hoặc Uber, khi họ không ký kết hợp đồng lao động chính thức hoặc không có thỏa thuận rõ ràng

về thời gian làm việc Điều này dẫn đến sự không chắc chắn về các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ nghỉ phép, và quyền bảo vệ trong trường hợp tai nạn lao động Các

Trang 22

hình thức lao động này chủ yếu được xác định qua các hợp đồng dịch vụ ngắn hạn hoặc thỏa thuận hợp tác, mà trong đó quyền lợi của NLĐ không được bảo vệ đầy đủ như những lao động có hợp đồng lao động chính thức Sự thiếu rõ ràng trong các quy định hiện tại của BLLĐ khiến cho việc

áp dụng vào các hình thức lao động mới trở nên không hiệu quả và thiếu bảo vệ Do đó, cần có sự điều chỉnh kịp thời và linh hoạt của pháp luật để phù hợp với thực tiễn, bảo vệ quyền lợi cho nhóm lao động này

Một trong những thách thức lớn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ trong nền kinh tế số là việc xác định trách nhiệm của các nền tảng công nghệ như Uber, Grab, hoặc các công ty dịch vụ online đối với lao động mà họ thuê Các nền tảng công nghệ này thường không ký kết hợp đồng lao động chính thức với NLĐ, mà thay vào đó, sử dụng các thỏa thuận hợp tác hoặc hợp đồng dịch

vụ, điều này dẫn đến tình trạng thiếu sự ràng buộc pháp lý rõ ràng giữa lao động và NSD LĐ Khi các lao động này không được coi là nhân viên chính thức, các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ phép, và chế độ bảo vệ trong trường hợp tai nạn lao động không được đảm bảo Điều này tạo ra một khoảng trống trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ, vì các nền tảng công nghệ không có trách nhiệm pháp lý đầy đủ đối với NLĐ của mình Đây là một điểm mấu chốt cần được điều chỉnh trong pháp luật lao động hiện hành, nhằm xác định rõ trách nhiệm của các nền tảng công nghệ đối với NLĐ, cũng như bảo vệ quyền lợi của nhóm lao động này trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ

2 Thực tiễn quy định cuar các nước về bảo vệ người lao động tự do

2.1 Quy định pháp luật tại các quốc gia phát triển

Tại Mỹ, dù không có một bộ luật liên bang toàn diện dành riêng cho lao động tự do, các tiểu bang như California đã bắt đầu thực hiện những cải cách đáng chú ý Cụ thể, Luật AB5 của California, được thông qua vào năm 2019, đã đặt ra các tiêu chí rõ ràng để xác định liệu một cá nhân có phải là lao động tự do hay không và yêu cầu các nền tảng công nghệ như Uber, Lyft phải công nhận mối QHLĐ với NLĐ, từ đó phải đảm bảo quyền lợi như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, và các phúc lợi khác Điều này đã góp phần hình thành một khung pháp lý rõ ràng cho lao động tự do trong nền kinh tế số, mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về hiệu quả và tính khả thi của việc áp dụng quy định này trên toàn quốc (Brennan, 2020) Mặc dù không phải tất cả các tiểu bang đều áp dụng mô hình này, nhưng California là ví dụ điển hình cho xu hướng điều chỉnh pháp lý nhằm bảo vệ lao động tự do

Trang 23

Tại Vương quốc Anh, quyền lợi của lao động tự do được bảo vệ thông qua các sửa đổi

trong Employment Rights Act và các bản hướng dẫn liên quan đến việc làm không chính thức Theo

đó, lao động tự do có quyền yêu cầu các phúc lợi cơ bản như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội nếu làm việc trên một số giờ nhất định Luật này không chỉ bảo vệ quyền lợi của lao động tự do mà còn yêu cầu các nền tảng công nghệ phải cung cấp cho NLĐ các thông tin về quyền lợi và các chế

độ bảo vệ khi tham gia vào các công việc qua các nền tảng trực tuyến Chính phủ Anh còn yêu cầu các nền tảng như Deliveroo hay Uber phải cung cấp thông tin về chế độ nghỉ phép, bảo hiểm y tế

và các quyền lợi cơ bản khác Điều này giúp NLĐ tự do ở Anh được bảo vệ đầy đủ hơn trong môi trường công nghệ số (Laws, 2021)

Đức có hệ thống bảo vệ lao động tự do phát triển và toàn diện hơn, đặc biệt trong việc bảo

vệ quyền lợi về bảo hiểm xã hội Theo Social Code Book III của Đức, những NLĐ tự do có thể

tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện, bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm hưu trí và trợ cấp thất nghiệp Điều này đảm bảo rằng ngay cả khi không có hợp đồng lao động chính thức, lao động tự do vẫn có thể tiếp cận các quyền lợi bảo hiểm cần thiết để đảm bảo cuộc sống ổn định Bên cạnh đó, Đức còn có các quy định nghiêm ngặt về các điều kiện làm việc, bao gồm bảo vệ quyền lợi về thu nhập và môi trường làm việc công bằng cho lao động tự do, đặc biệt trong các ngành nghề sáng tạo và công nghệ (Büchler, 2019)

Singapore nổi bật trong việc xây dựng các chính sách bảo vệ lao động tự do trong nền kinh

tế số Chính phủ Singapore đã chủ động phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt dành cho nhóm lao động này, bao gồm các hình thức bảo hiểm y tế và trợ cấp thất nghiệp Hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt này cho phép lao động tự do đóng góp theo nhu cầu và điều kiện tài chính của họ, đồng thời vẫn được đảm bảo quyền lợi về hưu trí và chăm sóc sức khỏe Đây là một trong những mô hình thành công trong việc bảo vệ lao động tự do trong nền kinh tế số (Lee, 2020)

2.2 So sánh với hệ thống pháp luật Việt Nam

Tại Việt Nam, khung pháp lý bảo vệ lao động chủ yếu tập trung vào các mối QHLĐ chính thức với hợp đồng lao động dài hạn giữa NLĐ và NSD LĐ BLLĐ 2019 của Việt Nam tuy đã có những quy định mới về lao động điện tử, nhưng các quy định này vẫn còn thiếu rõ ràng và chưa

đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của lao động tự do trong nền kinh tế số Theo đó, NLĐ không có hợp đồng lao động chính thức với các nền tảng công nghệ như Uber, Grab, Shopee không được bảo vệ

về các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và các chế độ nghỉ phép Điều này

Trang 24

dẫn đến một khoảng trống lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của nhóm lao động này, vốn đang chiếm

tỷ lệ ngày càng lớn trong nền kinh tế

HTPL Việt Nam cũng chưa có một khung pháp lý riêng biệt dành cho lao động tự do trong nền kinh tế số Dù một số sửa đổi trong BLLĐ 2019 đã đưa ra các quy định về hợp đồng lao động điện tử và lao động qua các nền tảng số, nhưng các quy định này thiếu cụ thể và chưa có cơ chế rõ ràng để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ tự do Điều này là một điểm yếu lớn, nhất là khi so với các quốc gia như Đức và Singapore, nơi có những hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt và chính sách bảo vệ lao động tự do đã được triển khai hiệu quả

2.3 Kiến nghị cải cách và học hỏi từ các quốc gia

Để bảo vệ quyền lợi của lao động tự do trong nền kinh tế số, Việt Nam cần học hỏi và áp

dụng một số mô hình từ các quốc gia tiên tiến Trước hết, việc xây dựng một khung pháp lý riêng biệt dành cho lao động tự do trong nền kinh tế số là điều cần thiết Việc áp dụng các quy định như

Luật AB5 của California hay hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt như ở Đức và Singapore có thể

là những giải pháp phù hợp để Việt Nam tham khảo Cụ thể, cần bổ sung các quy định trong BLLĐ

2019 để công nhận và bảo vệ quyền lợi của lao động tự do, đồng thời xây dựng các chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế linh hoạt cho nhóm lao động này

Ngoài ra, các nền tảng công nghệ hoạt động tại Việt Nam cần có trách nhiệm rõ ràng hơn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ Tương tự như chính sách tại Anh và Singapore, các nền tảng này cần phải cung cấp các phúc lợi cơ bản như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, và các chế độ nghỉ phép cho NLĐ, dù họ không có hợp đồng lao động chính thức Việc đưa ra các quy định cụ thể về mối QHLĐ giữa NLĐ và các nền tảng công nghệ sẽ giúp tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch

và công bằng hơn cho lao động tự do trong nền kinh tế số

3 Thách thức hệ thống pháp lý Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người lao động

Trong bối cảnh nền kinh tế số và kinh tế tự do ngày càng phát triển mạnh mẽ, một trong những thách thức lớn đối với HTPL Việt Nam là việc bảo vệ quyền lợi NLĐ trong các công việc không chính thức, đặc biệt là lao động qua các nền tảng công nghệ Hệ thống pháp lý hiện hành, chủ yếu được xây dựng dựa trên các mô hình lao động truyền thống, chưa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền lợi của nhóm lao động trong môi trường công nghệ số Các vấn đề về QHLĐ không rõ ràng, khó khăn trong quản lý thu nhập và bảo vệ quyền lợi, cùng với sự thiếu hụt chính

Trang 25

sách bảo vệ an sinh xã hội cho nhóm lao động này, đã tạo ra một khoảng trống pháp lý đáng lo ngại

3.1 Vấn đề về quan hệ lao động không rõ ràng

3.1.1 Sự mơ hồ trong xác định quan hệ lao động

Một trong những vấn đề lớn nhất đối với NLĐ trong nền kinh tế số hiện nay là sự không

rõ ràng trong việc xác định mối QHLĐ giữa họ và chủ sở hữu các nền tảng công nghệ Các nền tảng số như Uber, Grab, Freelancer.com hay các nền tảng trực tuyến khác thường không ký kết hợp đồng lao động chính thức với NLĐ, mà thay vào đó, họ ký các hợp đồng dịch vụ hoặc thỏa thuận hợp tác tự do Theo đó, NLĐ được xem là cá nhân độc lập, không phải là nhân viên chính thức của các nền tảng này Điều này dẫn đến một sự mơ hồ trong việc xác định quyền lợi và nghĩa

vụ của mỗi bên trong mối QHLĐ Điều này đặc biệt rõ ràng khi chúng ta đối chiếu với quy định tại Điều 2 và Điều 3 của BLLĐ 2019, trong đó NLĐ được định nghĩa là "người làm việc theo hợp đồng lao động với NSD LĐ" Hệ quả là, khi không có hợp đồng lao động chính thức, NLĐ không thể hưởng các quyền lợi pháp lý như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ nghỉ phép hay các quyền lợi bảo vệ khác theo quy định của pháp luật lao động

Các nền tảng công nghệ số, mặc dù có vai trò trung gian kết nối NLĐ với khách hàng hoặc các đối tác sử dụng dịch vụ, nhưng không phải là "người sử dụng lao động" theo định nghĩa trong BLLĐ Đây là một vấn đề cơ bản trong hệ thống pháp lý hiện nay, bởi vì trong các QHLĐ truyền thống, NSD LĐ có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của NLĐ thông qua hợp đồng lao động chính thức Tuy nhiên, trong môi trường công nghệ số, các nền tảng công nghệ không chịu sự ràng buộc này Chính sự thiếu một khuôn khổ pháp lý rõ ràng về mối quan hệ giữa lao động và nền tảng công nghệ đã tạo ra lỗ hổng lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ Theo đó, NLĐ không thể yêu cầu các quyền lợi như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay các quyền lợi về nghỉ phép, vì các nền tảng công nghệ không coi họ là nhân viên chính thức mà chỉ là đối tác dịch vụ (theo hình thức freelancer hoặc lao động tự do)

Sự thiếu rõ ràng này dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực Đầu tiên, NLĐ thiếu sự bảo vệ pháp

lý, không được bảo vệ quyền lợi khi gặp phải tranh chấp lao động, tai nạn nghề nghiệp, hoặc không

có thu nhập ổn định Thứ hai, vấn đề về an sinh xã hội cũng không được đảm bảo, khi NLĐ không

có quyền tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc, do không có hợp đồng lao động chính thức Việc không có cơ chế pháp lý rõ ràng và đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong môi trường công nghệ số không chỉ làm gia tăng sự bất bình đẳng trong thị trường lao động mà còn

Trang 26

gây khó khăn cho việc kiểm soát các nền tảng công nghệ trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động cơ bản Để khắc phục tình trạng này, cần có sự thay đổi trong pháp lý để xác định rõ ràng quyền lợi của NLĐ qua nền tảng công nghệ, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng công nghệ đối với NLĐ, nhằm đảm bảo họ được bảo vệ đầy đủ theo quy định của pháp luật

3.1.2 Hệ quả của việc thiếu sự rõ ràng trong quan hệ lao động

Khi QHLĐ không được xác định rõ ràng, các lao động tự do, freelancer sẽ không thể yêu cầu các quyền lợi bảo vệ cơ bản theo quy định của pháp luật lao động, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quyền nghỉ phép Theo Điều 2 BLLĐ 2019, NLĐ được định nghĩa là cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động với NSD LĐ, và có quyền yêu cầu các chế độ bảo vệ như bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế và nghỉ phép

Tuy nhiên, trong trường hợp lao động làm việc qua các nền tảng công nghệ số, như Uber, Grab, hay các dịch vụ freelance trực tuyến, QHLĐ giữa các bên không được xác định thông qua hợp đồng lao động chính thức mà chỉ dựa trên các thỏa thuận hợp tác ngắn hạn Hệ quả là, NLĐ

sẽ không được hưởng các quyền lợi cơ bản này, buộc họ phải tự gánh vác mọi trách nhiệm về sức khỏe, bảo hiểm và các vấn đề an sinh xã hội mà không có sự hỗ trợ từ các cơ quan bảo vệ pháp lý

Một hệ quả nghiêm trọng khác khi QHLĐ không rõ ràng là sự khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp lao động Theo Điều 14 của BLLĐ 2019, việc giải quyết tranh chấp lao động chủ yếu áp dụng đối với các QHLĐ có hợp đồng lao động chính thức Khi lao động tự do hoặc freelancer không có hợp đồng lao động này, họ sẽ không thể yêu cầu giải quyết quyền lợi hợp pháp của mình theo các quy định về giải quyết tranh chấp lao động

Các nền tảng công nghệ, mặc dù đóng vai trò kết nối NLĐ với khách hàng, nhưng không phải là "người sử dụng lao động" trong nghĩa pháp lý, và vì vậy không có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp lao động Điều này khiến NLĐ phải tự bảo vệ quyền lợi của mình mà không có sự hỗ trợ từ

hệ thống pháp lý, dẫn đến tình trạng thiếu công bằng và thiếu bảo vệ quyền lợi cho lao động trong nền kinh tế số

3.2 Khó khăn trong việc quản lý thu nhập và bảo vệ quyền lợi

3.2.1 Thu nhập không ổn định và thiếu hợp đồng lao động chính thức

Một trong những vấn đề pháp lý nổi bật đối với lao động trong nền kinh tế số là sự không

ổn định trong thu nhập Trong các QHLĐ truyền thống, hợp đồng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thu nhập định kỳ, đồng thời bảo vệ quyền lợi của NLĐ thông qua các chế độ phúc lợi xã hội Tuy nhiên, đối với lao động số, đặc biệt là những người làm việc qua nền tảng

Trang 27

công nghệ như Uber, Grab, hay các công việc freelance, thu nhập thường không được thanh toán định kỳ mà phụ thuộc vào từng nhiệm vụ hoặc dự án cụ thể

Điều này tạo ra sự không ổn định tài chính, khiến NLĐ khó khăn trong việc lập kế hoạch tài chính dài hạn và đối mặt với nguy cơ mất thu nhập trong các khoảng thời gian không có công việc Hệ quả là NLĐ phải tự gánh vác các rủi ro tài chính, trong khi thiếu cơ chế pháp lý để đảm bảo thu nhập bền vững

Ngoài ra, việc thiếu hợp đồng lao động chính thức khiến NLĐ trong nền kinh tế số không thể tham gia vào các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, và các quyền lợi khác theo quy định tại BLLĐ 2019 Theo Điều 3 BLLĐ 2019, hợp đồng lao động là cơ sở pháp

lý để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong QHLĐ, đồng thời tạo điều kiện để NLĐ được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội và bảo vệ các quyền lợi cơ bản Tuy nhiên, khi lao động không

có hợp đồng lao động chính thức, họ không chỉ mất quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

và chế độ nghỉ phép mà còn phải đối mặt với tình trạng không được bảo vệ khi gặp phải tai nạn lao động hoặc mất việc

Điều này là một thách thức lớn đối với hệ thống pháp lý hiện hành khi chưa có quy định rõ ràng về việc bảo vệ quyền lợi cho lao động trong các mối quan hệ không chính thức, từ đó tạo ra khoảng trống pháp lý và làm tăng nguy cơ bất công trong môi trường lao động số

3.2.2 Quản lý thu nhập và các nghĩa vụ tài chính

Việc thu nhập không ổn định của lao động trong nền kinh tế số đã tạo ra nhiều khó khăn trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính, đặc biệt là trong việc đóng góp vào các quỹ bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế và các quỹ an sinh xã hội khác Theo quy định tại Điều 86 BLLĐ 2019, NLĐ phải đóng bảo hiểm xã hội trên cơ sở mức thu nhập hàng tháng xác định theo hợp đồng lao động chính thức

Tuy nhiên, đối với lao động tự do và các công việc không chính thức trong nền kinh tế số, việc thu nhập thay đổi theo từng nhiệm vụ hoặc dự án cụ thể khiến họ không thể duy trì một mức đóng bảo hiểm ổn định Điều này tạo ra một khoảng trống lớn trong việc bảo vệ quyền lợi an sinh

xã hội cho nhóm lao động này, làm gia tăng rủi ro cho NLĐ khi gặp phải những vấn đề như ốm đau, tai nạn lao động, hay mất thu nhập Hơn nữa, tình trạng thu nhập không ổn định cũng gây khó khăn trong việc quản lý thuế, khi không có một cơ chế rõ ràng để xác định và thu thuế đối với nhóm lao động này, dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước

Trang 28

Ngoài ra, việc thiếu một cơ chế pháp lý và quản lý thu nhập ổn định càng làm trầm trọng thêm sự thiếu bảo vệ quyền lợi cho lao động tự do Hiện tại, hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ áp dụng cho những NLĐ có hợp đồng lao động chính thức và thu nhập ổn định Tuy nhiên, đối với lao động trong nền kinh tế số, sự thiếu hụt hợp đồng lao động chính thức khiến họ không thể tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc, và do đó không được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, hay các chế độ phúc lợi khác

Điều này đòi hỏi cần có sự cải cách mạnh mẽ về chính sách và pháp lý, đặc biệt là việc xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, có thể áp dụng cho lao động tự do và lao động theo hợp đồng ngắn hạn Một hệ thống như vậy không chỉ đảm bảo quyền lợi của NLĐ trong nền kinh

tế số mà còn tạo ra một môi trường pháp lý công bằng và ổn định hơn cho tất cả các nhóm lao động

3.3 Thiếu chính sách bảo vệ an sinh xã hội

3.3.1 Các chế độ bảo vệ an sinh xã hội chưa bao phủ đủ nhóm lao động tự do

Mặc dù hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và các chính sách an sinh xã hội đã được thiết lập từ lâu và là một phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ, nhưng hệ thống này vẫn chưa được thiết kế để bao phủ nhóm lao động tự do và lao động trong nền kinh tế số BLLĐ

2019 và các văn bản pháp lý hiện hành chủ yếu chỉ bảo vệ lao động có hợp đồng lao động chính thức, còn lao động tự do lại không được bảo vệ đầy đủ

Lao động trong nền kinh tế số chủ yếu làm việc theo hình thức hợp đồng ngắn hạn, theo

dự án hoặc theo nhiệm vụ cụ thể, do đó họ không thể tham gia vào các hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc mà các lao động chính thức được hưởng Điều này dẫn đến sự thiếu hụt các quyền lợi an sinh xã hội cơ bản, khiến lao động tự do dễ bị tổn thương về mặt tài chính khi gặp phải rủi ro sức khỏe, tai nạn lao động, hay mất việc

3.3.2 Các chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa hiệu quả

Mặc dù đã có hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện, nhưng hình thức bảo hiểm này vẫn chưa

đủ linh hoạt để thu hút lao động tự do tham gia Các quy định hiện hành về bảo hiểm xã hội tự nguyện yêu cầu NLĐ phải đóng phí bảo hiểm với mức thu nhập ổn định, điều mà hầu hết lao động

tự do không thể đáp ứng được Hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện hiện tại vẫn thiếu sự đồng bộ với nhu cầu của nhóm lao động này và chưa đáp ứng được đặc thù công việc không ổn định của

họ

Trang 29

Ngoài ra, mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hiện nay còn quá cao đối với nhiều NLĐ

tự do, đặc biệt là trong các công việc không có thu nhập cố định, khiến cho việc tham gia bảo hiểm trở thành gánh nặng tài chính Điều này yêu cầu một sự thay đổi trong cách tiếp cận và thiết kế chính sách bảo hiểm xã hội để phù hợp hơn với đặc thù công việc tự do và giúp lao động tự do có thể tiếp cận dễ dàng hơn với các dịch vụ an sinh xã hội cơ bản

4 Thực trạng nổi bật về lao động tự do tại Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ và mô hình lao động tự do trở thành xu hướng chủ đạo tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, việc đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trong môi trường này đã trở thành một vấn đề pháp lý quan trọng Các lao động tự do, đặc biệt là những người làm việc qua các nền tảng công nghệ như Uber, Grab, Shopee, Freelancer.com, đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức về mặt pháp lý, đặc biệt là vấn đề ổn định thu nhập và sự bảo vệ quyền lợi trong QHLĐ Dưới đây là một số vấn đề nổi bật mà HTPL Việt Nam hiện nay cần phải giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trong nền kinh tế số

4.1 Lao động tự do thiếu sự ổn định trong thu nhập

4.1.1 Thiếu hợp đồng lao động chính thức

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển nhanh chóng, vấn đề thiếu hợp đồng lao động chính thức đối với lao động tự do là một thách thức lớn đối với HTPL Việt Nam hiện nay Các nền tảng công nghệ như Uber, Grab, Shopee, hay các nền tảng freelance (freelancer.com, Upwork, etc.) thường không yêu cầu NLĐ ký kết hợp đồng lao động truyền thống, mà thay vào đó sử dụng các thỏa thuận hợp tác ngắn hạn hoặc hợp đồng dịch vụ không chính thức Đây là điểm khác biệt lớn với mô hình lao động truyền thống, nơi hợp đồng lao động chính thức là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ Do đó, mối QHLĐ trong nền kinh tế số chủ yếu được xác định qua các hợp đồng dịch vụ linh hoạt, thiếu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ, điều này gây ra nhiều bất cập

về quyền lợi cho NLĐ tự do

Cụ thể, khi thiếu hợp đồng lao động chính thức, NLĐ tự do không thể yêu cầu các quyền lợi cơ bản được bảo vệ bởi pháp luật lao động, bao gồm quyền tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, hoặc các chế độ nghỉ phép, chế độ bảo vệ khi gặp tai nạn lao động Theo Điều 2 BLLĐ năm

2019, "quan hệ lao động" được hiểu là quan hệ giữa NLĐ và NSD LĐ dựa trên hợp đồng lao động, trong đó các quyền lợi của NLĐ được bảo vệ, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ phép,

và các quyền lợi khác Tuy nhiên, lao động tự do trong nền kinh tế số không nằm trong phạm vi điều chỉnh của BLLĐ hiện hành vì họ không có hợp đồng lao động chính thức Điều này khiến

Trang 30

nhóm lao động này thiếu sự bảo vệ về an sinh xã hội, dễ bị tổn thương về mặt tài chính khi gặp rủi

ro liên quan đến sức khỏe, tai nạn lao động, hoặc sự thay đổi đột ngột trong công việc

Hơn nữa, khi không có hợp đồng lao động chính thức, NLĐ tự do gặp khó khăn trong việc yêu cầu bồi thường hoặc giải quyết tranh chấp khi quyền lợi của họ bị xâm phạm Trong các QHLĐ truyền thống, BLLĐ quy định rõ ràng các thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, nhưng với lao động tự do, các quy trình này không được áp dụng Theo Điều 16 của BLLĐ năm 2019, khi xảy

ra tranh chấp lao động, NLĐ có quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình thông qua hòa giải, trọng tài hoặc tòa án Tuy nhiên, trong trường hợp lao động tự do, việc thiếu hợp đồng lao động chính thức khiến họ không thể dễ dàng sử dụng các cơ chế này để bảo vệ quyền lợi Điều này dẫn đến tình trạng bất công và thiếu công bằng, khi NLĐ tự do phải tự giải quyết các tranh chấp mà không có sự can thiệp của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức đại diện của NLĐ

Do đó, để đảm bảo quyền lợi của lao động tự do trong nền kinh tế số, một trong những giải pháp cần thiết là sửa đổi và bổ sung BLLĐ và các văn bản pháp lý liên quan để công nhận lao động tự do như một nhóm lao động chính thức, có quyền lợi bảo vệ tương tự như lao động trong các QHLĐ truyền thống Điều này sẽ không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi tài chính, an sinh xã hội cho NLĐ tự do mà còn tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc cho các QHLĐ trong nền kinh tế số Trên cơ sở đó, các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm tham gia vào các chương trình bảo hiểm xã hội tự nguyện và các chế độ an sinh khác để bảo vệ quyền lợi của NLĐ

4.1.2 Khó khăn trong việc đảm bảo thu nhập bền vững

Lao động tự do trong nền kinh tế số đối mặt với một trong những thách thức lớn nhất, đó

là sự thiếu ổn định về thu nhập Đặc điểm của lao động tự do là không có hợp đồng lao động dài hạn hay cam kết về mức thu nhập cố định, thay vào đó, thu nhập của họ phụ thuộc vào số lượng công việc nhận được từ các nền tảng công nghệ, được tính theo từng nhiệm vụ hoặc dự án cụ thể Điều này dẫn đến một tình trạng thu nhập không ổn định, có thể cao vào thời điểm có nhiều công việc, nhưng cũng có thể rất thấp hoặc không có thu nhập khi không có các cơ hội làm việc trong một khoảng thời gian dài Theo nghiên cứu của ILO, sự thiếu ổn định trong thu nhập không chỉ gây khó khăn cho việc lập kế hoạch tài chính cá nhân mà còn ảnh hưởng đến khả năng tham gia các chương trình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và các dịch vụ an sinh xã hội mà chính phủ và

hệ thống pháp lý cung cấp (ILO, 2020)

Chính sự không ổn định này đã tạo ra một lỗ hổng lớn trong việc bảo vệ quyền lợi tài chính của lao động tự do Theo BLLĐ 2019, các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và nghỉ

Ngày đăng: 27/03/2025, 18:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nghị quyết 02-NQ/TW (2021), “Về phát triển nền kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia,” Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển nền kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia
Tác giả: Nghị quyết 02-NQ/TW
Năm: 2021
15. Nghị quyết 19-NQ/TW (2022), “Về phát triển nền kinh tế số và tạo dựng công ăn việc làm bền vững cho người lao động trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển nền kinh tế số và tạo dựng công ăn việc làm bền vững cho người lao động trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Tác giả: Nghị quyết 19-NQ/TW
Năm: 2022
13. Thông tư 29/2021/TT-BLĐTBXH quy định về tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Khác
16. Chỉ thị số 16/CT-TTg (2021) về việc tăng cường công tác quản lý, phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế số.GIÁO TRÌNH, SÁCH, SÁCH CHUYÊN KHẢO VÀ TÀI LIỆU CÔNG BỐ CỦA VIỆT NAM Khác
17. Giáo trình Luật lao động Việt Nam – PGS.TS. Đoàn Hữu Đình (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021) Khác
18. Giáo trình Luật lao động (Tập 1 và Tập 2) – PGS.TS. Trần Thị Thanh Tâm (NXB Tư pháp, 2020) Khác
19. Giáo trình Luật lao động quốc tế – Tiến sĩ Trần Văn Lâm (NXB Khoa học Xã hội, 2018) Khác
20. Giáo trình Quản lý lao động và nguồn nhân lực trong nền kinh tế hiện đại – PGS.TS. Nguyễn Tử Quảng (NXB Chính trị Quốc gia, 2020) Khác
21. Giáo trình Kinh tế học lao động – TS. Nguyễn Đình Cung (NXB Tài chính, 2019) 22. Giáo trình Kinh tế số – PGS.TS. Lê Văn Cương (NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2021) 23. Giáo trình Quản lý kinh tế trong kỷ nguyên số – TS. Bùi Anh Dũng (NXB Thống kê,2022) Khác
24. Giáo trình Công nghệ số và Tác động đến nền kinh tế và xã hội – TS. Nguyễn Hải Đăng (NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2023) Khác
25. Giáo trình Đổi mới sáng tạo và Kinh tế số – PGS.TS. Nguyễn Quang Trung (NXB Lao động, 2020) Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w