1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn PL Hợp đồng các vấn đề liên quan đến Hợp đồng

66 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận môn PL Hợp đồng các vấn đề liên quan đến Hợp đồng
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Khái quát chung về hợp đồng vô hiệu (2)
    • 1.1. Khái niệm hợp đồng vô hiệu (2)
    • 1.2. Phân loại các trường hợp hợp đồng vô hiệu (3)
      • 1.2.1. Dựa vào tính chất trái pháp luật dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng (3)
      • 1.2.2. Dựa vào phạm vi phần nội dung bị vô hiệu (4)
      • 1.2.3. Các trường hợp hợp đồng vô hiệu (4)
    • 1.3. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (5)
  • 2. Căn cứ hợp đồng vô hiệu (6)
    • 2.1 Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực (6)
    • 2.2 Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ các điều kiện về hình thức, thủ tục công chứng, đăng ký, công bố (9)
    • 2.3 Hợp đồng vi phạm các quy định khác (vi phạm quy định về đại diện, đối tượng không thể thực hiện được (11)
    • 2.4 Một số vấn đề khác (12)
  • 3. Hậu quả pháp lý của Hợp đồng vô hiệu (13)
    • 3.1. Giá trị pháp lý của hợp đồng vô hiệu (13)
    • 3.2. Nghĩa vụ hoàn trả như ban đầu, khôi phục các lợi ích như trước khi hợp đồng được xác lập (14)
      • 3.2.1 Đối với “khôi phục tình trạng ban đầu” (14)
      • 3.2.2 Đối với việc bảo vệ người thứ ba ngay tình (16)
    • 3.3. Bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu (18)
  • 4. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về hợp đồng vô hiệu (20)
    • 1.1 Khái niệm về hợp đồng không công bằng (52)
    • 1.2 Đặc điểm nhận diện hợp đồng không công bằng (54)
    • 1.3 Các yếu tố tạo nên hợp đồng không công bằng (55)
      • 1.3.1 Không công bằng về quy trình (55)
      • 1.3.2 Không công bằng về nội dung (56)
    • 1.4 Quy định về điều khoản không được phép quy định trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (58)
    • 1.5 Quy định về giải quyết các vấn đề liên quan đến vi phạm các điều khoản không công bằng trong hợp đồng (61)
    • 1.6 Kết luận (66)

Nội dung

Khái quát chung về hợp đồng vô hiệu

Khái niệm hợp đồng vô hiệu

Bộ Luật dân sự 2015 (BLDS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng vô hiệu, nhưng thông qua các quy định trong BLDS, chúng ta có thể xác định các tiêu chí để nhận diện hợp đồng vô hiệu Cụ thể, Điều 407 BLDS cung cấp những quy định liên quan đến vấn đề này.

Theo Điều 122 Bộ Luật Dân Sự 2015, hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu không đáp ứng một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 Tuy nhiên, trường hợp này có thể được điều chỉnh bởi các quy định khác trong Bộ Luật Dân Sự.

Theo từ điển Tiếng Việt, "vô hiệu" có nghĩa là không có tác dụng Trong lĩnh vực Luật học, vô hiệu được định nghĩa là những văn bản hoặc quyết định không có hiệu lực pháp luật và không có giá trị thực thi Do đó, hợp đồng vô hiệu được hiểu là hợp đồng không tuân theo quy định của pháp luật, dẫn đến việc không phát sinh hậu quả pháp lý từ hợp đồng đó.

Hợp đồng là các giao dịch pháp lý giữa hai hoặc nhiều bên, thể hiện ý chí của họ nhằm đạt được hậu quả pháp lý, như xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ quy định pháp luật và trong khuôn khổ cho phép Tất cả các bên tham gia hợp đồng đều phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật Hợp đồng chỉ được công nhận và có hiệu lực khi đáp ứng đủ các yêu cầu và điều kiện theo quy định Nếu không, hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu do chứa đựng những điểm khiếm khuyết.

Pháp luật dân sự của mỗi quốc gia áp dụng những phương pháp khác nhau để điều chỉnh hợp đồng vô hiệu Thứ nhất, một số nước quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, từ đó xác định hợp đồng vô hiệu, nhưng phương pháp này thường cứng nhắc và ít được áp dụng Thứ hai, nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực và vô hiệu của hợp đồng, tạo ra sự linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh.

Cách thứ ba là quy định các trường hợp vô hiệu của hợp đồng, một phương pháp được áp dụng trong pháp luật dân sự của một số quốc gia như Nhật Bản Theo phương thức này, hợp đồng sẽ được điều chỉnh dựa trên các tiêu chí cụ thể để xác định tính hợp lệ và hiệu lực của nó.

1 Nguyễn Tôn Nhan và Phú Văn Hẳn (2015), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Tp HCM

Theo Nguyễn Hữu Quỳnh (1999) trong cuốn "Từ điển Luật học", một giao dịch sẽ được coi là hợp pháp và có hiệu lực nếu không rơi vào các trường hợp vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Hợp đồng vô hiệu là loại hợp đồng không có hiệu lực và giá trị pháp lý từ thời điểm ký kết, do không tuân thủ các quy định pháp luật Bản chất của hợp đồng vô hiệu là chứa đựng các vi phạm pháp luật ngay từ đầu, dẫn đến việc hợp đồng không phát sinh hiệu lực pháp lý.

Từ khái niệm trên có thể thấy một hợp đồng vô hiệu có các đặc điểm sau đây:

Hợp đồng vô hiệu không được pháp luật công nhận, vì hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên và phải tuân thủ quy định pháp luật Chỉ những thỏa thuận hợp pháp mới được pháp luật bảo vệ Một hợp đồng được coi là vô hiệu khi không tuân thủ quy định pháp luật hoặc xâm phạm đến các quan hệ xã hội và lợi ích được Nhà nước bảo vệ.

Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có giá trị pháp lý, không ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Mặc dù hợp đồng ghi nhận quyền và nghĩa vụ, nhưng do không phát sinh hiệu lực, các thỏa thuận giữa các bên cũng không có giá trị pháp lý.

Thời điểm xác lập sự vô hiệu của hợp đồng là thời điểm hợp đồng được hình thành, tức là thời điểm ghi nhận quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia Hợp đồng vô hiệu xảy ra khi các bên vi phạm điều kiện có hiệu lực ngay từ lúc giao kết, do đó hợp đồng không được coi là đã hình thành Kết quả là, hợp đồng vô hiệu không phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự kể từ thời điểm xác lập.

Phân loại các trường hợp hợp đồng vô hiệu

1.2.1 Dựa vào tính chất trái pháp luật dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng

Dựa trên tính chất trái pháp luật dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng, hợp đồng được chia thành vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối 3

Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối tự động bị coi là vô hiệu khi vi phạm các điều cấm của Luật hoặc trái đạo đức xã hội, theo Điều 123 và Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 Đặc biệt, thời hiệu khởi kiện đối với loại hợp đồng này không bị giới hạn, theo quy định tại Khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.

Hợp đồng vô hiệu tương đối không tự động trở nên vô hiệu mà chỉ khi đáp ứng đủ hai điều kiện: (i) có đơn yêu cầu từ người có quyền lợi liên quan và (ii) theo quyết định có hiệu lực của Tòa án Những hợp đồng này có thể bị tuyên vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, hoặc cưỡng ép, như được quy định tại Điều 127 BLDS Do tính chất không quá nghiêm trọng của hợp đồng vô hiệu tương đối, chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, Khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 quy định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu là 2 năm.

1.2.2 Dựa vào phạm vi phần nội dung bị vô hiệu

Căn cứ phạm vi nội dung bị vô hiệu gồm: vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần

Hợp đồng vô hiệu toàn bộ xảy ra khi toàn bộ nội dung của hợp đồng bị coi là vô hiệu, hoặc chỉ một phần của hợp đồng bị vô hiệu nhưng phần này lại ảnh hưởng đến hiệu lực của toàn bộ giao dịch.

Hợp đồng vô hiệu từng phần là loại hợp đồng mà một phần nội dung của giao dịch không có hiệu lực, nhưng điều này không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

1.2.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu

Theo quy định BLDS 2015, Hợp đồng vô hiệu gồm một số trường hợp sau:

- Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123);

- Hợp đồng vô hiệu do giả tạo (Điều 124);

Hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu nếu được xác lập hoặc thực hiện bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người gặp khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi, cũng như người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, theo quy định tại Điều 125.

- Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 BLDS);

3 Trần Thị Hà, “Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối”, Tạp chí Công thương, số 14, tháng 6/2023, tr.28-tr32

- Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do vô hiệu từng phần (Điều 130 BLDS);

- Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 408).

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Theo Điều 150 khoản 3 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian mà cá nhân hoặc tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Khi thời hạn này kết thúc, quyền khởi kiện sẽ bị mất.

Bộ luật dân sự quy định thời hiệu khởi kiện cho các quan hệ pháp luật dân sự, yêu cầu cá nhân và pháp nhân phải khởi kiện trong thời hạn luật định Nếu hết thời hạn mà vẫn có yêu cầu, Tòa án hoặc trọng tài sẽ thụ lý và giải quyết, tuyên bố quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự cho đương sự Điểm mới của BLDS 2015 tại khoản 2 Điều 149 là Tòa án có trách nhiệm giải thích quyền và nghĩa vụ của các bên, bao gồm quyền áp dụng thời hiệu Nếu một bên yêu cầu đình chỉ do hết thời hiệu, Tòa án phải áp dụng quy định về thời hiệu Tuy nhiên, nếu các bên vẫn muốn Tòa án giải quyết tranh chấp, Tòa án sẽ tiếp tục thụ lý để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

Hợp đồng là một giao dịch dân sự, do đó, khi hợp đồng bị vô hiệu, giao dịch dân sự cũng bị coi là vô hiệu Thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu tương đương với thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu, theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.

Theo quy định tại khoản 2 Điều này, sau thời hiệu 2 năm mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, giao dịch sẽ tự động có hiệu lực Điều này có nghĩa là một hợp đồng chỉ vô hiệu về hình thức sẽ trở nên hợp lệ nếu không có yêu cầu tuyên bố vô hiệu trong khoảng thời gian này Tuy nhiên, có hai trường hợp đặc biệt theo khoản 3 Điều 132, bao gồm giao dịch vô hiệu do giả tạo (theo Điều 124 Bộ luật dân sự) và giao dịch có mục đích vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội (theo Điều 123 Bộ luật dân sự), thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố không bị hạn chế.

Khi khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, cần chú ý đến cách tính thời hiệu theo Điều 151 Bộ luật dân sự 2015 Thời hiệu được xác định từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng, với "thời điểm bắt đầu" và "thời điểm kết thúc" là những ngày cụ thể Đặc biệt, thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm người có quyền biết hoặc phải biết quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ khi pháp luật có quy định khác.

Theo quy định của pháp luật, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm, một khoảng thời gian không quá dài Do đó, nhiều trường hợp mặc dù biết hợp đồng vô hiệu nhưng không khởi kiện ngay, dẫn đến việc khi muốn đòi quyền lợi thì thời hiệu khởi kiện đã hết Nếu bên còn lại yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu, vụ án sẽ bị đình chỉ theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ hợp đồng vô hiệu

Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực

Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu không đáp ứng các điều kiện có hiệu lực Tác giả chỉ ra rằng có một số trường hợp cụ thể dẫn đến tình trạng này, khi hợp đồng vi phạm các yêu cầu cần thiết để được công nhận hợp pháp.

Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng không có đủ năng lực hành vi dân sự

Năng lực hành vi dân sự của các chủ thể khi tham gia hợp đồng khác nhau tùy thuộc vào quy định của Bộ luật Dân sự 2015 Cá nhân có năng lực hành vi đầy đủ được quyền thực hiện các hợp đồng dân sự, trong khi người chưa thành niên từ 6 đến dưới 18 tuổi chỉ có một phần năng lực và cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Người từ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự xác lập giao dịch dân sự, trừ khi pháp luật quy định khác Trẻ em dưới 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự và mọi giao dịch phải được thực hiện qua người đại diện hợp pháp Những người bị tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự cần có người giám hộ để thực hiện giao dịch, trừ các giao dịch phục vụ nhu cầu hàng ngày Đối với pháp nhân, tổ chức cần đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia hợp đồng.

Theo quy định tại Điều 74 BLDS 2015, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác là những thực thể xã hội, không phải là con người tự nhiên Năng lực hành vi dân sự của các chủ thể này được thể hiện thông qua ý chí chung của các thành viên và hành vi của người đại diện, miễn là hành vi đó được thực hiện nhân danh chủ thể và trong phạm vi đại diện Hợp đồng do pháp nhân xác lập có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu không tuân thủ các quy định pháp luật.

Người ký hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật của công ty nhưng không có thẩm quyền ký tên, dẫn đến việc các hợp đồng cần phải được thông qua bởi Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên trước khi thực hiện giao kết.

- Hai là, người ký không phải đại diện theo pháp luật của công ty và không có ủy quyền hợp pháp của người có thẩm quyền

Ba là người ký hợp đồng không phải là đại diện theo pháp luật của công ty, mặc dù có ủy quyền hợp pháp, nhưng lại thực hiện ký kết vượt quá phạm vi ủy quyền đã được giao.

Thứ hai, hợp đồng vô hiệu do các bên không tự nguyện giao kết hợp đồng

Tự nguyện xác lập và thực hiện hợp đồng là quyền của mỗi cá nhân trong việc quyết định tham gia mà không bị ảnh hưởng bởi bên thứ ba Pháp luật yêu cầu các bên tham gia phải hoàn toàn tự nguyện Theo TANDTC, sự tự nguyện này có nghĩa là các bên được tự do bày tỏ ý chí và nguyện vọng của mình, đồng thời thỏa thuận về nội dung giao dịch mà không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép Các bên có quyền tự nguyện thỏa thuận về các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ dân sự của mình.

Lê Minh Hùng trong bài giảng "Những vấn đề chung về Luật Dân sự" đã trình bày về vai trò của pháp nhân như là chủ thể quan trọng trong quan hệ pháp luật dân sự Tác giả nhấn mạnh rằng pháp nhân không chỉ có quyền và nghĩa vụ pháp lý mà còn đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện các giao dịch dân sự Điều này cho thấy sự cần thiết phải hiểu rõ về pháp nhân để áp dụng hiệu quả trong thực tiễn pháp luật.

5 Tòa án nhân dân tố cao, Công căn số 177/2002/KHXX ngày 5/12/2002, tr.40

Theo BLDS 2015, hợp đồng bị coi là vô hiệu do được xác lập thiếu yếu tố tự nguyện thuộc các trường hợp sau:

Hợp đồng xác lập do bị lừa dối xảy ra khi một bên hoặc người thứ ba cố ý gây ra sự hiểu lầm cho bên kia về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung giao dịch dân sự Hành vi lừa dối này dẫn đến việc bên bị lừa tin tưởng và xác lập giao dịch mà lẽ ra họ không đồng ý nếu biết sự thật.

Hợp đồng xác lập do bị đe dọa hoặc cưỡng ép xảy ra khi một bên hoặc người thứ ba có hành vi cố ý gây áp lực, buộc bên kia phải thực hiện giao dịch dân sự để tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc tài sản của bản thân và người thân.

Hợp đồng xác lập do nhầm lẫn xảy ra khi một trong hai bên hiểu sai nội dung hợp đồng, dẫn đến việc hợp đồng không phản ánh đúng ý muốn của họ Bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, trừ một số trường hợp nhất định Nếu mục đích của giao dịch dân sự đã được đạt được hoặc có thể khắc phục nhầm lẫn ngay lập tức, thì giao dịch đó không bị coi là vô hiệu Do đó, để xác định tính vô hiệu của hợp đồng do nhầm lẫn, cần xem xét kết quả của sự nhầm lẫn và liệu mục đích của hợp đồng có được thực hiện hay không.

Thứ ba, hợp đồng vô hiệu do mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội

Mục đích của hợp đồng là lợi ích mà các bên mong muốn đạt được, trong khi nội dung hợp đồng bao gồm các quy định về đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên Điều cấm của luật là những quy định ngăn cản hành vi nhất định, và việc xác định hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm thường dễ dàng vì đã được quy định rõ ràng trong pháp luật Tuy nhiên, khái niệm không trái đạo đức xã hội, tức là những chuẩn mực ứng xử được cộng đồng thừa nhận, lại khó khăn hơn trong việc áp dụng.

Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ các điều kiện về hình thức, thủ tục công chứng, đăng ký, công bố

Hình thức hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp, đồng thời là công cụ để thể hiện ý chí của các bên tham gia và xác nhận sự tồn tại của hợp đồng.

Theo Điều 119 BLDS 2015 quy định: “1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.[…]

2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

Khoản 2 Điều 117 BLDS 2015 quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.” Do vậy, chỉ khi nào có quy định và luật yêu cầu thì hợp đồng mới phải tuân thủ về hình thức Hình thức của hợp đồng không phải yếu tố đương nhiên khiến hợp đồng vô hiệu và cũng không thể dựa vào lập luận do không tuân thủ hình thức nên vô hiệu Điều 129 BLDS 2015 không có hướng dẫn những loại hợp đồng nào bắt buộc phải tuân thủ điều kiện về hình thức và trường hợp nào hình thức trở thành điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà chỉ tập trung vào một vài hợp đồng nhất định với yêu cầu bắt buộc về hình thức như: Hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, và có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật… Ngoài ra, pháp luật chuyên ngành cũng đặt ra các yêu cầu về nội dung bắt buộc của hợp đồng Cụ thể, Luật Kinh doanh bất động sản

Năm 2023, quy định 13 điều khoản bắt buộc trong hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở và công trình xây dựng, trong khi Luật kinh doanh bảo hiểm 2022 yêu cầu 9 điều khoản bắt buộc đối với hợp đồng bảo hiểm Do đó, cần xem xét liệu các hợp đồng thiếu các nội dung này có vi phạm điều kiện về hình thức hay không.

Trường hợp hợp đồng không đảm bảo hình thức nhưng không bị vô hiệu khi một hoặc hai bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ hợp đồng vẫn chưa có hướng dẫn pháp lý cụ thể để xác định Việc xác định "hai phần ba nghĩa vụ" trong thực tiễn không đơn giản, do mỗi hợp đồng có thể bao gồm nhiều loại nghĩa vụ khác nhau, từ nghĩa vụ tài sản như chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến các nghĩa vụ phi tài sản.

Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức có thể gây ra nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc xác định nghĩa vụ Nếu nguyên tắc này được áp dụng rộng rãi, nó sẽ làm suy giảm hoặc thậm chí triệt tiêu nguyên tắc trọng thức, yêu cầu các thỏa thuận giữa các bên phải được ghi lại bằng văn bản công chứng hoặc chứng thực trong hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi trên bất động sản.

Quy định này có thể gây hiểu lầm nghiêm trọng cho các bên tham gia hợp đồng, khiến họ tin rằng hợp đồng không tuân thủ đầy đủ yêu cầu về hình thức vẫn có thể được Tòa án công nhận Ví dụ, Án lệ số 55/2022/AL cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được công chứng nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện hai phần ba nghĩa vụ của mình, dẫn đến việc Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng Điều này có thể khiến các bên nhầm lẫn rằng hành vi của họ không vi phạm và có khả năng được nhà nước công nhận và bảo vệ.

Theo Khoản 1 Điều 132 BLDS 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng vi phạm hình thức là 02 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập Tuy nhiên, nhóm tác giả cho rằng không nên quy định thời hiệu cho loại giao dịch này, mà nên coi vi phạm điều kiện về hình thức là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối Điều này có nghĩa là hợp đồng sẽ tự động không có hiệu lực pháp luật nếu các bên không tuân thủ yêu cầu về hình thức Khi một hoặc các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố, Tòa án sẽ xử lý hậu quả pháp lý, xem xét lỗi của các bên, hoa lợi và lợi tức của bên ngay tình, cũng như bảo vệ quyền lợi của người thứ ba liên quan Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định pháp luật về hình thức trong giao kết hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Bài viết của Đỗ Giang Nam (2023) phân tích các hình thức hợp đồng liên quan đến bất động sản ở nhiều quốc gia trên thế giới và đưa ra những hàm ý chính sách cho Việt Nam Tài liệu này có thể được truy cập tại http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211691/Hinh-thuc-cua-hop-dong-lien-quan-den-bat-dong-san-o-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-ham-y-chinh-sach-cho-Viet-Nam.html, với thời gian truy cập vào ngày 14/02/2025.

Trong bài viết của Diệp Linh (2024), tác giả đề cập đến việc hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức theo pháp luật Việt Nam Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh các quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên trong hợp đồng và nâng cao tính minh bạch trong giao dịch thương mại Tác giả cũng đưa ra những kiến nghị cụ thể để cải thiện hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo rằng các hợp đồng được thực hiện đúng theo quy định và có hiệu lực pháp lý Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại link: https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-ve-hop-dong-vo-hieu-do-vi-pham-hinh-thuc-theo-phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 14/02/2025.

Hợp đồng vi phạm các quy định khác (vi phạm quy định về đại diện, đối tượng không thể thực hiện được

Để hợp đồng đã giao kết có thể tuyên vô hiệu do đối tượng không thực hiện được theo quy định tại Điều 408 BLDS 2015, thì cần lưu ý:

Đối tượng hợp đồng cần được phân biệt giữa hai khái niệm: đối tượng hợp đồng không tồn tại và đối tượng hợp đồng không thể thực hiện được Đối tượng không tồn tại là khi hợp đồng được ký kết mà không có sự hiện hữu của đối tượng đó Trong khi đó, đối tượng không thể thực hiện được bao gồm cả trường hợp không tồn tại và trường hợp có tồn tại nhưng không thể giao dịch như đã cam kết Ví dụ, trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa A và B, nếu quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của C, thì mặc dù đối tượng hợp đồng có tồn tại, nhưng không thể chuyển giao, do đó đây là tình huống hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.

Điều kiện về thời điểm viện dẫn hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được được quy định tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015 Hợp đồng chỉ bị tuyên vô hiệu khi đối tượng của hợp đồng không tồn tại tại thời điểm giao kết Điều này giúp phân biệt giữa hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện với những trường hợp đã giao kết nhưng sau đó không thực hiện được Nếu đối tượng không còn sau khi hợp đồng được giao kết, hợp đồng sẽ chấm dứt thay vì vô hiệu.

Một số vấn đề bất cập của quy định về hợp đồng vô hiệu do đối tượng hợp đồng không thể thực hiện được như sau:

Theo Khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện ngay từ thời điểm giao kết Điều này nhấn mạnh rằng việc xác định tính vô hiệu của hợp đồng phải diễn ra ngay tại thời điểm ký kết, bất kể đối tượng hợp đồng có tồn tại hay không.

12 Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (Tập 2), Nxb Hồng Đức, TP Hồ

Theo Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng vẫn có thể thực hiện nếu đối tượng của hợp đồng là hợp pháp và thuộc quyền sở hữu của các bên giao kết Tuy nhiên, nếu một bên biết hoặc phải biết rằng đối tượng hợp đồng không thể thực hiện được mà không thông báo cho bên kia, thì bên đó phải bồi thường thiệt hại, trừ khi bên kia cũng biết hoặc phải biết về vấn đề này Điều này cho thấy cụm từ "khi giao kết" được hiểu là thời điểm trước khi hợp đồng được ký kết, và sự khác biệt trong cách hiểu giữa khoản 1 và khoản 2 của Điều 408 có thể gây nhầm lẫn cho các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do đối tượng hợp đồng không thể thực hiện hiện chưa có quy định cụ thể trong BLDS 2015 Mặc dù có ý kiến cho rằng nên áp dụng thời hiệu theo Điều 429 về khởi kiện hợp đồng, nhóm tác giả cho rằng trường hợp này thuộc về vô hiệu hợp đồng và không thể giải quyết theo quy định về tranh chấp hợp đồng Do đó, cần áp dụng Điều 132 BLDS 2015 để xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Theo BLDS 2015, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được không được ghi nhận hợp lý Điều 117 quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho thấy rằng hợp đồng này không vi phạm bất kỳ điều kiện nào Vì vậy, việc phân loại trường hợp này vào nhóm hợp đồng vô hiệu là không chính xác.

Một số vấn đề khác

Với sự phát triển của Internet, hợp đồng thương mại điện tử ngày càng trở nên phổ biến Việc ký kết hợp đồng này thường diễn ra trực tuyến, mà không có sự gặp mặt trực tiếp giữa các bên Điều này gây khó khăn trong việc áp dụng các quy định về hiệu lực của hợp đồng dân sự đối với hợp đồng điện tử.

Một ví dụ điển hình có thể xem xét là quy định về ý chí của chủ thể trong Điều

126 Bộ luật Dân sự 2015, Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn:

Trong trường hợp giao dịch dân sự được thiết lập nhưng có sự nhầm lẫn dẫn đến việc một hoặc nhiều bên không đạt được mục đích của giao dịch, bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu, trừ khi có quy định khác tại khoản 2 của Điều này.

2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được”

Trong môi trường giao dịch trên các sàn thương mại điện tử, giá trị hợp đồng có thể thay đổi đáng kể và bên mua cùng bên bán thường không gặp mặt trực tiếp Điều này dẫn đến khó khăn cho bên mua trong việc chứng minh sự nhầm lẫn khi ký kết hợp đồng điện tử Nếu quy chế của sàn thương mại điện tử quy định rằng cả hai bên đều có trách nhiệm trong việc xác lập hợp đồng, điều này ngụ ý rằng họ đã xem xét kỹ lưỡng nội dung hợp đồng, không có sự nhầm lẫn nào, và các tranh chấp phát sinh sẽ không được giải quyết qua cơ quan tài phán.

Hậu quả pháp lý của Hợp đồng vô hiệu

Giá trị pháp lý của hợp đồng vô hiệu

Hợp đồng vô hiệu không phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm giao dịch được xác lập, theo Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 Điều này có nghĩa là các bên không cần thực hiện các điều khoản đã thỏa thuận Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, nếu các bên đã thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc giao tài sản, họ không thể yêu cầu bên kia tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại, trừ khi có vi phạm khác.

Bài viết của Nguyễn Như Hà và Hoàng Việt Hà (2023) đề cập đến những vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại điện tử Tác giả phân tích các khía cạnh pháp lý cần lưu ý khi thực hiện giao dịch điện tử, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả Bài viết cũng cung cấp những khuyến nghị cho doanh nghiệp trong việc áp dụng hợp đồng điện tử, từ đó giúp nâng cao sự tin cậy và an toàn trong giao dịch thương mại trực tuyến **Nguồn** Nguyễn Như Hà & Hoàng Việt Hà (2023), Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng điện tử trong thương mại điện tử, [lsvn.vn](https://lsvn.vn/mo-t-so-va-n-de-pha-p-ly-ve-ho-p-do-ng-die-n-tu-trong-thuong-ma-i-die-n-tu-1703577171-a139224.html), truy cập ngày 14/02/2025.

Hợp đồng dân sự vô hiệu dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng, theo Lê Tâm Dù hợp đồng đã được thực hiện hay chưa, nó vẫn không có giá trị pháp lý Việc xử lý hậu quả từ hợp đồng vô hiệu là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Khi xem xét hiệu lực của hợp đồng chính và hợp đồng phụ, cần lưu ý rằng hợp đồng phụ vô hiệu không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng chính, trừ khi có thỏa thuận thay thế Ngược lại, nếu hợp đồng chính vô hiệu, hợp đồng phụ sẽ chấm dứt do phụ thuộc vào hợp đồng chính Hậu quả pháp lý của việc này sẽ khác nhau tùy thuộc vào tình huống cụ thể của từng hợp đồng.

Theo đó, khi Hợp đồng bị vô hiệu thì các bên 17 :

Khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là điều cần thiết Nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật, thì cần phải hoàn trả giá trị tương ứng bằng tiền.

- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức đó

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Nghĩa vụ hoàn trả như ban đầu, khôi phục các lợi ích như trước khi hợp đồng được xác lập

3.2.1 Đối với “khôi phục tình trạng ban đầu”

Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật, thì cần hoàn trả giá trị tương đương bằng tiền Mục đích của việc khôi phục tình trạng ban đầu là đưa đối tượng của giao dịch dân sự về trạng thái như trước khi giao dịch bị tuyên vô hiệu.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc áp dụng quy định này có thể gặp khó khăn tùy vào từng trường hợp cụ thể như sau:

Khi một bên đã thực hiện giao dịch và làm giảm giá trị tài sản hoặc gây hư hỏng, việc khôi phục lại tình trạng ban đầu là hợp lý và khả thi Tài sản có thể được đưa về trạng thái ban đầu thông qua sửa chữa, phục hồi hoặc trả lại tài sản đã bị giảm giá trị.

Khi một bên thực hiện giao dịch làm tăng giá trị tài sản hoặc nâng cao công năng sử dụng của vật, việc khôi phục lại tình trạng ban đầu trở nên phức tạp hơn.

17 Khoản 2,3,4 Điều 131 Bộ luật dân sự 2015

Theo Khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, việc khôi phục lại trạng thái ban đầu của tài sản có thể gặp khó khăn nếu giá trị tài sản đã thay đổi hoặc tài sản đã được cải tiến Điều này đặc biệt đúng đối với những tài sản đã phát triển, khi việc trở về trạng thái ban đầu trở nên không khả thi Ngoài ra, trong trường hợp giao dịch liên quan đến công việc đã được thực hiện nhưng sau đó bị xác định là vô hiệu, việc khôi phục lại tình trạng ban đầu sẽ gặp nhiều trở ngại nếu công việc đó đã hoàn thành một phần hoặc toàn bộ.

Khi một người chưa thành niên phát triển phần mềm chưa hoàn thiện và bán lại cho người khác, việc khôi phục trạng thái ban đầu của phần mềm trở nên phức tạp Điều này là do phần mềm đã trải qua sự thay đổi và cải tiến từ phía người mua, khiến cho việc trở về phiên bản gốc không còn đơn giản.

Khi đối tượng hợp đồng là tài sản mà tài sản đó không còn giữ được tình trạng ban đầu, hoặc khi đối tượng hợp đồng là công việc (dịch vụ) đã được thực hiện nhưng có cơ sở xác minh rằng hợp đồng vô hiệu, thì việc áp dụng các điều khoản liên quan sẽ không khả thi.

Việc "khôi phục lại tình trạng ban đầu" trở nên phức tạp, đặc biệt với những hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội, nhất là khi đối tượng hợp đồng liên quan đến giá trị nhân thân của các bên Trong trường hợp các hợp đồng như vận chuyển, xây dựng hay tư vấn, việc hoàn trả những gì đã nhận gặp nhiều khó khăn Chẳng hạn, trong hợp đồng vận chuyển, việc xử lý tình huống khi hàng hóa đã được chuyển đến một địa điểm khác so với nơi xuất phát là rất khó khăn.

Ngoài ra, Khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 không chỉ ra trường hợp nào các bên “không thể hoàn trả bằng hiện vật” Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP ngày

Ngày 27 tháng 5 năm 2003, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn áp dụng quy định pháp luật trong giải quyết các vụ án kinh tế, nhấn mạnh rằng tài sản “được đưa vào khai thác, sử dụng” không thể hoàn trả bằng hiện vật Khi một bên đã nhận tiền mặt từ bên kia, tiền này thường được coi là đã được sử dụng, do đó bên bán không thể trả lại số tiền đã nhận mà phải hoàn trả bằng tiền Hơn nữa, pháp luật không quy định rõ thời điểm hoàn trả, dẫn đến khó khăn thực tế khi cả hai bên đều phải hoàn trả lẫn nhau.

Đối tượng của giao dịch có thể là tài sản hoặc công việc cần thực hiện, nhưng yêu cầu "khôi phục lại tình trạng ban đầu" không phải lúc nào cũng khả thi Đối với tài sản tiêu hao hoặc công việc đã hoàn thành, việc khôi phục là không thể Đối với tài sản không tiêu hao đã được sử dụng, giá trị của nó có thể thay đổi theo hai hướng.

- Nếu tài sản bị hao mòn, mất giá trị, việc bồi thường thiệt hại sẽ hợp lý hơn so với yêu cầu khôi phục nguyên trạng

Việc yêu cầu khôi phục tình trạng ban đầu của tài sản đã tăng giá trị do cải tạo, như đất được san lấp hoặc có công trình xây dựng, sẽ dẫn đến lãng phí và không cần thiết.

Để cải thiện quy định pháp luật, cần xem xét việc loại bỏ điều khoản “khôi phục lại tình trạng ban đầu” tại khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2015.

3.2.2 Đối với việc bảo vệ người thứ ba ngay tình

Khi hợp đồng bị vô hiệu, không chỉ các bên ký kết mà cả bên thứ ba cũng bị ảnh hưởng, gây rối loạn trong các giao dịch khác, đặc biệt trong thương mại Theo Khoản 3, Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, hoa lợi, lợi tức phải được khôi phục về tình trạng ban đầu Tuy nhiên, nếu giao dịch dân sự chưa được xác lập và hoa lợi, lợi tức chưa tồn tại, việc hoàn trả có thể dẫn đến tình trạng tài sản vượt qua ban đầu, gây bất hợp lý Điều này phụ thuộc vào sự ngay tình của bên nhận tài sản và các quy định về hoàn trả tài sản chiếm hữu không có căn cứ pháp lý.

Trong mối quan hệ giữa người thu hoa lợi và hoa lợi, người thu hoa lợi luôn phải được xem là ngay tình Theo Điều 184 Bộ luật Dân sự 2015, quy định này khẳng định sự cần thiết của tính ngay tình trong việc thu hoa lợi.

“1 Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh

2 Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật Dân sự có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết các tranh chấp dân sự Khi một giao dịch bị coi là vô hiệu, các bên liên quan có thể gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Điều này dẫn đến việc cần thiết phải hiểu rõ các quy định và hệ quả pháp lý để đảm bảo quyền lợi trong các tranh chấp Việc áp dụng đúng quy định của pháp luật sẽ giúp các bên giải quyết xung đột một cách hiệu quả và công bằng.

Bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu

Hợp đồng vô hiệu do lỗi của một chủ thể khác theo quy định tại khoản 4 Điều 131 BLDS năm 2015 gây ra sự không rõ ràng và dễ hiểu lầm Dù nhiều hợp đồng đã được công chứng, Tòa án vẫn có thể tuyên bố chúng vô hiệu, đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của công chứng viên Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014, công chứng viên có nhiệm vụ chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng Tuy nhiên, khi hợp đồng công chứng bị tuyên bố vô hiệu, trách nhiệm của công chứng viên chưa được làm rõ Khoản 4 Điều 131 quy định rằng "bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường", nhưng không đề cập đến công chứng viên Ngược lại, khoản 1 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại nếu công chứng viên của họ gây ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng.

Hợp đồng vô hiệu có thể phát sinh do lỗi của một bên hoặc cả hai bên, và vấn đề bồi thường thiệt hại sẽ được xem xét trong trường hợp có sự lỗi của cả hai bên.

21 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015

Theo nghiên cứu của Phạm Văn Bình và Đặng Thị Phương Khanh, Tòa án cần xác định mức độ lỗi của các bên trong giao dịch dân sự vô hiệu để quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nếu lỗi của các bên tương đương, mỗi bên chịu 1/2 giá trị thiệt hại; nếu không, trách nhiệm bồi thường sẽ dựa trên mức độ lỗi cụ thể của từng bên Hiện tại, việc xác định thiệt hại trong hợp đồng dân sự vô hiệu vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể, và chỉ có thể tham khảo một số văn bản từ Tòa án nhân dân tối cao để nghiên cứu thêm.

Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP, thiệt hại trong hợp đồng vô hiệu có thể bao gồm: chi phí khôi phục tài sản về trạng thái ban đầu, chi phí tăng giá trị tài sản, chênh lệch giá trị tài sản tại thời điểm xét xử, và các thiệt hại khác (nếu có) Ngoài ra, một bên có thể bị coi là có lỗi nếu hành vi của họ khiến bên kia nhầm tưởng về tính hợp pháp của giao dịch Tuy nhiên, việc xác định lỗi cần xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt trong trường hợp hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, nơi bên bán có thể không biết hoặc không thể biết về việc hợp đồng không thể thực hiện do quyết định của cơ quan nhà nước.

Dựa trên các phân tích, cần xem xét sửa đổi Khoản 4 Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 theo hướng “Bên gây ra nguyên nhân chính dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu phải chịu trách nhiệm bồi thường” Việc xác định chủ thể khởi đầu giao dịch vô hiệu cần có văn bản hướng dẫn cụ thể để đảm bảo họ chịu trách nhiệm về hành vi của mình Ngoài ra, cần bổ sung quy định về mức bồi thường vào Khoản 4 Điều 131 theo hướng “Mức bồi thường cho bên bị thiệt hại được tính theo lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật này” Quy định này nhằm bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật về giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu và khắc phục tình trạng định giá tài sản không chính xác.

Trong tác phẩm "Bình luận khoa học Bộ Luật Dân sự năm 2015", tác giả Đinh Trung Tụng nhấn mạnh rằng việc tính toán bồi thường phải dựa trên nguyên tắc rõ ràng Nếu giao dịch dân sự không bị vô hiệu, bên được bồi thường đã được hưởng tài sản, điều này được hiểu qua suy đoán Tuy nhiên, theo quy định, không thể áp dụng suy đoán này mà cần phải tuân theo các quy định về lãi suất cho vay.

Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về hợp đồng vô hiệu

Khái niệm về hợp đồng không công bằng

Trong quan hệ hợp đồng, nguyên tắc công bằng đóng vai trò quan trọng, đảm bảo rằng các bên đều có lợi khi giao kết hợp đồng Nguyên tắc này góp phần duy trì sự bền vững trong các mối quan hệ hợp đồng trong đời sống kinh tế - xã hội Do đó, hợp đồng không công bằng sẽ bị coi là trái với trật tự công cộng và vô hiệu.

BLDS năm 2015 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đều thiếu định nghĩa rõ ràng về hợp đồng Điều này tạo ra sự không nhất quán trong việc hiểu và áp dụng các quy định liên quan đến hợp đồng trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việc thiếu định nghĩa có thể dẫn đến những hiểu lầm và khó khăn trong việc thực thi các quyền lợi của người tiêu dùng.

Hợp đồng không công bằng được xác định qua các điều khoản gây bất lợi cho người tiêu dùng, thường xuất hiện trong các hợp đồng theo mẫu Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu hợp đồng mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm cho bên soạn thảo hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia, thì điều khoản đó sẽ không có hiệu lực Điều này cho thấy rằng hợp đồng không công bằng chứa đựng các điều khoản làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi của một bên, dẫn đến sự không công bằng trong quyền lợi và nghĩa vụ Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định rõ những điều khoản bị cấm trong hợp đồng thương mại, bao gồm các điều khoản soạn sẵn gây bất lợi cho người tiêu dùng và ưu tiên quyền lợi cho thương nhân Việc sử dụng các điều khoản này vi phạm nguyên tắc công bằng trong giao kết hợp đồng và xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng.

Hợp đồng có chứa điều khoản không công bằng được định nghĩa là những điều khoản có khả năng tạo ra bất lợi do sự bất cân xứng trong quan hệ hợp đồng Nhiều quốc gia đã quy định vấn đề này trong pháp luật của họ, như Luật Điều khoản không công bằng.

1 Khoản 3 Điều 405 Bộ luật dân sự 2015

Theo Điều 25 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 tại Úc, một điều khoản trong hợp đồng tiêu dùng được xem là không công bằng nếu nó tạo ra sự mất cân bằng đáng kể về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, không cần thiết để bảo vệ lợi ích của bên có điều kiện thuận lợi hơn, và có thể gây thiệt hại cho một bên khi được áp dụng.

Tại Pháp, một điều khoản hợp đồng được coi là không công bằng khi nó tạo ra sự mất cân bằng đáng kể trong quyền và nghĩa vụ của các bên, gây bất lợi cho người tiêu dùng, và được áp dụng một cách trái với yêu cầu thiện chí Hợp đồng không công bằng thường chứa các điều khoản làm tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của một bên, dẫn đến sự không công bằng trong quyền lợi và nghĩa vụ của các bên Kết quả là, một bên có thể không có lựa chọn nào khác ngoài việc ký kết hợp đồng, hoặc các điều khoản có thể quá thiên lệch đến mức không thể thực thi.

Luật Điều khoản hợp đồng không công bằng của Thái Lan xác định rằng các điều khoản bất công đối với người tiêu dùng, như việc miễn giảm trách nhiệm của thương nhân hoặc áp đặt ý chí của thương nhân lên người tiêu dùng, đều là những điều khoản vi phạm pháp luật và bị cấm.

Hợp đồng không công bằng là loại hợp đồng có các điều khoản miễn trách nhiệm cho bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, đồng thời tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên còn lại Những điều khoản này thiếu thiện chí và tạo ra sự bất cân xứng rõ rệt về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, thường là bên yếu thế trong các quan hệ tiêu dùng.

3 annie Paterson, Critique and Comment The Australian Unfair Contract Terms Law: https://law.unimelb.edu.au/ data/assets/pdf_file/0020/1705241/33_3_10.pdf, truy cập ngày

Bài viết của Đỗ Giang Nam, “Từ công bằng thủ tục đến công bằng nội dung: Thành tựu và thách thức của chế định kiểm soát điều khoản mẫu trong pháp luật Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 06 (406) tháng 3/2020, phân tích sự chuyển biến từ công bằng thủ tục sang công bằng nội dung trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tác giả nêu bật những thành tựu đạt được trong việc kiểm soát điều khoản mẫu, đồng thời chỉ ra những thách thức còn tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chế định này.

Đặc điểm nhận diện hợp đồng không công bằng

Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về hợp đồng không công bằng, do đó việc nhận diện loại hợp đồng này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tiễn Những đặc điểm nhận diện hợp đồng không công bằng thường được chú trọng ở một số khía cạnh nhất định.

Trong các hợp đồng không công bằng, thường có sự chênh lệch rõ rệt giữa các bên tham gia, với một bên nắm giữ lợi thế về tài chính, kiến thức pháp lý hoặc quyền lực thương lượng Điều này khiến bên yếu hơn rơi vào thế bất lợi, không có khả năng thương lượng các điều khoản hợp đồng hợp lý Hệ quả là bên mạnh có thể áp đặt các điều khoản bất lợi, gây thiệt hại cho bên yếu Tình trạng này phổ biến trong các hợp đồng lao động, vay tài chính và hợp đồng mua bán căn hộ, nơi bên yếu thường phải chấp nhận điều kiện từ bên mạnh mà không có sự lựa chọn thực sự.

Hợp đồng không công bằng thường chứa các điều khoản mất cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên Một bên có quá nhiều quyền lợi, trong khi bên kia phải gánh chịu nhiều nghĩa vụ nặng nề mà không có sự tương xứng Điều này có thể bao gồm quyền đơn phương sửa đổi hợp đồng hoặc miễn trừ trách nhiệm, trong khi bên còn lại không được đảm bảo quyền lợi tương ứng Sự mất cân bằng này có thể dẫn đến tình trạng bất lợi nghiêm trọng cho bên yếu thế, đặc biệt khi họ không có khả năng thương lượng các điều khoản trước khi ký kết hợp đồng.

Hợp đồng không công bằng thường chứa các điều khoản vi phạm đạo đức, pháp luật và gây thiệt hại cho một bên Trong hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có thể áp đặt các cơ chế bóc lột, hạn chế quyền khiếu nại hoặc buộc bên yếu thế chấp nhận trách nhiệm vô lý Những điều khoản này có thể khiến bên yếu mất quyền tự do quyết định, ví dụ như hạn chế quyền lựa chọn nơi làm việc sau khi chấm dứt hợp đồng với điều khoản cấm làm việc cho công ty tương đương trong vòng 2-3 năm Những điều khoản này không chỉ vi phạm nguyên tắc công bằng mà còn có thể bị coi là vô hiệu và dẫn đến can thiệp từ cơ quan chức năng để bảo vệ quyền lợi cho bên bị ảnh hưởng.

Các yếu tố tạo nên hợp đồng không công bằng

1.3.1 Không công bằng về quy trình

Trong lĩnh vực hợp đồng, tính không công bằng về thủ tục (Procedural

Unconscionability đề cập đến tình huống mà một bên không có cơ hội công bằng để hiểu hoặc thương lượng các điều khoản của hợp đồng, dẫn đến sự mất cân bằng nghiêm trọng về quyền lợi Yếu tố này là một trong những điểm quan trọng mà tòa án xem xét khi đánh giá tính hợp lý của một hợp đồng.

Tính không công bằng về thủ tục trong hợp đồng tập trung vào cách thức hình thành hợp đồng hơn là nội dung của nó Hợp đồng có thể bị coi là không công bằng nếu một bên thiếu thông tin, bị ép buộc hoặc không có cơ hội để đưa ra quyết định sáng suốt Tình huống này thường xảy ra khi có sự chênh lệch quyền lực lớn giữa các bên, như giữa một công ty lớn và cá nhân tiêu dùng, giữa chủ lao động và nhân viên, hoặc giữa bên cho vay và bên vay có hoàn cảnh tài chính yếu kém.

Để xác định tính công bằng của một hợp đồng về thủ tục, cần xem xét một số yếu tố, trong đó nổi bật là sự chênh lệch quyền lực và khả năng thương lượng giữa các bên tham gia.

Hợp đồng được coi là không công bằng khi một bên có lợi thế rõ rệt so với bên kia, dẫn đến việc bên yếu không thể thương lượng điều khoản Tình trạng này thường xảy ra trong các hợp đồng tiêu chuẩn (hợp đồng gắn liền), nơi bên có quyền lực áp đặt các điều khoản theo hình thức "chấp nhận hoặc từ chối toàn bộ".

Một ngân hàng có thể cung cấp hợp đồng vay vốn với các điều khoản cố định, không cho phép khách hàng điều chỉnh, điều này có thể gây bất lợi nghiêm trọng cho người vay Thêm vào đó, sự thiếu minh bạch và cách trình bày không rõ ràng của hợp đồng cũng là vấn đề cần lưu ý.

Hợp đồng với các điều khoản phức tạp và khó hiểu có thể làm giảm khả năng nhận thức của bên yếu thế Nhiều doanh nghiệp thường sử dụng hợp đồng dài dòng và chữ in nhỏ để che giấu các điều khoản quan trọng, khiến khách hàng khó nhận ra những rủi ro tiềm ẩn mà họ có thể gặp phải.

Một công ty bảo hiểm có thể cung cấp hợp đồng dài với nhiều trang tài liệu, nhưng lại giấu kín điều khoản loại trừ trách nhiệm bồi thường cho các trường hợp phổ biến nhất Điều này có thể xảy ra do sự ép buộc, đe dọa hoặc áp lực bất hợp lý lên khách hàng.

Hợp đồng được coi là không công bằng nếu một bên bị ép buộc ký mà không có sự tự do lựa chọn, thường xảy ra khi một bên lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của bên kia để áp đặt các điều khoản bất lợi.

Một người vay tiền có thể bị ép ký hợp đồng với lãi suất cao do tình huống khẩn cấp như cần tiền chữa bệnh, điều này cho thấy sự thiếu lựa chọn thực tế của bên yếu thế trong giao dịch tài chính.

Khi một bên không có lựa chọn nào khác ngoài việc ký hợp đồng, tính tự nguyện của hợp đồng có thể bị suy yếu Tình huống này thường xảy ra trong các ngành độc quyền hoặc khi hợp đồng liên quan đến các dịch vụ thiết yếu như y tế, giáo dục và nhà ở.

Trong trường hợp khẩn cấp, bệnh nhân có thể phải trải qua phẫu thuật ngay lập tức, nhưng trước đó họ cần ký hợp đồng với bệnh viện để đồng ý thanh toán các khoản phí cao mà không có sự lựa chọn nào khác.

1.3.2 Không công bằng về nội dung

Trong lĩnh vực hợp đồng, tính không công bằng về nội dung (Substantive

Tính không công bằng (Unconscionability) đề cập đến những điều khoản hợp đồng quá mức bất lợi hoặc không hợp lý, gây ra sự mất cân bằng nghiêm trọng về quyền lợi giữa các bên Khác với tính không công bằng về thủ tục, tập trung vào quá trình hình thành hợp đồng, tính không công bằng về nội dung liên quan trực tiếp đến các điều khoản của hợp đồng Đây là cơ sở quan trọng để tòa án xem xét điều chỉnh hoặc vô hiệu hóa hợp đồng nhằm bảo vệ bên yếu thế.

Tính không công bằng trong nội dung hợp đồng xảy ra khi các điều khoản quá thiên lệch, gây bất lợi nghiêm trọng cho một bên Điều này thường thể hiện qua các quy định về giá cả, phí phạt, trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ mà một bên phải gánh chịu.

Một số yếu tố xác định tính công bằng của hợp đồng bao gồm điều khoản có thể gây bất lợi quá mức cho một bên.

Một hợp đồng được xem là không công bằng khi một bên gánh chịu toàn bộ rủi ro hoặc nghĩa vụ, trong khi bên kia hầu như không phải chịu trách nhiệm gì.

- Một hợp đồng thuê nhà cho phép chủ nhà tăng giá thuê tùy ý nhưng không cho phép người thuê hủy hợp đồng

Quy định về điều khoản không được phép quy định trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Hợp đồng không công bằng là loại hợp đồng chứa các điều khoản bất lợi, thường gặp trong hợp đồng thương mại (HĐTM) Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD), Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2023 và Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định rõ về hình thức và nội dung của HĐTM, nhằm ngăn chặn sự tồn tại của những điều khoản không công bằng có thể xâm phạm quyền lợi của NTD.

Về hình thức của hợp đồng, HĐTM được hiểu là chỉ bằng văn bản Điều 405 BLDS

2015 cho thấy HĐTM bắt buộc phải bằng văn bản bởi các quy định về các điều khoản hợp đồng việc công khai hợp đồng mẫu đến NTD 5

Mặc dù có quy định rõ ràng về điều kiện của hợp đồng thương mại (HĐTM), nhưng thực tế cho thấy nhiều HĐTM vẫn vi phạm các điều kiện này và được sử dụng phổ biến Những vi phạm này thường chỉ được phát hiện khi xảy ra tranh chấp.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đã sửa đổi quy định về "Điều Khoản không được phép quy định trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung" thành Điều 25 Nhiều nội dung trong điều khoản này vẫn kế thừa từ quy định của luật cũ.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương ngày 18/4/2022 về kinh nghiệm quốc tế trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phần 2, Mục II đã chỉ ra những vấn đề liên quan đến hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của các quy định tại Điều này trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và đảm bảo tính minh bạch trong các giao dịch thương mại.

Điều 16 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có ưu điểm nổi bật là tính xác định, tạo ra cơ chế kiểm soát nhanh chóng và hiệu quả, giúp giảm chi phí tiếp cận cho người tiêu dùng Điều này cũng hỗ trợ người ban hành hợp đồng thương mại và điều kiện giao dịch chung tự kiểm soát tính công bằng của các điều khoản Tuy nhiên, quy định này cũng bộc lộ hai bất cập.

Một số quy định hiện hành thiếu tính linh hoạt và không phù hợp với đặc thù của từng loại thị trường, đặc biệt là trong các hợp đồng có quá trình thực hiện lâu dài, như hợp đồng viễn thông Việc yêu cầu thương nhân phải liên hệ và đàm phán lại với từng khách hàng để sửa đổi hợp đồng nhằm tuân thủ Điều 16.1 (đ) của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 là điều không khả thi và không thực tế.

Thiếu quy định chung để xác định chuẩn mực kiểm soát tính bất công bằng của các điều Khoản mẫu Danh mục các điều Khoản không có hiệu lực tại Điều 16 không thể bao quát hết tất cả các hình thức mới của các điều Khoản bất công trên thị trường.

Điều 25 Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2025 đã được sửa đổi và bổ sung một số điều khoản để phù hợp hơn với thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp.

Khoản 3 mới được bổ sung cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh đơn phương thay đổi quy định của hợp đồng đã ký kết với người tiêu dùng, nhằm phù hợp với thực tiễn các điều khoản không công bằng Điều khoản này dựa trên Mục 1 của Phụ lục đính kèm Chỉ thị Hội đồng Châu Âu 93/13/EEC, liệt kê các điều khoản có thể bị coi là không công bằng, trong đó có việc cho phép người bán hoặc nhà cung cấp đơn phương thay đổi các điều khoản của hợp đồng mà không có lý do chính đáng.

Điểm c Khoản 1 Điều 16 Luật cũ được sửa đổi thành "Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh đơn phương thay đổi điều kiện giao dịch chung mà không quy định quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng cho người tiêu dùng" Điều này được xây dựng dựa trên Điều 10 của Đạo luật về các Điều Khoản và Điều kiện Hàn Quốc, trong đó quy định rằng một điều khoản vô hiệu là "Điều khoản cho phép thương nhân có quyền đơn phương xác định hoặc thay đổi các chi tiết của việc thực hiện mà không có lý do chính đáng".

Điều khoản này loại trừ quyền hủy bỏ hoặc chấm dứt hợp đồng của khách hàng theo quy định của Đạo luật, đồng thời cũng hạn chế việc thực hiện quyền này.

Khoản 7 mới được bổ sung cho phép tổ chức và cá nhân kinh doanh điều chỉnh giá trong quá trình cung cấp dịch vụ liên tục mà không quy định quyền chấm dứt hợp đồng cho người tiêu dùng Quy định này nhằm phù hợp với thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ liên tục.

Trong Luật Người tiêu dùng Úc, có 25 phần 2-3 quy định về các điều khoản hợp đồng không công bằng, đưa ra ví dụ về các điều khoản có thể bị coi là không công bằng trong hợp đồng tiêu dùng Một trong những điều khoản này cho phép một bên thay đổi giá phải trả theo hợp đồng mà không cho bên kia quyền chấm dứt hợp đồng.

Khoản 12 mới quy định về chế tài theo hướng bất lợi hơn cho người tiêu dùng trong trường hợp vi phạm hoặc chấm dứt hợp đồng Điều khoản này được xây dựng dựa trên kinh nghiệm quốc tế về định nghĩa các điều khoản không công bằng, bao gồm ba tiêu chí: (i) sự bất cân xứng đáng kể giữa quyền và nghĩa vụ của các bên; (ii) đi ngược lại yêu cầu về thiện chí; và (iii) gây bất lợi cho người tiêu dùng.

Khoản "13" mới được bổ sung cho phép tổ chức và cá nhân kinh doanh gia hạn hợp đồng đã thỏa thuận với người tiêu dùng mà không cần thông báo trước hoặc không có cơ chế cho người tiêu dùng lựa chọn gia hạn hay chấm dứt hợp đồng, nhằm phù hợp với thực tiễn kinh doanh Điều khoản này được xây dựng dựa trên Mục 25 Phần 2-3 của Luật Người tiêu dùng Úc, nêu rõ những điều khoản hợp đồng tiêu dùng có thể được coi là không công bằng, trong đó có điều khoản cho phép một bên gia hạn hợp đồng mà không cần sự đồng ý của bên còn lại.

Quy định về giải quyết các vấn đề liên quan đến vi phạm các điều khoản không công bằng trong hợp đồng

Pháp luật Hàn Quốc quy định rằng doanh nghiệp không được phép sử dụng hợp đồng mẫu có điều khoản không công bằng khi giao kết với khách hàng Ủy ban Thương mại Công bằng Hàn Quốc (KFTC) có trách nhiệm yêu cầu doanh nghiệp khắc phục tình trạng này bằng cách xóa bỏ hoặc chỉnh sửa các điều khoản không công bằng trong hợp đồng mẫu.

KFTC yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi hoặc xóa bỏ các điều khoản không công bằng trong hợp đồng mẫu do doanh nghiệp phát hành nếu vi phạm bất kỳ quy định nào được liệt kê dưới đây.

Doanh nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường phải đáp ứng các tiêu chí được quy định trong Quy chế độc quyền và Luật Thương mại công bằng.

(2) Khi Doanh nghiệp lợi dụng ưu thế của mình để áp đặt các điều khoản Hợp đồng đối với người tiêu dùng;

Khi hợp đồng liên quan đến việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho công chúng trong tình huống khẩn cấp, khách hàng không có cơ hội để xem xét và sửa đổi các điều khoản của hợp đồng.

Khi doanh nghiệp lạm dụng vị thế của mình để áp đặt điều kiện lên khách hàng, hoặc khi sự lựa chọn của khách hàng giữa các doanh nghiệp cạnh tranh bị hạn chế, khách hàng sẽ bị ép buộc chấp nhận các điều khoản của hợp đồng.

Khi bản chất và mục tiêu của Hợp đồng yêu cầu khách hàng không được hủy bỏ hoặc chấm dứt, những quy định hạn chế này có thể gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể cho khách hàng.

Khi một doanh nghiệp không thực hiện các hành động khắc phục hợp đồng theo khuyến cáo của KFTC và gây ra thiệt hại cho khách hàng, KFTC sẽ đề nghị các doanh nghiệp trong cùng ngành không sử dụng những điều khoản hợp đồng không công bằng.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều khoản không công bằng trong hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu theo Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Điều này có nghĩa là khi bên thương nhân sử dụng điều khoản vi phạm, điều khoản đó sẽ tự động vô hiệu do vi phạm quy định cấm của luật Cách tiếp cận này tạo ra cơ chế kiểm soát điều khoản mẫu hiệu quả, giảm chi phí cho người tiêu dùng và giúp người ban hành tự kiểm soát tính công bằng của các điều khoản, từ đó ngăn chặn việc áp dụng điều khoản không công bằng mà không cần sự can thiệp của tòa án hay cơ quan hành chính.

Theo lý thuyết, một điều khoản sẽ bị cấm nếu rõ ràng bất công và không mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Tuy nhiên, việc cấm hoàn toàn một điều khoản mà không xem xét vai trò của nó trong việc điều tiết quan hệ hợp đồng có thể dẫn đến hiệu ứng ngược Điều 25 Luật Bảo vệ Người tiêu dùng đôi khi không đánh giá đúng các tính năng của điều khoản mẫu, can thiệp quá mức vào quyền tự do hợp đồng Các điều khoản cho phép thương nhân quyết định đơn phương có thể gây bất công cho người tiêu dùng, nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong các hợp đồng dài hạn, như hợp đồng viễn thông, nơi mà việc điều chỉnh hợp đồng theo biến động thị trường là cần thiết Việc yêu cầu thương nhân phải đàm phán lại với từng khách hàng trong những tình huống này là không khả thi.

Thay vì cấm hoàn toàn các điều khoản trong hợp đồng, việc trao cho thương nhân sự linh hoạt để sửa đổi nội dung hợp đồng là phương án tối ưu hơn Điều này giúp bảo vệ người tiêu dùng bằng cách cung cấp cho họ thời gian hợp lý để xem xét các sửa đổi và quyền được huỷ bỏ hợp đồng nếu quyền lợi của họ bị ảnh hưởng Pháp luật Hàn Quốc là một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận này Tóm lại, bên cạnh tính xác định, việc áp dụng cách tiếp cận cấm đoán hoàn toàn cần được xem xét kỹ lưỡng.

25 LBVNTD có một nhược điểm cố hữu là thiếu tính linh hoạt, điều này dẫn đến sự cứng nhắc trong việc áp dụng, không thể điều chỉnh theo hoàn cảnh và đặc thù của từng lĩnh vực kinh doanh trong các loại thị trường khác nhau.

Hạn chế của cơ chế hiện hành là thiếu quy định chung để kiểm soát tính bất công của các điều khoản mẫu Danh mục cấm tại Điều 25 không thể bao quát tất cả các hình thức bất công mới trên thị trường Khi xuất hiện các điều khoản bất công cho người tiêu dùng mà không nằm trong danh mục này, sẽ không có cơ sở pháp lý để kiểm soát Sự thiếu vắng quy định chung đồng nghĩa với việc không có công cụ quan trọng để thiết lập chuẩn mực công bằng trong pháp luật hợp đồng Việt Nam.

Nam, cũng như đảm bảo tính linh hoạt của cơ chế kiểm soát trước sự thay đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội

Tại Việt Nam, Điều 15 Nghị định số 55/2024/NĐ-CP quy định về việc hủy bỏ và sửa đổi hợp đồng theo mẫu, cũng như điều kiện giao dịch chung nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được xây dựng dựa trên Điều 16 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP Nghị định mới này không chỉ kế thừa nội dung cũ mà còn sửa đổi, bổ sung và làm rõ một số điểm quan trọng.

Theo Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 55/2024/NĐ-CP, cơ sở pháp lý từ ''Điều 9'' của Nghị định số 99/2011/NĐ-CP đã được sửa đổi thành ''Điều 14'' trong Nghị định số 55/2024/NĐ-CP Điều này liên quan đến việc quy định thẩm quyền tiếp nhận đăng ký, hiện được quy định tại Điều 14 của Nghị định mới và được đổi tên thành thẩm quyền kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

Theo Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 55/2024/NĐ-CP, khi hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hủy bỏ hoặc sửa đổi hợp đồng Việc này có thể được thực hiện tự động hoặc theo đề nghị của người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Ngày đăng: 27/03/2025, 18:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w