1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Vi phạm Hợp đồng và miễn trừ trách nhiệm

24 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận vi phạm hợp đồng và miễn trừ trách nhiệm
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 607,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

MỤC LỤC

BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM i

1 Cơ sở lý luận về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 1

1.1 Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 1

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 1

1.3 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết việc vi phạm hợp đồng 2

1.4 Học thuyết vi phạm hiệu quả 3

2 Chế tài xử lý vi phạm hợp đồng 4

2.1 Buộc thực hiện hợp đồng 4

2.2 Bồi thường thiệt hại 5

2.3 Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại 6

3 Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện 7

3.1 Căn cứ xác định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện 8

3.2 Xử lý hậu quả của việc vi phạm hợp đồng trước thời hạn 9

4 Vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng, miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm, vi phạm hợp đồng do lỗi của bên có quyền 10

4.1 Vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng 10

4.2 Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 13

4.3 Giới hạn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 15

4.4 Vi phạm hợp đồng do lỗi của bên có quyền 17

5 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật và kiến nghị hoàn thiện quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tại Việt Nam 18

Trang 2

1 Cơ sở lý luận về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

1.1 Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là nghĩa vụ pháp lý mà một bên trong hợp đồng phải gánh chịu khi không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, gây thiệt hại cho bên còn lại Vi phạm hợp đồng

có thể bao gồm việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện chậm các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên, đồng thời khuyến khích việc thực hiện các cam kết hợp đồng một cách nghiêm túc Các hình thức trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng có thể bao gồm:

Một, trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường

cho bên kia những thiệt hại mà vi phạm của mình gây ra Thiệt hại này có thể bao gồm tổn thất trực tiếp và lợi nhuận mà bên bị vi phạm hợp đồng lẽ ra có thể nhận được nếu hợp đồng được thực hiện đúng

Hai, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ

đúng hạn, bên còn lại có thể yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng, trừ khi điều đó không còn khả thi hoặc không còn ý nghĩa thực tế

Ba, trách nhiệm chịu phạt vi phạm Trong nhiều hợp đồng, các bên có thể thỏa

thuận về mức phạt vi phạm nếu một bên không thực hiện đúng cam kết Mức phạt này

có thể được quy định rõ trong hợp đồng hoặc do tòa án quyết định nếu không có thỏa thuận trước

Bốn, chấm dứt hợp đồng Trong một số trường hợp, nếu vi phạm hợp đồng là

nghiêm trọng, bên không vi phạm có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Ngoài ra, còn có trách nhiệm bổ sung Trong trường hợp vi phạm hợp đồng gây thiệt hại đặc biệt, có thể có trách nhiệm bổ sung như chịu trách nhiệm về các chi phí phát sinh hoặc các nghĩa vụ khác liên quan

1.2 Đặc điểm của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm vi phạm hợp đồng (còn gọi là trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng) là hệ quả pháp lý mà một bên trong hợp đồng phải chịu khi không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng Trách nhiệm này có thể được áp dụng thông qua các hình thức khác nhau tùy vào sự thỏa thuận của các bên hoặc quy định của pháp luật Trách nhiệm vi phạm hợp đồng giúp bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng, đảm bảo tính công bằng và tính khả thi của các cam kết trong giao dịch hợp đồng

Trang 3

Một số đặc điểm chủ yếu của trách nhiệm vi phạm hợp đồng, bao gồm: (i) Có

sự vi phạm hợp đồng: Trách nhiệm vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh khi một trong các bên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà mình đã cam kết trong hợp đồng; (ii) Có lỗi của bên vi phạm: Trong đa số các trường hợp, bên vi phạm phải có lỗi (bao gồm cả lỗi cố ý và lỗi vô ý) Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, trách nhiệm vi phạm hợp đồng có thể xảy ra mà không cần chứng minh lỗi; (iii) Có thiệt hại xảy ra: Trách nhiệm vi phạm hợp đồng thường được áp dụng khi hành vi vi phạm gây ra thiệt hại cho bên còn lại trong hợp đồng Bên bị vi phạm có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có chứng minh được thiệt hại xảy ra; (iv) Có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại: Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra Mức bồi thường có thể được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo pháp luật; (v) Có thể yêu cầu thực hiện nghĩa

vụ hoặc hủy bỏ hợp đồng: Ngoài việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm cũng

có thể yêu cầu bên vi phạm tiếp tục thực hiện hợp đồng (nếu có thể) hoặc yêu cầu hủy

bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu không thể thực hiện; (vi) Hình thức trách nhiệm có thể là bồi thường, phạt hợp đồng, hoặc yêu cầu thực hiện hợp đồng: Tùy vào tính chất của hợp đồng và sự thỏa thuận của các bên, trách nhiệm vi phạm hợp đồng có thể là bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng (nếu có điều khoản phạt) hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; (vii) Không phụ thuộc vào khả năng thực hiện của bên vi phạm: Dù bên vi phạm có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng (như do sự kiện bất khả kháng), nếu không có điều khoản miễn trừ trách nhiệm hợp đồng hợp lý, họ vẫn có thể phải chịu trách nhiệm

1.3 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết việc vi phạm hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết việc vi phạm hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bị vi phạm có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp về Hợp đồng nói chung theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nhưng có thể có sự thay đổi tùy thuộc vào từng loại hợp đồng và trường hợp cụ thể liên quan đến một số loại nghĩa vụ đặc biệt (ví dụ: hợp đồng về bất động sản, bảo hiểm, v.v.), có thể có các thời hiệu khác nhau tùy vào quy định cụ thể của pháp luật Cụ thể,

theo Điều 319 Luật Thương mại 2005 thì “thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm [ ]”

Trang 4

Sự khác biệt trong các quy định về thời hiệu khởi kiện đòi hỏi phải xác định chính xác bản chất của hợp đồng và vi phạm phát sinh để áp dụng đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Thời hiệu khởi kiện có thể bị đình chỉ hoặc gián đoạn trong một số trường hợp, ví dụ như khi một bên tham gia tranh chấp không thể thực hiện quyền của mình do bất khả kháng (chết, mất năng lực hành

vi dân sự, không có khả năng tiếp cận thông tin hay các trường hợp khác), thì thời gian này sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện

Tóm lại, thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết việc vi phạm hợp đồng là 03 năm, nhưng có thể có sự thay đổi tùy thuộc vào từng loại hợp đồng và trường hợp cụ thể Do vậy, nếu bạn đang có tranh chấp về hợp đồng, cần phải nắm rõ thời hiệu này

để đảm bảo quyền lợi của mình

1.4 Học thuyết vi phạm hiệu quả

Học thuyết vi phạm hiệu quả là một khái niệm pháp lý chủ yếu được sử dụng trong bối cảnh luật hợp đồng, xuất phát từ hệ thống thông luật (luật chung), đặc biệt phổ biến ở Mỹ Học thuyết này cho phép một bên vi phạm hợp đồng nhưng vẫn nhận được lợi ích của hợp đồng trong một số điều kiện nhất định, nghĩa là việc vi phạm hợp đồng vẫn được chấp nhận nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho xã hội, dù một bên phải chịu thiệt hại Về cơ bản, học thuyết này cho phép bên vi phạm được hưởng lợi thế quy định trong hợp đồng ngay cả khi họ đã vi phạm các điều khoản của hợp đồng

Định nghĩa của học thuyết vi phạm hiệu quả là một bên có thể cố ý vi phạm hợp đồng nếu lợi ích thu được từ việc vi phạm (sau khi bồi thường cho bên bị thiệt hại) lớn hơn chi phí thực hiện hợp đồng Ví dụ: A ký hợp đồng bán nhà cho B với giá 10 tỷ đồng, nhưng sau đó C đề nghị mua với giá 15 tỷ đồng Nếu A vi phạm hợp đồng với

B, bồi thường 2 tỷ đồng thì A vẫn lợi hơn 3 tỷ đồng (15 - 10 - 2) Theo học thuyết vi phạm hiệu quả thì việc vi phạm là “có hiệu quả” vì tạo ra lợi ích ròng cho xã hội

Bản chất của “hiệu quả” trong việc vi phạm là hiệu quả về mặt kinh tế, tối ưu hóa nguồn lực, giúp tài sản hoặc sản phẩm có giá trị sử dụng cao nhất và đảm bảo tính

“bồi thường đầy đủ” của bên vi phạm đối với bên bị vi phạm

Học thuyết vi phạm hiệu quả có thể được áp dụng trong những bối cảnh sau:

Thứ nhất, vi phạm không làm mất đi mục đích cốt lõi của hợp đồng, vi phạm nhỏ hoặc không ảnh hưởng đến mục đích chung của hợp đồng Thứ hai, bên bị vi phạm không

bị thiệt hại đáng kể do vi phạm hoặc đã chấp nhận vi phạm Thứ ba, bên vi phạm được

hưởng lợi ích lớn hơn thiệt hại đối với bên bị vi phạm Ví dụ, nếu một bên cố ý vi phạm

Trang 5

hợp đồng và bên kia quyết định tiếp tục thỏa thuận hoặc chấp nhận vi phạm, bên vi phạm vẫn có thể được hưởng một số lợi ích nhất định theo hợp đồng

Học thuyết này giúp giảm nhẹ hậu quả khắc nghiệt của hành vi vi phạm, đặc biệt trong những trường hợp việc thực hiện hợp đồng nghiêm ngặt sẽ dẫn đến kết quả không công bằng và không được mong đợi Tuy nhiên, việc áp dụng có thể khác nhau tùy thuộc vào các sự kiện cụ thể của từng vụ việc và quyền cũng như nghĩa vụ của các bên

2 Chế tài xử lý vi phạm hợp đồng

2.1 Buộc thực hiện hợp đồng

Theo quy định tại Điều 352 BLDS 2015, khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Đối với từng loại nghĩa vụ được quy định cụ thể như sau:

(i) Nghĩa vụ giao vật (Điều 356 BLDS), trường hợp bên vi phạm không thực hiện nghĩa vụ giao vật: nếu là vật đặc định thì phải giao đúng vật đó nếu vật đó không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật đó, nếu vật đó là vật cùng loại thì phải giao vật cùng loại khác nếu không có vật cùng loại khác thay thế thì phải thanh toán giá trị của vật

(ii) Nghĩa vụ thanh toán (Điều 357 BLDS): trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được vượt quá lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 (20%/năm) Trường hợp các bên không có thỏa thuận về lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 (tức là 10%/năm)

(iii) Nghĩa vụ thực hiện một công việc (Điều 358 BLDS): trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp

lý, bồi thường thiệt hại

(iv) Nghĩa vụ không được thực hiện một công việc (Điều 358 BLDS): khi bên

có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên

có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại

Trang 6

Đối với hợp đồng thương mại, buộc thực hiện đúng hợp đồng là một loại chế tài

mà bên có quyền có thể áp dụng cho tất cả các loại vi phạm hợp đồng Theo Luật Thương mại 2005, buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và chịu mọi chi phí phát sinh Nếu giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng, bên vi phạm phải hoàn thành theo thỏa thuận Trường hợp hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng, bên vi phạm phải khắc phục hoặc thay thế đúng hợp đồng Nếu không thực hiện, bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận dịch vụ khác và yêu cầu bồi hoàn chênh lệch chi phí Khi nghĩa vụ đã được thực hiện đầy đủ, bên bị vi phạm phải nhận hàng, thanh toán theo hợp đồng.1

2.2 Bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Về nguyên tắc bồi

thường, theo quy định tại Điều 360 BLDS 2015: “trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp

có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Thiệt hại bao gồm các thiệt hại về vật

chất và thiệt hại về tinh thần Trong đó, thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín

và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể

Theo quy định tại Điều 419 BLDS 2015 về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, những thiệt hại mà bên có quyền có thể yêu cầu bồi thường bao gồm thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại, chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc Đối với các hợp đồng thương mại, giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng

lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm2

Trong một số trường hợp, luật cũng quy định bên vi phạm không phải bồi thường hoặc chỉ phải bồi thường theo mức độ lỗi của mình Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và

có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường

Trang 7

thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.3 Ngoài ra, bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.4

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa

vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.5

2.3 Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại

Phạt vi phạm hay còn gọi là phạt vi phạm hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm Mức phạt vi phạm trong hợp đồng dân sự do hai bên thỏa thuận6, còn trong thương mại và xây dựng thì căn cứ vào giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm và không quá 8% hoặc 12%7

Cũng theo quy định tại Điều 418 BLDS 2015, các bên có thể thỏa thuận rằng bên vi phạm nghĩa vụ chỉ chịu phạt vi phạm mà không phải BTTH, hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải BTTH Đồng thời, các bên có thể thỏa thuận trước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xác định sẵn trong hợp đồng một mức bồi thường cụ thể bằng tiền

Tuy nhiên, khác với phạt vi phạm là chỉ áp dụng khi các bên đã có thỏa thuận trước, BTTH được áp dụng bất kể các bên có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại

do vi phạm hợp đồng hay không Khi thiệt hại xảy ra, bên gây thiệt hại vẫn phải bồi

Trang 8

thường theo quy định của pháp luật Mục đích chính của BTTH là bồi hoàn, bù đắp và khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm Do đó, BTTH là chế tài cơ bản và quan trọng nhất nhằm đảm bảo lợi ích của các bên khi hợp đồng bị vi phạm, đồng thời tạo khả năng bảo vệ tối đa lợi ích cho các bên liên quan trong quan hệ hợp đồng Vì vậy, chế tài này được áp dụng cho hầu hết các hành vi vi phạm hợp đồng

Điều 13 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Và Điều 360 BLDS năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp

có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”

Có thể hiểu rằng khi bên vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên còn lại, họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại BTTH Tuy nhiên, trách nhiệm này có thể được miễn trừ hoặc giới hạn nếu các bên đã có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định ngoại lệ cụ thể Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng được quy định tại Điều

419 BLDS năm 2015 Từ đó, mức yêu cầu BTTH có thể bằng và là lợi ích mà lẽ ra sẽ

được hưởng do hợp đồng mang lại Bên cạnh đó có thể đòi bồi thường thiệt hại về cả mặt “tinh thần” chứ không chỉ riêng về mặt vật chất

Phạt vi phạm có bản chất là biện pháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế hành vi vi phạm trước khi xảy ra, đồng thời cũng đóng vai trò trừng phạt bên vi phạm khi hành vi

vi phạm đã diễn ra Với ý nghĩa này, pháp luật tôn trọng và tạo điều kiện cho các bên

tự thỏa thuận mức phạt sao cho có thể phát huy đầy đủ mục đích của chế tài này Trong khi đó, chế tài BTTH – mang ý nghĩa bù đắp tổn thất cho bên bị vi phạm – thường ít được Tòa án hoặc Trọng tài chấp nhận theo yêu cầu của bên bị thiệt hại, hoặc nếu được chấp nhận, mức BTTH thường thấp hơn thiệt hại thực tế do những yêu cầu nghiêm ngặt

về nghĩa vụ chứng minh Do đó, việc cho phép các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm

và khoản BTTH hợp lý góp phần bảo vệ lợi ích cho bên bị vi phạm hợp đồng

3 Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện

Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện (Anticipatory Breach of Contract)

là một dạng vi phạm hợp đồng đặc biệt, xảy ra khi một bên trong hợp đồng tuyên bố hoặc thể hiện qua hành vi với ngụ ý ngầm là họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn thực hiện hợp đồng

Trang 9

3.1 Căn cứ xác định vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện

Khái niệm này được ghi nhận rộng rãi trong pháp luật Việt Nam và quốc tế dù chưa có luật nào quy định cụ thể về vấn đề này Và nó được viện dẫn theo quy định tại Điều 420 BLDS 2015, một bên trong hợp đồng có thể yêu cầu sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng nếu việc thực hiện nghĩa vụ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hoàn cảnh thay đổi8 Ngoài ra, Điều 294 Luật Thương mại 2005 cũng quy định các trường hợp được coi là vi phạm hợp đồng, trong đó bao gồm vi phạm cơ bản có thể được áp dụng với trường hợp vi phạm trước thời hạn9

Căn cứ để xác định vi phạm hợp đồng trước thời

hạn bao gồm:

Thứ nhất, tuyên bố rõ ràng về việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Nếu một

bên tuyên bố một cách dứt khoát và chắc chắn rằng họ không thể hoặc không có ý định thực hiện hợp đồng, bên còn lại có quyền coi đó là vi phạm hợp đồng trước thời hạn

Ví dụ, nếu nhà cung cấp thông báo rằng họ không thể giao hàng theo hợp đồng do gặp khó khăn tài chính, bên mua có thể coi đây là vi phạm trước thời hạn và áp dụng biện pháp khắc phục theo Điều 310 Luật Thương mại 2005.10

Hình thức tuyên bố có thể bằng văn bản chính thức (email, thư từ), lời nói trực tiếp giữa các bên, các thông báo công khai, ví dụ: công ty phá sản hoặc tuyên bố đóng cửa

Thứ hai, hành vi làm mất khả năng thực hiện hợp đồng Một bên có thể không

đưa ra tuyên bố rõ ràng nhưng lại có các hành vi khiến cho bên kia có căn cứ hợp lý để tin rằng nghĩa vụ hợp đồng sẽ không được thực hiện Ví dụ, nếu một nhà thầu xây dựng bán toàn bộ thiết bị thi công của mình trước khi đến hạn khởi công, chủ đầu tư có thể coi đây là một dấu hiệu của vi phạm trước thời hạn Các hành vi có thể bao gồm giải thể doanh nghiệp, mất khả năng tài chính (không thể thanh toán tiền nguyên vật liệu), bán hết tài sản hoặc ngừng hoạt động sản xuất, ngừng liên lạc hoặc không thực hiện các bước chuẩn bị cho hợp đồng

Thứ ba, dự đoán hợp lý từ hoàn cảnh thực tế Bên bị ảnh hưởng cần chứng minh

rằng các dấu hiệu từ bên vi phạm cho thấy sự không thực hiện hợp đồng là gần như chắc chắn Các yếu tố như khủng hoảng tài chính, tranh chấp nội bộ trong doanh nghiệp, hoặc mất năng lực sản xuất đều có thể là căn cứ để xác định vi phạm hợp đồng trước thời hạn

Trang 10

Việc xác định vi phạm hợp đồng trước thời hạn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của bên bị ảnh hưởng, cho phép họ có biện pháp xử lý kịp thời thay vì chờ đến thời điểm nghĩa vụ phải thực hiện mới yêu cầu chế tài

Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005 không

có quy định rõ ràng về “vi phạm hợp đồng trước thời hạn” Tuy nhiên, Điều 313 Luật Thương mại 2005 có đề cập đến vi phạm cơ bản của hợp đồng, trong đó một vi phạm nghiêm trọng có thể dẫn đến quyền chấm dứt hợp đồng ngay lập tức Điều 428 BLDS

2015 cũng quy định về quyền chấm dứt hợp đồng khi một bên không thực hiện nghĩa

vụ, có thể được vận dụng để xử lý trường hợp vi phạm trước thời hạn Theo hệ thống pháp luật quốc tế, Công ước Vienna 1980 (CISG) về mua bán hàng hóa quốc tế quy định rõ về vi phạm hợp đồng trước thời hạn tại Điều 71 và 72 Nếu một bên có căn cứ hợp lý để tin rằng bên kia sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình, họ có thể tạm ngừng thực hiện hợp đồng Nếu vi phạm là nghiêm trọng, bên bị ảnh hưởng có thể chấm dứt hợp đồng ngay lập tức Dù pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng, nhưng có thể vận dụng Luật Thương mại 2005, BLDS 2015 và các nguyên tắc của CISG để giải quyết các trường hợp vi phạm hợp đồng trước thời hạn

3.2 Xử lý hậu quả của việc vi phạm hợp đồng trước thời hạn

Khi vi phạm hợp đồng trước thời hạn xảy ra, bên bị ảnh hưởng có thể áp dụng một số biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình Pháp luật Việt Nam quy định nhiều biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm này, trong đó bao gồm quyền chấm dứt hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

Thứ nhất, tuyên bố hủy bỏ hợp đồng Khi một bên chắc chắn rằng nghĩa vụ hợp

đồng sẽ không được thực hiện, họ có quyền hủy bỏ hợp đồng mà không cần chờ đến thời điểm vi phạm thực tế Điều này giúp bên bị ảnh hưởng tránh được tổn thất lớn hơn

và có thể tìm kiếm phương án thay thế kịp thời.11

Thứ hai, yêu cầu bồi thường thiệt hại Bên bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bồi

thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trước thời hạn Theo Điều 302 Luật Thương mại

2005, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu, bao gồm chi phí phát sinh từ việc tìm kiếm đối tác mới, tổn thất do mất cơ hội kinh doanh hoặc các chi phí liên quan khác12

Trang 11

Thứ ba, yêu cầu thực hiện hợp đồng Trong một số trường hợp, bên bị ảnh hưởng

có thể yêu cầu tòa án hoặc trọng tài buộc bên vi phạm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Biện pháp này thường được áp dụng khi hợp đồng có tính chất đặc biệt hoặc việc bồi thường thiệt hại không thể khắc phục đầy đủ hậu quả của vi phạm Theo Điều 297 Luật Thương mại 2005, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng trừ khi hợp đồng không thể thực hiện được nữa13

Thứ tư, áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Nếu vi phạm hợp đồng

trước thời hạn có liên quan đến nguy cơ mất khả năng thanh toán, bên bị ảnh hưởng có thể yêu cầu các biện pháp bảo đảm như phong tỏa tài sản, yêu cầu đặt cọc hoặc bảo lãnh từ bên thứ ba để giảm thiểu rủi ro Theo quy định tại Điều 318 BLDS 2015, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể bao gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặt cọc

và ký quỹ14

Thứ năm, tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Các bên có thể tạm ngừng

thực hiện hợp đồng khi có dấu hiệu rõ ràng rằng bên kia sẽ không thể thực hiện hợp đồng hoặc khi tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể gây thiệt hại lớn cho bản thân.15

Thứ sáu, khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền hoặc giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài Khi các biện pháp thương lượng không hiệu quả hay khi bên vi phạm không chấp nhận bồi thường hoặc chấm dứt hợp đồng, bên bị vi phạm có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật Trọng tài Thương mại 2010 hoặc nộp đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Xử lý vi phạm hợp đồng trước thời hạn không chỉ giúp bên bị ảnh hưởng bảo vệ quyền lợi mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tính ổn định của các giao dịch thương mại và thúc đẩy sự tuân thủ hợp đồng trong kinh doanh

4 Vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng, miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm, vi phạm hợp đồng do lỗi của bên có quyền

Trang 12

ngoài tầm kiểm soát của các bên tham gia hợp đồng, không thể dự đoán trước và không thể ngăn chặn hoặc tránh khỏi16 Những sự kiện này có thể làm cho việc thực hiện nghĩa

vụ hợp đồng trở nên không thể hoặc cực kỳ khó khăn, từ đó dẫn đến miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng17 Đặc điểm của sự kiện bất khả kháng18

là tính không thể kiểm soát, không thể dự đoán được và không phải do lỗi của một trong các bên trong hợp đồng Những ví dụ điển hình về sự kiện bất khả kháng bao gồm thiên tai (lũ lụt, động đất), dịch bệnh (như dịch COVID-19), chiến tranh, đình công, hoặc các hành động của chính phủ

Trong pháp luật các nước phương Tây, khái niệm sự kiện bất khả kháng được quy định rõ ràng và chi tiết Cụ thể BLDS Pháp Điều 121819

quy định rằng các bên

trong hợp đồng có thể được miễn trách nhiệm khi có sự kiện bất khả kháng Theo điều khoản này, sự kiện bất khả kháng được định nghĩa là những sự kiện không thể ngăn ngừa, kiểm soát, hoặc lường trước được, khiến một bên không thể thực hiện nghĩa vụ

hợp đồng “Không phải chịu trách nhiệm nếu không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng do

sự kiện bất khả kháng xảy ra, làm cho việc thực hiện nghĩa vụ trở nên không thể thực hiện được.” Điều này có nghĩa là khi sự kiện bất khả kháng xảy ra (ví dụ: thiên tai,

chiến tranh, hoặc các sự kiện không thể lường trước khác), bên vi phạm hợp đồng không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa

vụ của mình Điều này bảo vệ các bên hợp đồng khỏi trách nhiệm trong những tình huống không thể kiểm soát

Trong Bộ luật Dân sự Đức (Bürgerliches Gesetzbuch - BGB), khái niệm về sự kiện bất khả kháng được quy định tại Điều 275, với nguyên tắc rằng bên vi phạm hợp đồng có thể được miễn trách nhiệm khi có sự kiện không thể ngừng lại hoặc ngừng thực hiện, và không thể dự đoán được, làm cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trở nên không khả thi Các quy định trong BLDS Đức nhấn mạnh tính bảo vệ quyền lợi của các bên trong trường hợp các sự kiện ngoài tầm kiểm soát xảy ra Điều 275 (1) quy định20: “Người có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng có thể miễn trách nhiệm nếu nghĩa vụ trở nên không thể thực hiện được do các sự kiện bất khả kháng hoặc nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát.”

Bộ luật Dân sự Đức (BGB), Điều 275

Bürgerliches Gesetzbuch (BGB) (2002) Bürgerliches Gesetzbuch [German Civil Code] Section 275 Retrieved

from https://www.gesetze-im-internet.de

Ngày đăng: 27/03/2025, 18:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm