CHƯƠNG 1: 1) Nêu cơ sở hình thành hoạt động TTQT. Các quốc gia ngày nay không tự sản xuất mọi thứ mình cần bởi điều kiện địa lý, trình độ phát triển, tự nhiên ở các quốc gia khác nhau, do vậy năng lực sản xuất ở các nước cũng khác nhau. Kết quả là, các quốc gia sẽ nhập khẩu những hàng hóa mà mình sản xuất kém ưu thế và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có ưu thế, để tận dụng lợi thế so sánh giữa các quốc gia với nhau. Sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia hình thành nên chuyên ngành quan hệ kinh tế quốc tế hay kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương. Hàng hóa được vận chuyển giữa các quốc gia với nhau thông qua việc sử dụng các phương tiện vận tải khác nhau từ đó hình thành chuyên ngành vận tải giao nhận hàng hóa trong ngoại thương. Khi tiến hành vận chuyển hàng hóa giữa các quốc gia với nhau thường không thể lường hết được những rủi ro có thể xảy ra trong thời kỳ dài vận chuyển hàng hóa giữa cả người xuất khẩu và nhập khẩu. Vì vậy, xuất hiện chuyên ngành bảo hiểm hàng hóa trong ngoại thương. Đây là chuyên ngành nhằm tạo sự ổn định và hạn chế những tổn thất có thể xảy ra khi hàng hóa được vận chuyển giữa các quốc gia. Sau khi tiến hành vận chuyển hàng hóa, giao hàng, hai bên sẽ kết thúc bằng việc nhận tiền hay thanh toán tiền hàng giữa hai bên. Thanh toán bằng phương thức nào, cách thức ra sao giữa các bên xuất khẩu và nhập khẩu hình thành nên chuyên ngành thanh toán quốc tế trong ngoại thương. Sau khi hàng được giao tới phương tiện vận tải, bộ chứng từ đã được lập, tuy nhiên phải mất một khoảng thời gian dài để hàng tới được cảng của người mua. Người xuất khẩu không thể chờ đợi được, vì vậy phát sinh nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hay các nghiệp vụ tài trợ thương mại khác của ngân hàng. Hoạt động mua bán hàng hóa giữa các quốc gia khác nhau nên liên quan tới nhiều nguồn luật điều chỉnh mang tính quốc tế, do đó những khác biệt về địa lý văn hóa, cách thức mua bán có thể gây nên những mâu thuẫn, tranh chấp trong hoạt động thương mại. Từ đó hình thành nên chuyên ngành luật kinh doanh quốc tế. Tóm lại, cơ sở hình thành hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động ngoại thương. Hoạt động ngoại thương là hoạt động cơ sở, và hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động phát sinh. Bên cạnh đó hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện qua hệ thống ngân hàng, cho nên khi nói đến hoạt động thanh toán quốc tế là nói đến hoạt động thanh toán của ngân hàng thương mại. 2) Phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động TTQT và hoạt động thanh toán trong nước. Hoạt động thanh toán quốc tế Hoạt động thanh toán trong nước Hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng. Trong thanh toán quốc tế, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp mà dùng các phương tiện thanh toán. Trong thanh toán quốc tế, ít nhất một trong hai bên có liên quan đến ngoại tệ. Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu bằng tiếng Anh. Giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế. Hoạt động thanh toán trong nước chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia (Luật doanh nghiệp (2014), Luật thương mại (2014)...). Hoạt động thanh toán trong nước có thể được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng hoặc không. Trong thanh toán trong nước, có thể sử dụng tiền mặt trực tiếp hoặc dùng các phương tiện thanh toán. Trong thanh toán trong nước, phần lớn có liên quan đến nội tệ. Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán trong nước chủ yếu bằng tiếng Việt. Giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc gia. 3) Phân biệt sự khác nhau giữa ba lĩnh vực nghiên cứu sau: (i) TTQT, (ii) kinh doanh ngoại hối, (iii) ngoại thương. Ngoại thương là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Kinh doanh ngoại hối là sự mua bán trao đổi hàng hóa ngoại tệ và các giấy tờ có giá trị thanh toán bằng ngoại tệ trên thị trường quốc tế Thanh toán quốc tế là một trong số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bên bán hàng thuộc lĩnh vực ngoại thương 4) Người chuyên chở là ai? Tại sao chủ thể này có liên quan đến hoạt động TTQT? Người chuyên chở chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đối tượng của hợp đồng ngoại thương. Người chuyên chở có thẩm quyền cấp pháp 1 loại chứng từ quan trọng, làm cơ sở cho các giao dịch TTQT, đó là chứng từ vận tải. 5) Người bảo hiểm là ai? Tại sao chủ thể này có liên quan đến hoạt động TTQT? Người bảo hiểm là các công ty bảo hiểm có thực hiện việc bán bảo hiểm cho các lô hàng xuất nhập khẩu........ 6) Vai trò của hoạt động TTQT đối với nền kinh tế được thể hiện như thế nào?
Trang 1CHƯƠNG 1:
1) Nêu cơ sở hình thành hoạt động TTQT
Các quốc gia ngày nay không tự sản xuất mọi thứ mình cần bởi điều kiện địa lý, trình độphát triển, tự nhiên ở các quốc gia khác nhau, do vậy năng lực sản xuất ở các nước cũngkhác nhau Kết quả là, các quốc gia sẽ nhập khẩu những hàng hóa mà mình sản xuất kém
ưu thế và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có ưu thế, để tận dụng lợi thế so sánh giữacác quốc gia với nhau Sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia hình thành nên chuyênngành quan hệ kinh tế quốc tế hay kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Hàng hóa được vận chuyển giữa các quốc gia với nhau thông qua việc sử dụng cácphương tiện vận tải khác nhau từ đó hình thành chuyên ngành vận tải giao nhận hàng hóatrong ngoại thương
Khi tiến hành vận chuyển hàng hóa giữa các quốc gia với nhau thường không thể lườnghết được những rủi ro có thể xảy ra trong thời kỳ dài vận chuyển hàng hóa giữa cả ngườixuất khẩu và nhập khẩu Vì vậy, xuất hiện chuyên ngành bảo hiểm hàng hóa trong ngoạithương Đây là chuyên ngành nhằm tạo sự ổn định và hạn chế những tổn thất có thể xảy
ra khi hàng hóa được vận chuyển giữa các quốc gia
Sau khi tiến hành vận chuyển hàng hóa, giao hàng, hai bên sẽ kết thúc bằng việc nhậntiền hay thanh toán tiền hàng giữa hai bên Thanh toán bằng phương thức nào, cách thức
ra sao giữa các bên xuất khẩu và nhập khẩu hình thành nên chuyên ngành thanh toánquốc tế trong ngoại thương
Sau khi hàng được giao tới phương tiện vận tải, bộ chứng từ đã được lập, tuy nhiên phảimất một khoảng thời gian dài để hàng tới được cảng của người mua Người xuất khẩukhông thể chờ đợi được, vì vậy phát sinh nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hay cácnghiệp vụ tài trợ thương mại khác của ngân hàng
Hoạt động mua bán hàng hóa giữa các quốc gia khác nhau nên liên quan tới nhiều nguồnluật điều chỉnh mang tính quốc tế, do đó những khác biệt về địa lý văn hóa, cách thứcmua bán có thể gây nên những mâu thuẫn, tranh chấp trong hoạt động thương mại Từ đóhình thành nên chuyên ngành luật kinh doanh quốc tế
Tóm lại, cơ sở hình thành hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động ngoại thương Hoạtđộng ngoại thương là hoạt động cơ sở, và hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động phátsinh Bên cạnh đó hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện qua hệ thống ngân hàng,cho nên khi nói đến hoạt động thanh toán quốc tế là nói đến hoạt động thanh toán củangân hàng thương mại
2) Phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động TTQT và hoạt động thanh toán trong nước
Trang 2Hoạt động thanh toán quốc tế Hoạt động thanh toán trong nước
- Hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự
điều chỉnh của luật pháp và các tập quán
quốc tế
- Hoạt động thanh toán quốc tế được thực
hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân
hàng
- Trong thanh toán quốc tế, tiền mặt hầu
như không được sử dụng trực tiếp mà
dùng các phương tiện thanh toán
- Trong thanh toán quốc tế, ít nhất một
trong hai bên có liên quan đến ngoại tệ
- Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc
tế chủ yếu bằng tiếng Anh
- Giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật
quốc tế
- Hoạt động thanh toán trong nước chịu sựđiều chỉnh của luật quốc gia (Luật doanhnghiệp (2014), Luật thương mại (2014) )
- Hoạt động thanh toán trong nước có thểđược thực hiện thông qua hệ thống ngânhàng hoặc không
- Trong thanh toán trong nước, có thể sửdụng tiền mặt trực tiếp hoặc dùng cácphương tiện thanh toán
- Trong thanh toán trong nước, phần lớn
có liên quan đến nội tệ
- Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toántrong nước chủ yếu bằng tiếng Việt
- Giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luậtquốc gia
3) Phân biệt sự khác nhau giữa ba lĩnh vực nghiên cứu sau: (i) TTQT, (ii) kinh doanhngoại hối, (iii) ngoại thương
Ngoại thương là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia, tuân theo nguyên
tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên
Kinh doanh ngoại hối là sự mua bán trao đổi hàng hóa ngoại tệ và các giấy tờ có giá trị
thanh toán bằng ngoại tệ trên thị trường quốc tế
Thanh toán quốc tế là một trong số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán
giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bên bán hàng thuộc lĩnh vực ngoại thương
4) Người chuyên chở là ai? Tại sao chủ thể này có liên quan đến hoạt động TTQT?
- Người chuyên chở chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa - đối tượng của hợp đồngngoại thương
- Người chuyên chở có thẩm quyền cấp pháp 1 loại chứng từ quan trọng, làm cơ sở chocác giao dịch TTQT, đó là chứng từ vận tải
5) Người bảo hiểm là ai? Tại sao chủ thể này có liên quan đến hoạt động TTQT?
Người bảo hiểm là các công ty bảo hiểm có thực hiện việc bán bảo hiểm cho các lô hàngxuất nhập khẩu
6) Vai trò của hoạt động TTQT đối với nền kinh tế được thể hiện như thế nào?
Trang 3Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển giữa các quốc gia Trong bốicảnh đó, hoạt động thanh toán quốc tế nổi lên như chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước
và kinh tế thế giới bên ngoài
Hoạt động thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của quá trình mua bán hàng hóa, dịch
vụ giữa các tổ chức, các nhân thuộc các quốc gia khác nhau Nếu không có hoạt độngthanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển Nếu hoạtđộng thanh toán quốc tế được nhanh chóng, chính xác, an toàn sẽ góp phần giải quyếtđược mối quan hệ lưu thông hàng hóa, tiền tệ giữa người mua và người bán một cáchthông suốt, hiệu quả
Tóm lại, hoạt động thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia, được thể hiện chủ yếu ở những mặt sau:
Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế như một tổng thể
Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp
Thúc đẩy và mở rộng hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế
Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính
Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập kinh tế quốc tế
7) Vai trò của hoạt động TTQT đối với ngân hàng được thể hiện như thế nào?
Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà xuất nhập khẩu cũng có thể thanhtoán trực tiếp với nhau, mà thường thông qua ngân hàng thương mại với mạng lưới cácchi nhánh và ngân hàng đại lý toàn cầu Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện dịch
vụ thanh toán quốc tế và trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên
Vai trò trung gian của ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế:
Thanh toán theo yêu cầu của khách
Bảo vệ quyền lợi của khách trong giao dịch thanh toán
Tư vấn, hướng dẫn khách các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tếnhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng trong giao dịch với nước ngoài
Tài trợ vốn cho hoạt động xuất khẩu khẩu của khách một cách chủ động và tíchcực
Hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động sinh lời của ngân hàng
Ngày nay, hoạt động thanh toán quốc tế là một dịch vụ trở nên quan trọng đối với cácngân hàng thương mại, nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối
mà cả về tỷ trọng Thanh toán quốc tế là một mắt xích quan trọng trong việc chắp nối vàthúc đẩy phát triển của các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như kinh doanhngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tăng trưởngnguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn ngoại tệ…
Trang 4Việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò hết sức quan trọngđối với các ngân hàng thương mại, nó không chỉ là một dịch vụ thanh toán thuần túy màcòn là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ sung,
hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng
Thông qua cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng, ngân hàng thu được mộtkhoản phí để bù đắp các chi phí và tạo ra lợi nhuận kinh doanh cần thiết
8) Nêu những khía cạnh thể hiện tính chất pháp lý «tùy ý» của thông lệ và tập quán quốc
tế điều chỉnh hoạt động TTQT
UCP được các ngân hàng và các bên tham gia thương mại áp dụng ở trên 175 quốc gia.Khoảng 11-15% thương mại quốc tế sử dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷUSD mỗi năm Sự ra đời của UCP đã đánh dấu một bước đột phá mới trong nghiệp vụthanh toán quốc tế, bởi UCP là cơ sở pháp lý duy nhất quy định một cách cụ thể tráchnhiệm của các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ, mà chú trọng nhất là tráchnhiệm của ngân hàng
UCP600 là nguồn luật cơ sở để xây dựng các điều khoản chính cho thư tín dụng chứng từ
UCP600 quy định cụ thể về tiêu chuẩn lập các loại chứng từ như chứng từ thươngmại, chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm,…
UCP600 là tiêu chí chung cho việc kiểm tra bộ chứng từ
9) Nếu có tranh chấp xảy ra trong hoạt động TTQT thì các bên tham gia sẽ ưu tiên ápdụng: (i) luật quốc tế hay luật quốc gia? (ii) luật quốc tế hay thông lệ quốc tế? (iii) luậtquốc gia hay thông lệ quốc tế
Nếu có tranh chấp xảy ra trong hoạt động TTQT thì các bên tham gia sẽ ưu tiên áp dụng:(i) luật quốc tế; (ii) luật quốc tế; (iii) luật quốc gia
10) Mục đích chính của việc thiết lập ngân hàng đại lý? Ưu điểm của việc thiết lập ngânhàng đại lý so với việc thành lập chi nhánh/văn phòng đại diện ở nước ngoài Cho ví dụ
về ngân hàng đại lý trong hoạt động TTQT
Mục đích chính của việc thiết lập ngân hàng đại lý là nhằm phục vụ các hoạt động thanhtoán quốc tế
Ưu điểm:
- Chi phí thành lập và hoạt động của kênh đại lý thấp hơn rất nhiều so với kênh chi nhánhtruyền thống Việc thành lập một đại lý chỉ tốn 2% đến 4% chi phí của một chi nhánhngân hàng Đại lý cũng có chi phí hoạt động thấp hơn (khoảng 3 lần) so với kênh chinhánh ngân hàng
Trang 5- Tăng cơ hội tiếp cận, tăng tần suất sử dụng các dịch vụ ngân hàng của khách hàng hiện
có và khách hàng mới, từ đó làm tăng cơ sở khách hàng và doanh thu cho ngân hàng.Việc các đại lý luôn ở gần nơi dân cư sinh sống giúp khách hàng có thể dễ dàng tiếp cậncác điểm cung cấp dịch vụ mà không phải mất thời gian và công sức đi xa để đến chinhánh ngân hàng, chi phí giao dịch cũng rẻ hơn nhiều so với của ngân hàng truyền thốngnhư chi nhánh hay ATM Kể cả người nghèo, thu nhập thấp cũng có thể được phục vụ từ
- Các đại lý tăng thêm thu nhập từ khoản hoa hồng khi thực hiện những giao dịch tàichính thay ngân hàng Đồng thời, họ có thể đạt doanh thu và thu nhập cao hơn từ hoạtđộng bình thường của mình do lượng khách hàng đến với cơ sở nhiều hơn khi trở thành
- Ở góc độ quốc gia, đại lý ngân hàng là cách thức hiệu quả nhất hiện nay nâng cao khảnăng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa ở những nơikhông có các chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng, là động lực thúc đẩy tài chínhtoàn diện
VD: BIDV, một ngân hàng ở Việt Nam, nhận được một khoản tiền gửi đến cho kháchhàng ở Việt Nam từ Hoa Kỳ dưới hình thức chuyển tiền Vì BIDV không có mặt tại Hoa
Kỳ, nên nó ký một hợp đồng với Citibank New York, nơi nó có một tài khoản mở từ xacho BIDV bằng đô la Mỹ Bằng cách này, số tiền mà khách hàng và doanh nghiệp Hoa
Kỳ gửi cho người giữ tài khoản BIDV tại Việt Nam sẽ được gửi vào tài khoản mà BIDV
có với Citibank New York Khoản tiền gửi này sẽ được Citibank New York chuyển quaSWIFT đến tài khoản USD của BIDV tại Việt Nam BIDV nhận được các khoản tiềnbằng đô la Mỹ, chuyển đổi nó thành đồng Việt Nam, và gửi nó vào tài khoản địa phươngcủa khách hàng ở Việt Nam Vậy Citibank New York là ngân hàng đại lý
11) VCB Việt Nam mở tài khoản USD tại Citibank New York VCB gọi tài khoản này làNostro hay Vostro? Citibank New York gọi tài khoản này là Nostro hay Vostro?
VCB gọi tài khoản này là Nostro Citibank New York gọi tài khoản này là Vostro
12) Cho ví dụ về rủi ro quốc gia trong hoạt động TTQT
Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, kinh
tế, về chính sách quản lý ngoại hối - ngoại thương của một quốc gia khiến cho nhàxuất khẩu không nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu không nhận được hànghóa Loại rủi ro này là do những nguyên nhân khách quan gây nên:
- Xảy ra chiến tranh, đảo chính, biểu tình ở các nước
- Xảy ra khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính –tiền tệ gây ra những khó khăn trong thanh toán
Trang 6- Những cấm vận trong thanh toán: nước nhập khẩu bị phong tỏa tài khoản donhững món nợ nước ngoài chưa trả, hoặc do quan hệ không bình thường giữa hainước có quan hệ kinh tế quốc tế làm cho các hợp đồng ngoại thương, hiệp định
- Dự trữ ngoại hối ở mức thấp và cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia bịthâm hụt nặng nề khiến cho Chính phủ nước nhập khẩu phải đưa ra biện pháp cấmthanh toán hoặc chuyển ngoại hối ra nước ngoài.Rủi ro quốc gia của nước nhập khẩu xảy ra khi người mua có khả năng và sẵnsàng thanh toán cho người bán, song do những biến động hoặc biến cố bất thườngtrong quốc gia nhập khẩu khiến cho chính phủ của nước nhập khẩu cấm các công tycủa nước mình thanh toán ngoại tệ ra nước ngoài, hoặc hàng hóa nhập khẩu thuộcdiện cấm nhập khẩu nên không được làm thủ tục thông quan
Rủi ro quốc gia của nước xuất khẩu xuất hiện khi có sự thay đổi về chínhsách ngoại thương, thuế quan của quốc gia đó Nhà xuất khẩu đã chuẩn bị giaohàng, song do thuế xuất khẩu tăng hoặc hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu Cũng
có khi do quan hệ thanh toán giữa hai quốc gia chưa được bình thường hóa nên gâykhó khăn cho việc nhận tiền hàng của người xuất khẩu.Rủi ro quốc gia cũng có thề xảy ra đồng thời với nhà xuất khẩu và nhậpkhẩu nếu sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương chính phủ nước nhập khẩu và xuấtkhẩu đều không cho phép nhập khẩu và xuất mặt hàng đó nữa.Trong kinh doanh quốc tế, việc phòng tránh rủi ro quốc gia là một vấn đề rấtquan trọng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Vì vậy trước khi tiến hành hoạtđộng kinh doanh với đối tác, các nhà quản trị cần nhận dạng và phân tích kỹ cấutrúc rủi ro quốc gia để từ đó xây dựng các chính sách đề phòng, bảo hiểm.Tuy nhiên, các mẫu LC đơn giản nhất không có các điều khoản bảo vệ nhà xuất khẩu tránh các rủi ro như ngân hàng phát hành bị vỡ nợ hay rủi ro của quốc gia (ví dụ chính phủ nước nhập khẩu thay đổi luật pháp khiến không thể thực hiện thanh toán LC) Do đó, các nhà xuất khẩu có thể nhận thấy rất nên thảo luận với các ngân hàng của mình về các phương án lựa chọn bổ sung đối với LC (ví dụ như xác nhận) để lựa chọn giải pháp phù hợp nhất với nhu cầu của mình.
Chính sách quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu A đột ngột thay đổi thực hiện chínhsách cấm vận trong thanh toán, gây rủi ro cho nhà nhập khẩu và ngân hàng tại nước A.13) Cho ví dụ về rủi ro ngoại hối trong hoạt động TTQT
Khi giá cả đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ tăng (tỷ giá hối đoái giảm) sẽ bất lợicho nhà xuất khẩu vì tiền bán hàng thu về bằng ngoại tệ sẽ được ít đồng nội tệ hơn làmcho kinh doanh xuất khẩu có thể bị thua lỗ
CHƯƠNG 2:
Trang 71) Tính chất quốc tế của hợp đồng ngoại thương được hiểu như thế nào theo Công ướcViên 1980?
Theo Công ước Viên 1980, tính chất quốc tế được xác định chỉ bởi một tiêu chuẩn duynhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau(điều 1 Công ước Viên năm 1980
2) Hợp đồng được ký kết giữa hai doanh nghiệp Việt Nam trong và ngoài khu chế xuất cóphải là hợp đồng ngoại thương không? Vì sao?
Hợp đồng được ký kết giữa hai doanh nghiệp Việt Nam trong và ngoài khu chế xuất phải
là hợp đồng ngoại thương Vì:
Quan hệ trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp ngoài khu chế xuất với các doanhnghiệp chế xuất được coi là quan hệ xuất khẩu - nhập khẩu, nên phải thực hiện các quyđịnh của pháp luật về xuất khẩu - nhập khẩu hàng hoá nói chung và phải khai báo, làmthủ tục hải quan
Một trong những đặc điểm của hợp đồng ngoại thương là: Hàng hóa được di chuyển quabiên giới hải quan, trong đó, hầu hết các hàng hóa được di chuyển qua biên giới quốc gia(ngoại trừ bộ phận hàng hóa được mua bán giữa khu chế xuất với ngoài khu chế xuất).3) Phân biệt sự khác nhau giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và hợp đồng mua bánhàng hóa trong nước về chủ thể, đối tượng, đồng tiền thanh toán, nguồn luật điều chỉnh
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước Chủ thể Là các bên tham gia kí kết
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Là các bên tham gia kí kếthợp đồng mua bán hàng hóatrong nước
Đối tượng Hàng hoá là đối tượng của
hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế là động sản, tức làhàng có thể chuyển qua biêngiới của một nước
Hàng hóa là đối tượng củaquan hệ mua bán có thể làhàng hóa hiện đang tồn tạihoặc hàng hóa sẽ có trongtương lai; hàng hóa có thể làđộng sản hoặc bất động sảnđược phép lưu thông thươngmại
Đồng tiền thanh toán Là ngoại tệ với ít nhất 1 trong
2 bên tham gia (người mua vàngười bán) hoặc là ngoại tệ đối với cả hai bên
Thường là đồng Việt Nam
Nguồn luật điều
chỉnh Nguồn luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
mua bán ngoại
Luật quốc gia (Luật doanhnghiệp (2014), Luật thươngmại (2005), )
Trang 8thương phức tạp hơn rất nhiều
so với các hợp đồng mua bán trong nước bao
gồm: điều ước thương mại quốc tế, tập quán thương mại quốc tế, luật quốc gia …
Đặc điểm của hợp đồng ngoại thương; + Chủ thể là các bên có quốc tịch khác nhau có trụ
sở ở các nước khác nhau
+ Hàng hoá được di chuyển qua biên giới quốc gia
- Về chủ thể:
Chủ thể tham gia hợp đồng là những thương nhân mang quốc tịch khác
nhau, qui chế thương nhân được xác định theo luật của nước mà thương nhân
đó mang quốc tịch
Thương nhân là tổ chức thì quốc tịch của thương nhân được xác định là
quốc tịch của nước nơi:
+ Đặt trung tâm quản lý
+ Đặt trung tâm hoạt động của tổ chức
Khoản 1 Điều 832 Bộ luật Dân sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ghi nhận nguyên tắc quốc tịch của pháp nhân được xác định tuỳ thuộc
vào nơi thành lập pháp nhân
-Về đối tượng của hợp đồng:
Là hàng hoá tồn tại thực tế, có thể di rời được, xác định là được
phép giao dịch lưu thông trên thị trường
-Về đồng tiền thanh toán:
Trong hợp đồng ngoại thương đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với ít
nhất là một bên tham gia hợp đồng Các bên có thể thoả thuận đồng tiền thanh
toán là đồng tiền của bên bán hoặc bên mua hoặc của một nước thứ ba bất kỳ
-Về Pháp luật áp dụng:
Nguồn luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua bán ngoại
thương phức tạp hơn rất nhiều so với các hợp đồng mua bán trong nước bao
gồm điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán Thương mại quốc tế
Trang 9Nc xuất—nc nhậpGiao hàng từng phần
Trang 14FOB giống cú pháp FAS
Trang 15CHƯƠNG 3
Trang 161 Hối phiếu đích danh
2 Hối phiếu theo lệnh
3 Hối phiếu vô danh
Trả sau: At x day , On
Sửa bt hối phiếu
Trang 17Kí hậu
cách 1: chỉ cty xyz là người thụ hưởng duy nhất kí hậu hạn chế
cách 2: cty xyz có thể chuyển nhượng cho người khác = cách ký hậu (trong thời hạn hiệu lực)
Trang 18cách 3: pay to (để trống): chuyển nhượng cho 1 ai chưa biết, đó là người cầm hối phiếu ký hậu để trống
CHẤP NHẬN HỐI PHIẾU
CHƯƠNG 4
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN