1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017

116 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Công Tác Đào Tạo Liên Tục Của Điều Dưỡng Khoa Lâm Sàng Tại Một Số Bệnh Viện Đa Khoa Tuyến Huyện Tỉnh Bắc Ninh Giai Đoạn 2016-2017
Tác giả Nguyễn Như Bình
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản Lý Bệnh Viện
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu (12)
    • 1.2 Đào tạo chuyên môn liên tục trong ngành y tế (13)
    • 1.8. Khung lý thuyết (25)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (27)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (27)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (27)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (27)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (28)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (30)
    • 2.7. Phương pháp phân tích số liệu (30)
    • 2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (31)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Thông tin chung đối tượng nghiên cứu (32)
    • 3.2. Thực trạng đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại các bệnh viện huyện (33)
    • 3.3 Khảo sát nhu cầu đào tạo (0)
    • 4.1. Thực trạng công tác ĐTLT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (47)
    • 4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng ĐTLT của điều dưỡng viên (53)
  • KẾT LUẬN (8)
    • 3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đào tạo liên tục ................................................. 34 CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (42)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)
  • PHỤ LỤC (63)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHOA LÂM SÀNG TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KH

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng là biên chế chính thức của bốn bệnh viện đa khoa tuyến huyện, bao gồm Khoa Nội, Khoa Ngoại, Khoa Sản (hoặc Khoa Ngoại Sản), Khoa Nhi, Khoa Liên chuyên khoa, Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Y học cổ truyền, Khoa Phục hồi chức năng và Khoa Gây mê hồi sức.

- Báo cáo, kế hoạch về công tác đào tạo liên tục năm 2016, 2017

- Đại diện Lãnh đạo bệnh viện (phụ trách công tác đào tạo)

- Các trưởng khoa lâm sàng

- Điều dưỡng trưởng khoa các khoa lâm sàng

- Giám đốc trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến-Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh

- Điều dưỡng hợp đồng, nữ 54 tuổi trở lên, nam 59 tuổi trở lên

- Điều dưỡng đang nghỉ thai sản, đi học, nghỉ ốm trong thời gian tiến hành nghiên cứu

- Các đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: Từ 4/2018 đến 7/2018

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: 04 bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh (BVĐK thị xã Từ Sơn, huyện: Yên phong, Quế Võ, Thuận Thành).

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định bằng phương pháp mẫu toàn bộ, bao gồm tất cả điều dưỡng tại khoa lâm sàng của 04 bệnh viện đa khoa ở thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện Quế Võ và huyện Thuận Thành Tổng số điều dưỡng tham gia nghiên cứu là 169 người.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu toàn bộ, bao gồm điều dưỡng từ các khoa lâm sàng của bốn bệnh viện đa khoa tại thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện Quế Võ và huyện Thuận Thành.

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích (những người liên quan đến công tác tổ chức, quản lý, theo dõi đào tạo liên tục) gồm có:

- 01 Giám đốc trung tâm chỉ đạo tuyến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh

- 04 Đại diện lãnh đạo 04 Bệnh viện đa khoa nghiên cứu

- 04 Trưởng khoa lâm sàng (Khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi)

- 04 Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng (Khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi)

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Dựa trên số liệu về công tác đào tạo liên tục trong năm 2016 và 2017 từ báo cáo và bảng tổng hợp của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, cũng như các cơ sở đào tạo liên tục và báo cáo từ phòng Nghiệp vụ Y và phòng Tổ chức Cán bộ Sở Y tế (phụ lục 3).

2.5.2 Thu thập số liệu sơ cấp

* Thu thập số liệu định lượng

Công cụ thu thập: Căn cứ qui định tại Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-

Vào ngày 7/10/2015, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành quy định về mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên y Năm 2010, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã phát hành hướng dẫn thực hành 55 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế đã hướng dẫn công tác điều dưỡng trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 24/4/2012 xác định chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Cuối cùng, việc tham khảo danh mục kỹ thuật điều dưỡng và mô tả công việc hàng ngày của điều dưỡng tại 04 bệnh viện nghiên cứu đã giúp xây dựng bộ câu hỏi phát vấn tự điền dựa trên khung lý thuyết.

Theo Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, điều dưỡng được phân thành 3 chức danh nghề nghiệp dựa trên trình độ chuyên môn Tuy nhiên, tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh, viên chức điều dưỡng hạng III và hạng IV thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng tương tự nhau Do đó, tôi đã xây dựng bộ câu hỏi chung cho điều dưỡng có trình độ đại học (hạng III), cao đẳng và trung cấp (hạng IV) để đảm bảo tính đồng nhất trong công tác điều dưỡng.

Trước khi xây dựng bộ câu hỏi, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn điều dưỡng trưởng bệnh viện và điều dưỡng trưởng khoa, đồng thời kiểm tra các bảng mô tả công việc của điều dưỡng tại bệnh viện Sau đó, bộ câu hỏi được thử nghiệm với 02 điều dưỡng và 02 điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng, từ đó thực hiện chỉnh sửa và bổ sung nội dung câu hỏi.

Học viên sẽ đặt lịch hẹn với Lãnh đạo bệnh viện và thông báo lịch làm việc với các trưởng khoa lâm sàng cùng điều dưỡng trưởng Sau đó, lập danh sách điều dưỡng các khoa lâm sàng và lựa chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn đã định Cuối cùng, tiến hành phát vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi tự điền, trong đó thông báo mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách điền phiếu Việc thu thập và kiểm tra phiếu phát vấn sẽ đảm bảo về số lượng và chất lượng.

* Thu thập số liệu định tính

Công cụ thu thập thông tin bao gồm hướng dẫn phỏng vấn sâu dành cho lãnh đạo bệnh viện, trưởng khoa lâm sàng, và điều dưỡng trưởng của bệnh viện nghiên cứu, cũng như giám đốc trung tâm chỉ đạo tuyến của cơ sở đào tạo liên tục (phụ lục 5).

Học viên sẽ đặt lịch hẹn với Lãnh đạo đơn vị và các đối tượng phỏng vấn sâu để tiến hành phỏng vấn ĐTNC Quá trình này sử dụng phiếu câu hỏi đã được xây dựng sẵn, có ghi âm và ghi biên bản Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài trung bình từ 30 đến 40 phút.

Các biến số nghiên cứu

Dựa vào mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết và tài liệu tổng quan, chúng tôi đã tiến hành xây dựng các biến số nghiên cứu Các nhóm biến chính được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:

- Các biến số về thông tin chung của ĐTNC: tuổi, giới, trình độ chuyên môn, khoa làm việc, thâm niên công tác

Nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố liên quan đến thực trạng đào tạo liên tục, bao gồm thông tin cập nhật về đào tạo liên tục, hiểu biết cá nhân về thời gian đào tạo, các khóa đã tham gia, thời gian và địa điểm của các khóa học, chi phí đào tạo, cũng như nhận xét về giảng viên, thời gian, tài liệu và cơ sở vật chất của cơ sở đào tạo Bên cạnh đó, mức độ sử dụng thường xuyên và sự tự tin trong việc thực hiện các nội dung và kỹ thuật điều dưỡng cũng được xem xét Cuối cùng, nghiên cứu cũng đánh giá các yếu tố như địa điểm, thời gian, nội dung và kỹ thuật điều dưỡng mà người tham gia mong muốn được đào tạo liên tục.

Biến số/chủ đề về một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo liên tục tại các bệnh viện:

- Nhóm yếu tố liên quan tới cơ chế, chính sách:

- Nhóm yếu tố liên quan tới nhu cầu

- Nhóm yếu tố liên quan tới hoạt động cung cấp dịch vụ (số lương bệnh nhân, hoạt động ngoại tuyến, )

- Nhóm yếu tố liên quan tới kinh phí

- Khó khăn và thách thức

Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu định lượng: Số liệu thu thập được làm sạch, mã hóa Tiến hành nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0

Để phân tích số liệu định tính, cần tiến hành gỡ băng và kiểm tra lại biên bản phỏng vấn, sau đó liệt kê theo chủ đề câu hỏi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu Việc trích dẫn nội dung phỏng vấn theo từng chủ đề sẽ giúp làm rõ các vấn đề như công tác tổ chức đào tạo lâm sàng tại bệnh viện đa khoa huyện, tình hình tại cơ sở đào tạo lâm sàng, chất lượng công việc sau khi cử đi đào tạo lâm sàng, và nhu cầu đào tạo lâm sàng trong năm 2018.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu phải tuân thủ các quy định đạo đức và chỉ được thực hiện sau khi được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt.

Nghiên cứu được sự đồng ý của Lãnh đạo Sở Y tế, Lãnh đạo bệnh viện đa khoa huyện, Lãnh đạo cơ sở đào tạo liên tục

Trước khi bắt đầu nghiên cứu, các đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, và nghiên cứu chỉ được tiến hành khi các ĐTNC đồng ý tham gia.

Thông tin cá nhân của ĐTNC được bảo mật hoàn toàn Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ Lãnh đạo Sở Y tế và bệnh viện trong việc xây dựng chiến lược đào tạo liên tục phù hợp với tình hình hiện tại và tương lai Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh điều chỉnh nội dung và chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu của người học.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số

Tuổi trung bình: 31,5±6,3 (min: 23, max: 57)

Sau đại học 2 1,2 Đại học 42 24,9

Khoa Ngoại Sản, Phụ Sản 40 23,7

Khoa Hồi sức cấp cứu 31 18,3

Từ 20 năm trở lên 9 5,3 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) trong nghiên cứu này là các cán bộ điều dưỡng lâm sàng Bảng 3.1 cho thấy tuổi trung bình là 31,5, cao nhất là 57, thấp nhất là 23 Phân theo nhóm tuổi thì ĐTNC từ 20-30 tuổi chiếm đa số (54,4%), tiếp theo là nhóm 31-40 tuổi chiếm 36,7%, chỉ có 8,9% là cán bộ ở độ tuổi trên 40 Nữ giới chiếm đa số 79,9% Trình độ chuyên môn đa số là trung cấp, cao đẳng 17,8%, đại học 24,9% và chỉ có 2 người là được đào tạo sau đại học Cán bộ điều dưỡng làm việc tại khoa ngoại, sản là nhiều nhất chiếm 23,7%, tiếp theo là khoa Nội tổng hợp, các khoa khác chiếm tỷ trọng dưới 19% Thâm niên công tác từ 6-9 năm chiếm đa số 42% Dưới 5 năm là 33,7% và trên hoặc bằng 20 năm chỉ chiếm có 5,3%.

Khảo sát nhu cầu đào tạo

Nhu cầu đào tạo lực lượng tại cơ sở ĐTLT tuyến tỉnh chiếm đa số với 63,9%, trong đó thời gian đào tạo từ 1-2 tháng hoặc 3-6 tháng đều chiếm khoảng 48% Thời gian tập huấn ngắn ngày từ 3-5 ngày được xem là tương đối phù hợp, với tỷ lệ 42,6%.

Nghiên cứu chỉ ra rằng chưa có khảo sát định kỳ về đào tạo liên tục (ĐTLT) tại hệ thống bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh Điều dưỡng viên có mức độ hiểu biết và thực hành về ĐTLT chưa đồng đều Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTLT bao gồm cơ chế chính sách, nội dung đào tạo, chất lượng giảng viên, địa điểm tổ chức và nguồn lực tài chính Do đó, cần thiết phải có các chính sách nhằm cải thiện công tác ĐTLT tại tỉnh Bắc Ninh.

Vị trí và vai trò của nhân viên y tế được nhấn mạnh trong thư Bác Hồ, khi Người nói rằng “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú.” Để thực hiện nhiệm vụ này, mỗi cán bộ y tế cần thường xuyên nâng cao kiến thức chuyên môn nhằm chăm sóc người bệnh tốt hơn Tại Việt Nam, việc đào tạo và cập nhật kiến thức y khoa liên tục cho nhân viên y tế là điều kiện cần thiết để được cấp hoặc cấp lại chứng chỉ hành nghề y dược, theo quy định của Ngành y tế.

Sở Y tế sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với những người không hoàn thành ít nhất 48 tiết học cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong 2 năm Người hành nghề cần có Giấy chứng nhận hoàn thành công tác đào tạo liên tục do cơ sở đào tạo cấp, theo thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 về hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế.

Đào tạo chuyên môn nghiệp vụ liên tục cho nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, là rất quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Sở Y tế Bắc Ninh đã triển khai nhiều chương trình đào tạo thường niên, tuy nhiên, việc khảo sát nhu cầu trước khi mở lớp đào tạo chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến tình trạng không đáp ứng được yêu cầu thực tế Đội ngũ điều dưỡng viên đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Hiện tại, trình độ chuyên môn của điều dưỡng tại các cơ sở y tế tuyến huyện còn hạn chế và thiếu sự phân biệt rõ ràng về nhiệm vụ theo trình độ và chuyên ngành Đến năm 2018, chưa có nghiên cứu nào về thực trạng đào tạo liên tục của nhân viên y tế tại Bắc Ninh, ngoại trừ nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số Bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2017.”

Nghiên cứu này sẽ cung cấp cho Sở Y tế, các bệnh viện đa khoa huyện và cơ sở đào tạo tại Bắc Ninh những cơ sở khoa học cần thiết để xây dựng chiến lược và kế hoạch đào tạo liên tục cho nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, nhằm đạt được các mục tiêu trong những năm tới.

1 Mô tả thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại 4 bệnh viện đa khoa: thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện Thuận Thành, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2017

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng 4 bệnh viện trên giai đoạn 2016-2017

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Đào tạo y khoa liên tục (Continuing Medical Education-CME) là quá trình cán bộ y tế không ngừng cập nhật những kiến thức, tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe [8]

Phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) là khái niệm do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra nhằm cải thiện thái độ của cán bộ y tế, được áp dụng phổ biến tại châu Âu và châu Mỹ Đào tạo liên tục bao gồm các khóa học ngắn hạn, như đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng và thái độ trong lĩnh vực chuyên môn; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên môn khác trong ngành y tế không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân.

Cơ sở đào tạo liên tục bao gồm bệnh viện, viện nghiên cứu, và các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp về y tế được Bộ Y tế công nhận Nghề điều dưỡng viên đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế, với nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, và giảm đau thông qua chẩn đoán và điều trị Ngày nay, điều dưỡng đã trở thành một nghề độc lập, hợp tác với bác sĩ, dược sĩ và các chuyên gia y tế khác để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Điều dưỡng viên là những chuyên viên kỹ thuật thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và chuyên khoa tại các cơ sở y tế.

Nhu cầu đào tạo của một người phản ánh những gì họ cần học để đạt được mục tiêu trong cuộc sống hoặc công việc Thông thường, nhu cầu học xuất phát từ mong muốn cá nhân, nhưng đôi khi người học không nhận thức được điều này, mà có thể do các tổ chức đào tạo hoặc nhà tuyển dụng tư vấn Những kiến thức, kỹ năng và phương pháp cần thiết cho công việc và cuộc sống cá nhân chính là nội dung mà người học cần được đào tạo.

1.2 Đào tạo chuyên môn liên tục trong ngành y tế

1.2.1 Tổng quan công tác đào tạo liên tục trên thế giới

Công tác đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế ở các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào chức năng và nhiệm vụ của cán bộ y tế trong hệ thống chăm sóc sức khỏe Sự khác biệt về cấu trúc và mối liên hệ giữa các đơn vị y tế, cùng với mức độ phát triển kinh tế xã hội, làm cho việc so sánh thực trạng đào tạo trở nên khó khăn Ở các nước phát triển như Mỹ, Úc và các nước Châu Âu, hệ thống đào tạo đã phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đào tạo liên tục phù hợp cho từng nhóm đối tượng trong ngành y tế Việc cập nhật kiến thức và rèn luyện kỹ năng đã được thể chế hóa thành các quy định nghiêm ngặt, yêu cầu tuân thủ cho từng ngành nghề Ngoài ra, thực hành nghề nghiệp được xác định là công việc động, yêu cầu người thực hành phải cập nhật định kỳ theo quy định hàng năm hoặc vài năm một lần, với sự giám sát của hội đồng sát hạch để đảm bảo chất lượng trong ngành y.

Một đánh giá thực trạng đào tạo y khoa ở Mỹ từ năm 1975 đến 1994 cho thấy rằng việc đào tạo liên tục qua hội thảo và tập huấn không hiệu quả trong việc thay đổi thực hành của nhân viên y tế Ngoài ra, các hình thức đào tạo như hỗ trợ cầm tay chỉ việc và thăm thực địa cũng ít được áp dụng.

Gần đây, 3/2018 một nghiên cứu tổng quan đăng tải trên tạp chí của Hiệp hội

Theo JAMA, việc xây dựng môi trường làm việc tích cực cho nhân viên y tế là cần thiết để khuyến khích sự sáng tạo và phát triển bản thân, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân Đào tạo truyền thống từ trên xuống dưới ngày càng trở nên kém hiệu quả, dẫn đến sự suy giảm niềm tin và gắn kết trong quá trình đào tạo liên tục trong lĩnh vực y khoa.

Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT bao gồm các hoạt động giáo dục nhằm duy trì và nâng cao kiến thức, kỹ năng của nhân viên y tế để cung cấp dịch vụ y tế hiệu quả hơn Nội dung ĐTLT bao gồm kiến thức y học, tiêu chuẩn thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng ĐTLT không chỉ giới hạn ở việc cập nhật kiến thức mà còn bao gồm các khóa học hỗ trợ nhân viên y tế trong việc hành nghề hiệu quả, như khóa học quản lý cho bác sĩ quản lý cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay khóa học giảng dạy cho bác sĩ tại trường y tế.

Thực trạng công tác ĐTLT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Công tác đào tạo lực lượng y tế tại tỉnh Bắc Ninh được Hội đồng Nhân dân tỉnh chú trọng và hỗ trợ phát triển Ngày 24/4/2014, nghị quyết số 115/NQ-HĐND đã được ban hành, quy định chi tiết về các chế độ, chính sách hỗ trợ đào tạo kỹ thuật chuyên môn cho ngành y tế Đối tượng được hỗ trợ bao gồm công chức, viên chức và lao động trong các đơn vị công lập y tế từ tuyến tỉnh đến xã, nhằm triển khai các kỹ thuật chuyên môn chưa thực hiện hoặc các kỹ thuật vượt tuyến theo quy định của Bộ Y tế Nghị quyết cũng nêu rõ đối tượng đào tạo và mức hỗ trợ kinh phí cụ thể Hàng năm, Sở Y tế có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đào tạo kỹ thuật của các đơn vị, quyết định cử cán bộ đi đào tạo và hướng dẫn thực hiện thanh quyết toán kinh phí theo quy định.

Nhiều đơn vị đào tạo liên tục (ĐTLT) ở tỉnh Bắc Ninh chưa thực hiện rà soát và điều chỉnh nội dung đào tạo do thiếu nhân lực Nhân lực phục vụ công tác đào tạo gặp khó khăn khi hầu hết giảng viên phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ chuyên môn Giảng viên chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng sư phạm và phương pháp soạn thảo giáo trình, dẫn đến khó khăn trong việc điều chỉnh nội dung bài giảng định kỳ Do đó, nội dung và hình thức tổ chức các khóa ĐTLT chưa thu hút được sự quan tâm của người tham gia Nhiều nghiên cứu quốc tế khuyến nghị rằng nội dung đào tạo liên tục cần được thay đổi để phù hợp với thực tế theo thời gian và đối tượng điều dưỡng.

Khảo sát và đánh giá công tác ĐTLT tại Bắc Ninh còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc xây dựng kế hoạch và điều chỉnh nội dung ĐTLT thiếu cơ sở vững chắc Nhiều cơ sở ĐTLT chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và lợi ích của chương trình này, cùng với các yếu tố khách quan như hạn chế về nhân lực, kinh phí và chính sách, đã ảnh hưởng đến chất lượng và kết quả của ĐTLT Nghiên cứu của Triệu Văn Tuyến về thực trạng ĐTLT tại Vĩnh Phúc cũng chỉ ra rằng hầu hết các cơ sở ĐTLT chưa thực hiện khảo sát nhu cầu đào tạo một cách bài bản.

Theo quy định của Sở Y tế, các đơn vị y tế tuyến huyện cần xây dựng kế hoạch đào tạo cho điều dưỡng lâm sàng, bao gồm nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước và đào tạo lý thuyết Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên khoa được chú trọng hơn so với đào tạo lý thuyết tại các cơ sở y tế tuyến huyện.

Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 23% cán bộ điều dưỡng tại các bệnh viện huyện chưa được cử đi đào tạo liên tục trong hai năm qua, do nhiều lý do như thiếu hấp dẫn và khó khăn về nhân lực, kinh phí Tuy nhiên, gần 77% cán bộ điều dưỡng tại 4 bệnh viện huyện tỉnh Bắc Ninh đã được đào tạo, thể hiện nỗ lực lớn từ các bệnh viện và Sở Y tế Theo quyết định số 278/2014/QĐ-UBND tỉnh Bắc Ninh, việc chuyển giao kỹ thuật thông qua đào tạo liên tục từ tuyến trung ương và tỉnh hỗ trợ tuyến huyện đã đạt tỷ lệ tham gia 63,9% cho các bệnh viện huyện Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu khác Bắc Ninh đã phát huy công tác đào tạo liên tục thông qua nguồn lực địa phương, nâng cao năng lực cho điều dưỡng Về địa điểm tổ chức đào tạo, 51,5% diễn ra ngay tại đơn vị, 18,9% tại các bệnh viện tuyến tỉnh, và chỉ 1,8% cán bộ điều dưỡng từ huyện lên tuyến trung ương học, tương ứng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng tại bệnh viện C Thái Nguyên.

Chi phí đi lại và tình hình nhân lực hạn chế ở tuyến huyện khiến các điều dưỡng viên có xu hướng học tại đơn vị Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xác định được chất lượng đào tạo trong bối cảnh tỷ lệ học tại đơn vị cao Đáng chú ý, 68,6% kinh phí đào tạo là do đơn vị chi trả, phù hợp với Quyết định của HĐND tỉnh Bắc Ninh về hỗ trợ kinh phí cho cán bộ y tế Chỉ có 5,3% cá nhân tự chi trả và 0,7% nhận hỗ trợ từ các dự án Tỷ lệ điều dưỡng viên chấp nhận chi trả hoàn toàn kinh phí đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn chỉ đạt 0,7%, thấp hơn nhiều so với 50,9% ở các tỉnh lân cận Nhiều khảo sát cho thấy tỷ lệ tham gia đào tạo được hỗ trợ kinh phí từ dự án, chương trình lên đến 41,7%.

Tỉnh Bắc Ninh đã chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho điều dưỡng viên tham gia đào tạo liên tục, với tỷ lệ ngân sách chi trả cao.

Như đã trình bày ở Bảng 3.3 ở chương Kết quả nghiên cứu, điều dưỡng viên trả lời có được cập nhật thông tin về ĐTLT thương xuyên là khá cao, chiếm 54,4%

So với nghiên cứu khác ở Việt Nam, tỷ lệ này là thấp hơn khá nhiều về thực trạng cập nhật thông tin về ĐTLT (85,8%) [20]

Chỉ có 3% nhân viên y tế cho rằng họ đã được cập nhật thông tin về đào tạo liên tục (ĐTLT), trong khi 56,2% vẫn chưa biết quy định về số tiết đào tạo này Kết quả này cho thấy sự hiểu biết về ĐTLT còn hạn chế, mặc dù có sự cải thiện so với nghiên cứu năm 2015 của Triệu Văn Tuyến Một nghiên cứu gần đây cho thấy 34,3% điều dưỡng biết chính xác thời gian ĐTLT theo quy định của Bộ Y tế Đánh giá về thời gian ĐTLT, 31,9% cho rằng rất phù hợp, 53,8% cho là phù hợp, nhưng vẫn có 14,3% cho rằng chưa phù hợp lắm Mặc dù điều dưỡng viên tự đánh giá nội dung ĐTLT khá tốt, nhưng cần điều chỉnh cho phù hợp hơn Gần 80% đánh giá giảng viên tốt hoặc rất tốt, trong khi 27,2% cho rằng cơ sở vật chất chưa phù hợp và gần 32% nhận xét tài liệu giảng dạy chưa được phù hợp lắm.

Mức độ thực hành và tự tin trong các kỹ thuật điều dưỡng có sự khác biệt giữa các khoa chuyên môn Có mối liên hệ chặt chẽ giữa thực hành và tự tin: thực hành thường xuyên làm tăng mức độ tự tin, trong khi ít thực hành dẫn đến giảm tự tin Chẳng hạn, kỹ thuật đo các chỉ số sinh tồn được thực hiện thường xuyên, do đó 100% điều dưỡng tự tin thực hiện Ngược lại, kỹ thuật chuẩn bị đặt catheter tĩnh mạch trung tâm ít được thực hành ở tuyến huyện, dẫn đến mức độ tự tin không cao Nghiên cứu này phù hợp với kết quả của Đinh Thị Luyến tại Bắc Giang Hơn nữa, mức độ tự tin của cán bộ ĐDLS cũng khác nhau giữa các hạng, trong đó hạng IV thường có mức độ tự tin cao hơn Ví dụ, trong kỹ thuật đặt sonde dạ dày, điều dưỡng hạng IV có mức độ tự tin cao hơn hạng III (74,2% so với 64,9%).

Mức độ thực hành và tự tin của đội ngũ nhân viên điều dưỡng trong việc thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, nhân viên điều dưỡng thường xuyên thực hành và tự tin hơn khi thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và ngoại khoa so với các kỹ thuật điều dưỡng nội, hồi sức cấp cứu và nhi.

Nhóm kỹ thuật điều dưỡng cơ bản bao gồm các kỹ thuật như đo dấu hiệu sinh tồn, lấy máu, xét nghiệm nước tiểu, tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch và truyền dịch Bốn kỹ thuật này có mức độ thực hành và tự tin trên 81,0%, với nhiều kỹ thuật đạt mức tự tin 100% Kết quả này tương đồng hoặc cao hơn so với nghiên cứu của Đinh Thị Luyến tại Bắc Giang và Phạm Việt Cường ở quận Ba Đình, Hà Nội Tuy nhiên, mức thực hành và tự tin của nhóm điều dưỡng hạng III và IV thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu, nơi các kỹ thuật có mức độ thực hành thường xuyên >88,0% và mức độ tự tin >95,0% Điều này phản ánh tầm quan trọng và tính cơ bản của các kỹ thuật này trong công việc của điều dưỡng viên lâm sàng.

Kỹ thuật truyền máu là một trong những kỹ thuật điều dưỡng phức tạp trong y khoa, với tỷ lệ thực hành thường xuyên ở tuyến huyện chỉ đạt 21,6% và mức độ tự tin của điều dưỡng viên dao động từ 43,2% đến 55,9% So với nghiên cứu tại Bắc Giang, tỷ lệ thực hiện truyền máu thường xuyên chỉ dưới 11,0% và mức độ tự tin dưới 30,0% Sự phức tạp và yêu cầu cẩn thận của kỹ thuật này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu xảy ra sai sót, giải thích lý do tại sao các điều dưỡng viên mới vào nghề thường ít thực hành và thiếu tự tin Đối với kỹ thuật bóp bóng ambu và ép tim ngoài lồng ngực, tỷ lệ thực hành thường xuyên là 16,2% cho điều dưỡng viên hạng III và 30,1% cho điều dưỡng viên hạng IV, với mức độ tự tin tương ứng là 43,2% cho điều dưỡng hạng II.

Nghiên cứu cho thấy 73,1% điều dưỡng hàng IV có mức độ tự tin cao hơn trong kỹ thuật bóp bóng ambu và ép tim ngoài lồng ngực Mặc dù kết quả này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó, hai kỹ thuật này vẫn được coi là khó và yêu cầu kỹ năng xử lý khéo léo, dẫn đến việc nhiều điều dưỡng viên cảm thấy thiếu tự tin, ngay cả khi được đào tạo liên tục Tuy nhiên, điều dưỡng viên có kinh nghiệm lâu năm hoặc trình độ chuyên môn cao hơn thường có mức độ tự tin cao hơn khi thực hiện các kỹ thuật quan trọng này So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu, thực hành kỹ thuật bóp bóng ambu trong nghiên cứu này thấp hơn 45,0%, nhưng mức độ tự tin lại cao hơn 63,0% đối với điều dưỡng viên hạng IV.

Nhóm kỹ thuật hồi sức cấp cứu cho thấy điều dưỡng hạng III có tỷ lệ tự tin cao hơn hẳn so với hạng IV trong kỹ thuật “Ghi điện tim”, với mức độ tự tin đạt 81,8% và 71,8% tương ứng Tỷ lệ thực hành kỹ thuật này cũng vượt quá 50,0%, cho thấy sự tự tin của điều dưỡng viên hạng III (89,4%) cao hơn so với hạng IV (62,0%) So với các nghiên cứu khác, tỷ lệ tự tin này được ghi nhận là cao hơn, như báo cáo của tác giả Đinh Thị Luyến.

Kỹ thuật sử dụng máy monitor là một yếu tố quan trọng trong việc theo dõi bệnh nhân, với tỷ lệ tự tin của điều dưỡng hạng III đạt 72,7% và hạng IV là 76,9% Mức độ tự tin này cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây chỉ đạt khoảng 50,0% Việc vận hành thành thạo máy monitor và hiểu giá trị của các thông số yêu cầu điều dưỡng phải có kiến thức và thực hành thường xuyên Kết quả cho thấy sự tham gia vào đào tạo là cần thiết, nhưng mức độ tự tin của điều dưỡng còn phụ thuộc vào thâm niên công tác và tần suất tham gia kỹ thuật này.

Ngày đăng: 02/12/2023, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên (2016), Thông báo tuyển sinh khóa đào tạo ngắn hạn "Điều dưỡng nha khoa" tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên năm 2016, chủ biên, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng nha khoa
Tác giả: Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Năm: 2016
27. Nguyễn Thị Xuân và Phan Quốc Hội (2010), "Nghiên cứu năng lực thực hành của sinh viên tốt nghiệp làm việc tại các cơ sở y tế và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo lại tại Trưởng Cao đẳng Y tế Nghệ An", Hội nghị khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ IV, Hội điều dưỡng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng lực thực hành của sinh viên tốt nghiệp làm việc tại các cơ sở y tế và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo lại tại Trưởng Cao đẳng Y tế Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân và Phan Quốc Hội
Năm: 2010
1. Dự án giảm nghèo các các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 Tài liệu đánh giá nhu cầu đào tạo, truy cập ngày 20/12/2016, tại trang web http://giamngheo.mpi.gov.vn/ Link
10. Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam (2015), Hoa Kỳ và Việt Nam hợp tác để tăng cường chất lượng đào tạo y khoa liên tục, Hà Nội, truy cập ngày 25/12/2016, tại trang web https://vn.usembassy.gov/vi/u-s-and-vietnam-partner-to-enhance-quality-of-continuing-medical-education-vi/ Link
26. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Điều dưỡng, truy cập ngày 25/12/2016, tại trang webhttps://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%81u_d%C6%B0%E1%BB%A1ng Link
2. Bộ Y tế và Bộ Nội vụ (2015), Quy định mã số, chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y, chủ biên, Hà Nội Khác
3. Bộ Nội vụ Bộ Y tế (2007), Thông tư liên tịch số 08/2007/ TTLT-BYT-BNV ngày 05 tháng 06 năm 2007 hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước, chủ biên, Bộ Y tế, Hà nội Khác
4. Nguyễn Việt Cường (2010), Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ điều dưỡng 14 trạm Y tế phường quận Ba Đình Hà Nội, năm 2010, Thạc sỹ Y tế công cộng, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Khác
5. Đặng Thị Luyến (2017), Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017- 2018, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thị Thu Hằng (2016), Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng các khoa lâm sàng Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2016, Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Khác
7. Phạm Thị Hiếu (2010), Đánh giá của cựu sinh viên về chương trình đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa học, tại trường đại học điều dưỡng Nam Định, năm 2010, Thạc sĩ Y tế công cộng, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Khác
8. Trường Đại học Y Dược Huế (2016), Thông báo tuyển sinh lớp đào tạo ngắn hạn về điều dưỡng chăm sóc người cao tuổi theo tiêu chuẩn Nhật Bản khóa II (2016- 2017), chủ biên, Đại học Y Dược Huế, Huế Khác
9. PGS. TS Lương Ngọc Khuê, chủ biên (2014), Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện, Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế, Hà Nội Khác
12. Trường Đại học Y Hà Nội (2016), Thông báo tuyển sinh lớp điều dưỡng chuyên khoa Nội tiêt -đái tháo đường, chủ biên, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Khác
14. Nguyễn Văn Quang (2014), Thực trạng năng lực điều dưỡng trung cấp và một số yếu tố liên quan tại các khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Đại học Y tế công cộng, Đồng Tháp Khác
16. Bộ Y tế (2008), Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế, chủ biên, Hà Nội Khác
17. Bộ Y tế (2011), Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, chủ biên, Bộ Y tế, Hà Nội Khác
18. Bộ Y tế (2012), Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam chủ biên, Bộ Y tế, Hà Nội Khác
20. Bộ Y tế (2015), Phê duyệt Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám, chữa bệnh giai đoạn 2015-2020, chủ biên, Bộ Y tế, Hà Nội Khác
21. Nguyễn Thị Hoài Thu (2015), Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện phổi Trung ương giai đoạn 2015-2017, Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (Trang 32)
Bảng 3.2 Thông tin về khóa ĐTLT đã tham gia tại BVĐK huyện - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.2 Thông tin về khóa ĐTLT đã tham gia tại BVĐK huyện (Trang 33)
Bảng 3.3 Hiểu biết và nhận xét về đào tạo liên tục - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.3 Hiểu biết và nhận xét về đào tạo liên tục (Trang 34)
Bảng  3.3  cho  thấy  số  ĐNTC  trả  lời  có  được  cập  nhật  thông  tin  về  ĐTLT  thương xuyên là khá cao, chiếm 54,4% - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
ng 3.3 cho thấy số ĐNTC trả lời có được cập nhật thông tin về ĐTLT thương xuyên là khá cao, chiếm 54,4% (Trang 34)
Bảng 3.4 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở tất cả các khoa (n=130) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.4 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở tất cả các khoa (n=130) (Trang 35)
Bảng 3.7 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa ngoại  (n=18) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.7 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa ngoại (n=18) (Trang 38)
Bảng 3.6 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa Gây mê hồi sức, phòng mổ (n=1) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.6 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa Gây mê hồi sức, phòng mổ (n=1) (Trang 38)
Bảng 3.8 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa Nhi, Khoa Sản  (n=32) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.8 Mức độ thực hành và mức độ tự tin của điều dưỡng ở Khoa Nhi, Khoa Sản (n=32) (Trang 39)
Bảng 3.9 Thực trạng về nội dung và thời gian ĐTLT (n=169) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.9 Thực trạng về nội dung và thời gian ĐTLT (n=169) (Trang 41)
Bảng 3.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng cập nhật thông tin ĐTLT - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng cập nhật thông tin ĐTLT (Trang 42)
Bảng 3.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về tuyến ĐTLT - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
Bảng 3.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về tuyến ĐTLT (Trang 43)
Phụ lục 3. Bảng tổng hợp số liệu thứ cấp - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh bắc ninh giai đoạn 2016 2017
h ụ lục 3. Bảng tổng hợp số liệu thứ cấp (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w