1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015

114 22 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố Cần Thơ năm 2015
Tác giả Lâm Hoàng Dũng
Người hướng dẫn PGS TS. Nguyễn Bích Diệp, ThS. Trần Khánh Long
Trường học Trường Đại học Y tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản lý chất thải y tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1 Khái quát chung về chất thải y tế (15)
      • 1.1.1 Chất thải y tế và quản lý chất thải y tế (15)
      • 1.1.2 Phân loại chất thải y tế (15)
      • 1.1.3 Nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe con người (18)
      • 1.1.4 Nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường (20)
      • 1.1.5 Chất thải y tế và sự nhạy cảm của cộng đồng (21)
    • 1.2 Quy chế quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế (21)
      • 1.2.1 Phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu trữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế (21)
      • 1.2.2 Vận chuyển chất thải rắn y tế ra ngoài cơ sở y tế (23)
      • 1.2.3 Các phương pháp xử lý chất thải y tế (24)
    • 1.3 Thực trạng về quản lý chất thải y tế trên thế giới và ở Việt Nam (0)
      • 1.3.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới (0)
      • 1.3.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế ở Việt Nam (0)
    • 1.4 Các nghiên cứu kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về quản lý chất thải y tế (34)
      • 1.4.1 Trên thế giới (34)
      • 1.4.2 Tại Việt Nam (35)
    • 1.5 Thực trạng về quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố Cần Thơ (0)
    • 1.6 Sơ đồ khung lý thuyết (41)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (42)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (42)
    • 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (42)
    • 2.3 Thiết kế nghiên cứu (42)
    • 2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu (42)
    • 2.5 Phương pháp thu thập số liệu (43)
    • 2.6 Các biến số nghiên cứu (47)
    • 2.7 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá (52)
    • 2.8 Phương pháp phân tích số liệu (54)
    • 2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (0)
    • 2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục (55)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (56)
    • 3.1 Thực trạng trang thiết bị phục vụ công tác quản lý chất thải rắn y tế tại 03 bệnh viện chuyên khoa (0)
    • 3.2 Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế (61)
    • 3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức quản lý chất thải rắn y tế của nhân viên y tế (0)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (76)
  • Chương 5. KẾT LUẬN (84)

Nội dung

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Khái quát chung về chất thải y tế

1.1.1 Chất thải y tế và quản lý chất thải y tế

Chất thải y tế là loại chất thải phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu và đào tạo tại các cơ sở y tế Chất thải này có thể tồn tại dưới các dạng rắn, lỏng và khí.

Chất thải rắn y tế: phần chất thải y tế ở dạng rắn, không có tính chất thải dạng lỏng và khí, đựơc thu gom và xử lý riêng [3]

Chất thải y tế nguy hại bao gồm các thành phần như máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, bộ phận hoặc cơ quan của người và động vật, bơm kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và chất phóng xạ Nếu không được xử lý đúng cách, những chất thải này có thể gây ra nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người.

Quản lý chất thải y tế bao gồm các hoạt động như phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy chất thải y tế, đồng thời kiểm tra và giám sát việc thực hiện các quy trình này.

Quản lý chất thải y tế nguy hại bao gồm các hoạt động như phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại.

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

1.1.2.1 Phân loại chất thải y tế theo quy định của Bộ Y tế: Ở Việt nam, chất thải y tế được phân loại trong quyết định số 43/2007/QĐ- BYT của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm gồm: chất thải lây nhiễm, chất thải hoá học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải sinh hoạt [3]

Chất thải lâm sàng được chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm được xử lý theo những quy định riêng:

Chất thải sắc nhọn (loại A) là những vật liệu có khả năng gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, tiềm ẩn nguy cơ nhiễm khuẩn Các loại chất thải này bao gồm bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác được sử dụng trong hoạt động y tế.

Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B) bao gồm các chất thải bị thấm máu và dịch sinh học từ cơ thể, cũng như các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.

Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm [3]

Chất thải giải phẫu (loại D) bao gồm mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm Nhóm E bao gồm các mô, cơ quan của người và động vật, không phân biệt có bị nhiễm khuẩn hay không.

Chất thải hoá học nguy hại:

Chất thải hoá học bao gồm các dạng rắn, lỏng và khí, trong đó có nhiều chất nguy hại Formaldehyt, được sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh và bảo quản mẫu xét nghiệm, là một trong những chất độc hại Các hoá chất quang hoá học trong dung dịch cố định và tráng phim cũng cần được chú ý Ngoài ra, các dung môi như methylen chlorid, chloroform, freons, và trichloro ethylen, cùng với các thuốc mê như halothan, đều có thể gây hại Oxit ethylen, dùng để tiệt khuẩn thiết bị y tế, có khả năng gây độc và ung thư Cuối cùng, các chất hoá học hỗn hợp như phenol và dung môi làm vệ sinh cũng là những mối nguy hiểm cần được quản lý.

Chất thải phóng xạ là các chất có hoạt độ riêng tương tự như các chất phóng xạ, thường phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu tại các cơ sở y tế Chúng bao gồm nhiều dạng khác nhau như chất thải rắn, lỏng và khí.

Chất thải phóng xạ rắn bao gồm các vật liệu được sử dụng trong xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị, như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm và chai lọ đựng chất phóng xạ.

Chất thải lỏng phóng xạ bao gồm dung dịch chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị, như nước tiểu của bệnh nhân, các chất bài tiết, và nước xúc rửa dụng cụ có chứa nhân phóng xạ.

Chất thải khí phóng xạ: Gồm các chất khí trong lâm sàng như 133 Xe, các chất thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ [3]

Bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình khí dùng một lần có nguy cơ gây nổ khi bị thiêu đốt, do đó cần phải thu gom riêng để đảm bảo an toàn.

Chất thải thông thường là loại chất thải không chứa yếu tố lây nhiễm, hóa chất nguy hại, phóng xạ, hay dễ cháy nổ Nó bao gồm chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ buồng bệnh cách ly), chất thải từ hoạt động y tế như chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, và vật liệu nhựa, cũng như chất thải từ công việc hành chính như giấy, báo, tài liệu, và vật liệu đóng gói Ngoài ra, chất thải ngoại cảnh như lá cây và rác từ khu vực ngoài trời cũng thuộc loại này.

1.1.2.2 Phân loại chất thải y tế theo Tổ chức Y tế thế giới:

Theo WHO, chất thải y tế được phân thành hai nhóm chính là chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế không nguy hại [40]

Chất thải y tế nguy hại được phân loại thành 6 nhóm chính: chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm, chất thải giải phẫu, thuốc thải, chất thải gây độc tế bào, chất thải hóa học và chất thải phóng xạ.

Chất thải sắc nhọn: Có thể làm rách da, tổn thương da, bao gồm kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền, mảnh thuỷ tinh vỡ, [40]

Quy chế quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế

1.2.1 Phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu trữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế

1.2.1.1 Phân loại và thu gom

Theo quy định của Bộ Y tế:

Người phát sinh chất thải cần phân loại ngay tại nguồn, với từng loại chất thải được đựng trong túi và thùng có mã màu và biểu tượng theo quy định.

Trong công tác thu gom chất thải rắn tại cơ sở y tế, mỗi khoa, phòng cần xác định rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế cho từng loại chất thải Nơi phát sinh chất thải phải được trang bị thùng thu gom tương ứng để đảm bảo quy trình thu gom hiệu quả.

Nơi đặt thùng đựng chất thải cần có hướng dẫn phân loại và thu gom rõ ràng Thùng đựng chất thải phải tuân thủ tiêu chuẩn quy định và được vệ sinh hàng ngày Túi sạch để thu gom chất thải luôn phải sẵn có tại nơi phát sinh để thay thế cho túi đã được thu gom Mỗi loại chất thải cần được thu gom vào các dụng cụ theo mã màu quy định.

- Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm

- Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ

- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ

- Màu trắng đựng chất thải tái chế [3]

Chất thải y tế nguy hại không được trộn lẫn với chất thải thông thường Nếu chất thải y tế nguy hại bị lẫn vào chất thải thông thường, hỗn hợp này cần được xử lý và tiêu hủy theo quy định của chất thải y tế nguy hại.

Chất thải y tế được chứa trong túi đầy tới 3/4 và sau đó được buộc cổ túi lại Tần suất thu gom chất thải này được thực hiện hàng ngày bởi hộ lý hoặc nhân viên được phân công, đảm bảo thu gom các chất thải nguy hại và thông thường từ nơi phát sinh về nơi tập trung của khoa ít nhất một lần mỗi ngày và khi cần thiết.

Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao cần được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh trước khi được thu gom về nơi tập trung chất thải của cơ sở y tế.

1.2.1.2 Vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn trong cơ sở y tế

Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ các khoa, phòng cần được vận chuyển riêng biệt đến nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất một lần mỗi ngày và khi cần thiết.

Cơ sở y tế cần thiết lập quy định rõ ràng về lộ trình và thời gian vận chuyển chất thải Việc này nhằm tránh việc vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc bệnh nhân và các khu vực sạch sẽ khác.

Túi chất thải cần được buộc kín miệng và vận chuyển bằng xe chuyên dụng để tránh rơi vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trình di chuyển.

Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường cần được lưu giữ trong các buồng riêng biệt Chất thải có thể tái sử dụng và tái chế cũng phải được bảo quản riêng Các cơ sở y tế phải đảm bảo rằng nơi lưu giữ chất thải đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết.

- Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông người tối thiểu là 10 mét

- Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến [3]

Nhà lưu giữ chất thải y tế cần có mái che, hàng rào bảo vệ, cửa và khóa để ngăn chặn sự xâm nhập của súc vật, loài gậm nhấm và người không có nhiệm vụ Diện tích lưu giữ phải phù hợp với lượng chất thải phát sinh, đồng thời cần trang bị phương tiện rửa tay, bảo hộ cho nhân viên, cùng với dụng cụ và hóa chất vệ sinh.

Hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm cùng với thông khí tốt là rất quan trọng Các cơ sở y tế nên lưu giữ chất thải trong nhà với điều kiện bảo quản lạnh để đảm bảo an toàn.

Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tại cơ sở y tế không được vượt quá 48 giờ Nếu lưu giữ trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh, thời gian có thể kéo dài đến 72 giờ Chất thải giải phẫu cần được chuyển đi chôn hoặc tiêu hủy hàng ngày Đối với các cơ sở y tế phát sinh dưới 5 kg chất thải y tế nguy hại mỗi ngày, thời gian thu gom tối thiểu là hai lần trong một tuần.

1.2.2 Vận chuyển chất thải rắn y tế ra ngoài cơ sở y tế

Các cơ sở y tế cần ký hợp đồng với đơn vị có tư cách pháp nhân để thực hiện việc vận chuyển và tiêu hủy chất thải Nếu địa phương chưa có đơn vị đủ điều kiện, cơ sở y tế phải thông báo cho chính quyền địa phương để được hỗ trợ giải quyết.

Chất thải y tế nguy hại cần được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụng để đảm bảo vệ sinh, phù hợp với Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hướng dẫn về điều kiện hành nghề, thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề và mã số quản lý chất thải nguy hại.

Các nghiên cứu kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về quản lý chất thải y tế

Thực trạng kiến thức, thực hành quản lý chất thải rắn y tế được đánh giá thông qua nhiều nghiên cứu tại nhiều khu vực

Một nghiên cứu năm 2011 tại bệnh viện Đại học Norfolk và Norwich, do Kevin Paul Pudussery thực hiện, cho thấy hơn 95% nhân viên y tế có kiến thức đúng về các thành phần nguy hại của chất thải y tế Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khoảng 10% nhân viên thường xuyên và 50% nhân viên thường xuyên đưa chất thải vào thùng rác không đúng cách Thêm vào đó, 30% nhân viên hiếm khi làm sai và chỉ 10% tuyên bố rằng họ không bao giờ đưa chất thải vào sai thùng.

Nghiên cứu của Suwarna Madhukumar tại Bangalore năm 2011 cho thấy y tá có kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế tốt hơn so với các nhân viên y tế khác, với 81,9% y tá nắm vững cách phân loại và xử lý chất thải y tế chính xác, trong khi bác sĩ đạt 76,8%, thực tập sinh 38,5% và kỹ thuật viên chỉ 27,3% Hầu hết cán bộ y tế đều nhận thức được các vấn đề sức khỏe do chất thải rắn y tế gây ra, trong đó y tá dẫn đầu với 38,8% Tuy nhiên, 32,9% không biết các quy định pháp luật liên quan đến chất thải rắn y tế Kiến thức về màu sắc trong phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn đạt 96,1%, và y tá cũng có thực hành quản lý chất thải rắn y tế tốt nhất.

Một khảo sát của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe về quản lý chất thải y tế.

110 bác sĩ, 151 y tá và 89 nhà quản lý y tế Kết quả ghi nhận các nhà quản lý có

HUPH có hiểu biết về chính sách của bệnh viện và hệ thống xử lý chất thải, nhưng kiến thức về quy trình xử lý chất thải y tế của họ kém chi tiết hơn so với bác sĩ và y tá Đánh giá thực hành quản lý chất thải y tế cho thấy nhóm y tá thực hiện tốt hơn nhóm bác sĩ, với tỷ lệ 84% so với 67,3%.

1.4.2 Tại Việt Nam Để thực hiện quy chế quản lý CTRYT, bên cạnh yếu tố về công nghệ và các điều kiện về cơ sở vật chất thì yếu tố con người rất quan trọng Cho dù hệ thống xử lý chất thải hiện đại nhưng cán bộ, nhân viên y tế không nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác quản lý chất thải thì hệ thống đó sẽ hoạt động không hiệu quả

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ Tiên thực hiện năm 2012, phỏng vấn

Một nghiên cứu tại 20 Trạm Y tế quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền cho thấy chỉ có 37,3% cán bộ được tập huấn về quản lý và xử lý chất thải y tế (CTRYT) Kiến thức về phân loại CTRYT của cán bộ y tế và vệ sinh viên còn hạn chế, với tỷ lệ biết phân loại thành 5 nhóm chỉ đạt 6,6% Hầu hết cán bộ chỉ biết về chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường (>95%), trong khi kiến thức về các loại chất thải khác thấp hơn (85%), nhưng kiến thức về màu đen và màu trắng lại thấp, với chỉ 57,8% biết về thùng màu đen và 28,9% biết đúng CTRYT tương ứng Tổng thể, chỉ 27,7% cán bộ có kiến thức đúng về quản lý CTRYT, trong khi 72,3% còn lại chưa đúng Hơn 70% cán bộ cho rằng cần quy định thời gian thu gom và vận chuyển chất thải, và 99,4% đồng ý cần thu gom riêng CTRYT nguy hại Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ hiểu về các loại CTRYT và màu sắc của chất thải vẫn rất thấp, với chỉ 16,9% biết về thời gian lưu giữ chất thải và 34,3% biết rằng chất thải giải phẫu cần được đựng trong 2 lớp túi màu vàng.

Nghiên cứu của Phạm Minh Khuê, Nguyễn Văn Hanh, Trần Thúy Hà tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Hải Dương năm 2013 cho thấy 100% bệnh viện có lãnh đạo phụ trách quản lý chất thải y tế Đáng chú ý, 92,31% bệnh viện có báo cáo bảo vệ môi trường, 100% có sổ theo dõi lượng chất thải phát sinh hàng ngày, và 84,61% có báo cáo giám sát môi trường định kỳ Tuy nhiên, 69,23% bệnh viện chỉ có sổ đăng ký chủ nguồn thải, và 100% không có kế hoạch hay giấy phép xả thải, cũng như không có cán bộ chuyên trách về quản lý chất thải y tế.

Tỷ lệ nhân viên y tế được tập huấn về quản lý chất thải y tế chỉ đạt 39,32%, trong khi 100% bệnh viện không đáp ứng tiêu chuẩn về phương tiện chứa và vận chuyển chất thải Về kiến thức, 77,87% nhân viên y tế và 73,39% nhân viên vệ sinh có kiến thức đạt yêu cầu (≥ 50%) về quản lý chất thải y tế Thực hành của nhân viên y tế và vệ sinh cho thấy sự quan tâm cao với 98,61% và 99,12% lần lượt thực hiện quy chế quản lý chất thải, cùng với 98,15% và 95,61% thực hiện phân loại tại nguồn Hơn nữa, 97,22% và 98,25% nhân viên nhắc nhở bệnh nhân và người nhà bệnh nhân bỏ rác đúng nơi quy định Có sự liên quan đáng kể giữa việc tập huấn và kiến thức, cũng như giữa kiến thức và thực hành của nhân viên y tế (p

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1.  Các khâu trong xử lý chất thải rắn y tế [27] - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Sơ đồ 1.1. Các khâu trong xử lý chất thải rắn y tế [27] (Trang 27)
Bảng 1.1. Khối lượng chất thải y tế một số địa phương năm 2009 [5] - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 1.1. Khối lượng chất thải y tế một số địa phương năm 2009 [5] (Trang 30)
Bảng 2.1. Nhóm biến số thực trạng QLCTRYT thu thập được do quan sát - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 2.1. Nhóm biến số thực trạng QLCTRYT thu thập được do quan sát (Trang 47)
Bảng 3.5. Thực trạng về nơi lưu trữ CTRYT tại 03 bệnh viện - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.5. Thực trạng về nơi lưu trữ CTRYT tại 03 bệnh viện (Trang 59)
Bảng 3.8. Chức danh chuyên môn, loại lao động của đối tượng nghiên cứu (n=296) - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.8. Chức danh chuyên môn, loại lao động của đối tượng nghiên cứu (n=296) (Trang 62)
Bảng 3.9. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phân loại CTRYT (n = 296) - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.9. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phân loại CTRYT (n = 296) (Trang 63)
Bảng 3.13. Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phân loại CTRYT (n=274) - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.13. Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phân loại CTRYT (n=274) (Trang 66)
Bảng 3.18. Thực hành của ĐTNC về thu gom, vận chuyển CTRYT (N=19) - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.18. Thực hành của ĐTNC về thu gom, vận chuyển CTRYT (N=19) (Trang 70)
Bảng 3.19. Thực hành của ĐTNC về lưu trữ và xử lý CTRYT (n=3) - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.19. Thực hành của ĐTNC về lưu trữ và xử lý CTRYT (n=3) (Trang 72)
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi, thâm niên, loại hình công - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi, thâm niên, loại hình công (Trang 73)
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn của ĐTNC với kiến thức - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn của ĐTNC với kiến thức (Trang 74)
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa học vấn của ĐTNC với kiến thức chung về - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa học vấn của ĐTNC với kiến thức chung về (Trang 74)
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH VỀ THU GOM, VẬN CHUYỂN  CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH VỀ THU GOM, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA (Trang 97)
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH VỀ LƯU GIỮ, XỬ LÝ CHẤT THẢI  RẮN Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA TP - Thực trạng trang thiết bị và kiến thức, thực hành của nhân viên về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện chuyên khoa thành phố cần thơ năm 2015
BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HÀNH VỀ LƯU GIỮ, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA TP (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w