1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng đái tháo đường, rối loạn lipid máu và kiến thức, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường ở người cao tuổi tại hai xã huyện vụ bản tỉnh nam định năm 2011

104 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 4,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo báo cáo thống kê của Vụ Điều trị - Bộ Y tế trong năm 2005, một trăm phần trăm người bệnh mắc các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa phải chuyển lên tuyến trên, về mặt dự phòng, ch

Trang 1

MAI ANH ĐÀO

THựC TRẠNG ĐÂI THÁO Đ ltita , RỐI L i p

VÀ KIẾN THÚC, THỰC HÀNH PHÒNG C::SíJ3 BỆNH ĐÁI THẤO ĐUdNG ở NGUdl CAO TUỔI TẠI HAI XÃ HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2011

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72 03 01

Người hướng dẫn khoa học:

TS NINH THỊ NHUNG

THÁI BÌNH - 2012

Trang 2

Trong hai năm học tập tại Trường Đại học Y Thái Bình, cùng với sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Bằng những tình cảm sâu sắc

và lòng biết om, tôi xin được cảm ơn đến:

Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau đại học, khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Thái Bình Ban Giám hiệu, Bộ môn Y Te Cộng đồng Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, với tình cảm chân thành và sự kính trọng, tôi xin bày tỏ và

biết ơn tới TS Ninh Thị Nhung đã trực tiếp hướng dẫn tận tình trong suốt

quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm mà gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và khích lệ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Thái Bình, thảng 2012

Mai Anh Đào

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Thái Bình, thảng 9 năm 2012

Trang 4

Đái tháo đường.

Hội chứng chuyển hoá (Metabolic syndrome)Hight Dencity Lipoprotein CholesterolInternational Diabete Institude

(Viện nghiên cứu bệnh đái tháo đường quốc tế)

Low Dencity Lipoprotein Cholesterol Người cao tuổi

National Cholesterol Education Program(Chương trình giáo dục về Cholesterol Quốc gia của Hoa Kỳ)Rối loạn dung nạp glucose

(Impaired glucose tolerance)

Rối loạn đường máu lúc đói (Impaired Fasting Glucose)

Thừa cân, béo phì

World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Waist/Hip Ratio (Tỷ số eo/hông)

The WHO Western Pacific Region(Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Tháỉ Bình Dương)

Tỷ lệ vòng eo trên vòng mông

Trang 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm .3

1.1.1 Khái niệm về người cao tu ổ i 3

1.1.2 Rối loạn lipid máu .4

1.1.3 Tỷ lệ người cao tuổi hiện n a y 5

1.2 Tình hình nghiên cứu về rối loạn lipid trên thế giới và Việt N am 6

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về rối loạn lipid ừên thế g iớ i 6

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về rối loạn dinh dưỡng - lipid ờ Việt N a m 11 1.3 Phương pháp đánh g i á 14

1.3.1 Phương pháp đánh giá thừa cân - béo p h ì 14

1.3.2 Đánh giá tình trạng tăng huyết áp 16

1.3.3 Xác định Hội chứng chuyển h o á 16

1.3.4 Chẩn đoán đái tháo đ ư ờ n g 16

1.4 Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân 18

Chương 2: ĐỐI TUỢNG v à PHUƠNG p h á p n g h i ê n c ứ u 22

2.1 Đối tượng nghiên c ứ u 22

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 22

2.1.2 Đối tượng nghiên c ứ u 22

2.1.3 Thời gian nghiên c ứ u 23

2.2 Phương pháp nghiên cứ u 23

2.2.1 Thiết kế nghiên c ứ u 23

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn m ẫ u 23

2.2.3 Biến số và chỉ số trong ngiên c ứ u 25

Trang 6

2.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá 28

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệ u 31

2.2.7 Các biện pháp khắc phục sai s ố 32

2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên c ứ u 32

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 34

3.1 Xác định tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn lipid máu ở người cao tuổi tại hai xã huyện Vụ Bản, Nam Định năm 2011 34

3.2 Kiến thức, thực hành của người cao tuổi về đái tháo đường tại địa bàn nghiên cứu 50

Chương 4:BÀN L U Ậ N 58

4.1 Tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn lipid máu ờ người cao tuổi tại hai xã huyện Vụ Bản Tỉnh Nam Định năm 2 0 1 1 58

4.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên c ứ u 58

4.1.2 Tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn lipid máu ở người cao tu ổ i 59

4.2 Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu .71

KẾT LUẬN 76

KIẾN N G H Ị 1 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 2.1 Phân loại huyết áp theo JNC - V I I 28

Bảng 2.2 Tiêu chuẩn, phân loại chỉ số khối cơ thể 29

Bảng 2.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường của Tổ chức Y tế thế giới 30 Bảng 2.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lipid m á u 31

Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên c ứ u 34

Bảng 3.2 Giá trị trung bình cân nặng, chiều cao của người cao tuổi_theo địa bàn nghiên c ứ u 35

Bảng 3.3 Giá trị trung bình cân nặng, chiều cao của người cao tuổi theo nhóm tu ổ i 36

Bảng 3.4 Tình ừạng dinh dưỡng của người cao tuổi theo BMI và địa bàn nghiên cứu .36

Bảng 3.5 Tình trạng dinh dưỡng của người cao tuổi theo BMI và g i ó i 37

Bảng 3.6 Tỷ lệ người cao tuổi có vòng eo cao theo địa bàn nghiên c ứ u 37

Bảng 3.7 Tỷ lệ người cao tuổi có vòng eo cao theo g iớ i 38

Bảng 3.8 Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường và rối loạn lipid máu theo địa bàn nghiên c ử u 39

Bảng'3 .9.Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường và rối loạn lipid máu theo giới .40

Bảng 3.10 Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường và rối loạn lipid máu theo nhóm t u ổ i 41

Bảng 3.11 Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường và rối loạn lipid máu theo BMI 42 Bảng 3.12 Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường và rối loạn lỉpid máu theo chỉ số vòng eo/vòng m ô n g 44

Bảng 3.13 Tỷ lệ người cao tuổi tăng huyết áp theo địa bàn nghiên cử u 44

Bảng 3.14 Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường và rối loạn lipid máu theo phân loại huyết áp 45

Trang 8

Bảng 3.16 Tỷ lệ người cao tuổi hiện mắc các yếu tố chẩn đoán_hội chứngchuyển hóa theo giới 46Bảng 3.17 Tỷ lệ người cao tuổi hiện mắc các yếu tố chẩn đoán hội chứngchuyển hóa theo nhóm tuổi 47Bảng 3.18 Tỷ lệ người cao tuổi mắc từng yếu tố chẩn đoán hội chứng

chuyển hóa theo địa b à n 47Bảng 3.19 Tỷ lệ người cao tuổi mắc từng yếu tố chẩn đoán hội chứng

chuyển hóa theo g iớ i 48Bảng 3.20 Tỷ lệ người cao tuổi mắc từng yếu tố chẩn đoán hội chứng

chuyển hóa theo nhóm tuổi 49Bảng 3.21 Tỷ lệ người cao tuổi biết về bệnh đái tháo đ ư ờ n g 50Bảng 3.22 Tỷ lệ người cao tuổi biết thời gian điều trị bệnh đái tháo đường 50Bảng 3.23 Tỷ lệ người cao tuổi biết các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ 51Bảng 3.24.Tỷ lệ người cao tuổi biết các triệu chứng của bệnh ĐTĐ 51Bảng 3.25 Tỷ lệ người cao tuổi biết biến chứng nguy hiểm của bệnh ĐTĐ 52Bảng 3.26 Tỷ lệ người cao tuổi biết cách phòng bệnh đái tháo đường 53Bảng 3.27 Tỷ lệ người cao tuổi biết chế độ ăn đối với bệnh đái tháo đường 54 Bảng 3.28 Đánh giá của người cao tuổi về mức độ nguy hiểmcủa bệnh ĐTĐ 54 Bảng 3.29 Tỷ lệ người cao tuổi sử dụng các loại thực phẩm theo_địa bàn

nghiên cứu .55Bảng 3.30 Tỷ lệ người cao tuổi sử dụng các loại thực phẩm theo g iớ i 56Bảng 3.31 Tỷ lệ người cao tuổi sử dụng các loại thực phẩm theo.tình trạng rối loạn lip id 57

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ người cao tuổi mắc đái tháo đường và tăng cholesteroltheo địa b à n 38Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ người cao tuổi giảm HDL-C và tăng LDL-C theo giới 40Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường tăng cholesterol theo BMI 42Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người cao tuổi đái tháo đường và tăng cholesterol.theo chi

SỐVE/VM 43

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ người cao tuổi biết biến chứng tim mạch và hoại tử chi ở bệnh nhân đái tháo đ ư ờ ng 53

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐÊ

Việt Nam hiện đang là một quốc gia nghèo, trong khi các bệnh nhiễm trùng và bệnh lây nhiễm còn đang là phổ biến thì nay các bệnh của một xã hội công nghiệp - bệnh không lây nhiễm lại có xu hướng tăng cao với một tốc độ đáng lo ngại Do những thay đổi đột ngột về kinh tế, xã hội kéo theo những thay đổi về lối sống đã làm tỷ lệ bệnh không lây tăng cao, tăng nhanh, trong khi chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này Ở nhiều địa phương trong cả nước không có bác sỹ chuyên khoa về nội tiết và rối loạn chuyển hóa Theo báo cáo thống kê của Vụ Điều trị - Bộ Y tế trong năm 2005, một trăm phần trăm người bệnh mắc các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa phải chuyển lên tuyến trên, về mặt dự phòng, chúng ta cũng chưa có hệ thống để phát hiện sớm và ngăn ngừa khả năng tiến tới bệnh đái tháo đường ở nhóm người có yếu tố nguy cơ cao Đây là nguyên nhân để hiểu tại sao tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường chưa được chẩn đoán ở Việt Nam còn cao trên 64%

và số người tham gia phỏng vấn không hiểu biết về bệnh và cách phòng bệnh đái tháo đường lên tới tới 80%

Theo công bố của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1994 cả thế giới

có 110 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, năm 2000 có khoảng 212 triệu người mắc, dự báo đến năm 2025 sẽ có khoảng 300 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (chiếm 5,4% dân số), trong đó các nước phát triển tăng 42%, các nước đang phát triển tăng 170% Nhưng chỉ đến "năm 2011 là mốc xác lập con số người mắc bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới đã lên đến 300 triệu người” Bệnh đái tháo đường đang gia tăng với tốc độ đáng lo ngại (khoảng 300% trong vòng mười năm) Tuy nhiên, cho đến nay số bệnh nhân được chẩn đoán mới là phần nổi của tảng băng chìm và có tới 64% bệnh nhân vẫn chưa biết mình mắc bệnh

Trang 11

Rối loạn lipid máu cũng là một vấn đề đang được quan tâm đặc biệt hiện

nay Rối loạn lipid máu là nguyên nhân hoặc hậu quả của một số bệnh mạn

tính như đái tháo đường, tăng huyết áp

Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009 ờ Việt Nam cho thấy tuổi

thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng đáng kể từ 65 tuổi (năm 1989) lên

72,8 tuổi (năm 2009), tỷ lệ người cao tuổi tăng từ 8% (năm 1999) lên 9%

(năm 2009) và dự báo sẽ tăng lên 17% vào năm 2029

Ngày nay tỷ lệ người cao tuổi tăng, tuổi thọ trung bình tăng kéo theo tỷ

lệ mắc bệnh cũng tăng đặc biệt là bệnh không nhiễm trùng Một số nghiên

cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giảm dần đến 18 tuổi, sau đó lại tăng cao dần Và

ở độ tuổi ừên 60 thì tỷ lệ mắc bệnh rất cao đặc biệt là các bệnh mãn tính Trên

một người cao tuổi có thể mắc nhiều bệnh khác nhau như vừa đái tháo đường

vừa rối loạn lipid máu vừa cao huyết áp

Để đánh giá tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường và tăng lipid máu ở người

cao tuổi ở khu vực nông thôn tỉnh Nam Định, đồng thời tìm hiểu về nhận thức

của người dân về bệnh đái tháo đường ở khu vực này chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng đái tháo đường, rối loạn máu và kiến thức, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường ở người cao tuổi tại hai

xã huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định năm

Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn máu ở người cao tuổi

tại hai xã huyện Vụ Bản, Nam Định năm

Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của

người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu.

2.

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm về người cao tuổi

Hiện nay, cùng với sự phát triển về kinh tế của đất nước, tuổi thọ trune bình ngày càng cao, số người già ngày càng tăng Song song với tuổi thọ, nhiều bệnh cũng xuất hiện hoặc cấp tính hoặc mãn tính Trên cùng một người cao tuổi có thể gặp một hoặc nhiều bệnh khác nhau Vì vậy những nhà lão khoa đã nhấn mạnh đến tính chất đa bệnh lý ở tuổi già và người già đã và đang được giói y học quan tâm nghiên cứu

Việc phân chia già, trẻ theo tuổi đôi khi không phản ánh chính xác quá trình biến đổi sinh học Có người nhiều tuổi nhưng trông vẫn trẻ, khoẻ Trái lại, cũng có người tuổi chưa nhiều nhưng đã có biểu hiện của sự già Vì vậy, việc phân chia theo tuổi chỉ có tính quy ước và giá trị chỉ là tương đối

p Baumgarter (1968) đã chia các giai đoạn tuổi như sau:

- Giai đoạn phát triển: từ lúc mới sinh đến 20, 22 tuổi

- Giai đoạn thanh niên: từ 22 đến 45 tuổi

- Giai đoạn trước già có hai thời kỳ:

+ Thời kỳ chuyển tiếp từ 45 đến 60 tuổi

+ Thời kỳ trước già thực sự: từ 61 đến 80 tuổi

- Giai đoạn già có hai thời kỳ:

+ Thời kỳ còn hoạt động: từ 80 đến 94 tuổi

+ Thời kỳ già hẳn: từ 95 tuổi trở đi

Cách phân chia này hiện nay vẫn được áp dụng ở nhiều nước Nhưng cũng có nhiều tác giả khác cho rằng tuổi già là từ lúc 65 tuổi trở đi

Trang 13

Năm 1960, Tổ chức Y tế Thế giới đã xắp xếp như sau:

- Từ 60 đến 74: tuổi già

- Từ 75 đến 90: người cao tuổi

- Từ 90 trở lên: người sống lâu

Ở Việt Nam, các nhà khoa học y học cho rằng: người Việt Nam đến độ tuổi tròn 60 là bắt đầu có sự thay đổi lớn về tâm sinh lý, đặc biệt là sức khỏe giảm sút Ngày nay, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng nhiều so với những năm trước đây từ 65 tuổi (năm 1989) lên 72,8 tuổi (năm 2009).Các tác giả cuốn “Bách khoa tri thức phổ thông” chia tuổi già như sau:

60 - 64 tuổi là bước vào tuổi già, 65 - 79 tuổi là người già tuổi thấp, 80 -

89 tuổi là người già tuổi cao, 90 tuổi trở lên là người trường thọ, trên 100 tuổi

là người già trăm tuổi

Dựa vào năm sinh đã có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng theo quy ước chung của Liên hiệp quốc: “Những người từ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi” Ở Việt Nam theo pháp lệnh về người cao tuổi có khái niệm về người cao tuổi như sau: “Người cao tuổi là công dân Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [29]

Trang 14

với sức khỏe và tính mạng của con người Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng HCCH có liên quan chặt chẽ với bệnh béo phì và là dấu hiệu cảnh báo với một số bệnh không lây [3],[57].

- Các bệnh mạn tính không lây nhiễm liên quan chặt chẽ tới tình trạng rối loạn lipid đó là đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, tăng huyết áp và một số bệnh ung thư [22]

1.1.3 Tỷ lệ người cao tuổi hiện nay

- Người cao tuổi trên thế giới

Năm 1950 trên toàn thế giới, số NCT mới chỉ là 214 triệu, đến năm 1975

đã là 346 triệu Năm 2006 số người từ 60 tuổi trở lên đạt 688 triệu người Năm 2009 số người từ 60 tuổi trở lên chiếm khoảng 737 triệu người Hiện nay, khoảng 2/3 số người cao tuổi đang sống tại các nước đang phát triển Ước tính đến năm 2050, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 2 tỷ người Tại thời điểm đó, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, dân số già sẽ lớn hơn dân số trẻ (0 đến 14 tuổi) [29],

Ngày nay, hơn 1/2 số người cao tuổi sống tại các nước châu Á (54%) và 1/5 sống tại châu Âu (21%) Sự gia tăng này xuất hiện ở cả những nước phát triển (trong 50 năm từ 1975 đến 2025 tăng 173%) và các nước đang phát triển (tăng 347% cũng trong thời gian đó) Trái với quan niệm thông thường cho rằng vấn đề NCT chỉ liên quan đến các nước phát triển

Hiện tại ừên phạm vi toàn thế giới cứ 9 người thì có 1 người từ 60 tuổi trở lên Liên hợp quốc dự báo 2025 cứ 7 người dân thì có 1 NCT và vào năm

2050 cứ 5 người dân có 1 NCT và năm 2150 con số này sẽ là 1/3 Tốc độ tăng cũng không đồng đều giữa các nước, Nhật Bản là nước có tốc độ già hóa dân

số nhanh nhất thế giới Tỷ lệ NCT hiện nay ở các khu vực phát triển cao hơn nhiều so với các khu vực kém phát triển nhưng tốc độ già hóa ở các quốc gia đang phát triển nhanh hơn và quá độ từ cấu trúc dân số trẻ sang già sẽ xảy ra trong một giai đoạn ngắn hơn

Trang 15

- Người cao tuổi ở Việt Nam

Theo Tổng điều tra dân số 1999, tuổi thọ trung bình của Việt Nam ngày

càng cao (1999 đạt 68,6 tuổi), vượt qua tuổi thọ trung bình của thế giới (66

tuổi) Thời kỳ 1989 - 1999, tỷ lệ NCT (được pháp lệnh người cao tuổi quy

định là người từ 60 tuổi trở lên) đã tăng gàn gấp đôi tỷ lệ tăng dân số của cả

nước, từ 4,64 triệu người (năm 1989) lên 6,19 triệu người chiếm 8,12% dân

số cả nước

Theo điều tra biến động dân số ngày 1/4/2008, tỷ lệ NCT tiếp tục tăng

nhanh chiếm 9,9% dân số cả nước Dự báo đến năm 2020, tỷ lệ NCT sẽ chiếm

xấp xỉ 15% dân số và đến năm 2030 NCT nước ta sẽ đạt 17 triệu người,

chiếm gần 18% dân số Cùng với việc nâng cao tuổi thọ, tình trạng già hoá

dân số cũng đang gia tăng, đó là một điều đáng mừng song phần nào cũng gầy

áp lực, gánh nặng lên gia đình và xã hội, nó đòi hỏi phải có những chính sách

xã hội phù hợp đối với người già nói chung và có những chính sách phù hợp

về chăm sóc y tế [29]

1.2 Tình hình nghiên cứu về rối loạn lipid trên thế giới và Việt Nam

1.2.1.1 Thừa cân - béo p h ì

Nhiều nước phát triển, tỷ lệ người béo lên tới 30 - 40%, nhất là ở độ tuổi

trung niên và chống béo phì trở thành một mục tiêu sức khoẻ cộng đồng quan

trọng Ở Mỹ, tỷ lệ dân số thừa cân (BMI ^30) tăng m ột cách rõ rệt hơn 20

năm qua Năm 2000, có 67% nam giới thừa cân trong đó 27,7% béo phì, phụ

nữ thừa cân ít hơn (62%) nhưng béo phì thì nhiều hơn (34%) Tỷ lệ thừa cân béo phì cũng rất cao ở Australia, tỷ lệ thừa cân ở nam giới từ 44% năm 1992 lên 62,3% năm 1997 và 63% năm 1999 và ở nữ từ 30% năm 1992 lên 46,6% năm 1997 và 47% năm 1999 Ở hầu hết các nước Châu Âu, tỷ lệ béo phì ờ người trưởng thành từ 10 - 25% Theo cuộc điều tra về sức khoẻ năm 1998 ở

Trang 16

Đức, tại Tây Đức: tỷ lệ thừa cân ở lứa tuổi 1 8 - 7 9 tuổi là 52% ở phụ nữ và 67% ở nam giới, béo phì là 18% ở nam và 28,5% ở nữ, trong khi đó tỷ lệ thừa cân ở Đông Đức còn cao hơn ở Tây Đức Béo phì thực sự là vấn đề sức khoẻ cộng đồng hàng đầu ở các nước đã phát triển [57],[66],[68].

Trong khi đó, ở châu Á bên cạnh gánh nặng thiếu dinh dưỡng, thừa cân béo phì đang tăng lên nhanh chóng và cũng trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng đáng lưu ý Ở Philippin, tỷ lệ thừa cân (BMI >25 ) đã lên tới 20,2% Rõ ràng vấn

đề thừa cân béo phì, một biểu hiện dễ nhận thấy của tình trạng rối loạn dinh dưỡng - lipid đang được quan tâm đặc biệt trên thế giới và ứong khu vực

1.2.1.2H ội chứng chuyển hóa (M etaboỉsis syndrome)

Theo tiêu chuẩn của NCEP (Nationnal cholestrol Education Progamme) thì HCCH được ước tính là 24% nguời trưởng thành ở Mỹ, trong đó tỷ lệ này

ở người trên 50 tuổi chiếm tới 44% Với định nghĩa của WHO, ờ châu Âu HCCH có ở 7% - 36% đàn ông và 5% - 22% phụ nữ độ tuổi 4 0 - 5 5 Nghiên cứu tại Hồng Kông đã xác định tỷ lệ HCCH ở các đối tượng ừong độ tuổi lao động theo 3 tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NCEP và EGIR Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc HCCH dao động từ 8,9% đến 13,4% tuỳ theo tiêu chuẩn chẩn đoán Tỷ lệ mắc cũng tăng dần theo độ tuổi và có sự khác biệt giữa nam và

nữ ở nhóm dưới 50 tuổi, HCCH gặp ở nam nhiều hơn ở nữ nhưng từ lứa tuổi

50 trở đi thì nữ lại gặp nhiều hơn nam Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông cho biết tỷ lệ mắc tăng từ 3,1% ờ lứa tuổi 25 - 29 đến 41% ở tuổi trên 70 Còn

tỷ lệ mắc chung sau khi đã điều chỉnh tuổi và giới là 21,1% Nghiên cứu dân

cư thành thị ở Ấn Độ sử dụng theo tiêu chuẩn NECP thì tỷ lệ HCCH là 41,1% trong đó yếu tố HDL-C thấp chiếm tỷ lệ cao nhất (65,5%), sau đó là yếu tổ huyết áp (55,4%), thấp nhất là dấu hiệu rối loạn đường máu khi đói (26,7%)

M ột nghiên cứu cắt ngang ở Venezuela đã đánh gía trên 3108 đối tượng từ 20

Trang 17

tuổi trở lên cho biết tỷ lệ mắc HCCH theo NECP là 31,2% trong đó tỷ lệ nam cao hơn nữ Tỷ lệ mắc tăng lên theo tuổi cùng với mức độ béo phì Tỷ lệ này thấp hơn ở đàn ông da đỏ (17%) so với đàn ông da đen (27,2%), da trắng (33,3%) và đàn ông lai nhưng không có sự khác biệt nào ở nữ Nhìn chung, các yếu tố HDL-C (65,3%), béo bụng (42,9%) và yếu tố huyết áp (38,1%) là thường gặp nhất trong HCCH Cách sống không lành mạnh cũng làm tăng nguy cơ của triệu chứng này Nhiều nghiên cứu khác ờ Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Hy Lạp cũng đều cho biết tỷ lệ mắc tương tự, tỷ lệ gặp ở nam nhiều hơn nữ Tuy nhiên, nghiên cứu ở Iran cho kết quả ngược lại về tỷ lệ mắc theo giới Ở đây, tỷ lệ mẵc ở nữ lại cao hơn hẳn nam giới (tỷ lệ tương ứng là 42%

và 24%) [10],[22],[46]

1.2.1.3 Các bệnh mãn tính không lây

Theo báo cáo của WHO cho biết trên thế giới số người mắc đái tháo đường type 2 tăng lên nhanh chóng, đang trở thành gánh nặng về chi phí y tế Tại khu vực châu Á, qua thống kê của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cho thấy tại các nước Thái Lan, Hồng Kông, Hàn quốc, Singapore, Indonesia

có tỷ lệ đái tháo đường từ 3% đến trên 10% Bệnh tim mạch đang là nguyên nhân hàng đầu của mắc bệnh và tử vong không những ở các nước phát triển

mà ngay cả các quốc gia đang phát triển Ngàymay, những hiểu biết mới đây cho thấy một trong những vấn đề thời sự nhất của vấn đề sức khỏe tim mạch

là mối liên quan với hội chứng chuyển hoá, vấn đề dinh dưỡng - lipid Tình trạng rối loạn lipid máu được xem là một triệu chứng thường xuyên của hội chứng chuyển hóa cũng như của các bệnh đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp Rối loạn lipid máu là hậu quả của nhiều nguyên nhân kết họp, có nguyên nhân khó có thể điều chỉnh như yếu tố gia đình, di truyền Tuy nhiên, dinh dưỡng đóng một vai trò đáng kể và dinh dưỡng hợp lý góp phần quan trọng trong dự phòng các rối loạn dinh dưỡng - lipid [22],[44],[57]

Trang 18

Cả châu Á có khoảng 62 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (1998) và tăng lên

130 triệu người vào năm 2010 Các nước châu Á sẽ đứng đầu về tốc độ phát triển bệnh ĐTĐ trên thế giới Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh nhanh chóng

là do mức độ đô thị hoá nhanh, sự di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị nhiều, sự thay đổi về lối sống công nghiệp, giảm hoạt động chân tay, kinh tế tăng trưởng nhanh, dinh dưỡng được cải thiện tốt

Có 3 yếu tố liên quan nhiều nhất không chỉ đến tình hình phát triển bệnh đái tháo đường mà còn là yếu tố nguy cơ chung của các bệnh ung thư, bệnh tim mạch và bệnh hô hấp mạn tính, đó là thói quen hút thuốc lá, chế độ ăn không khoa học, giảm hoạt động thể lực Các biến chứng do các bệnh này là nguyên nhân chính gây ốm và 50% các nguyên nhân gây tử vong [5],[42],[43]Ngày càng nhiều lý do khiến người ta lo về bệnh ĐTĐ và các biến chứng của bệnh, hàng năm có 17 triệu người tử vong do các biễn chứng bệnh tim, bệnh mạch máu ngoại vi và đột quỵ, 1 triệu người phải lọc máu do biến chứng suy thận của bệnh ĐTĐ, cứ 30 giây lại có 1 người ĐTĐ có biến chứng bàn

ì

I

Trang 19

chân bị cắt cụt chi Trung bình người mắc bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi 40 mất đi 10 nấm sống lý tưởng Ngân sách cho ngành y tế của các quốc gia trung bình mất khoảng 5% - 10% cho điều trị trực tiếp bệnh nhân ĐTĐ [61],[63],[67].

- Phân loại đái tháo đường

+ Đái tháo đường type 1

Trước đây gọi ĐTĐ phụ thuộc Insulin hoặc ĐTĐ ở người trẻ Hệ thống miễn dịch của cơ thể sinh ra kháng thể chống lại và phá huỷ tế bào p của tuyến tụy tiết ra insulin Sự thiếu hụt insulin hoàn toàn dẫn đến tăng glucose máu và thường dẫn đến những biến chứng lâu dài ĐTĐ type 1 là một trong những bệnh nguy hiểm và phổ biến nhất ở lứa tuổi trẻ Theo thống kê từ các bệnh viện tại Việt Nam tỷ lệ người mắc ĐTĐ type 1 vào khoảng 7% - 8% tổng số loại ĐTĐ [1],[2],[6]

+ Đái tháo đường type 2

Đây là thể loại ĐTĐ được ghi nhận là chịu nhiều tác động của yếu tố môi trường, xã hội ĐTĐ type 2 chiếm tới 85% - 95% tổng số các loại ĐTĐ Trước đây ĐTĐ type 2 còn được gọi là ĐTĐ không phụ thuộc Insulin và ở người lớn, nhưng gần đây có nhiều trường hợp mắc bệnh này ở lứa tuổi trẻ, điều này báo động tình trạng gia tăng nhanh chóng của bệnh do lối sống thay đổi quá nhanh [3]

Sự gia tăng số người mắc bệnh ĐTĐ type 2 có liên quan tới các vấn đề kinh tế xã hội và nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 tăng theo tuổi, ít hoạt động thể lực, béo phì, ăn quá nhiều năng lượng và kết hợp với yếu tố di truyền, ở nhóm người cao tuổi tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 7% - 10% so với cộng đồng chung Ngoài ra số người cao tuổi mắc bệnh ĐTĐ chưa biết mình bị mắc bệnh và chưa điều trị gì khoảng 10% Nền kinh tế càng phát triển, đời sống ờ mức cao

sẽ làm gia tăng tỷ lệ người mắc ĐTĐ type 2 Bệnh thường gặp nhiều hơn ờ

Trang 20

những phụ nữ có tiền sử ĐTĐ lúc có thai, người có buồng trứng đa nang, người bị tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và tàn suất mắc bệnh khác nhau ở các chủng tộc người khác nhau [4],[5],[7],[16].

+ Các thể đái tháo đường hiếm gặp

ĐTĐ thai nghén: là dạng ĐTĐ chỉ khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong thòi kỳ người phụ nữ mang thai và tình trạng đường huyết trở lại bình thường sau khi người phụ nữ đã sinh nở khoảng 6 - 8 tuần

ĐTĐ khởi phát ở người trẻ tuổi: Được gọi là thể MODY thể này chiếm khoảng 5% người bệnh ĐTĐ type 2 Đặc điểm lâm sàng là bệnh khởi phát sớm trước 25 tuổi, glucose máu tăng ở mức độ nhẹ

ĐTĐ và điếc di truyền từ mẹ: Do đột biến gen HLA ty thể người bệnh điếc kết hợp với ĐTĐ, bệnh chỉ có mẹ truyền cho con

ĐTĐ do thuốc và hoá chất [3]

1.2.2 Tinh hình nghiên cứu về rối loạn dinh dưỡng ở Việt Nam

Tại Việt Nam đời sống nhân ta đã được cải thiện từng bước cùng với sự thành công trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nhưng cũng tất yếu dẫn tới sự phân hóa giầu nghèo ngày càng rõ rệt Lối sống và cách ăn uống của từng nhóm dân cư trong xã hội đã có sự thay đổi đáng kể Mô hình bệnh tật cũng thay đổi: các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh có vacxin phòng bệnh ở trẻ em đã giảm nhanh, các bệnh không lây nhiễm như: béo phì, đái tháo đường, tim mạch đang có xu hướng ngày càng gia tăng

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu ở V iệt Nam cho thấy thừa cân, béo phì đang gia tăng nhanh chóng Năm 2000, cuộc tổng điều ừ a dinh dưỡng toàn quốc cho thấy tỷ lệ thừa cân ở nguời trưởng thành 45 - 49 tuổi ờ khu vực thành phố ừong toàn quốc là 9,9%, trong đó tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là những địa phương có tỷ lệ thừa cân béo phì cao Cuộc điều tra Y tế Quốc gia 2001 - 2002 do Bộ Y tế công bố cũng đã cho số liệu cảnh

Trang 21

báo sự gia tăng thừa cân, béo phì ở người trưởng thành ở nước ta cả ờ nông thôn và thành phố Ở một số đối tượng như cán bộ công chức, tỷ lệ thừa cân thậm chí lên tới 15% Điều tra năm 2004 của Viện Dinh dưỡng cũng cho thấy

tỷ lệ thừa cân, béo phì có xu hướng tăng nhanh và người bị thừa cân - béo phì

có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hoá như tăng lipid máu toàn phần, tăng cholesterol, tăng LDL-C , Rõ ràng thừa cân, béo phì đang trở thành vấn

đề sức khỏe đáng quan tâm ở nước ta [37],[38]

Các nghiên cứu về tình trạng rối loạn lipid thông qua các chỉ tiêu xét nghiệm hóa sinh đã được nhiều nhà lâm sàng đề cập tới Nghiên cứu mô tả trên 3438 bệnh nhân đến khám bệnh tại khoa khám - bệnh viện Bạch Mai cho thấy: cholesterol toàn phần ừong máu cao là 58,28%, triglycerid máu cao là 48,57%, LDL-C cao là 23,87%, HDL-C thấp là 28,08% Rối loạn lipid máu ờ bệnh nhân tai biến mạch máu não chiếm tới 70,5% bệnh nhân tại bệnh viện trung ưcmg Huế Nhiều nghiên cứu ừên các số liệu trong các bệnh viện cho thấy ở các bệnh nhân đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não đều có liên quan chặt chẽ tới tình trạng rối loạn lipid máu cũng như thừa cân, béo phì

Nghiên cứu về tình trạng rối loạn lipd máu trên người trưởng thành thực hiện tại cộng đồng còn khá ít Nghiên cứu của Phạm Thắng (2003) ừên 1.305 đối tượng từ 60 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu chiếm 47,5%, béo phì 18,3% Nghiên cứu của Viện Tim mạch Việt Nam trong cuộc điều tra

về bệnh tăng huyết áp cũng đã thu thập một số chỉ tiêu lipid máu trên các đối tượng nghiên cứu cho thấy tình trạng rối loạn lipid máu liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp và bệnh tim mạch Gần đây, nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng ở người trưởng thành, tuổi từ 25 - 64 tuổi bị thừa cân, béo phì có cholesterol toàn phần máu cao là 48,9%, triglyceriđ máu cao: 65,33%, LDL-C cao: 8,23%, HDL-C thấp: 7,22% [38] Điều này cũng thấy trên đối tượng học sinh tại Hà

Trang 22

Nội và TP Hồ Chí Minh Trong khi đó, một nghiên cửu trong Quân đội (sỹ

quan từ 30 - 60 tuổi) cho thấy thừa cân béo phì theo phân loại của WHO là

11% và theo phân loại của IDI&WPRO là 38,2 %, tình trạng này có liên quan

tới rối loạn lipid qua các chỉ tiêu cận lâm sàng cũng như liên quan tới chế độ

ăn uống và hoạt động thể lực [37]

- Các nghiên cứu về hội chứng chuyển hóa ở người Việt Nam

Tuy cho tới nay, chưa có nhiều nghiên cứu nhưng đây là vấn đề đang

được quan tâm Nghiên cứu của Nguyễn Quang Bảy, Tạ Văn Bình và cộng

sự (1999) mô tả một trường hợp được chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa tại

khoa Nội tiết - Đái tháo đường tại bệnh viện Bạch Mai Đã có một số nghiên

cứu về hội chứng chuyển hóa tại cộng đồng Năm 2003 - 2004, Lê Nguyễn

Trung Đức Sơn và cộng sự điều tra 611 ngưòi trưởng thành, trên 20 tuổi ở

thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là 12%,

tăng dần theo tuổi (tuổi 35 - 64 là 18,1%) liên quan đến tỷ lệ phần trăm mỡ và

hoạt động thể lực Nghiên cứu của Trần Văn Huy và cộng sự (2005) cho biết

tỷ lệ mắc Hội chứng chuyển hoá ở người trưởng thành tại Khánh Hoà là

15,7% theo tiêu chuẩn NCEP điều chỉnh, trong đó độ tuổi trên 54 tuổi có tỷ lệ

mắc cao nhất là 21,5%, nam gặp nhiều hơn so với nữ và dấu hiệu HDL-C thấp

gặp nhiều nhất (37%) [31],[34],[35],[38],

- Các vấn đề sức khỏe liên quan: bệnh mạn tính không lây nhiễm.

Đái tháo đường có xu hướng tăng nhanh, tỷ lệ mắc đái tháo đường là

4,4% ở khu vực thành phố, 2,7% ở khu vực đồng bằng và trên 2% ở trung du

và miền núi qua điều tra mới đây của Tạ Văn Bình và cộng sự Béo phì và

thừa cân được xác định là yếu tố nguy cơ quan trọng của đái tháo đường Nếu

như năm 1960, tỷ lệ tăng huyết áp ở miền Bắc V iệt nam là 1%, thì điều fra

mới đây của Viện Tim mạch (2001 - 2012) trên 5012 người trưởng thành trên

Trang 23

25 tuổi tại 4 tỉnh phía Bắc cho thấy, tỷ lệ tăng huyết áp là 16,3% Một nghiên cứu khác điều tra tại đồng bằng sông Cửu long cũng cho một tỷ lệ tương tự Các tác giả đều có chung một nhận xét là bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp qua điều tra đều có chung một số yếu tố nguy cơ như béo phì - thừa cân, chế

độ dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực [1],[14],[42],[45]

Rõ ràng sự gia tăng một số bệnh mạn tính không lây nhiễm ở nước ta trong thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có liên quan tới tình trạng rối loạn lipid

1.3 Phương pháp đánh giá

1.3.1 Phương pháp đánh giá thừa cân béo phì

Theo WHO thừa cân là tình trạng vượt quá cân nặng nên có so với chiều cao, còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể của lipid tới mức ảnh hưởng đến sức khỏe Có nhiều chỉ số có thể dùng đánh giá tình trạng thừa cân - béo phì Trên cộng đồng, để đánh giá mức độ thừa cân - béo phì, người ta thường dùng chi số khối cơ thể (B.M.I = Body Mass Index = w (kg) / H2 (m) dựa theo 2 cách

Trang 24

Theo tiểu ban công tác về béo phì của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình duơng và Hội Đái tháo đường Châu Á, các nguy cơ của béo phì tăng lên ở ngưỡng BMI thấp hơn so với phân loại quôc tể, do đó đã đề nghị thang phân loại sau

Thiếu năng lượng trường diễn B M I< 18,5

Tỷ số vòng eo/vòng mông cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố mỡ Do

đó chỉ số này được sử dụng để đánh giá tình ừạng béo phì Khi tỷ số vòng eo/vòng mông vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì được coi là béo trung tâm Chỉ số vòng eo/vòng mông được coi như là môt yếu tố có giá trị để đánh giá tình trạng béo bụng và bèo kiểu đàn ông có thể được xem như là một chỉ tiêu quan trọng để tiên lượng các vấn đề sức khỏe liên quan đặc biệt là bệnh tỉm mạch Tỷ lệ vòng eo/vòng mông cao đã được chấp nhận như là một phương pháp lâm sàng để xác định có tích lũy mỡ bụng Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây đã gợi ý rằng chỉ cần đo vòng bụng thôi đã có thể cung cấp một mối liên quan của sự phân bố mỡ ở bụng với các bệnh kèm theo [55],[56],[60]

Một phương pháp khác để xác định lượng mỡ cơ thể là đo tỷ lệ mỡ cơ thể dựa trên nguyên lý đo điện trở sinh học Trên cơ sở điện trờ sinh học đo được thông qua việc tiếp xúc giữa các điện cực và bàn tay/bàn chân đối tượng, máy đo sẽ tính toán % mỡ dựa vào cân nặng, chiều cao, tuổi và giới của đối tượng Phân loại béo phì theo ngưỡng > 25% đối với nam và >30% đối với nữ là béo phì [19]

Trang 25

1.3.2 Đánh giá tình trạng tăng huyết áp

Dựa theo phân loại của ESH & ESC - JNC năm 2003

Phân loại tăng huyết áp HA tối đa (mmHg) HA tối thiểu(mmHg)

1.3.3 Xác định Hội chứng chuyển hoá

Hội chứng chuyển hoá bao gồm một nhóm yếu tố, chẩn đoán dựa theo tiêu chuẩn của tổ chức NCEP ATP III, (National Cholesterol Education Program, Adult Treatment Panel III) để xác định Hội chứng chuyển hoá [3].Hội chứng chuyển hoá được xác định khi có từ 3 dấu hiệu ữ ờ lên ừong

5 dấu hiệu sau:

• Béo bụng: Vòng eo > 90 cm đối với nam và > 80cm đối với nữ

• Tryglycerid cao (>1,7 mmol/1)

• HDL-C thấp (< lmmol/1 với nam, < l,3mmol/l với nữ)

• Huyết áp (huyết áp tối đa > 130mmHg hoặc huyết áp tối thiểu > 85mmHg)

• Rối loạn Glucose máu khi đói: Glucose máu > 6,lm m ol/l)

1.3.4 Chẩn đoán đái tháo đường

1.3.4 1 X ét nghiệm sinh hoá máu

ĐTĐ được định nghĩa là hiện tượng tăng đường huyết mãn tính, do vậy nồng độ glucose trong máu được coi là một chuẩn vàng trong chẩn đoán và có giá trị cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh ĐTĐ [47],[64],[66]

Trang 26

Nồng độ glucose trong huyết tương là trị số có giá trị nhất trong chẩn đoán ĐTĐ vì nó phản ánh trung thành mức đường ở bề mặt khoang tế bào liên mô liên bào và không phụ thuộc vào hàm lượng hematocrit trong máu Tuy nhiên việc xác định nồng độ glucose huyết tương chỉ có thể thực hiện ờ

cơ sở y tế

Kỹ thuật xét nghiệm glucose bằng máu toàn phần khá đơn giản lại cho kết quả nhanh, do vậy việc xác định glucose máu toàn phần thường được sử dụng rộng rãi trong các điều tra dịch tễ học ĐTĐ và trong theo dõi đường huyết của các bệnh nhân bị ĐTĐ Có nhiều phương pháp xác định nồng độ glucose máu toàn phần nhưng đơn giản nhất là đo đường huyết mao mạch bằng máy chích tại chỗ Người bình thường có nồng độ glucose máu toàn phần thay đổi trong khoảng 3,3 - 5,6 mmol/1 và glucose huyết tương thay đổi

từ 3,9 - 6,7 mmol/1

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)1999-WHO/NCD/NCS/99,2 [3],

Đánh giá kết quả xét nghiệm glucose máu (mao mạch, toàn phần)

+ Glucose máu lúc đói = 6,1 mmol/1: chẩn đoán ĐTĐ

hoặc glucose máu sau 2 giờ > 11,1 mmol/1: chẩn đoán ĐTĐ

+ N ếu glucose lúc~đór=^5,6mmol/l và < 6,lmmol/l: xác định có rối loạn glucose máu lúc đói và glucose máu sau 2 giờ < 7,8mmol/l: chẩn đoán “Rối loạn glucose máu lúc đói” (RLĐHLĐ)

+ Nếu glucose máu lúc đói <6, 1 mmol/1: xác định có rối loạn glucose máu lúc đói và glucose máu sau 2 giờ > 7,8 mmol/1 và < 11,0 mmol/1: Chẩn đoán “Rối loạn dung nạp glucose” (RLDNG) [54],[66],

1.3.4.2 X ét nghiệm nước tiểu

Ở người khoẻ mạnh không có glucose trong nước tiểu Ngưỡng đường trung bình của thận từ 9 - 10 mmol/1 Khi glucose tăng cao vượt quá ngưỡng

Trang 27

của thận sẽ xuất hiện glucose trong nước tiểu Nồng độ glucose < 0,5 mmol/1 trong nước tiểu 24h được xem là bình thường Ở bệnh nhân ĐTĐ nồng độ glucose đào thải qua nước tiểu đạt giá trị 200 - 250 mmol/l/24giờ Glucose xuất hiện trong bệnh ĐTĐ và một số tình trạng bệnh lý ngoài thận như: đái tháo thận, cường giáp, cường tuyến yên, u não, xuất huyết não Vì vậy, xét nghiệm glucose niệu ít có giá trị trong chẩn đoán xác định.

Tuy nhiên, kỹ thuật xét nghiệm glucose niệu khá đon giản nên glucose niệu được sử dụng nhiều ừong định hướng chẩn đoán và rất có giá trị khi được làm đồng thời với glucose máu [3]

1.3.4.3 Triệu chứng và dấu hiệu lảm sàng của bệnh đái tháo đường

Các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh ĐTĐ là ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sút cân (có khi sút hàng chục cân trong vài tháng) kèm theo bệnh nhân mệt mỏi, suy nhược

Các biểu hiện này thường xuất hiện rầm rộ và điển hình ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 Ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 các triệu chứng này thường tiến triển một cách âm thầm, kín đáo, tăng dần theo thời gian Việc chẩn đoán ĐTĐ sẽ

dễ dàng khi bệnh nhân hội tụ đủ những triệu chứng lâm sàng điển hình: uống nhiều, đái nhiều, gầy sút cân, ăn nhiều, mệt mỏi Tuy nhiên, khi đã hội tụ đủ những triệu chứng lâm sàng kinh điển thì bệnh nhân mắc ĐTĐ đã ở giai đoạn muộn Trên 70% các trường hợp phát hiện được bệnh là nhờ xét nghiệm máu trong cuộc khám sức khoẻ định kỳ hoặc đi khám các bệnh khác như: u xơ tiên liệt tuyến, áp xe, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhồi máu cơ tim, viêm quanh răng, viêm phổi Do vậy các triệu chứng của biến chứng nhiều khi là những dấu hiệu lâm sàng để chẩn đoán bệnh ĐTĐ [3],[8],[9],[12]

1.4 Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân.

Theo ước tính, nước ta hiện có 4,5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường nhưng nhận thức của cộng đồng về căn bệnh nguy hiểm này còn thấp, trong

đó 65% số người bệnh không biết mình mắc bệnh, 79% số người bệnh khi nhập viện đã chuyển sang giai đoạn biến chứng

Trang 28

Những nghiên cứu về dịch tễ học và những tiến bộ trong hiểu biết về bệnh đái tháo đường type 2 ngày nay đã chứng minh bệnh có thể ngăn ngừa được khi can thiệp vào yếu tố nguy cơ, đặc biệt là sự thay đổi lối sống đã thu được những kết quả đáng khích lệ.

Nghiên cứu Malmihus ở Thuỵ Điển, với sự tham gia của 267 nam giới Nghiên cứu này so sánh 265 nam giới được hướng dẫn chế độ ăn và luyện tập

so với nhóm chứng không có sự hướng dẫn, quản lý của thầy thuốc về chế độ

ăn uống, luyện tập Sau 5 năm, tỷ lệ dẫn tới các yếu tố nguy cơ dẫn tới đái tháo đường type 2 giảm 59% Từ sau nghiên cứu này, người ta có cơ sở tiến hành các nghiên cứu lớn hơn, công phu hơn cho người đái tháo đường type 2.Theo đánh giá của Bệnh Viện Nội tiết Trung Ương, qua điều tra đánh giá năm 2011 thì kiến thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ còn rất thấp Chỉ có 0,4% số người tham gia điều tra có kiến thức tốt về bệnh, 5,1% trung bình khá, còn lại là hiểu biết rất thấp [22],[46],[65]

Theo Phạm Thị Mỹ Hạnh điều ừa tại thành phố Thái Bình, năm 2004, số người mắc bệnh đái tháo đường mới được phát hiện qua đợt điều tra chiếm tỷ

lệ 76,2% tổng số bệnh nhân đái tháo đường [18]

Theo Trần Thị Lưu điều tra tại thành phố Ninh Bình, năm 2011, số người mắc bệnh đái tháo đường mới được phát hiện qua đợt điều tra chiếm tỷ

lệ 80,9% tổng số bệnh nhân đái tháo đường [24]

Theo TS Đỗ Trung Quân nghiên cứu về "bệnh béo phì” : khi phỏng vấn những hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường thì chi có 36,3% có biết, còn 63,7% không biết gì về đái tháo đường Trong số những người có biết về các yếu tố nguy cơ gây đái tháo đường chỉ có (21,3%) biết được từ 3 yếu tố nguy cơ trở lên, (37,1%) biết 2 yếu tố, (41,6%) chi biết có một yếu tố nguy cơ Các yếu tố nguy cơ nhiều người biết đến là: ăn đồ ngọt,

ăn thịt mỡ, béo phì, còn các yếu tố nguy cơ khác ít ai biết đến về phòng bệnh đái tháo đường có 39,5% số người được phỏng vấn cho là phòng được, song

Trang 29

những hiểu biết về phòng bệnh đái tháo đường chủ yếu là hạn chế ăn uống đồ ngọt, thịt mỡ, còn lại 60,5% không biết.

Theo Nguyễn Thị Thu Thảo và Nguyễn Thanh Minh: trong y văn đi chân trần là yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bàn chân, có tới 75,2% bệnh nhân đái tháo đường thường xuyên đi chân trần Tương tự như ngâm chân vào nước nóng ở bệnh nhân ĐTĐ là một thói quen xấu Do biến chứng thần kinh ở bệnh nhân ĐTĐ làm giảm đi cảm giác nóng lạnh dễ đưa đến bỏng chân khi ngâm chân vào nước nóng, đôi khi phải cắt bỏ chi, có tới 11,2% bênh nhân ĐTĐ thuộc đối tượng nghiên cứu có thói quen này

Có đến 36,6% bệnh nhân "thường xuyên” uống thuốc không đều, bỏ uống thuốc hoặc tiêm insulin nhiều ngày do quên hoặc không có điều kiện mua thuốc hoặc không thấy cơ thể có triệu chứng bất thường

Tương tự trong thực tế lâm sàng, chúng ta cũng rất hay gặp bệnh nhân tự điều chỉnh liều thuốc, đến khi bệnh nặng, suất hiện nhiều biến chứng bệnh nhân mới đến lại cơ sở y tế Tỷ lệ bỏ điều trị là 31,7% và tự điều chỉnh liều thuốc là 29,2% [24],[27],[28],[32]

Ở bệnh nhân đái tháo đường, hút thuốc lá sẽ làm gia tăng đột quy, do đó ngưng thuốc lá là phương thức điều trị bắt buộc bệnh nhân phải tuân thủ Trong

161 bệnh nhân được phỏng vấn chỉ có bệnh nhân nam hút thuốc lá, không có bệnh nhân nữ nào hút thuốc lá, tỷ lệ nam hút thuốc lá chiếm tới 82,3%

Dinh dưỡng trong đái tháo đường đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát đường huyết Bệnh nhân đái tháo đường cần phải kiêng tối đa các loại đường hấp thu nhanh như mứt, bánh ngọt, kẹo, nước ngọt Có đến 88,2% bệnh nhân có ăn đường hấp thu nhanh [20],[23],[36],[37]

Luyện tập thể lực là biện pháp điều trị bắt buộc trong điều trị bệnh đái tháo đường Luyện tập thể lực đều đặn sẽ làm giảm đề kháng insulin, giảm cân, giúp ổn định đường huyết, huyết áp, mỡ máu, giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái, lạc quan yêu đời hơn Tuy nhiên theo điều tra, chỉ có 16,8% bệnh nhân có luyện tập thể lực ít nhất 150 phút/tuần [4]

Trang 30

Bệnh nhân đái tháo đường nếu biết tự tiêm insulin đúng cách sẽ giúp kiểm soát tốt đường huyết, hạn chế được các biến chứng như hạ đường huyết Trong nghiên cứu này có 30 bênh nhân phải tiêm insulin nhưng chi có 36,6% trong số đó biết tự tiêm insulin.

Sự khác nhau giữa các nghiên cứu về tỷ lệ bệnh không được phát hiện phụ thuộc vào tính ngẫu nhiên khi chọn mẫu, tình hình mắc bệnh, lứa tuổi điều tra, test

sử dụng để điều tra, nhận thức của cộng đồng, chất lượng của mạng lưới y tế

Sở dĩ tỷ lệ mắc đái tháo đường không được chuẩn đoán trong cộng đồng cao như vậy vì ở Việt Nam việc khám sức khoẻ của người dân không được tiến hành thường xuyên, định kỳ Mặt khác nhận thức của người dân về bệnh còn nghèo nàn và chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này Nhiều người sau khi được thông báo bị bệnh đái tháo đường vẫn không tin mình mắc bệnh vì đon thuần người bệnh không có bất cứ triệu chứng lâm sàng điển hình nào (ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều) Bệnh đái tháo đường không có triệu chứng thường diễn ra rất lâu trước khi xuất hiện các triệu chứng điển hình (thường

có trước 7 - 1 0 năm) Khi phát hiện được bệnh trên lâm sàng thì có thể bệnh

đã ở giai đoạn muộn, thường kèm theo biến chứng [6],[7],[11],[16]

Qua số liệu điều tra cho thấy, những khó khăn lớn của những người làm công tác dự phòng còn đang ở phía trước Việc phòng chống các bệnh không lây nói chung và bệnh đái tháo đường nói riêng chỉ có thể thành công khi mỗi người đặc biệt là người ờ nhóm nguy cơ cao, nhận thức sâu sắc mối nguy hiểm của bệnh tật và tự giác thực hiện các biện pháp phòng bệnh Do đó, trong thời gian tới cần tăng cường các hoạt động tuyên truyền chung cho cộng đồng nhất là cho những người có nguy cơ cao trong cộng đồng

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại hai xã thuộc huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định là xã Thành Lọi và xã Tam Thanh

Nam Định là tỉnh thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, là tình nghèo trong cả nước Huyện Vụ Bản là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Nam Định Bắc giáp huyện Mỹ Lộc và thành phố Nam Định Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam Tây Nam và Nam giáp huyện Ý Yên Đông giáp huyện Nam Trực, ranh giới là con sông Ninh Cơ Diện tích: 147,7km2 Dân số: 129.800 người M ật độ: 879 người/km2 Bao gồm: Thị trấn Gôi và 17 xã Giao thông huyện khá thuận lợi Quốc lộ 10 đi qua thị trấn Gôi nổi liền huyện Vụ Bản với thành phố Nam Định, Ninh Bình Tỉnh lộ 56 và 486 đi các xã trong huyện và các huyện lân cận

Xã Thành Lợi và xã Tam Thanh là hai xã thuần nông có cùng điều kiện kinh tế Xã Thành Lợi gồm 25 xóm với tổng số người cao tuổi trong xã là

1536 người, Xã Tam Thanh gồm 8 xóm với tổng số người cao tuổi trong xã là

966 người

2.1.2 Đổi tượng nghiên cứu

Là những người từ 60 tuổi ừ ờ lên có thời gian sống trên địa bàn nghiên cứu từ 1 năm trờ lên tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2011 (sinh từ năm 1951 trờ

về trước)

Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bị câm điếc, bị rối loạn tâm thần, không có khả năng hợp tác trả lời phỏng vấn

Trang 32

- Người quá già yếu.

- Người không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không hợp tác nghiên cứu đầy đủ

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6/2011 đến tháng 12/2011

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này được thiết kế theo nghiên cứu dịch tễ học mô tả có phân tích qua một cuộc điều ừa cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hóa ở người cao tuổi thông qua xét nghiệm sàng lọc định lượng đường máu tĩnh mạch, lipid máu, đo huyết áp khám lâm sàng và mô

tả kiến thức, thực hành của NCT về phòng chống bệnh đái tháo đường

Cỡ mẫu nghiên cứu

* Cỡ mẫu cho xác định tỷ lệ đái thảo đường ở người cao tuổi như sau:

\ SP )

Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu

Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì z (-0/2) = 1, 96

p: Là tỷ lệ ĐTĐ ở người cao tuổi qua nghiên cứu Phạm Khuê là 0,055

Trang 33

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu tính theo công thức

Z: Độ tin cậy ờ ngưỡng a = 0,05, tra bảng ta có Z(I.0/2) = 1,96

- Chọn huyện: Chủ đích chọn huyện Vụ Bản là huyện có điều kiện kinh

tế, văn hóa, xã hội thuộc diện trung bình trong tinh

- Chọn xã: Tại huyện Vụ Bản trong tổng số 18 xã của huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Chúng tôi chủ động chọn xã Tam Thanh và xã Thành Lợi

- Chọn đối tượng nghiên cứu:

Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Tổng số NCT hai

xã là 2502 người trong đó xã Thành Lợi có 1536 người, xã Tam Thanh có 966 người Như vậy khoảng cách k sẽ là:

K = n = 4 1 7 = 6Chọn ngẫu nhiên người đầu tiên vào nghiên cứu từ 1 đến 6 (chúng tôi chọn được số 3) Sử dụng hệ số k để chọn đối tượng cho từng xã và người tiếp theo là 3+ k]+ k2 .kn

Như vậy trong tổng số 417 người cao tuổi chọn vào nghiên cứu thì xã Thành Lợi có 256 người, xã Tam Thanh có 161 người Kết quả chọn mẫu như sau:

Trang 34

Tất cả NCT chọn vào nghiên cứu đều được các cộng tác viên y tế gửi giấy mời đến trạm y tế xã và dặn dò không ăn sáng trước khi làm xét nghiệm Các đối tượng nghiên cứu đều được phân tích về nội dung nghiên cứu của đề tài, ký bản cam kết tự nguyện tham gia đề tài.

- Nhóm biến số về thông tin đối tượng nghiên cứu

+ Tuổi: Theo nhóm (60 - 69 tuổi, 70 - 79 và > 80 tuổi)

+ Kiến thức và thói quen ăn uống,

- Nhóm biến số về đường máu, lipid máu

- Các yếu tố liên quan

- Biến về kiến thức

- Biến thực hành

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tinkỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

- K ỹ thuật xét nghiệm máu định lượng đường máu, máu.

Các xét nghiệm được tiến hành tại ừạm y tế các xã nghiên cứu, do các bác sỹ bộ môn sinh hóa trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đảm nhiệm.+ Chuẩn bị bệnh nhân: Tất cả bệnh nhân lấy máu xét nghiệm được thông báo những điều cần làm trước khi lấy máu ít nhất một ngày và ký cam kết tự nguyện lấy máu làm xét nghiệm

Trang 35

+ Phương pháp lấy mẫu máu: Lấy 2ml máu tĩnh mạch của bệnh nhân vào buổi sáng khi bệnh nhân chưa ăn sáng, ly tâm 5000 vòng/10 phút, tách huyết thanh, định lượng đường máu, lipid máu trong vòng 2 giờ sau khi tách huyết thanh ngay tại trạm y tế xã.

Không đưa vào xét nghiệm mẫu máu bị vỡ hồng cầu mà phải lấy máu xét nghiệm lại những trường hợp này ngay vào sáng ngày hôm sau

+ Nguyên lý định lượng đường máu: Đo mật độ quang của phức màu ở bước sóng 546nm

+ Kỹ thuật tiến hành: Định lượng đường máu, lipid máu được thực hiện trên máy tự động Biosystem A25 sử dụng hóa chất của hãng Biosystem Tiến hành cho máy chạy đo hàm lượng đường máu, lipid máu ờ bước sóng 546nm.+ Đọc kết quả theo đơn vị mmol/1 ữên màn hình

- Xác định cân nặng

Sử dụng cân SECA (độ chính xác 0,0 lkg) Trọng lượng cơ thể được ghi theo kg với 1 số lẻ Cân đối tượng vào buổi sáng khi chưa ăn uống gì và đã đi đại tiểu tiện Khi cân chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bố đều cả hai chân Cân được đặt ở vị trí ổn

đ ịn h v à bằng phẳng

- Đo chiều cao, vòng eo, vòng mông, huyết áp

+ Đo chiều cao đứng bằng thước gỗ sản xuất theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ,

có độ chia chính xác tới milimét Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai, đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằm ngang Hai tay bỏ thõng theo hai bên mình Kéo cái chặn đầu của thước từ trên xuống, khi

áp sát đến đỉnh đầu nhìn vào thước đọc kết quả Chiều cao được ghi theo cm

và 1 số lẻ

Trang 36

+ Đo vòng eo và vòng mông: Đo bằng thước dây không co giãn, kết quả được ghi theo cm với một số lẻ Vòng eo đo ở mức ngang rốn, tưong ứng với điểm giữa của bờ dưới xương sườn cuối với bờ trên mào chậu trên đường nách giữa Vòng mông đo tại vùng to nhất của mông Đối tượng chỉ mặc quần lót, đứng tư thế thoải mái, các vòng đo ở mặt phẳng nằm ngang Tỷ sổ vòng eo/vòng mông được coi là cao khi giá trị này > 0,8 đối với nữ, > 0,9 đổi với nam.

+ Đo huyết áp: Dụng cụ sử dụng là máy huyết áp kế thủy ngân Đối tượng được nghỉ ngơi trước khi đo 15 phút, đo huyết áp 2 lần cách nhau 2 phút Kết quả được ghi theo đơn vị mmHg số đo huyết áp của đối tượng sẽ được tính là kết quả trung bình của 2 lần đo Nếu kết quả huyết áp giữa 2 lần đo chênh lệch nhau >10 mmHg thì phải đo lại lần thứ ba sau 15 phút, và kết quả được tính là số đo huyết áp của lần thứ 3

- Khám lâm sàng: Bởi các bác sỹ chuyên khoa: Với các chỉ tiêu về cơ năng và

thực thể các bệnh xương khớp và các bệnh nội khoa khác kèm theo, ghi nhận các loại bệnh theo phân loại bệnh tật quốc tế (ICD10)

- Phỏng vấn trực tiếp N C T về Hen thức và thực hành theo bộ câu hỏi

Việc phỏng vấn được tiến hành theo phương pháp điều tra kiến thức - thái độ - thực hành Trực tiếp phỏng vấn từng người một theo nội dung bộ câu hỏi được soạn sẵn Bộ câu hỏi được hoàn thiện sau điều tra thử

Điều tra viên là người trực tiếp thu thập số liệu, họ là người có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của cuộc điều tra, nên tiêu chuẩn đã chọn là người khỏe mạnh, có tinh thần trách nhiệm, trung thực, có nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp tốt

Phương pháp ghi chép phiếu và kiểm tra kết quả ghi chép phiếu: Cách ghi chép phiếu là công việc cơ bản mà điều tra viên phải làm, có ảnh hường trực tiếp đến chất lượng điều fra nên được tập huấn kỹ Trong quá trình tập

Trang 37

huấn đã hướng dẫn cho điều tra viên phương pháp kiểm tra lôgic giữa các câu hỏi và kết hợp làm thử, đóng vai phỏng vấn theo bộ câu hỏi để sửa chữa, bổ sung kịp thời, nếu chưa đạt thì phải tập huấn lại.

- Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp

Bảng 2 Phân loại huyết áp theo JNC (năm 2003)

Phân loại huyết áp HA tối đa (mmHg) HA tối thiểu (mmHg)

Tăng HA giai đoạn 1 1 4 0 -1 5 9 9 0 - 9 9

Chẩn đoán tăng huyết áp khi huyết áp tối đa > 140 mmHg và/hoặc huyết

áp tối thiểu > 90 mmHg Tăng huyết áp tâm thu đơn độc khi huyết áp tối đa >

140 mmHg và huyết áp tối thiểu < 90 mmHg (hoặc những người đang điều trị tăng huyết áp)

- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng: theo chi số BM I

BMI được tính theo công thức:

Trang 38

với Viện Nghiên cứu Bệnh đái tháo đường quốc tế (IDI) đề ra tiêu chuẩn phân loại thừa cân béo phì dành cho người trưởng thành Châu Á.

Phân loại

BMI của người châu Âu BMI của ngưòi châu Á

Trang 39

Bảng 2 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái thảo đường của Tổ chức Y

Nồng độ đường máu (mmol/I (mg/dl)}

<10,0 (<180)

>7,8 (>140) và

<11,1 (<200)

>7,8 (>140) và

<11,1 (<200

>8,9 (>160) và

<12,2 (<220)

Rối loạn đưòng máu khi đói (IFG)

Đường khi đói

(sau ăn 8 giờ)

>5,6 (>100) và

<6,1 (<110)

>5,6 (>100) và

<6,1 (<110)

>6,1 (>110) và

<7,0 (<126)

>6,1 (>110) và

Trang 40

Bảng 2.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn máu

Hội chứng chuyển hóa

Theo NCEP ATP III: Bệnh nhân có 3 trong 5 tiêu chuẩn sau

- Glucose máu khi đói: > 5,6mmol/l

- Huyết áp: > 130/85 mmHg

- Triglycerid: >1,7 mmol/1

- HDL-C: <1 mmol/1 ở nam, <1,3 mmol/1 ở nữ

- Béo bụng (sử dụng khuyến nghị dành cho người châu Á: nam > 90cm

Nếu số liệu phân bố chuẩn sẽ sử dụng các test thống kê tham số: Test t cho kiểm định sự khác nhau giữa 2 giá trị trung bình, test ANOVA (F test) cho kiểm định sự khác nhau giữa nhiều giá trị trung bình

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Đào Thị Dừa (2011), "Kiểm soát chuyển hóa bệnh nhân đái tháo đường điều trị nội trú tại bệnh viện trung ương Huế", Tạp Y họcViệt Nam, 2(382), tr. 70-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát chuyển hóa bệnh nhân đái tháo đường điều trị nội trú tại bệnh viện trung ương Huế
Tác giả: Đào Thị Dừa
Năm: 2011
13. Đào Thị Dừa (2011), "Khảo sát một số yếu tổ nguy cơ tim mạch ờ bệnh nhân đái tháo đường", Tạp Y học Nam, 1(382), tr. 66-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số yếu tổ nguy cơ tim mạch ờ bệnh nhân đái tháo đường
Tác giả: Đào Thị Dừa
Năm: 2011
14. Viên Văn Đông, Đồng Văn Thành và Nguyễn Thị Hồng Vân (2011), "Tìm hiểu tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucose ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói", Tạp chí Y học thực hành, 4(759), ừ. 74-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucose ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói
Tác giả: Viên Văn Đông, Đồng Văn Thành và Nguyễn Thị Hồng Vân
Năm: 2011
15. Châu Minh Đức, Phạm Thị Mai và Đặng Vạn Phước (2006), "Rối loạn chuyển hóa lipid và lipoprotein máu ở bệnh nhân đái tháo đường", Tạp chỉ Y học thực hành, 2, tr. 78-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn chuyển hóa lipid và lipoprotein máu ở bệnh nhân đái tháo đường
Tác giả: Châu Minh Đức, Phạm Thị Mai và Đặng Vạn Phước
Năm: 2006
16. Đỗ Thanh Giang(2006), Tỉnh hình mắc bệnh đái tháo đường ở người30 -64 tuồi và một sổ yếu tổ liên quan nông thôn tình Thái Bình năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh hình mắc bệnh đái tháo đường ở người
Tác giả: Đỗ Thanh Giang
Năm: 2006
17. Bùi Thị Hà (2010), "Nhận xét đặc điểm-lâm sàng bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị nội trú tại bệnh viện Hữu Nghị V iệt Tiệp Hải Phòng", Tạp chí Y học Việt Nam, 1(378), ừ. 28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét đặc điểm-lâm sàng bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị nội trú tại bệnh viện Hữu Nghị V iệt Tiệp Hải Phòng
Tác giả: Bùi Thị Hà
Năm: 2010
18. Phạm Thị Mỹ Hạnh (2004), Tinh hình bệnh đái tháo đường ở người 30 -7 4 tuổi và một số yểu tố liên quan tại thành p h ố Thái Bình, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hình bệnh đái tháo đường ở người 30 -74tuổi và một số yểu tố liên quan tại thành p h ố Thái Bình
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2004
19. Lê Thị H ợp và Lê Danh Tuyên (2011), "Thống nhất về phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng nhân frac học", Tạp Dinh dưỡng và thực phâm , 7(2), tr. 1-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống nhất về phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng nhân frac học
Tác giả: Lê Thị H ợp và Lê Danh Tuyên
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w