Theo tổ chức y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và 5% là chất thải gây độc như chất thải phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIÊN ĐA KHOA XANH PÔN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
HẢI DƯƠNG, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIÊN ĐA KHOA XANH PÔN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: Cử nhân Điều dưỡng
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS NINH VŨ THÀNH
HẢI DƯƠNG, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện, tất cả những số liệu
do chính tôi thu thập và xử lý Tôi xin đảm bảo tính khách quan, trung thực của các số liệu và kết quả xử lí số liệu trong nghiên cứu, kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với đề tài nghiên cứu này
Hải Dương, Tháng 7 năm 2015 Sinh Viên
Nguyễn Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến
nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của Quý thầy cô, gia
đình và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu
trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương đã cho em có một môi trường học
tập, rèn luyện bổ ích, đầy tính chuyên nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Đốc bệnh viện, Phòng
Điều dưỡng và 98 điều dưỡng viên bệnh viện đa khoa Xanh Pôn đã giúp đỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô trong khoa Điều dưỡng-Trường
Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình
truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập
tại trường
Và đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
Ths.Ninh Vũ Thành- người thầy trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt
quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
Cuối cùng, Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn là chỗ
dựa tinh thần và là động lực cho em cố gắng trong học tập cũng như trong
cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Dương, tháng 7 năm 2015 Sinh viên
Nguyễn Thị Hương
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Chất thải y tế 3
1.1.1 Khái niệm CTYT 3
1.1.2 Phân loại và xác định CTYT 3
1.2 Đặc trưng của CTRYT 5
1.2.1 CTRYT thông thường 6
1.2.2 CTRYT nguy hại 10
1.2.2.1 Phát sinh CTRYT nguy hại 10
1.3 Tác hại và nguy cơ của CTRYT 12
1.3.1 Đối với môi trường 12
1.3.2 Đối với sức khỏe 12
1.3.3 Tác hại và nguy cơ của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới 15
1.3.4 Tác hại và nguy cơ của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam 16
1.4.1 Nguyên tắc thu gom CTYT 16
1.4.2 Tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển CTR trong các CSYT 17
1.5 Quản lý CTRYT 21
1.5.1 Cơ sở pháp lý 21
1.5.2 Thực trạng quản lý CTRYT 22
1.6 Một số nghiên cứu liên quan 25
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu ngang 27
2.2.2 Cỡ mẫu 27
Trang 72.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 27
2.2.4 Biện pháp hạn chế sai số: 29
2.2.5 Người thu thập số liệu 29
2.2.6 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.2.7 Đạo đức nghiên cứu 30
2.2.8 Xử lý và phân tích số liệu: 31
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: 33
3.2 Kiến thức của điều dưỡng viên về phân loại CTYT 35
3.2 Thực trạng phân loại CTYT của điều dưỡng viên : 42
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 46
KẾT LUẬN 53
KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 57
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 7
Bảng 1.2: Lượng phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 8
Bảng 1.3: Thành phần CTRYT 10
Bảng 1.4: Sự biến động về khối lượng CTYT nguy hại phát sinh tại các CSYT khác nhau 11
Bảng 2.1:Nội dung nghiên cứu 31
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới: 33
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi: 33
Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ: 34
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thâm niên công tác: 34
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khoa công tác 35
Bảng 3.6: Tỷ lệ điều dưỡng viên đã được tập huấn về phân loại CTRYT: 35
Bảng 3.7: Thái độ của điều dưỡng về tầm quan trọng của phân loại CTRYT 36 Bảng 3.8: Hiểu biết của điều dưỡng viên về phân loại các nhóm CTRYT: 36
Bảng 3.9 Hiểu biết của điều dưỡng viên về các nhóm CTRYT 37
Bảng 3.10 Hiểu biết của điều dưỡng viên về mã màu dụng cụ đựng CTRYT: 38
Bảng 3.11 Hiểu biết của điều dưỡng viên về mã màu dụng cụ đựng các nhóm CTRYT: 39
Bảng 3.12: Hiểu biết của điều dưỡng viên về biểu tượng chỉ loại CTRYT 40
Bảng 3.13: Hiểu biết về phân loại CTRYT của điều dưỡng theo nhóm chất thải, theo mã màu dụng cụ đựng, biểu tượng chỉ loại CTYT: 41
Bảng 3.14 : Kết quả thực hành phân loại chất thải lây nhiễm sắc nhọn của điều dưỡng viên: 42
Bảng 3.15: Kết quả thực hành phân loại chất thải lây nhiễm không sắc nhọn của điều dưỡng viên: 43
Trang 9Bảng 3.16: Kết quả thực hành phân loại chất thải hóa học nguy hại của điều dưỡng viên: 44 Bảng 3.17: Kết quả thực hành phân loại chất thải thông thường của điều
dưỡng viên: 44 Bảng 3.18: Kết quả thực hành phân loại chất thải tái chế của điều dưỡng viên: 45 Bảng 3.19: Kết quả thực hành phân loại CTRYT của điều dưỡng viên theo nhóm CTYT 45
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống, được thải ra từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hay các hoạt động khám chữa bệnh, vui chơi giải trí của con người Tác động tiêu cực của chất thải nói chung và chất thải có chứa các thành phần nguy hại nói riêng là rất rõ ràng nếu những loại chất thải này không được quản lý theo đúng những quy định môi trường Quản lý chất thải đã và đang trở thành vấn đề bức thiết ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [1]
Quản lý chất thải là một vấn đề hết sức khó khăn và nan giải Với mỗi loại chất thải, cần có những biện pháp xử lý khác nhau từ khâu thu gom đến khâu tiêu hủy cuối cùng Trong những loại chất thải thì CTYT đang ngày càng được quan tâm do sự đa dạng, phức tạp và tính nguy hại của nó Theo tổ chức y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và 5% là chất thải gây độc như chất thải phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị, Đó chính là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tăng tỷ lệ bệnh tật của những người tiếp xúc, cộng đồng dân cư những vùng tiếp giáp [14]
Ở nước ta, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, hệ thống các CSYT không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế, đặc biệt là bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải bỏ Theo nghiên cứu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo
Trang 11khảo sát năm 2009, tổng lượng CTRYT phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bê ̣nh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là
bê ̣nh viê ̣n Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bê ̣nh viê ̣n Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày [3]
Quản lý CTYT bao gồm một chuỗi các công việc, trong đó khâu quan trọng đầu tiên là phân loại CTYT Chất thải được phát sinh từ các CSYT rất phức tạp cả về thể loại, thành phần, nguồn gốc phát sinh và lượng chất thải Phân loại CTYT là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình thu gom, xử
lý và phân hủy, nó tạo điều kiện cho quá trình phân hủy và xử lý được đơn giản hơn rất nhiều Tại các CSYT, các nhân viên điều dưỡng là những người thường xuyên thực hiện các thủ thuật trên người bệnh, là đối tượng thường xuyên trực tiếp tiến hành công tác phân loại CTYT Vì thế vấn đề phân loại CTYT của điều dưỡng viên đóng vai trò rất quan trọng Để đánh giá về thực trạng phân loại CTYT, đã có một số cơ quan, nhà khoa học tiến hành nghiên cứu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên đối tượng điều dưỡng viên tại BVĐK Xanh Pôn_ bệnh viện đa khoa hạng I, trực thuộc sở y
tế Hà Nội Vì thế, trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại BVĐK Xanh Pôn, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài :" Thực trạng kiến thức và thực hành phân loại CTRYT của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viên đa khoa Xanh Pôn năm 2015" với mục tiêu nghiên cứu:
1.Mô tả thực trạng kiến thức phân loại CTRYT của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng BVĐK Xanh Pôn năm 2015
2.Mô tả thực trạng thực hành phân loại CTRYT của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng BVĐK Xanh Pôn năm 2015
Trang 12
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Chất thải y tế
1.1.1 Khái niệm CTYT
CTYT là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các CSYT bao gồm CTYT nguy hại và chất thải thông thường
CTYT nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người
và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
Quản lý CTYT là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy CTYT và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong CSYT [ 5]
1.1.2 Phân loại và xác định CTYT
Theo khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hóa học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) [4] [14]
Ở Mỹ phân loại CTYT thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được sử dụng trong điều trị, nghiên cứu…; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động
Trang 13vật (xác động vật, các phần cơ thể…); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ [14]
Tại Việt Nam, theo quy chế Quản lý CTYT Bộ Y tế ban hành tại quyết định số 43 QĐ-BYT ngày 30/11/2007 quy định: Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại chất thải trong các CSYT được phân thành 5 loại như sau:
Chất thải lây nhiễm
Chất thải hoá học nguy hại
Chất thải phóng xạ
Bình chứa áp suất
Chất thải thông thường
a Chất thải lây nhiễm
Chất thải sắc nhọn (loại A) là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất phát sinh từ buồng bệnh cách ly Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm Chất thải giải phẫu: Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm [5]
b Chất thải hóa học nguy hại:
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
Chất gây độc tế bào, gồm vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
Trang 14Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị [5 ]
c Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng
10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế [ 5]
d Bình chứa áp suất:
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt [5 ]
e Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [5]
1.2 Đặc trưng của CTRYT
Hê ̣ thống các bê ̣nh viê ̣n, cơ sở khám chữa bê ̣nh trên đi ̣a bàn toàn quốc đươ ̣c phân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa Cụ thể, Bộ Y tế quản lý 11
Trang 15bê ̣nh viê ̣n đa khoa tuyến trung ương, 25 bê ̣nh viê ̣n chuyên khoa tuyến trung ương; đi ̣a phương quản lý 743 bê ̣nh viê ̣n đa khoa tuyến tỉnh/thành phố, 239
bê ̣nh viê ̣n chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố, 595 bê ̣nh viê ̣n đa khoa quận/huyê ̣n/thi ̣ xã và 11.810 trung tâm y tế các cấp; các đơn vi ̣ khác quản lý
88 Trung tâm/Nhà điều dưỡng/ bê ̣nh viê ̣n tư nhân (Cu ̣c Khám chữa bê ̣nh -
Bô ̣ Y tế, 2009) [3]
Mức độ đáp ứng nhu cầu chữa tri ̣ tính chung trong cả nước tăng lên rõ
rê ̣t trong những năm gần đây, năm 2005 là 17,7 giường bê ̣nh/1 vạn dân, đến năm
2009 là 22 giường bê ̣nh/1 vạn dân (TCTK, 2011) Viê ̣c tăng số lượng giường bê ̣nh
thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bê ̣nh đồng nghĩa với viê ̣c tăng khối lượng CTYT cần phải xử lý [ 3 ]
1.2.1 CTRYT thông thường
1.2.1.1 Nguồn phát sinh CTRYT
Nguồn phát sinh CTYT chủ yếu tại: bệnh viện; các CSYT khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu
y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTRYT đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược
Chất thải được phát sinh từ các hoạt động bao gồm:
Các hoạt động khám chữa bệnh như: chẩn đoán, chăm sóc, xét nghiệm, điều trị, phẫu thuật
Các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm trong các cơ sở y tế
Các hoạt động hằng ngày của nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà người bệnh [3]
Trang 16Bảng 1.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế [3]
Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành
chính, các loại bao gói
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân
Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh
nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ, hóa chất dược từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
1.2.1.2 Lượng phát sinh CTRYT
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y
tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày
CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng hầu hết các đi ̣a phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng CSYT và tăng số giường
bê ̣nh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với di ̣ch vụ y tế
Trang 17Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm
2009, tổng lượng CTRYT phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bê ̣nh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bê ̣nh viê ̣n Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bê ̣nh viê ̣n Tâm thần Trung ương
2 với 0,01 kg/giường/ngày
Lượng CTRYT phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng [3]
Bảng 1.2: Lượng phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
( Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế 2009)
Khoa
Tổng Lượng Chất Thải Phát Sinh (kg/giường/ngày)
Tổng Lượng CTYT Nguy Hại
(kg/giường/ngày) BVTW BV
Tỉnh
BV Huyện
Trung Bình
Tỉnh
BV Huyện
Trung Bình
Trang 181.2.1.3 Thành phần CTRYT
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể
Xét về đặc tính lý hóa thì tỷ lê ̣ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTRYT, chưa kể 52% CTRYT là các chất hữu cơ
Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghê ̣ thiêu đốt cần lưu ý đốt triê ̣t để và không phát sinh khí độc hại [3] a.Thành phần vật lý:
Thành phần vật lý của CTRYT gồm các dạng sau:
Bông vải sợi: Gồm bông băng, gặc, quần áo, khăn lau, vải trải…
Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền, túi đựng hàng
Thủy tinh: Ống nghiệm, bơm tiêm thủy tinh, chai lọ, ống tiêm
Kim loại: Dao kéo mổ, bơm tiêm kim loại…
b Thành phần hóa học:
Thành phần hóa học của CTRYT gồm 2 loại sau:
Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử
Hữu cơ: Đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc
c Thành Phần sinh học:
Máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ [13 ]
Trang 19Bảng 1.3: Thành phần CTRYT
Thủy tinh, ống kiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3,2%
1.2.2 CTRYT nguy hại
1.2.2.1 Phát sinh CTRYT nguy hại
Trong CTRYT, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng CTNH, do nguy cơ lây nhiễm mầm bê ̣nh và hóa chất độc cho con người Lượng CTNH y
tế phát sinh không đồng đều tại các đi ̣a phương, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc Bắc Bộ được gộp chung vào 1 vùng), vùng Đông Nam
Bộ phát sinh lượng thải nguy hại lớn nhất trong cả nước (32%), với tổng lươ ̣ng thải là 10.502,8 tấn/năm, tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm 21%) Các tỉnh có mức thải CTNH lớn (> 500 tấn/năm) tính trong cả nước theo thứ tự như sau: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghê ̣ An, Phú Thọ, Hải Phòng, Long An [ 3]
Lươ ̣ng CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa các loại CSYT khác nhau Các nghiên cứu cho thấy các bê ̣nh viê ̣n tuyến trung ương và tại các thành phố lớn có tỷ lê ̣ phát sinh CTNH y tế cao nhất Tính trong 36 bê ̣nh viê ̣n thuộc Bộ
Trang 20Y tế, tổng lươ ̣ng CTNH y tế cần đươ ̣c xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng CTR y tế Trong đó, lươ ̣ng CTNH y tế tính trung bình theo giường bê ̣nh là 0,25 kg/ giường/ngày Chỉ có 4 bê ̣nh viê ̣n có chất thải phóng
xạ là bê ̣nh viê ̣n Bạch Mai, bê ̣nh viê ̣n Đa khoa Trung ương Huế, bê ̣nh viê ̣n Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và Bê ̣nh viê ̣n K Các phương pháp xử lý đặc biê ̣t đối với CTNH y tế đắt hơn rất nhiều so với các CTR sinh hoạt, do vậy đòi hỏi viê ̣c phân loại chất thải phải đạt hiê ̣u quả và chính xác [3]
Theo số liê ̣u điều tra của Cục Khám chữa bê ̣nh - Bộ Y tế và Viê ̣n Kiến trúc, Quy hoạch Đô thi ̣ và Nông thôn - Bộ Xây dựng thực hiê ̣n năm 2009 -
2010, cũng như số liê ̣u tổng kết của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thành phần CTRYT tại các nước đang phát triển có thể thấy lượng CTRYT nguy hại
chiếm 22,5%, trong đó phần lớn là CTR lây nhiễm Do đó, cần xác đi ̣nh
hướng xử lý chính là loại bỏ được tính lây nhiễm của chất thải
Bảng 1.4: Sự biến động về khối lượng CTYT nguy hại phát sinh tại các
CSYT khác nhau
ĐVT: kg/giường bệnh/ngày
Bệnh viện chuyên khoa TW 0,23-0,29 0,28-0,35
Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17-0,29 0,21-0,35
Bệnh viện huyện ngành 0,17-0,22 0,21-0,28
1.2.2.2 Thành phần CTRYT nguy hại
Theo cục khám chữa bệnh; Bộ Y tế; Viện kiến trúc quy hoạch đô thị và nông thôn, Bộ xây dựng 2010 thành phần CTYT nguy hại : chất thải phóng xạ 0,31%; chất thải lây nhiễm 18%,chất thải hóa học 1%; bình áp suất 3%; chất thải thông thường 78% [ 3]
Trang 211.3 Tác hại và nguy cơ của CTRYT
1.3.1 Đối với môi trường
1.3.1.1 Đối với môi trường đất
Khi CTYT được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn
có thể ngấm vào môi trường đất, gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả
về sau lại gặp khó khăn [13]
1.3.1.2 Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây
ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom và vận chuyển chúng phát tán bụi, rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu đốt, chôn lấp phát sinh các loại khí độc hại: HX, NO, đioxin, furan… từ lò đốt, và CH4, NH3,H2S…từ các bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh [13 ]
1.3.1.3 Đối với môi trường nước
Khi chôn lấp CTYT không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là CTYT được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm [13]
1.3.2 Đối với sức khỏe
1.3.2.1 Đối tượng chịu tác động
Phơi nhiễm với CTYT nguy hại có thể gây ra bệnh tật và thương tích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với CTNH bao gồm những người làm việc trong các CSYT, những người ở ngoài các CSYT làm nhiệm vụ vận chuyển CTYT và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với CTYT là những người có nguy cơ tiềm tàng Họ là những cá nhân thường xuyên tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với CTYT Dưới đây là các nhóm chính có nguy cơ cao:
Trang 22Bác sĩ, y tá, nhân viên chăm sóc sức khỏe, và các nhân viên trong bệnh viện
Bệnh nhân của các bệnh viện hay các trung tâm chăm sóc sức khỏe
Khách hay người nhà tới bệnh viện hay trung tâm chăm sóc sức khỏe Nhân viên trong các dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân hay trung tâm chăm sóc sức khỏe như giặt là, vận chuyển và xử lý chất thải
Nhân viên làm việc ở những thiết bị xử lý chất thải như hố tiêu hay lò đốt chất thải [1] [13]
1.3.2.2 Tác động từ CTRYT
a Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Một mối nguy
cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, viêm gan C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc những tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua những cách thức sau:
Qua da (qua một vết thương, trầy xước hoặc vết cắt qua da)
Qua các niêm mạc (màng nhầy)
Qua đường hô hấp (do xông hít phải)
Qua đường tiêu hóa [1]
b.Từ loại chất thải hóa chất và dược phẩm
Nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các CSYT là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ…) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong CTYT, với số lượng lớn hơn
có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ
Trang 23Những chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây
ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất và dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hóa chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến và hay gặp nhất là các vết bỏng [1] [3]
c Từ chất thải gây độc tế bào
Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi
sự kết hợp giữa bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc Quá trình tiếp xúc với chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc hóa chất trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng sương qua đường hô hấp, hấp thụ qua da, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hóa chất hoặc chất bẩn có tính độc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hóa là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong khi định lượng dung môi Mối nguy hiểm này cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất bài tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng hóa trị liệu [1] [3]
d Từ các chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải
và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất thường khác Bởi chất phóng xạ cũng như loại chất thải dược phẩm,
là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng
xạ của các phương tiện chẩn đoán ( máy Xquang, máy chụp cắt lớp…) có thể
Trang 24gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá hủy các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể).[1] [3]
1.3.3 Tác hại và nguy cơ của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới
Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162-321 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúc với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong 1 năm, cao hơn hai lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại [14]
Ở Nhật Bản, các nghiên cứu về CTYT đã đưa ra các số liệu như sau: Tháng 7 năm 1987 có 2 bác sĩ trẻ thực tập nội trú ở khoa nhi không may bị nhiễm virus từ các ống tiêm và đã bị chết bởi viêm gan B cấp tính Tại Nhật Bản đã ghi nhận 570 trường hợp tương tự như vậy
Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 cho thấy 67,3% những người thu gom rác trong bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn, 44,4% những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương khi thu gom các chất thải bệnh viện
Shiro Shirato đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật Bản, tổng số hơn
500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh có liên quan đến chất thải bệnh viện, hơn
400 trường hợp bị tác hại sinh học từ các thuốc có độc tố tế bào [14]
Đối với nước thải, ở Chi Lê và Pê Ru đã có những nghi ngờ về việc thải nước thải bệnh viện ra cống một cách tùy tiện làm lan truyền dịch tả
Những tai nạn nghiêm trọng bởi các chất thải bệnh viện bị nhiễm phóng xạ đã được ghi nhận bởi các cơ quan truyền thông quốc tế ở thành phố Brasilia năm
1989 [9] [14]
Trang 251.3.4 Tác hại và nguy cơ của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam
Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường, chủ yếu là môi trường nước và không khí [ 9]
Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm (2006): kết quả điều tra quản lý CTYT tại một số bệnh viện huyện ngoại thành Hà Nội của Bùi Văn Trường, Nguyễn Tất Hà (1998) cho thấy: các chỉ tiêu trong chất thải như COD, NH4, Coliform và Fecal coliform… ở mức độ ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho phép Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam (2004) lượng vi khuẩn/m3 không khí cao hơn giới hạn cho phép [11]
Một số nghiên cứu ở nước ta đã có những đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn qua phỏng vấn trực tiếp
Đào Ngọc Phong và cộng sự (1996) nghiên cứu về ô nhiễm môi trường
và khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội, cho thấy
có hiện tượng tăng trội nhiều bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnh viện, nhất là các bệnh đường tiêu hóa
Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của CTYT đến sức khỏe tại 8 bệnh viện huyện đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến
ô nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải từ bệnh viện cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng [8]
1.4 Thu gom và phân loại CTRYT tại các CSYT
1.4.1 Nguyên tắc thu gom CTYT
Người làm phát sinh chất thải phải thực hiện phân loại ngay tại nơi phát sinh chất thải
Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã màu kèm biểu tượng theo đúng quy định [5]
Trang 261.4.2 Tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển CTR trong các CSYT
1.4.2.1 Mã màu sắc:
Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm
Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ
Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ
Màu trắng đựng chất thải tái chế [5]
Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức 3/4 túi và có dòng chữ
“KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
Các túi đựng chất thải phải tuân theo hệ thống màu quy định tại Điều 7 của Quy chế này và sử dụng đúng mục đích [5]
Trang 271.4.2.3 Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn
Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn phải phù hợp với phương pháp tiêu hủy cuối cùng
Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn:
+Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng
+Màu vàng
+Có quai hoặc kèm hệ thống cố định
+Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài
-Đối với các CSYT sử dụng máy hủy kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng, có thể dùng lại và phải là một bộ phận trong thiết kế của máy hủy, cắt bơm kim
-Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu [5]
Trang 28-Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại
-Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh
- Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng
- Dung tích thùng tùy vào khối lượng chất thải phát sinh, từ 10 lít đến
250 lít
-Bên ngoài thùng phải có vạch báo hiệu ở mức 3/4 thùng và ghi dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY” [5]
1.4.2.5 Biểu tượng chỉ loại chất thải
Mặt ngoài túi, thùng đựng một số loại chất thải nguy hại và chất thải để
tái chế phải có biểu tượng chỉ loại chất thải phù hợp:
a Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học
Trang 29b Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây độc tế bào kèm dòng chữ “CHẤT GÂY ĐỘC TẾ BÀO”
c Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng chất phóng xạ và có dòng chữ “CHẤT THẢI PHÓNG XẠ”
d Túi, thùng màu trắng đựng chất thải để tái chế có biểu tượng chất thải có thể tái chế [ 5]
Trang 301.5 Quản lý CTRYT
1.5.1 Cơ sở pháp lý
Ở nước ta, CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật
do quốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện của ngành y tế Bao gồm một số văn bản sau:
-Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Điều 39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và các CSYT
-Thông tư số 12/2006/QĐ-TTg ngày 26/12/2006, hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, hành nghề mã số quản lý CTYT nguy hại
-Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 về việc ban hành danh mục CTNH, quy định CTYT nằm trong danh mục CTNH có mã số
1301, phải đăng ký và quản lý theo quy định đối với CTNH
-Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử ký triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tại quyết định này có 84 bệnh viện trên cả nước phải thực hiện biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường
-Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTYT và thường xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển Từ năm
1996 đã ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định xử lý chất thải rắn trong bệnh viện, từ năm 1999, đã ban hành riêng quy chế quản lý CTYT Đến năm
2007, quy chế này đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình cấp bách hiện nay về quản lý CTYT: Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của
Trang 311.5.2 Thực trạng quản lý CTRYT
1.5.2.1 Phân loại, Thu gom, Vận chuyển CTRYT thông thường
Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến đi ̣a phương, thể hiê ̣n ở mức độ thực hiê ̣n quy đi ̣nh ở các
bê ̣nh viê ̣n khá cao
CTYT phát sinh từ các cơ sở khám chữa bê ̣nh trực thuộc sự quản lý của
Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại đi ̣a bàn cơ
sở khám chữa bê ̣nh đó
Đối với các cơ sở khám chữa bê ̣nh ở đi ̣a phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biê ̣t là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (CTYT thông thường, CTYT nguy hại )
Trong vận chuyển CTRYT, chỉ có 53% số bê ̣nh viê ̣n sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển CTYT nguy hại; 53,4% bê ̣nh viê ̣n có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bê ̣nh và môi trường
Có 95,6% bệnh viê ̣n đã thực hiê ̣n phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiê ̣n tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong viê ̣c xử lý
Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế
CTYT đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các bê ̣nh viê ̣n có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bê ̣nh viê ̣n có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bê ̣nh viê ̣n trung ương và bê ̣nh viê ̣n tỉnh)
Hầu hết ở các bê ̣nh viê ̣n (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số
Trang 32bê ̣nh viê ̣n có diê ̣n tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong viê ̣c thiết kế lối đi riêng
để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bê ̣nh viê ̣n chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy Có 53,4% bê ̣nh viê ̣n có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT [ 3]
Phương tiê ̣n thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua sắm phương tiê ̣n thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bê ̣nh viê ̣n gặp khó khăn Theo báo cáo của JICA (2011), các CSYT của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bê ̣nh viê ̣n sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng
cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bi ̣ điều hoà và hê ̣ thống thông gió theo Quy đi ̣nh
Nhìn chung các phương tiê ̣n vận chuyển CTYT còn thiếu, đặc biê ̣t là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển CTYT nguy hại từ bê ̣nh viê ̣n, CSYT đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thi ̣ đảm nhiê ̣m, không có các trang thiết bi ̣ đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn [7]
1.5.2.2 Xử lý và tái chế CTRYT thông thường
CTRYT không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường đô thi ̣ thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung của đi ̣a phương
Hoạt động thu hồi và tái chế CTRYT tại Viê ̣t Nam hiê ̣n đang thực hiê ̣n không theo đúng quy chế quản lý CTRYT đã ban hành Chưa có các cơ sở chính thống thực hiê ̣n các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y tế ở Viê ̣t Nam Quy chế Quản lý CTYT (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTRYT không nguy hại làm căn cứ để các CSYT thực hiê ̣n Tuy nhiên, nhiều đi ̣a phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy viê ̣c quản lý tái chế các
Trang 33CTR YT không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từ chất thải
bê ̣nh viê ̣n như: chai di ̣ch truyền chứa dung di ̣ch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung di ̣ch acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một số vật liê ̣u giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế viê ̣c thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm Năm 2010, đã phát hiê ̣n nhiều hiê ̣n tươ ̣ng đưa CTRYT ra ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Viê ̣c tái sử dụng các găng tay cao su, các vật liê ̣u nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua và những người tái chế phế liệu [3]
1.5.3.3 Xử lý và tiêu hủy CTRYT nguy hại
Khối lươ ̣ng CTRYT nguy hại đươ ̣c xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lươ ̣ng phát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã
có xí nghiê ̣p xử lý CTRYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTRYT nguy hại cho toàn bộ CSYT trên đi ̣a bàn CTRYT nguy hại của các tỉnh, thành phố khác hiê ̣n được xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một số đi ̣a phương như Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bi ̣ cho cụm bê ̣nh viê ̣n, chủ động chuyển giao lò đốt cho công
ty môi trường đô thi ̣ tổ chức vận hành và thu gom xử lý CTRYT nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghê ̣ An có lò đốt đặt tại bê ̣nh viê ̣n tỉnh xử lý CTRYT nguy hại cho các bê ̣nh viê ̣n khác thuộc đi ̣a bàn thành phố, thi ̣ xã [6]
Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTRYT nguy hại tập trung tại khu xử lý chung của thành phố Tỷ lê ̣ lò đốt CTRYT phân tán được vận hành tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò đươ ̣c trang bi ̣, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét mức độ xử lý của các CSYT theo tuyến trung ương và đi ̣a phương, các sở sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử lý CTRYT nguy hại cao
Trang 34hơn hẳn các cơ sở tuyến đi ̣a phương Bên cạnh lí do về công nghê ̣ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không đạt hiê ̣u quả
Nhìn chung các lò đốt CTYT nguy hại còn nhiều hạn chế, tập trung vào các vấn đề sau: Chi phí đầu tư, hiê ̣u suất vận hành, chi phí xử lý khí thải lớn Giá nhiên liê ̣u quá cao dẫn đến nhiều cơ sở không đốt hoặc đốt không đảm bảo Thiếu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiê ̣u suất đốt và chất thải (khí, tro, nước thải từ bồn ngưng tụ xử lý khí) Hơn nữa, do chất đốt thường đươ ̣c sử dụng là dầu Diezel nên rất khó đảm bảo đủ và đúng yêu cầu nhiê ̣t độ khi vận hành (nhiê ̣t tri ̣ của dầu thấp, và bắt buộc phải lưu thông khí khi đốt) Nếu phân loại rác không đúng sẽ gây tốn kém khi đốt cả rác thường, không kiểm soát được khí thải lò đốt, dẫn đến phí xử lý khí thải lớn
Hiê ̣n nay có hai loại công nghê ̣ thân thiê ̣n với môi trường chủ yếu đươ ̣c lựa chọn thay thế các lò đốt CTYT là công nghê ̣ khử khuẩn bằng nhiê ̣t ẩm (autoclave) và công nghê ̣ có sử dụng vi sóng Trong đó, công nghê ̣ sử dụng vi sóng kết hơ ̣p hơi nước bão hòa là loại công nghê ̣ tiên tiến nhất hiê ̣n nay bởi
có hiê ̣u quả khử tiê ̣t khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh, hiê ̣n đang được áp dụng tại Trung tâm y tế Viesovpetro Vũng Tàu Đi ̣nh hướng trong tương lai
sẽ hạn chế viê ̣c sử dụng các lò đốt để xử lý CTYT nguy hại, từng bước thay thế chúng bằng các thiết bi ̣ sử dụng công nghê ̣ khử khuẩn bằng nhiê ̣t ướt, vi sóng hoặc các phương pháp tiên tiến khác [12] [13]
1.6 Một số nghiên cứu liên quan
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Liên (2009) về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý CTYT tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên: Nghiên cứu tiến hành trên 2 nhóm đối tượng nghiên cứu nhóm 1 bao gồm: bác sỹ, kỹ thuật viên, điều dưỡng, y tá); nhóm 2 bao gồm hộ lý và vệ sinh viên
-77,1% đối tượng tham gia nghiên cứu đã được tâp huấn về quản lý
Trang 35CTYT
-Tỷ lệ người có hiểu biết đầy đủ 5 nhóm CTYT ở nhóm 1 đạt 13,9%, ở nhóm 2 đạt 12,1%; tỷ lệ người có hiểu biết đúng từ 1 -4 nhóm CTYT ở nhóm
1 là 2,5%, nhóm 2 là 1,15% và 83,6% ở nhóm 1, 86,8% ở nhóm 2 không biết hoặc biết không đúng cả 5 nhóm CTYT
-15,4% người ở nhóm 1 và 16,5% người ở nhóm 2 có hiểu biết đầy đủ
cả 4 mã màu dụng cụ đựng CTYT Tỷ lệ người biết đúng từ 1-3 mã màu ở nhóm 1 là 3%, nhóm 2 chỉ đạt 1,1%; và có 15,45 người ở nhóm 1 và 16,5% người ở nhóm 2 không biết hoặc biết không đúng mã màu nào
Theo nghiên cứu của Đặng Thị Kim Loan (2010) Đánh giá tình hình quản lý CTYT trên địa bàn huyện Long Thành:
-Tỷ lệ nhân viên y tế có hiểu biết đúng về phân loại CTYT thành 5 nhóm (chất thải lây nhiễm, chất thải hoá học nguy hại, chất thải phóng xạ, chất thải thông thường và bình chứa áp suất) chiếm 55,6%, biết dưới 5 nhóm chiếm 44,4%
-Tỷ lệ nhân viên y tế có hiểu biết đúng về mã màu thùng đựng chất CTYT có 4 màu chiếm 56,4%, hiểu biết sai 3 màu (21,1%) và 2 màu (22,4%) Nhân viên y tế có hiểu biết đúng về mã màu túi đựng CTYT có 4 màu chiếm 60,0%, hiểu biết sai 3 màu (21,6%) và 2 màu (18,4%)
Theo nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm (2006) tại 11 bệnh viện tuyến huyện tỉnh Hải Dương: có 56,1% nhân viên y tế biết phân loại CTYT thành 5 nhóm ở bệnh viện đã được xử lý chất thải, 37,3% ở bệnh viện chưa xử lý
Trang 36CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Điều dưỡng đang công tác tại các khoa: Nội tim mạch, Nội thận, HSCC Nội, Ngoại tiêu hóa, Phẫu thuật lồng ngực, Phẫu thuật thần kinh, Bỏng, HSCC Ngoại, HSCC Nhi BVĐK Xanh Pôn thực hiện phân loại CTYT trong thời gian nghiên cứu
+Tiêu chuẩn chọn mẫu:
-Là nhân viên chính thức của bệnh viện
-Có tham gia phân loại CTRYT
-Đồng ý tham gia nghiên cứu
+Tiêu chuẩn loại trừ:
-Không thực hiện tham gia phân loại CTRYT
-Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Bao gồm toàn bộ điều dưỡng đang công tác tại các khoa: Nội tim mạch, Nội thận, HSCC Nội, Ngoại tiêu hóa, Phẫu thuật lồng ngực, Phẫu thuật thần kinh, Bỏng, HSCC Ngoại, HSCC Nhi BVĐK Xanh Pôn trong thời gian nghiên cứu, đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu
Tổng số điều dưỡng tham gia nghiên cứu n=98
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
-Phương pháp thu thập:
+Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua phiếu điều tra
+Quan sát trực tiếp quá trình thực hành phân loại CTRYT
-Các bước thực hiện:
+Thu thập danh sách điều dưỡng thực hiên quy trình phân loại CTRYT +Xây dựng bảng kiếm