NGUYỄN VĂN THUYÊN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP II ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ NĂM 2019 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI
Trang 1NGUYỄN VĂN THUYÊN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP II ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ NĂM 2019
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2019
Trang 2NGUYỄN VĂN THUYÊN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP II ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ NĂM 2019
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS NGUYỄN MẠNH DŨNG
NAM ĐỊNH - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện chuyên đề, tôi nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, gia đình
và bạn bè Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau Đại học, các phòng ban và các thầy, cô giáo Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định đã cho tôi kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
ThS.BS Nguyễn Mạnh Dũng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là người thầy đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành chuyên đề
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, phòng khám khoa Nội tiết - Đái tháo đường Bệnh viện Hữu Nghị đã quan tâm giúp
đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện chuyên đề
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và tập thể lớp Chuyên khoa I – khóa 6, những người đã giành cho tôi tình cảm và nguồn động viên khích lệ nhất
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan chuyên đề: “Thực trạng kiến thức và tự chăm sóc của
người bệnh đái tháo đường typ II điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh Bệnh viện Hữu Nghị năm 2019” là một đánh giá độc lập của bản thân không có sự sao
chép của người khác
Chuyên đề này là một trong những sản phẩm mà tôi đã nỗ lực nghiên cứu đánh giá trong quá trình học tập tại trường và thực tập tại Bệnh viện, trong quá trình viết bài có tham khảo một số tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, dưới sự hướng dẫn của Thầy Nguyễn Mạnh Dũng – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Tôi xin cam đoan nếu có vấn đề gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Nam Định, tháng 12 năm 2019
Học viên
Nguyễn Văn Thuyên
Trang 5LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
Chương 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN 16
2.1 Giới thiệu sơ lược về Bệnh viện Hữu Nghị 16
2.2 Một số hình ảnh hoạt động khám bệnh và tư vấn cho người bệnh tiểu đường 18
2.3 Thực trạng vấn đề tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh bệnh viện Hữu nghị năm 2019 20
2.4 Thực trạng kỹ năng thực hành của người bệnh tiểu đường 26
2.5 Các ưu nhược điểm 28
2.6 Nguyên nhân của các việc đã làm được và chưa làm được 28
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 30
KẾT LUẬN 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
ADA Hiệp hội đái tháo đường Mỹ
BMI Chỉ số khối cơ thể
B/M Chỉ số bụng mông
ĐTĐ Đái tháo đường
HDL- C Cholesterol tỷ trọng cao
LDL- C Cholesterol tỷ trọng thấp
IDF Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế
JNC Liên ủy ban Quốc gia Hoa Kỳ
TC Cholesterol toàn phần
TG Triglycerid
THA Tăng huyết áp
UKPDS Nghiên cứu tiến cứu về đái tháo đường của Vương quốc Anh WHO Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp 20
Bảng 2.2 Trình độ văn hóa của đối tượng nghiên cứu 20
Bảng 2.3 Chỉ số BMI của đối tượng nghiên cứu 21
Bảng 2.4 Phân bố mắc các bệnh kèm theo của đối tượng nghiên cứu 21
Bảng 2.5 Kiến thức về dấu hiệu của bệnh đái tháo đường 22
Bảng 2.6 Kiến thức của người bệnh về các biến chứng của bệnh 23
Bảng 2.7 Kiến thức của người bệnh về các yếu tố nguy cơ gây bệnh 24
Bảng 2.9 Nguồn thông tin về bệnh tiểu đường người bệnh có được 25
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kiến thức của người bệnh về chỉ số đường huyết của mình 22
Biểu đồ 2.2 Kiến thức của người bệnh về chỉ số đường huyết 23
Biểu đồ 2.3 Sự tiếp cận thông tin về bệnh 24
Biểu đồ 2.4 Nguồn thông tin người bệnh tin tưởng 25
Biểu đồ 2.5 Theo dõi đường huyết tại nhà 26
Biểu đồ 2.6 Tuân thủ sử dụng thuốc 26
Biểu đồ 2.7 Sự tuân thủ chế độ ăn 27
Biểu đồ 2.8 Sự tuân thủ chế độ luyện tập 27
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là bệnh mang tính xã hội cao ở nhiều quốc gia bởi tốc độ phát triển nhanh chóng, mức độ nguy hại đến sức khoẻ Đái tháo đường còn trở thành lực cản của sự phát triển, gánh nặng của gia đình và cho toàn xã hội
Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có
415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), tương đương
cứ 11 người có 1 người bị ĐTĐ, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tương đương cứ 10 người có 1 người bị ĐTĐ Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh ĐTĐ típ 2 đang có xu hướng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận và cắt cụt chi Nhưng một điều đáng khả quan, có tới 70% trường hợp ĐTĐ typ 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh, dinh dưỡng hợp lý và tăng cường luyện tập thể lực [1]
Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà nội), 2,25% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (thành phố Huế), nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5.42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63.6% Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose toàn quốc 7,3%, rối loạn glucose máu lúc đói toàn quốc 1,9% (năm 2003) Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6% [1]
Đái tháo đường đang là vấn đề thời sự cấp bách của sức khoẻ cộng đồng Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về đái tháo đường đã được tiến hành trên phạm vi cả nước , tại Thủ đô Hà Nội mức sống của người dân tương đối cao và đặc biệt là có nhiều người dân từ các tỉnh thành khắp đất nước về thủ đô sống và làm
Trang 10việc nên tỉ lệ bệnh tật cũng có sự khác nhau trong đó tỷ lệ Người bệnh đái tháo đường tại các cơ sở khám chữa bệnh đang ngày một gia tăng Tại khoa khám bệnh bệnh - Bệnh viện Hữu Nghị cho thấy số Người bệnh mắc tiểu đường cũng gia tăng hàng năm Khoa khám bệnh ngoại trú điều trị bệnh mãn tính được thành lập từ năm
2012 và theo thống kê hàng năm cho thấy năm 2017 thì số người bệnh khám bệnh là; 19.537 Người bệnh, năm 2018 tăng lên 20.645 Người bệnh, hiện tại năm 2019 tính đến 31/10 là;18.100 người bệnh [2]
Biện pháp hữu hiệu để làm giảm tiến triển và biến chứng của bệnh và giảm
chi phí khám chữa bệnh là phải phát hiện sớm và điều trị người bệnh kịp thời Tuy
nhiên, công tác phát hiện sớm, chăm sóc và điều trị bệnh đái tháo đường tại các bệnh viện nói chung và tại Bệnh viện Hữu Nghị nói riêng còn gặp không ít những khó khăn Người bệnh đa số là khi nghỉ hưu rồi mới quan tâm nhiều tới sức khỏe của bản thân, tuổi cao bản thân mắc nhiều bệnh kèm theo, trình độ học vấn của người bệnh cao nên trong quá trình điều trị người bệnh còn tham khảo do dự về việc khám chữa bệnh của bản thân với y tế giữa các bệnh viện trên địa bàn thủ đô, chăm sóc sức khỏe ban đầu rất là quan trong, tuy nhiên nhiều người bệnh vẫn chủ quan chỉ khi có dấu hiệu về bệnh hoặc bị bệnh mới đi khám chữa bệnh mà việc tuân thủ chăm sóc và điều trị tại nhà còn hạn chế Trong khi mục đích điều trị bệnh đái tháo đường là người bệnh tự kiểm soát lượng đường trong máu, trọng lượng cơ thể, huyết áp, mỡ máu và duy trì chất lượng cuộc sống như những người khỏe mạnh Do
đó, người bệnh và gia đình người bệnh mất rất nhiều thời gian và công sức, cần có kiến thức, kỹ năng thực hành chăm sóc tại nhà để phối hợp trong công tác chăm sóc
và điều trị bệnh Nhiều người bệnh cho rằng những ngày sống với bệnh đái tháo đường là một gánh nặng và luôn có cảm giác nặng nề không lý giải được, đôi khi còn có cảm giác thất bại
Để góp phần tìm hiểu vấn đề này, và đưa ra giải pháp khắc phục tôi tiến
hành chuyên đề “Thực trạng kiến thức và tự chăm sóc của người bệnh đái tháo
đường typ II điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu Nghị năm 2019”
Trang 11Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề:
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh đái
tháo đường typ II điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu Nghị năm
2019
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường typ II điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Hữu Nghị
Trang 121.1.2 Chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường
14 giờ), hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Người bệnh nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó người bệnh ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
d) Ở người bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức
Trang 13glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán
a, b, c, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian
thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày
Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥
126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ [1]
1.1.2.2 Chẩn đoán tiền đái tháo đường
Chẩn đoán tiền đái tháo đường khi có một trong các rối loạn sau đây:
- Rối loạn glucose huyết đói (impaired fasting glucose: IFG): Glucose huyết tương lúc đói từ 100 (5,6mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L), hoặc
- Rối loạn dung nạp glucose (impaired glucose tolerance: IGT): Glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống 75 g từ 140 (7.8 mmol/L) đến 199 mg/dL (11 mmol/L),hoặc
- HbA1c từ 5,7% (39 mmol/mol) đến 6,4% (47 mmol/mol)
Những tình trạng rối loạn glucose huyết này chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán đái tháo đường nhưng vẫn có nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu lớn của đái tháo đường, được gọi là tiền đái tháo đường (pre-diabetes)[1].
1.1.2.3 Phân loại bệnh đái tháo đường
a) Đái tháo đường týp 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối)
b) Đái tháo đường týp 2 (do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin)
c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ týp 1, týp 2 trước đó)
d) Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị
Trang 14HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… [1]
1.1.3 Biến chứng bệnh đái tháo đường
Đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ
tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính Người bệnh có
thể tử vong do các biến chứng này
- Biến chứng cấp tính
+ Biến chứng cấp tính thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm khuẩn
cấp tính hoặc điều trị không thích hợp Ngay cả khi điều trị đúng, hôn mê nhiễm
toan ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng nguy hiểm
+ Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid do
thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây
toan hóa tổ chức Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về trang thiết bị, điều
trị và chăm sóc, tỷ lệ tử vong vẫn cao từ 5-10%
+ Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose
nặng, đường huyết tăng cao Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm từ 5-10% Ở
người bệnh đái tháo đường týp 2 nhiều tuổi, tỷ lệ tử vong từ 30 - 50% [3]
+ Nhiều người bệnh hôn mê, dấu hiệu đầu tiên của bệnh chính là tăng
glucose máu Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết về bệnh đái tháo đường còn chưa được
phổ biến trong cộng đồng
- Biến chứng mạn tính
+ Biến chứng tim - mạch
Bệnh lý tim mạch ở người bệnh đái tháo đường là biến chứng thường gặp và
nguy hiểm Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhưng các
nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch
vành và các biến chứng tim mạch khác Người đái tháo đường có bệnh tim mạch là
45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường Nguyên
nhân tử vong do bệnh tim mạch chung chiếm khoảng 75% tử vong ở người bệnh
đái tháo đường, trong đó thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim là nguyên nhân gây
Trang 15tử vong lớn nhất Một nghiên cứu được tiến hành trên 353 người bệnh đái tháo đường týp 2 là người Mỹ gốc Mêhicô trong 8 năm thấy có 67 người bệnh tử vong
và 60% là do bệnh mạch vành [10]
Tăng huyết áp thường gặp ở người bệnh đái tháo đường, tỷ lệ mắc bệnh chung của tăng huyết áp ở người bệnh đái tháo đường gấp đôi so với người bình thường Trong đái tháo đường typ 2, 50% đái tháo đường mới được chẩn đoán có tăng huyết áp Tăng huyết áp ở người đái tháo đường typ 2 thường kèm theo các rối loạn chuyển hoá và tăng lipid máu [10]
Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở người bệnh đái tháo đường gấp 1,5-2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường
+ Biến chứng thận
Biến chứng thận do đái tháo đường là một trong những biến chứng thường gặp, tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian Bệnh thận do đái tháo đường khởi phát bằng protein niệu; sau đó khi chức năng thận giảm xuống, ure và creatinin sẽ tích tụ trong máu
Bệnh thận do đái tháo đường là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy thận giai đoạn cuối Với người đái tháo đường typ 1, mười năm sau khi biểu hiện bệnh thận rõ ràng, khoảng 50% tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối và sau 20 năm sẽ
có khoảng 75% số người bệnh trên cần chạy thận lọc máu chu kỳ Khả năng diễn biến đến suy thận giai đoạn cuối của người bệnh đái tháo đường typ 2 ít hơn so với người bệnh đái tháo đường typ 1, song số lượng người bệnh đái tháo đường typ 2 chiếm tỷ lệ rất lớn nên thực sự số người bệnh suy thận giai đoạn cuối chủ yếu là người bệnh đái tháo đường typ 2
Để theo dõi bệnh thận đái tháo đường có thể định lượng microalbumin niệu,
đo mức lọc cầu thận, định lượng protein niệu/ 24 giờ Ngày nay, nhiều phòng xét nghiệm chọn phương pháp định lượng protein niệu trong mẫu nước tiểu qua đêm
+ Bệnh lý mắt ở người bệnh đái tháo đường
Đục thuỷ tinh thể là tổn thương thường gặp ở người bệnh đái tháo đường, có
vẻ tương quan với thời gian mắc bệnh và mức độ tăng đường huyết kéo dài Đục
Trang 16thuỷ tinh thể ở người đái tháo đường cao tuổi sẽ tiến triển nhanh hơn người không đái tháo đường Bệnh lý võng mạc đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu của mù lòa ở người 20-60 tuổi Bệnh biểu hiện nhẹ bằng tăng tính thấm mao mạch, ở giai đoạn muộn hơn bệnh tiến triển đến tắc mạch máu, tăng sinh mạch máu với thành mạch yếu dễ xuất huyết gây mù loà Sau 20 năm mắc bệnh, hầu hết người bệnh đái tháo đường týp 1 và khoảng 60% người bệnh đái tháo đường typ 2 có bệnh lý võng mạc do đái tháo đường
Theo nghiên cứu của Tô Văn Hải, Phạm Hoài Anh tại Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội, số người bệnh có bệnh về mắt chiếm 72,5%, trong đó tỷ lệ bệnh võng mạc đái tháo đường 60,5%, đục thủy tinh thể 59% [19]
Nghiên cứu của Đặng Văn Hòa tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy 52,94% người bệnh bị đục thuỷ tinh thể, 22,94% người bệnh bị bệnh võng mạc đái tháo đường [20]
+ Bệnh thần kinh do đái tháo đường
Bệnh thần kinh do đái tháo đường gặp khá phổ biến, ước tính khoảng 30% người bệnh đái tháo đường có biểu hiện biến chứng này Người bệnh đái tháo đường týp 2 thường có biểu hiện thần kinh ngay tại thời điểm chẩn đoán
Bệnh thần kinh do đái tháo đường thường được phân chia thành các hội chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi
+ Một số biến chứng khác
Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường
Bệnh lý bàn chân đái tháo đường ngày càng được quan tâm do tính phổ biến của bệnh Bệnh lý bàn chân đái tháo đường do sự phối hợp của tổn thương mạch máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose máu tăng cao
+ Nhiễm khuẩn ở người bệnh đái tháo đường
Người bệnh bị đái tháo đường thường nhạy cảm với tất cả các loại nhiễm khuẩn do có nhiều yếu tố thuận lợi Có thể gặp nhiễm khuẩn ở nhiều cơ quan như: viêm đường tiết niệu, viêm răng lợi, viêm tủy xương, viêm túi mật sinh hơi, nhiễm nấm …
Trang 17+ Rối loạn chuyển hóa lipid máu ở người bệnh đái tháo đường
Rối loạn lipid máu là tình trạng rối loạn và hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid trong máu, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch, làm gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ, tăng các biến chứng mạch máu khác Ngày nay, người ta xem đã có rối loạn lipid máu ngay từ khi tỷ lệ các thành phần của lipid trong máu có sự thay đổi [10]
Rối loạn lipid máu chủ yếu ở người đái tháo đường typ 1 là lượng lipoprotein huyết tương thấp, tăng mức LDC - C hạt nhỏ, đậm đặc Các bất thường này sẽ được cải thiện song hành với mức kiểm soát glucose máu
Người đái tháo đường typ 2 thường có tăng triglycerid máu và giảm HDL -
C (loại lipoprotein được xem là có chức năng bảo vệ thành mạch), đôi khi không phụ thuộc vào mức độ kiểm soát đường máu Người bệnh mới mắc đái tháo đường týp 2 thường có mức HDL - C thấp ở nam từ 20 - 50%, nữ 10 - 25% Chuyển hoá LDL - C cũng bị rối loạn ở người đái tháo đường typ 2, chỉ cần LDL - C tăng nhẹ cũng đã là yếu tố nguy cơ làm bệnh mạch vành tăng rõ rệt
1.1.4 Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường
Sự gia tăng đái tháo đường týp 2 theo tuổi có nhiều yếu tố tham gia, các thay đổi chuyển hóa hydrate liên quan đến tuổi, điều này giải thích tại sao nhiều người mang gen di truyền đái tháo đường mà lại không bị đái tháo đường từ lúc còn trẻ đến khi về già mới bị bệnh
Tuy nhiên với tốc độ phát triển cuộc sống hiện nay, ngày càng có nhiều người trẻ tuổi mắc đái tháo đường týp 2 Quan sát sự xuất hiện bệnh đái tháo đường týp 2 trong gia đình có yếu tố di truyền rõ ràng, người ta thấy rằng ở thế hệ thứ nhất
Trang 18mắc bệnh ở độ tuổi 60 - 70, ở thế hệ thứ 2 tuổi xuất hiện bệnh giảm xuống còn 40 -
50 tuổi và ngày nay người được chẩn đoán đái tháo đường typ 2 dưới 20 tuổi không còn là hiếm [3]
1.1.4.2 Giới tính
Tỷ lệ mắc đái tháo đường ở hai giới nam và nữ thay đổi tuỳ thuộc vào các vùng dân cư khác nhau Ảnh hưởng của giới tính đối với bệnh đái tháo đường không theo quy luật, nó tuỳ thuộc vào chủng tộc, độ tuổi, điều kiện sống, mức độ béo phì
Ở các vùng đô thị Thái Bình Dương tỷ lệ nữ/nam là 3/1, trong khi ở Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở cả hai giới tương đương nhau
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và cộng sự, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở nam là 3,5%; ở nữ là 5,3% [7] Nghiên cứu về tình hình đái tháo đường và yếu tố nguy cơ được tiến hành trên cả nước năm 2002 - 2003 cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh theo giới [10]
1.1.4.3 Địa dư
Các nghiên cứu tỷ lệ mắc đái tháo đường đều cho thấy lối sống công nghiệp hiện đại ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mắc bệnh đái tháo đường Tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng gấp 2-3 lần ở những người nội thành so với những người sống ở ngoại thành theo các công bố nghiên cứu dịch tễ ở Tunisia, Úc Một số nghiên cứu của Việt Nam cũng cho kết quả tương tự Nghiên cứu của Nguyễn Huy Cường tại
Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở nội thành là 1,4%, ngoại thành là 0,6% Nghiên cứu của Trần Hữu Dàng tại Quy Nhơn thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nội thành là 9,5% cao hơn so với ngoại thành là 2,1% [13]
Yếu tố địa dư ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc đái tháo đường thực chất là sự thay đổi lối sống: ít vận động, ăn uống nhiều dẫn đến béo phì gây ra
1.1.4.4 Béo phì
“Béo phì là trạng thái thừa mỡ của cơ thể” [6] Theo các chuyên gia của WHO, béo phì là yếu tố nguy cơ mạnh mẽ nhất tác động lên khả năng mắc đái tháo đường týp 2 Có nhiều phương pháp chẩn đoán và phân loại béo phì, trong đó chẩn
Trang 19đoán béo phì bằng chỉ số khối cơ thể và chỉ số bụng mông được áp dụng khá rộng rãi Cho tới nay, tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì đã được WHO thống nhất Tuy nhiên tiêu chuẩn này là khác nhau cho các vùng địa lý, châu lục khác nhau
Trong bệnh béo phì, tích lũy mỡ xảy ra trong một thời gian dài, do đó sự suy giảm khả năng tự bảo vệ chống lại quá trình nhiễm mỡ có thể xảy ra ở một số thời điểm và triglycerid dần được tích lũy lại Ở người béo phì, đái tháo đường lâm sàng thường xuất hiện sau khi 50-70% tiểu đảo Langerhans bị tổn thương
Béo bụng còn được gọi là béo dạng nam, là một thuật ngữ chỉ những người
mà phân bố mỡ ở bụng, nội tạng và phần trên cơ thể chiếm tỷ trọng đáng kể Béo bụng, ngay cả với những người cân nặng không thực sự xếp vào loại béo phì hoặc chỉ béo vừa phải là một yếu tố nguy cơ độc lập gây ra rối loạn mỡ máu, tăng huyết
áp và rối loạn chuyển hóa đường
Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng béo phì là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự kháng insulin [6] Nghiên cứu của Colditz G.A và cộng sự kết luận béo phì và tăng cân đột ngột làm tăng nguy cơ của đái tháo đường [21] Kết quả nghiên cứu của Hoàng Kim Ước cho thấy những người có BMI > 23 có nguy cơ đái tháo đường týp 2 gấp 2,89 lần so với người bình thường [6]
Ngày nay, béo phì đang ngày càng gia tăng, kéo theo sự gia tăng của bệnh đái tháo đường typ 2 và bệnh tim mạch
1.1.4.5 Thuốc lá và bia rượu
Thuốc lá và bia rượu là những chất gây hại cho cơ thể, làm nặng thêm các rối loạn chuyển hoá
Một số nghiên cứu ở châu Âu cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở người bệnh đái tháo đường khá cao, có nhiều vùng trên 50% [22] Trường đại học Lausanne (Anh)
đã tiến hành 25 cuộc nghiên cứu trên 1,2 triệu người bệnh và nhận thấy những người hút thuốc có 44% nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường typ 2 [10] Những người hút thuốc có xu hướng hình thành những thói quen không có lợi khác, chẳng hạn như không tập thể dục thể thao hoặc ăn những thực phẩm không có lợi cho sức khỏe
Trang 20Rượu có tác động rất xấu đến sức khỏe con người, gây ảnh hưởng đến toàn
bộ các cơ quan trong cơ thể Những người bệnh đái tháo đường nếu uống nhiều rượu thì hậu quả thường nặng hơn so với người bình thường Theo nghiên cứu của
Tô Văn Hải, người bệnh nam đái tháo đường có tỷ lệ uống bia rượu 22,3% và hút thuốc lá 16,8% [9]
Tỷ lệ bệnh đái tháo đường thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát triển và thay đổi theo từng vùng địa lý khác nhau Trong đó, nơi có tỷ lệ đái tháo đường cao nhất là khu vực Bắc Mỹ (7,8%), khu vực Địa Trung Hải và khu vực Trung Đông (7,7%), châu Âu (4,9%) và châu Phi (1,2%) [12]
Tỷ lệ đái tháo đường ở châu Á cũng gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á (5,3%) [12] Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh nhanh chóng do mức
độ đô thị hóa nhanh, sự di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị nhiều, sự thay đổi nhanh chóng về lối sống công nghiệp, giảm hoạt động chân tay, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và chế độ ăn không cân đối, nhiều mỡ
+ Tại Việt Nam
Trang 21Theo nghiên cứu đánh giá nhận thức của người bệnh về chế độ ăn uống và hoạt động thể lực của Nguyễn Mạnh Dũng tiến hành năm 2007, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định trên 150 người bệnh cho thấy: tỷ lệ người bệnh có kiến thức về việc phải ăn nhiều rau thay cơm, không nên uống rươu bia và duy trì thời gian ăn trong ngày là cao Vẫn còn 54% người bệnh cho rằng có thể ăn nhiều thức ăn chế biến có nhiều mỡ, 20% đồng ý khi đường huyết về bình thường thì có thể ăn thoải mái và gần 50% số người bệnh đồng ý với ý kiến cho rằng họ có thể tự xây dựng được chế độ hoạt động thể lực, tập càng nhiều càng tốt và có thể hoạt động thể lực khi đường máu cao Nghiên cứu này tìm ra mối liên quan giữa hiểu biết về tuân thủ điều trị với giới tính, không có mối liên quan giữa hiểu biết với trình độ học vấn, nơi ở và gia đình có người mắc bệnh [13]
Trong nghiên cứu của Bùi Khánh Thuận (2009) trên tất cả các người bệnh ĐTĐ týp 2 điều trị nội và ngoại trú cho thấy: Có 62% người bệnh trả lời đúng trên 52% câu hỏi về kiến thức Hơn 90% người bệnh đã đồng ý rằng chế độ ăn và hoạt động thể lực là quan trọng Tuy nhiên chỉ có 72% người bệnh có hoạt động thể lực
và một số ít người bệnh không tuân thủ chế độ ăn Có mối liên quan giữa thái độ và kiến thức (p < 0,05), giữa kiến thức và hành vi (p < 0,05), không có mối liên quan giữa thái độ và hành vi (p > 0,05) [14]
Năm 2013, Lê Thị Hương Giang và Hà Văn Như [15] thực hiện trên 210 người bệnh ĐTĐ type 2 trong vòng 6 tháng cho thấy 79% người bệnh tuân thủ chế
độ dinh dưỡng Cụ thể: 30% người bệnh luôn chọn thực phẩm ít béo, 38.1% hạn chế
sử dụng các chế phẩm chứa nhiều đường Tỷ lệ có sử dụng các chất trong khẩu phần
ăn lần lượt là 85% với chất bột, rau 87.1% và chất đạm 88.1%; 8.1% người bệnh tuân thủ khẩu phần sữa hàng ngày và 20% đảm bảo các bữa ăn cách nhau từ 4-5 giờ
Năm 2013, Đỗ Quang Tuyển và cộng sự [16] đã tiến hành nghiên cứu kiến thức và thực hành về tuân thủ chế độ dinh dưỡng ở người bệnh ĐTĐ Typ 2, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy có 98,8% người bệnh có kiến thức đúng nên ăn các loại rau, tỷ lệ người bệnh
Trang 22thực hành không đúng về chế độ ăn rau củ quả với mức < 5 đơn vị chuẩn (tương đương 400g rau) chiếm 44,8% Cần tăng cường hơn nữa việc tư vấn tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho người bệnh ĐTĐ týp 2
Năm 2015, Hoàng Thanh Quang [17] nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La về “Đánh giá kiến thức, thái độ, kỹ năng thực hành của người bệnh về bệnh đái tháo đường đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã năm 2015” cho thấy: Tỷ lệ mắc ở nhóm nông dân cao hơn chiếm 69.54%, nhóm cán bộ công chức chiếm 9.27%, nhóm cán bộ hưu trí chiếm 21.19%; Người bệnh có thời gian phát hiện bệnh từ 1- 5 năm chiếm tỷ lệ cao 53.64% Người bệnh mới phát hiện < 1 năm chiếm tỷ lệ 17.22%, Người bệnh có thời gian phát hiện bệnh ≥ 5 năm chiếm 29,14%; Một số triệu chứng lâm sàng ở người bệnh đái tháo đường rất đa dạng Các triệu chứng cổ điển ăn nhiều, gầy nhiều, đái nhiều, uống nhiều có thể gặp đầy đủ hoặc không đầy đủ trên một người bệnh Tần xuất xuất hiện các triệu chứng lần lượt là ăn nhiều 33.77%, uống nhiều 69.54%, đái nhiều 86.75%, gầy sút cân 88.08%; Một số biến chứng: Tỷ lệ người bệnh đái tháo đường có ít nhất một biến chứng chiếm 60.26% Trong đó, biến chứng tim mạch là 49.67%, biến chứng thận 43.05%, biến chứng thần kinh 16.56%
Tỷ lệ các biến chứng tăng theo tuổi và tăng theo thời gian mắc bệnh của người bệnh Ở nhóm người bệnh có thời gian phát hiện bệnh trên 5 năm biến chứng tim mạch là 52,17%, biến chứng thận 41.34% Tuy nhiên, nhóm người bệnh có thời gian phát hiện bệnh 1-5 năm có tỷ lệ biến chứng cao nhất có thể do tỷ lệ người bệnh
ở nhóm này chiếm 53.64% tổng số người bệnh Chỉ số glucose máu trung bình của các nhóm tuổi đều cao nhưng nhóm tuổi từ 40 - 49 cao nhất So sánh với tiêu chí kiểm soát glucose máu của WHO thì glucose máu trung bình nằm ở mức kiểm soát kém Trong 151 người bệnh, kiểm soát glucose máu ở mức tốt chỉ có 1.99%, mức chấp nhận 5.30% và còn 92.71% ở mức kiểm soát kém Người bệnh có nghề nghiệp làm ruộng có mức kiểm soát kém và chấp nhận cao nhất, chiếm tỷ lệ 66.89%
Năm 2017, Tòng Thị Mai Lan [18] nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị
và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường tuýp II điều trị ngoại trú tại
Trang 23Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã năm 2017” cho thấy: Qua nghiên cứu 163 NB chúng tôi nhận thấy: Người bệnh tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 110 (chiếm 67,48%), không tuân thủ 53 (chiếm 32,52%); Người bệnh tuân thủ dùng thuốc đúng liều, đều đặn 153 (chiếm 93,87%); không tuân thủ 10 ( 6,13 %); Người bệnh tuân thủ điều trị thể lực 83 (chiếm 50,92%), không tuân thủ 80 (chiếm 49,08%); Người bệnh tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ 34 (chiếm 24,86%) , không tuân thủ 129 (chiếm 79,14%); Người bệnh tuân thủ khám định kỳ đúng hẹn
77 NB (chiếm 47, 24%), không tuân thủ 86 (chiếm 52,76%)
Qua 2 nghiên cứu của Hoàng Thanh Quang năm 2015 và Tòng Thị Mai Lan năm 2017 tại Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã Với các kiến nghị: Tăng cường công tác tư vấn, truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh và gia đình người bệnh đặc biệt quan tâm tới người bệnh để người bệnh có kiến thức tuân thủ đúng chế độ điều trị kiểm soát được glucose máu Hướng dẫn người bệnh và gia đình người bệnh cùng tuyên truyền tăng cường hoạt động thể lực, luyện tập thể thao thể dục và có chế độ ăn hợp lý nhằm giảm thiểu khả năng mắc bệnh, nâng cao sức khỏe góp phần phòng bệnh tốt hơn Tăng cường nhân lực có trình độ chuyên khoa phù hợp để tư vấn, khám kê đơn cho người bệnh nâng cao hiệu quả điều trị Bệnh viện
đã quan tâm thực hiện các giải pháp tăng cương cho công tác khám chữa bệnh, hoạt động Câu lạc bộ người bệnh mãn tính, đăng ký khám bệnh, qua điện thoại, thay đổi giờ làm việc khám sớm trước 1h, cử cán bộ hướng dẫn người bệnh, cải tạo nâng cấp
cơ sở vật chất và tăng cường nhân lực cho khoa khám bệnh bệnh mãn tính Nhưng vẫn còn tình trạng người bệnh còn chưa nhận thức về bệnh chưa đầy đủ nên còn người bệnh bỏ thuốc, hết thuốc không đến khám ngay làm cho việc kiểm soát glucose máu chưa tốt, nguy cơ biến chứng Chính vì vậy, công tác giáo dục sức khoẻ cho người bệnh rất quan trọng, việc tăng cường bác sỹ đặc biệt bác sỹ chuyên khoa
là hết sức cần thiết
Trang 24Chương 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN
2.1 Giới thiệu sơ lược về Bệnh viện Hữu Nghị
Bệnh viện Hữu Nghị, địa chỉ số 1 Trần Khánh Dư, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; là Bệnh viện đa khoa Hạng I trực thuộc Bộ Y tế, thành lập ngày 28/3/1958 có chức năng nhiệm vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho các cán bộ trung, cao cấp của Đảng và Nhà nước, các tỉnh phía Bắc Ngoài nhiệm vụ khám, điều trị, chăm sóc cho người bệnh tại bệnh viện, bệnh viện Hữu Nghị còn có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho các cán bộ Trung ương tại các Phòng Bảo vệ sức khỏe Trung ương (Trung ương 2, 3 và 5), đóng ngoài địa bàn bệnh viện, thường trực phục vụ các Hội nghị lớn của Đảng và Nhà nước như Đại Hội Đảng, họp Quốc hội, đón đoàn khách Quốc tế… Bên cạnh nhiệm vụ điều trị, chăm sóc đối tượng người bệnh theo tiêu chuẩn, bệnh viện còn tiếp nhận và điều trị cho người bệnh trong và ngoài địa bàn Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận chuyển tuyến lên điều trị tại khoa khám bệnh chữa bệnh theo yêu cầu với gần 100 giường bệnh
Ảnh1 PGS.TS: Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế và lãnh đạo Đảng, Nhà
nước cắt băng khánh thành Nhà khám bệnh đa khoa tháng 2/2019
Trang 25Với 61 năm trưởng thành và phát triển, Bệnh viện Hữu Nghị đã được xây dựng khang trang, hiện đại, tương đối hoàn chỉnh (do tính chất đặc thù nên bệnh viện không có khoa Nhi và khoa Sản), với 25 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng và
09 phòng chức năng, với qui mô 877 giường thực kê Bệnh viện đã trang bị nhiều máy móc hiện đại (điển hình như máy chụp cắt lớp 256 dãy, máy chụp và can thiệp mạch…), triển khai và phát triển nhiều kỹ thuật mới, tiên tiến, chuyên sâu (mổ tim hở, thay khớp, đổ xi măng cột sống, can thiệp tim mạch điều trị nhồi máu
cơ tim, bệnh mạch vành, mạch não, điều trị tiêu sợi huyết cho người bệnh tai biến mạch máu não, nút mạch gan, can thiệp giảm đau ) Một số cán bộ chuyên môn của Bệnh viện đã trở thành những chuyên gia hàng đầu của cả nước ở một số chuyên ngành như Chẩn đoán hình ảnh, Gây mê hồi sức
Hoạt động chuyên môn khám chữa bệnh của Bệnh viện Hữu Nghị đã có nhiều khởi sắc, ngày càng tiến bộ, tính chuyên nghiệp ngày càng cao Công tác chăm sóc toàn diện người bệnh luôn được duy trì và từng bước hoàn thiện tốt hơn Bệnh viện Hữu Nghị là con chim đầu đàn trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, là bệnh viện đầu tiên triển khai ứng dụng bệnh viện không phim… cùng với đó các đơn vị Dược lâm sàng, đơn vị giảm đau được thành lập góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị người bệnh Hàng năm, Bệnh viện tiếp nhận khám ngoại trú cho khoảng 264.000 lượt người bệnh, điều trị nội trú cho gần 16.000 người bệnh, thực hiện được trên 45.000 thủ thuật - phẫu thuật các loại
Là bệnh viện đa khoa Trung ương loại I với tính chất đối tượng người bệnh của bệnh viện hầu hết là người cao tuổi, đa bệnh tật, nên mô hình bệnh tật tại bệnh viện rất đa dạng và phong phú Khoa khám bệnh Nội tiết đái tháo đường được đưa vào khám chuyên khoa cho người bệnh từ năm 2012 đã góp phần phân loại người bệnh tốt nhất đặc biệt là giảm quá tải cho các khoa khám bệnh nội khác, đã được thuận tiện và đem lại sự hài lòng cho người bệnh Việc sử dụng thuốc cho người bệnh cũng đa dạng về chủng loại cũng như các dạng thuốc, đường dùng… thêm vào đó bệnh viện tiến hành nhiều kỹ thuật cao cần tiêm thuốc cản quang, gây tê, gây mê…