1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan của học sinh tại hai trường trung học cơ sở thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa năm 2014

110 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan của học sinh tại hai trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung
Người hướng dẫn GS.TS. Vũ Sinh Nam, ThS. Trần Quỳnh Anh
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y học công cộng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN THỊ THÙY DUNG GUYỄNNGUYỄN THỊ THNÙY DUNGTHỊ THÙY DUNG THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG BỆNH SỐT

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

GUYỄNNGUYỄN THỊ THNÙY DUNGTHỊ THÙY DUNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH

VỀ PHÒNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE VÀ MỘT

SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TẠI 2 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ NHA TRANG,

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

GUYỄN THỊ THÙY DUNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH

VỀ PHÒNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE VÀ MỘT

SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TẠI 2 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ NHA TRANG,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, các

Thầy, Cô trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt và trang bị những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt hai năm học tập tại

Trường

Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn:

Thầy hướng dẫn khoa học là GS.TS Vũ Sinh Nam và giáo viên hỗ trợ hướng dẫn - ThS Trần Quỳnh Anh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chia sẻ và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu khoa học để em có thể hoàn thành tốt luận văn

Sở Y tế Khánh Hòa và Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Khánh Hòa đã tạo điều kiện cho em được tham gia khóa học này

Trung tâm Y tế thành phố Nha Trang, Đội Y tế dự phòng thành phố Nha Trang, Ban Giám hiệu, học sinh Trường THCS Mai Xuân Thưởng và Trường THCS Nguyễn Khuyến đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ và hỗ trợ em trong việc thu thập số liệu thực hiện luận văn

Các Anh, Chị đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và động viên em trong suốt khóa học

Các bạn lớp Cao học Y tế công cộng khóa 16 đã hỗ trợ và chia sẻ nhiều kinh nghiệm trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Trân trọng cảm ơn!

Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2014

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮC NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đại cương về Sốt xuất huyết Dengue 4

1.2 Lịch sử và tình hình Sốt xuất huyết Dengue 15

1.3 Một số nghiên cứu về phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue 19

1.4 Khung lý thuyết của nghiên cứu 27

1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 28

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31

2.3 Thiết kế nghiên cứu 31

2.4 Cỡ mẫu 31

2.5 Phương pháp chọn mẫu 32

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.7 Các biến số nghiên cứu 35

2.8 Tiêu chuẩn và cách đánh giá 36

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 39

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 39

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 39

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 40

3.2 Kết quả nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh SXHD 42

3.3 Nguồn cung cấp thông tin về phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue 52

HUPH

Trang 5

3.4 Một số yếu tố liên quan tới thực hành về phòng bệnh SXHD của HS THCS 53

Chương 4: BÀN LUẬN 59

KẾT LUẬN 68

KHUYẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 76

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi phát vấn 76

Phụ lục 2: Bảng biến số nghiên cứu 87

Phụ lục 3: 10 tỉnh/thành phố có tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất cả nước 2013 91

Phụ lục 4: Tình hình mắc SXHD ở thành phố Nha Trang năm 2013 92

Phụ lục 5: Một số hình ảnh huy động sự tham gia của cộng đồng và học sinh 93

Phụ lục 6: Biên bản chỉnh sửa sau bảo vệ luận văn 98

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DCCN Dụng cụ chứa nước ĐTV Điều tra viên

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

HUPH

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 1.1: Tình hình SXHD tại khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2013 16

Bảng 1.2: Tình hình mắc và chết SXHD ở Việt Nam từ 2000 - 2013 18

Bảng 1.3: Tình hình Sốt xuất huyết Dengue năm 2013 so với 2012 18

Bảng 3.1: Kiến thức về phòng bệnh SXHD của học sinh THCS (n = 320) 42

Bảng 3.2: Thái độ của học sinh về phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue (n = 320) 46

Bảng 3.3: Tỷ lệ HS THCS đã từng giúp GĐ thực hành phòng bệnh (n = 311) 49

Bảng 3.4: Thực hành của HS về kiểm tra, súc rửa dụng cụ chứa nước (n = 311) 49

Bảng 3.5: Thực hành của học sinh về xử lý khi có người mắc SXHD (n = 311) 50

Bảng 3.6: Nguồn cung cấp thông tin về SXHD cho học sinh trung học cơ sở 52

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa các đặc tính của mẫu và kiến thức về phòng bệnh 53

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa các đặc tính của mẫu và thái độ về phòng bệnh 54

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa các đặc tính của mẫu và thực hành phòng bệnh 55

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về phòng bệnh SXHD 57

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về phòng bệnh SXHD 57

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa thái độ và thực hành về phòng bệnh SXHD 58

HUPH

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang Biểu đồ 1.1: Tình hình SXHD tỉnh Khánh Hòa 6 năm (2008 - 2013) 29

Biểu đồ 1.2: So sánh SXHD tỉnh Khánh Hòa theo tháng năm 2008 - 2013 29

Biểu đồ 1.3: So sánh tình hình SXHD của Khánh Hòa với các tỉnh trong khu vực 30

Biểu đồ 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính 40

Biểu đồ 3.2: Phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứu 40

Biểu đồ 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khối lớp học 41

Biểu đồ 3.4: Phân bố số thành viên trong gia đình của đối tượng nghiên cứu 41

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ học sinh THCS biết véc tơ truyền bệnh của bệnh SXHD 44

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ học sinh THCS biết về nơi lăng quăng thường sống 44

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ kiến thức chung của học sinh THCS về phòng bệnh SXHD 45

Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ thái độ tích cực của HS THCS về phòng bệnh theo trường 47

Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ thái độ tích cực của HS THCS về phòng bệnh theo khối lớp 48

Biểu đồ 3.10: Tỷ lệ thái độ chung của học sinh THCS về phòng bệnh SXHD 48

Biểu đồ 3.11: Tỷ lệ thực hành đạt của HS về phòng bệnh SXHD phân theo trường 50

Biểu đồ 3.12: Tỷ lệ thực hành đạt của HS về phòng bệnh phân theo khối lớp 51

Biểu đồ 3.13: Tỷ lệ thực hành chung của học sinh THCS về phòng bệnh SXHD 51

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, phổ biến, lây nhiễm thành dịch và đang có xu hướng gia tăng Năm 2013 cả nước ghi nhận 66.138 trường hợp mắc tại 49 tỉnh/thành phố, 42 trường hợp tử vong,

số mắc/100.000 dân của cả nước là 73,7 Riêng tỉnh Khánh Hòa năm 2013 có 6.988

ca mắc, 04 trường hợp tử vong So với cùng kỳ năm 2012 (5.887 ca), số mắc tăng

18,7%, trong đó thành phố Nha Trang chiếm tỷ lệ cao nhất 31% (2.335 ca mắc)

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue và một số yếu tố liên quan của học sinh tại hai trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 2014” với mục

tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh SXHD của học sinh trung học cơ sở, và (2) Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh SXHD của học sinh tại hai trường trung học cơ sở (THCS) thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 2014 Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2014 đến tháng 6/2014, sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, phát vấn 320 học sinh trung học cơ sở, đây là đối tượng có vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền và thực hành phòng bệnh SXHD tại gia đình và cộng đồng Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân tầng tỷ lệ từ học sinh các khối lớp học (7, 8, 9) của hai trường THCS trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 85,3% đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng, 51,2% có thái độ tích cực và 45,9% có thực hành đạt về phòng bệnh SXHD (với mức quy định đúng, tích cực hay đạt là kết quả lớn hơn trung bình ở nhóm các đối tượng nghiên cứu) Nguồn thông tin về phòng bệnh SXHD mà học sinh tiếp cận chủ yếu qua thầy, cô giáo (97,8%) và các kênh truyền thông như ti vi (95,9%), sách, báo, cán bộ y tế xã, loa, đài xã/phường, tranh ảnh, tờ rơi, khẩu hiệu và cán bộ ngành, đoàn thể xã/phường (từ 63,4% đến 85,6%) Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ; kiến thức và thực hành; thái độ và thực hành có ý nghĩa thống kê

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp cho ngành y tế địa phương có những giải pháp can thiệp, truyền thông hiệu quả trong công tác phòng, chống SXHD

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue

gây ra và muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus là trung gian truyền bệnh, trong

đó muỗi Aedes aegypti là véc tơ truyền bệnh chính [4] Bệnh lưu hành trên 100

nước thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Trong 50 năm qua, tỷ lệ mắc SXHD đã tăng lên 30 lần với

sự gia tăng các vùng nhiễm mới trong những năm gần đây, từ thành thị đến nông thôn Ước tính có 50 triệu người nhiễm Dengue hàng năm và khoảng 2,5 tỷ người

sống trong các vùng có nguy cơ cao về Dengue [41]

Ở Việt Nam, Sốt xuất huyết Dengue là bệnh dịch lưu hành địa phương, nhất

là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và ven biển miền Trung

Do đặc điểm địa lý, khí hậu khác nhau, ở miền Nam và miền Trung bệnh xuất hiện quanh năm, ở miền Bắc và Tây Nguyên bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng

11 Bệnh SXHD phát triển nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9, 10 trong năm [4]

Ca Sốt xuất huyết Dengue đầu tiên được Gaide ghi nhận ở Việt Nam từ năm

1913 [7] Trong nhiều năm qua, SXHD đã trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng Công tác phòng, chống SXHD đã được Chính phủ triển khai thành chương trình quốc gia từ năm 1999 Tuy nhiên, những năm gần đây, số mắc

và tử vong do SXHD có xu hướng tăng lên và là một trong 10 bệnh truyền nhiễm có

số mắc và chết cao nhất trong 26 bệnh truyền nhiễm gây dịch [22] Năm 2013, cả nước ghi nhận 66.138 trường hợp mắc tại 49 tỉnh/thành phố, 42 trường hợp tử vong,

số mắc/100.000 dân của cả nước là 73,7 [6]

Khánh Hòa là một trong những tỉnh có số lượng người mắc Sốt xuất huyết Dengue cao nhất khu vực Miền Trung nói riêng và cả nước nói chung Mặc dù công tác phòng, chống SXHD đã được ngành y tế địa phương triển khai tích cực, tuy nhiên trong những năm qua, dịch vẫn không có chiều hướng giảm mà đang có xu hướng diễn biến ngày càng phức tạp hơn Trong giai đoạn 2010 - 2012, dịch SXHD

đã 2 lần bùng phát tại Khánh Hòa với số mắc cao: năm 2010 có 6.928 ca và năm

2012 là 5.887 ca Năm 2013 có 6.988 ca mắc, 04 trường hợp tử vong So với cùng

HUPH

Trang 11

kỳ năm 2012 (5.887 ca), số mắc tăng 18,7% [18] Trong đó thành phố Nha Trang

chiếm tỷ lệ cao nhất 31% với 2.335 ca mắc [24]

Cùng với nguy cơ tiềm ẩn bùng phát dịch bất cứ lúc nào, tồn tại mối lo ngại

tính kháng thuốc của muỗi Aedes aegypti Vũ Sinh Nam và cộng sự (2010) qua nghiên cứu cho thấy: muỗi Aedes aegypti kháng hoặc có khả năng kháng với DDT

4% và có khả năng kháng với malathion 5% [12]

Hiện nay, chương trình phòng, chống Sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng, ngoài sự tham gia đóng vai trò quan trọng của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Đội Y tế dự phòng và trạm y tế các xã/phường thì còn dựa vào một lực lượng duy nhất đó là các cộng tác viên sức khỏe cộng đồng; các ban ngành, đoàn thể tham gia chủ yếu khi có đợt dịch xảy ra

Qua một số nghiên cứu của Nguyễn Lâm (2009) [11], Trần Thị Cẩm Nguyên

và Nguyễn Đỗ Nguyên (2010) [14], Phạm Thị Nhã Trúc và Phạm Trí Dũng (2011) [25], Nguyễn Hải Đăng (2012) [10] đã cho thấy hiệu quả trong can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng bệnh SXHD trên đối tượng học sinh THCS, tỷ lệ học sinh có kiến thức, thái độ và thực hành đúng có gia tăng

Từ đó cho thấy biện pháp phòng bệnh dựa vào cộng đồng là lựa chọn hiệu quả nhất hiện nay Nhưng cần có một hướng tiếp cận mới trong công tác phòng bệnh SXHD: đó là sử dụng đối tượng học sinh cùng tham gia vào công tác phòng bệnh SXHD, mỗi học sinh sẽ tự kiểm tra và diệt lăng quăng tại chính gia đình của mình Để có cơ sở và bằng chứng khoa học khi tiếp cận và huy động sự tham gia của lực lượng này một cách phù hợp và hiệu quả, chúng ta cần phải biết được: kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh SXHD của đối tượng học sinh như thế nào? Và yếu tố nào liên quan đến thực hành phòng bệnh SXHD của các em học sinh trung học cơ sở? Từ đó đưa ra những khuyến nghị và có những giải pháp can thiệp, truyền thông hiệu quả trên nhóm đối tượng này

Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng

liên quan của học sinh tại hai trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue của học sinh tại hai trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 2014

2 Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue của học sinh tại hai trường trung học cơ sở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 2014

HUPH

Trang 13

C hương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về Sốt xuất huyết Dengue

1.1.1 Dịch tễ học

Bệnh Sốt xuất huyết Dengue là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn Đây là bệnh dịch lưu hành địa phương ở Việt Nam, nhất là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven

biển miền Trung Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus là trung gian truyền bệnh, trong đó muỗi Aedes aegypti là véc tơ truyền bệnh chính [4] Bệnh có biểu

hiện lâm sàng chủ yếu là sốt, thoát huyết tương và xuất huyết với nhiều dạng khác nhau; những thể nặng có sốc do giảm khối lượng máu lưu hành, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong [3],

[9] Bệnh lưu hành trên 100 nước thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Trong 50 năm qua, tỷ lệ mắc SXHD đã tăng lên 30 lần với sự gia tăng các vùng nhiễm mới trong những năm gần đây, từ thành thị đến nông thôn Ước tính có 50 triệu người nhiễm Dengue hàng

năm và khoảng 2,5 tỷ người sống trong các vùng có nguy cơ cao về Dengue [41]

1.1.2 Tác nhân gây bệnh

Bệnh do vi rút Dengue thuộc nhóm Flavivirus, họ Flaviviridae với 4 típ

huyết thanh DEN1, DEN2, DEN3 và DEN4 [4] Khi vào cơ thể, vi rút nhân lên trong tế bào bạch cầu đơn nhân để gây bệnh [3] Vi rút Dengue có 3 ổ chứa là người, muỗi, một số động vật thuộc nhóm linh trưởng như vượn, hắc tinh tinh Ở mỗi nước và khu vực có thể gặp cả 4 típ, nhưng trong mỗi vụ dịch tùy theo có típ nổi trội hơn [4], [9]

1.1.3 Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền

Thời kỳ ủ bệnh từ 3 - 14 ngày, trung bình từ 5 - 7 ngày Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn máu có nhiều

vi rút Muỗi bị nhiễm vi rút thường sau 8 - 12 ngày sau hút máu có thể truyền bệnh

và truyền bệnh suốt đời [4]

HUPH

Trang 14

1.1.4 Tính cảm nhiễm và sức đề kháng

Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh, từ trẻ sơ sinh cho đến người lớn Sau khi khỏi bệnh sẽ được miễn dịch suốt đời với típ vi rút Dengue gây bệnh nhưng không được miễn dịch bảo vệ chéo với các típ vi rút khác Nếu bị mắc bệnh lần thứ hai với típ vi rút Dengue khác, có thể bệnh nhân sẽ bị bệnh

nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue [4]

C (11 -

18 ngày), ở nhiệt độ cao hơn 32 - 350C chỉ cần 4 - 7 ngày [9]

Hình 1: Muỗi Aedes aegypti Hình 2: Muỗi Aedes albopictus

Những đặc điểm sinh học cần chú ý của loài muỗi này là sự tồn tại khá lâu của trứng, chịu đựng được nhiều tháng trong mùa khô Các ổ chứa bọ gậy, lăng quăng thông thường là ổ chứa tự nhiên như hốc cây, thân tre, vỏ ốc, kẽ bẹ lá, ít khi gặp trên hốc đá; ổ chứa nhân tạo như lu, khạp, hồ, phuy, chai lọ, chân chén chống kiến, lọ hoa, những vật dụng phế thải xung quanh nhà có chứa nước,

HUPH

Trang 15

1.1.6 Đặc điểm lâm sàng của Sốt xuất huyết Dengue

Bệnh Sốt xuất huyết Dengue có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua 3 giai

đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục [3]

cao đột ngột, liên tục; nhức đầu, chán ăn, buồn nôn; da xung huyết, đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt, nghiệm pháp dây thắt dương tính, thường có chấm xuất

huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam

thể còn sốt hoặc đã giảm sốt, có thể có các biểu hiện sau: biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, xuất huyết dưới da, xuất huyết ở niêm mạc, xuất huyết nội tạng Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc

tái hấp thu dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch Giai đoạn này kéo dài 48 -

72 giờ Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều

Hình 3: Chu trình sinh s ả n c ủ a mu ỗ i Aedes

B ọ g ậ y Aedes Quăng Aedes

Mu ỗ i cái Aedes đ ã no máu

Trang 16

1.1.7 Điều trị bệnh

Bệnh Sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 mức độ (theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2009): sốt xuất huyết Dengue, sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo, sốt xuất huyết Dengue nặng [3]

Điều trị bệnh Sốt xuất huyết Dengue được tiến hành theo hướng dẫn tại Quyết định 458/QĐ-BYT ngày 16/02/2011 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị Sốt xuất huyết Dengue [3]

- Điều trị Sốt xuất huyết Dengue:

Phần lớn các trường hợp đều được điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở, chủ yếu là điều trị triệu chứng và phải theo dõi chặt chẽ, phát hiện sớm sốc xảy ra

để xử trí kịp thời

Người bệnh được cho nhập viện điều trị Nên xem xét truyền dịch nếu người bệnh không uống được, nôn nhiều, có dấu hiệu mất nước, lừ đừ…

- Điều trị Sốt xuất huyết Dengue nặng:

Người bệnh phải được nhập viện điều trị cấp cứu

1.1.8 Phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue

1.1.8.1 Vắc xin phòng bệnh

Đến nay, bệnh Sốt xuất huyết Dengue chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh, vì vậy diệt véc tơ, đặc biệt là diệt bọ gậy, lăng quăng với sự tham gia tích cực của từng hộ gia đình (HGĐ) và cả cộng đồng là biện pháp

hiệu quả trong phòng, chống SXHD [4]

1.1.8.2 Giám sát véc tơ

Giám sát véc tơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh, sự biến động của véc tơ, tính nhạy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng và đánh giá hoạt động phòng chống véc tơ tại cộng đồng [4]

Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay trong thời gian 15 phút Số nhà điều tra cho mỗi điểm là 30 nhà, điều tra 1 lần/tháng

HUPH

Trang 17

Những chỉ số sử dụng để theo dõi muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus (tính theo từng loài):

a Chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi: là số muỗi cái trung bình trong một gia đình điều tra

số lượng bọ gậy Aedes trong các chủng loại DCCN khác nhau để xác định nguồn phát sinh muỗi Aedes chủ yếu của từng địa phương theo mùa trong năm hoặc theo

từng giai đoạn để điều chỉnh, bổ sung các biện pháp tuyên truyền và phòng chống véc tơ thích hợp

Xác định ổ bọ gậy nguồn sẽ tiến hành theo đơn vị tỉnh, điều tra trong những

xã điểm 2 lần/năm, mỗi lần điều tra 100 nhà

Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi bọ gậy của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus:

a Chỉ số nhà có bọ gậy (CSNCBG): là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes

Trang 18

b Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CSDCBG): là tỷ lệ phần trăm dụng

cụ chứa nước có bọ gậy Aedes

Số DCCN có bọ gậy Aedes

CSDCBG (%) = x 100

Số DCCN điều tra

c Chỉ số Breteau (BI): là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra

Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau:

Riêng khu vực miền Bắc chỉ số mật độ muỗi cao (> 0.5 con/nhà) hoặc chỉ số

BI > 20 là yếu tố nguy cơ cao

Việc giải quyết véc tơ truyền bệnh bằng các biện pháp sinh học, hóa học, cơ học vẫn là biện pháp chủ yếu trong phòng, chống SXHD hiện nay Trên thực tế không có biện pháp diệt muỗi nào là hoàn hảo, mỗi biện pháp đều có mặt tốt và chưa tốt Chính vì thế nên áp dụng tổng hợp các biện pháp tùy theo các đặc điểm, điều kiện của mỗi nước và mỗi địa phương

- Biện pháp hóa học:

Hóa chất diệt côn trùng được sản xuất dưới nhiều dạng khác nhau như bột mịn, bột hòa nước, hạt, nhũ dầu, dung dịch, dạng để phun khí dung ULV…, từ đó

HUPH

Trang 19

công dụng khác nhau, cách sử dụng khác nhau, nồng độ và liều lượng hữu hiệu của mỗi loại hóa chất cũng khác nhau

Qua nhiều vụ dịch cho thấy sau 20 - 30 ngày, mật độ muỗi Aedes aegypti trở

lại bình thường như trước khi phun khí dung ULV, do bọ gậy, lăng quăng trong các vật chứa nước tiếp tục nở ra Vì thế, chỉ nên áp dụng phun khí dung ULV để diệt

khẩn cấp muỗi trưởng thành Aedes aegypti nhằm ngăn chặn sự bùng phát của dịch;

để nâng cao hiệu quả của biện pháp phun khí dung ULV, cần phải đồng thời triển khai các biện pháp phối hợp khác như vận động người dân diệt bọ gậy, lăng quăng

Ở Việt Nam, nghiên cứu cá ăn lăng quăng muỗi được áp dụng có kết quả tốt trong phòng, chống SXHD và Sốt rét nhiều năm nay Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các loại cá sẵn có ở địa phương như cá sóc, cá bảy màu, cá rô phi đều có thể được sử dụng để diệt lăng quăng Tuy nhiên, biện pháp này chỉ áp dụng được ở những DCCN có thể tích lớn, còn các loại DCCN nhỏ và các vật phế thải lại không

áp dụng được, trong khi số lượng các DCCN nhỏ và các vật phế thải như vỏ đồ hộp, khạp, chân chén, lọ hoa, lốp xe hỏng, vỏ dừa rất lớn, và đây là là nơi có thể trở

thành ổ chứa lăng quăng của muỗi Aedes aegypti

- Mesocyclops:

qua giao phối Mesocyclops có chu kỳ phát triển ngắn và có khả năng sinh sản rất

cao; khả năng này phụ thuộc vào điều kiện sống như nhiệt độ, thiên địch và đặc biệt

là thức ăn; chính vì thế chúng có thể khôi phục quần thể trong điều kiện thuận lợi

Kết quả trong phòng thí nghiệm cho thấy các loài Mesocyclops có khả năng ăn và cắn chết bọ gậy rất cao, từ 24 đến 41,3 bọ gậy Aedes aegypti tuổi 1 trong 24 giờ

nhau Từ những đặc điểm đó, Mesocyclops đã trở thành tác nhân sinh học mới góp phần tích cực ngăn chặn sự phát triển của muỗi Aedes aegypti trong phòng, chống

chủ động SXHD hiện nay [26]

HUPH

Trang 20

soát Aedes aegypti hiệu quả có thể đạt được bằng việc sử dụng một biện pháp tổng hợp nhằm vào bọ gậy Tính bền vững của chương trình chỉ có thể đạt được khi cộng đồng tham gia trong các chương trình kiểm soát muỗi Để đạt được mong muốn trên, ngoài các biện pháp sinh học, hóa học, cơ học tiêu diệt lăng quăng, bọ gậy thì công tác truyền thông, huy động cộng đồng tham gia phòng, chống SXHD cần phải được chú trọng Công tác phòng, chống SXHD không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành y tế mà cần phải có sự tham gia, phối hợp nhiệt tình của các ban ngành có liên quan và đặc biệt là sự tham gia tích cực của cộng đồng [23].

nhân sinh học diệt lăng quăng (thả cá, mesocyclops)

- Tập huấn cho lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể, mạng lưới y

tế, cộng tác viên, giáo viên, học sinh nhà trường về bệnh SXHD, các hoạt động cụ thể loại trừ nơi sinh sản của véc tơ

HUPH

Trang 21

- Điều tra xác định ổ bọ gậy nguồn tại địa phương và biện pháp xử lý thích hợp cho từng chủng loại ổ bọ gậy

- Tổ chức các hoạt động diệt bọ gậy thường xuyên đến từng hộ gia đình thông qua hoạt động của cộng tác viên (CTV) y tế, học sinh và các tổ chức quần

chúng (thả cá, mesocyclops, đậy nắp các DCCN, loại bỏ vật dụng phế thải…)

- Phun chủ động hóa chất diệt muỗi tại những nơi có nguy cơ cao

- Tổng hợp kết quả và báo cáo cho tuyến trên theo qui định

Huy động sự tham gia của cộng đồng tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi địa phương Sau đây là một số hướng dẫn, thực hành lựa chọn khi thực hiện hoạt động phòng chống véc tơ SXHD tại địa phương:

Bọ gậy Aedes có thể phát triển ở các DCCN trong nhà và xung quanh nhà, vì

vậy xử lý DCCN để làm giảm nguồn sinh sản là biện pháp rất hiệu quả trong phòng chống véc tơ

Trang 22

c Loại trừ ổ bọ gậy:

- Thu dọn, phá hủy các ổ chứa nước tự nhiên hoặc nhân tạo (chai, lọ, lu, vò

vỡ, vỏ đồ hộp, lốp xe hỏng, vỏ dừa ) cho vào túi rồi chuyển đến nơi thu gom phế thải của địa phương hoặc hủy bỏ bằng chôn, đốt

- Lật úp các dụng cụ gia đình như xô, chậu, bát, máng nước gia cầm

- Xử lý hốc cây, kẽ lá cây (chuối, cọ, dừa ) bằng cách chọc thủng, cho hóa chất diệt bọ gậy

- Làm lưới chắn ở cửa ra vào, cửa sổ Ngủ màn ban ngày, nhất là đối với trẻ nhỏ

* Xua, diệt muỗi:

- Bằng hương muỗi, bình xịt thuốc cá nhân, hun khói bằng đốt vỏ cau, dừa hoặc lá cây Treo mành tre, rèm tẩm hóa chất diệt muỗi ở cửa ra vào, cửa sổ, vợt điện…

- Tuyến tỉnh, huyện: Phối hợp với các cơ quan thông tin tại địa phương bao gồm: đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí và các phương tiện thông tin khác

- Tuyến xã, phường: Tổ chức các buổi phổ biến kiến thức phòng, chống SXHD trong các trường học, các buổi họp dân, khẩu hiệu, tờ tranh, các cuốn sách nhỏ, thăm hỏi của CTV y tế, truyền thanh, các buổi chiếu video…bằng những thông tin đơn giản, dễ hiểu, minh họa rõ ràng

Những hoạt động cụ thể như sau:

a Đối với cá nhân: Vận động từng thành viên gia đình thực hiện các biện pháp thông thường phòng, chống SXHD, bao gồm làm giảm nguồn lây truyền, bảo

Trang 23

sách nhỏ, mạng lưới CTV y tế, hoạt động của nhà trường Đánh giá tình hình dịch

và những kết quả tham gia của cộng đồng

- Huy động phụ huynh và học sinh trong trường học về các biện pháp đơn giản loại trừ nơi sinh sản của véc tơ ở nhà cũng như ở trường học Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về SXHD, các biện pháp phòng, chống SXHD, động viên khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể có nhiều đóng góp thiết thực

- Khuyến khích các công ty thương mại, du lịch với tư cách là nhà tài trợ tham gia vào việc nâng cao cảnh quan và cải thiện môi sinh trong cộng đồng, làm giảm nguồn sinh sản của véc tơ truyền bệnh

- Kết hợp các hoạt động phòng, chống SXHD với các lĩnh vực phát triển cộng đồng khác: dịch vụ thu gom rác, cung cấp nước sinh hoạt, nhằm làm giảm nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh [4]

1.1.9 Tác hại của bệnh Sốt xuất huyết Dengue và các yếu tố nguy cơ của bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế, xã hội

Bệnh Sốt xuất huyết Dengue là mối nguy cơ đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của người dân Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong, nhất là với trẻ em Bệnh thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc cùng lúc làm cho công tác điều trị hết sức khó khăn, gây thiệt hại lớn về kinh

tế, xã hội

Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh, từ trẻ sơ sinh cho đến người lớn

Bệnh Sốt xuất huyết Dengue gây ảnh hưởng đến sức lao động và kinh tế gia đình Ảnh hưởng của bệnh Sốt xuất huyết Dengue đến nền kinh tế rất lớn Chi phí cho việc điều trị bệnh Sốt xuất huyết Dengue và công tác dập dịch SXHD hàng năm lên đến con số hàng trăm tỷ đồng; vì vậy cần có biện pháp kiểm soát véc tơ phòng chống bệnh SXHD một cách hiệu quả sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí cho việc điều trị bệnh

HUPH

Trang 24

1.2 Lịch sử và tình hình Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và ở Việt Nam

Ở châu Á, năm 1953 một vụ dịch Sốt xuất huyết Dengue xảy ra ở Philippines, năm 1958, một vụ dịch tương tự xảy ra ở Thái Lan và căn nguyên gây

bệnh là vi rút Dengue đã được xác định Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có dịch

SXHD xảy ra, đến nay bệnh SXHD đã lan rộng ra trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Khu vực Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất [44] Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, có 50 triệu người nhiễm Dengue hàng năm và khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng có nguy cơ cao, 70% trong số này (khoảng 1,8

tỷ người) sống ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương [41], [44] Theo báo cáo của

WHO, trong năm 2008, khu vực Châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương

có hơn 1,2 triệu người mắc bệnh SXHD, con số này vào năm 2010 là hơn 2,2 triệu người [44] Những báo cáo của WHO Western Pacific Region Office (WPRO) cũng cho thấy, tình hình SXHD ngày càng gia tăng Sau vụ dịch lớn vào năm 1998, số mắc SXHD tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng tăng Trong giai đoạn 2001 - 2002, mỗi năm khu vực này có khoảng 100.000 người mắc SXHD Con số này tăng lên 150.000 - 170.000 trường hợp vào giai đoạn 2003 - 2006 Từ năm 2007, khu vực này báo cáo có hơn 200.000 trường hợp mắc SXHD mỗi năm

[42] Theo thống kê của WHO, năm 2008, trên thế giới có hơn 16 ngàn người chết

do SXHD, riêng khu vực Tây Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam) có hơn 4 ngàn người chết vì căn bệnh này [45] Năm 2009 đã có 242.424 trường hợp mắc SXHD với 785 trường hợp tử vong đã được báo cáo ở 25 trong 37 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực Các nước bị ảnh hưởng nặng nhất bao gồm: Campuchia

HUPH

Trang 25

(11.699 trường hợp, 38 trường hợp tử vong), Malaysia (41.486 trường hợp, 88 trường hợp tử vong), Philippines (57.819 trường hợp, 548 trường hợp tử vong) và Việt Nam (105.370 trường hợp, 87 trường hợp tử vong) [42] Năm 2010, chỉ riêng khu vực Châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương đã có 2,2 triệu người mắc bệnh SXHD [45]

Ngày 13/10/2011, Tổ chức Y tế thế giới WHO và WPRO đã kêu gọi các nước cam kết và phối hợp hành động chống lại Sốt xuất huyết Dengue Để đạt được kết quả cao trong công tác phòng chống SXHD, theo tiến sĩ Shin: “Chúng ta cần nâng cao năng lực phòng, chống các bệnh truyền nhiễm mới nổi, trong đó có Sốt

xuất huyết Dengue một cách bền vững và hiệu quả” và “Sự tham gia của cộng đồng

là một yếu tố quan trọng trong công tác kiểm soát và phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue, và mỗi người đều có vai trò quan trọng trong việc này” [43]

Theo các báo cáo của WHO, trong năm 2013 tình hình Sốt xuất huyết Dengue tại các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương tiếp tục diễn biến phức

tạp, số mắc tăng từ 14% đến 19,5 lần tại một số quốc gia, cụ thể như sau [6]:

Bảng 1.1: Tình hình SXHD tại khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2013

TT Tên quốc gia

Trang 26

1.2.2 T ại Việt Nam

Ở Việt Nam, từ năm 1913, Gaide đã thông báo về bệnh Dengue cổ điển tại miền Bắc và miền Trung Năm 1929, Boyé có viết về một vụ dịch Dengue cổ điển (1927) ở miền Nam Năm 1958, lần đầu tiên Chu Văn Tường và cộng sự căn cứ trên một số bệnh nhi ở Bệnh viện Bạch Mai thông báo về một vụ dịch nhỏ Sốt xuất huyết Dengue ở Hà Nội Năm 1960, hai vụ dịch nhỏ xảy ra ở Cái Bè và An Giang được chẩn đoán lâm sàng là Sốt xuất huyết Dengue Trong năm đó, một vụ dịch Dengue cổ điển rất lớn bùng ra ở gần hết các tỉnh miền Bắc Tới năm 1963, vụ dịch Dengue xuất huyết đầu tiên được xác định mầm bệnh ở Việt Nam đã xảy ra ở đồng bằng sông Cửu Long Từ đó Dengue xuất huyết tăng dần và lan rộng ra cả nước, từ các thành phố đông dân lan về các thị trấn nông thôn, phát ra các vụ dịch lớn dần, lúc đầu cách 5 - 6 năm, về sau mau hơn, vào những năm 1963, 1969, 1973, 1975,

1977 [8]

Năm 1969, xuất hiện một vụ dịch Dengue xuất huyết đầu tiên ở phía Bắc Năm 1983 là năm có Dengue xuất huyết trên phạm vi cả nước với 260 bệnh nhân/100.000 dân [8] Ở Việt Nam, do đặc điểm địa lý, khí hậu khác nhau, miền Nam và miền Trung bệnh xuất hiện quanh năm, ở miền Bắc và Tây Nguyên bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11 Miền Bắc những tháng khác bệnh ít xảy ra

vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của Aedes

trong năm [4]

Tại Việt Nam, Sốt xuất huyết Dengue được coi là bệnh dịch lưu hành địa phương, chủ yếu là các tỉnh miền Nam và Nam Trung bộ Tỷ lệ mắc bệnh hàng năm trong vòng 10 năm gần đây dao động từ 40 - 310 trường hợp/100.000 dân, trong đó khu vực miền Nam thường xuyên chiếm trên 70% các ca mắc mới, tỷ lệ tử vong có thể lớn hơn 1/100.000 dân, tuy nhiên trong những năm gần đây Việt Nam thường duy trì ở mức thấp hoặc rất thấp, từ 0,1 tới 0,01/100.000 dân [2]

HUPH

Trang 27

(Nguồn: WHO WPRO, Data of dengue 2000 & Dengue station update và [6])

Bảng 1.3: Tình hình SXHD năm 2013 so với 2012 và trung bình 2006 - 2010 [6]

Trang 28

1.3 Một số nghiên cứu về phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

1.3.1.1 N ghiên cứu về chiến lược kiểm soát véc tơ truyền bệnh

WHO đã khẳng định Sốt xuất huyết Dengue là vấn đề sức khỏe công cộng nghiêm trọng và cần phải có chiến lược ứng phó toàn cầu Chính vì thế, WHO đã tiến hành nghiên cứu và trình bày kết quả của nghiên cứu đó tại Geneva vào tháng 10/2006 Nghiên cứu này đã đưa ra những khuyến nghị giúp cho các nhà hoạch định chính sách y tế có các giải pháp phù hợp và hiệu quả trong công tác phòng, chống SXHD [40]

Tác giả Linda S.Lloyd (2003) đã chỉ ra 10 yếu tố chính cho một chương trình kiểm soát và phòng chống Sốt xuất huyết Dengue, những yếu tố này đã giải quyết toàn diện tất cả các khía cạnh của công tác kiểm soát và phòng chống SXHD, bao

gồm: (1) Kết hợp giám sát dịch tễ học và côn trùng học; (2) Vận động và thực hiện các hoạt động liên ngành giữa y tế, môi trường và giáo dục cũng như các ngành khác như công nghiệp, thương mại, du lịch, luật pháp và tư pháp; (3) Sự tham gia hiệu quả của cộng đồng; (4) Quản lý môi trường và giải quyết các dịch vụ cơ bản như cấp nước, xử lý nước đã qua sử dụng, quản lý chất thải rắn, xử lý lốp xe đã qua

sử dụng; (5) Chăm sóc bệnh nhân trong và ngoài hệ thống y tế; (6) Báo cáo các trường hợp; (7) Kết hợp các chủ đề SXHD và sức khỏe vào hệ thống giáo dục; (8) Phân tích việc sử dụng và chức năng của thuốc diệt côn trùng, bao gồm kiểm soát

ấu trùng và kiểm soát muỗi trưởng thành; (9) Đào tạo y tế chính thức của các chuyên gia và nhân viên trong các ngành khoa học xã hội và y tế; (10) Chuẩn bị ứng phó tình trạng khẩn cấp, thành lập cơ chế và kế hoạch để đối mặt với dịch bùng phát và các bệnh dịch [38]

M.N Burattini và các cộng sự (2008) qua nghiên cứu mô phỏng mô hình dịch bệnh tại Singapore vào các năm 2004 - 2005 đã chỉ ra rằng việc kiểm soát các hình thái chưa trưởng thành của véc tơ (ấu trùng, bọ gậy) có hiệu quả rất lớn trong việc ngăn chặn sự trỗi dậy của dịch bệnh SXHD Kiểm soát các hình thái chưa trưởng thành sẽ làm giảm số lượng muỗi trưởng thành Chiến lược phòng, chống

HUPH

Trang 29

SXHD tốt nhất là kết hợp cả 2 biện pháp tiêu diệt muỗi trưởng thành, kiểm soát các hình thái chưa trưởng thành trong vụ dịch và duy trì các biện pháp kiểm soát các hình thái chưa trưởng thành sau khi dịch bệnh đã giảm xuống Mô hình hỗn hợp tiêu diệt muỗi trưởng thành và kiểm soát các hình thái chưa trưởng thành với sự hỗ trợ của Chính phủ sẽ rất hiệu quả trong việc giảm số lượng các trường hợp mắc bệnh trong những tuần đầu tiên sau khi bắt đầu kiểm soát [33, pp 309 - 319]

Qua nghiên cứu dịch Sốt xuất huyết Dengue tại Thái Lan, O Chareonsook

và cộng sự (1999) đã cho thấy: dịch lớn nhất từng được ghi nhận vào năm 1987 với

174.285 trường hợp mắc bệnh, với tỷ lệ mắc trên tổng dân số là 325/100.000 dân,

và 819/100.000 trẻ em dưới 15 tuổi, có 1.007 trường hợp tử vong được ghi nhận với típ DEN2 và DEN3 Típ DEN4 chỉ được tìm thấy vào các năm 1984 - 1985 và năm

1992 Trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ tử vong cao nhất và giảm theo thời gian, từ 0,99% vào năm 1980 giảm xuống còn 0, 3% vào năm 1996 [34, pp 161 - 166]

Joan.M Brunkard và các cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng: tỷ lệ mắc Sốt xuất huyết Dengue tăng 2,6% (CI 95%: 0,2 - 5,1) một tuần sau khi nhiệt độ tăng 10C ở nhiệt độ tối đa hàng tuần và tăng 1,9% (CI 95%: - 0,1 - 3,9) hai tuần sau mỗi lần lượng mưa tăng 1cm hàng tuần Mỗi 10C tăng trên bề mặt biển kéo theo gia tăng tỷ

lệ SXHD là 19,4% (CI 95%: - 4,7 - 43,5%) [32, pp 227 - 234]

Nhóm tác giả Jin-Ya Wu, Zhao-Rong Lun, Anthony A James, và Guang Chen (2010) chỉ ra rằng SXHD là một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng ở Trung Quốc Trong giai đoạn 1978 - 2008, Trung Quốc có tổng cộng 665.234 trường hợp mắc SXHD với 610 trường hợp tử vong Từ những năm 1990, dịch bệnh SXHD lan truyền trong các tỉnh thành, từ các tỉnh ven biển miền Nam như Quảng Đông, Hải Nam, Quảng Tây lan sang các tỉnh phía Bắc và phía Tây như Phúc Kiến, Chiết Giang, Vân Nam Nhóm tác giả cũng đã tìm ra được quy luật bùng phát dịch trong giai đoạn này Từ tháng 01 đến tháng 5 là giai đoạn dịch bệnh xảy ra rải rác Giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 12 là giai đoạn dịch bắt đầu bùng phát, tập trung chủ yếu vào các tháng 7, 8, 9 và 10 với 14.487/665.234 trường hợp mắc SXHD được báo cáo trong giai đoạn 1978 - 2008 Tất cả 4 típ huyết thanh đều

Xiao-HUPH

Trang 30

xuất hiện trong giai đoạn này Típ DEN2 và DEN3 phân bố chủ yếu ở tỉnh Hải Nam, DEN1và DEN2 gây bệnh chủ yếu ở Quảng Đông, DEN2 và DEN4 xuất hiện

chủ yếu ở khu vực miền Trung Trung Quốc [46, pp 664 - 671]

Ahmet Itrat và các cộng sự (2008) qua nghiên cứu được kết quả: 89,9% đối tượng được phỏng vấn đã nghe nói về SXHD, nhưng chỉ có 38,5% có đủ kiến thức

về SXHD Các biện pháp phòng ngừa thường sử dụng là phòng chống muỗi đốt (78,3%), tiêu diệt muỗi (17,3%) Sử dụng thuốc phun chống muỗi (48,1%) là biện pháp phòng, chống SXHD phổ biến nhất Truyền hình được coi là cung cấp thông tin quan trọng và hữu ích về SXHD Qua đó, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số kết luận sau: nghiên cứu sâu hơn mối tương quan giữa sự kết hợp giữa kiến thức và hiệu quả của nó đối với SXHD sẽ rất hữu ích trong việc chứng minh những tác động của các chiến dịch nâng cao nhận thức [36]

Nahla Khamis Ragab Ibrahim và các cộng sự (2009) qua nghiên cứu nhóm tác giả đã đưa ra kết luận: kiến thức, thái độ và thực hành đối với SXHD còn chưa đạt (thiếu) ở quần thể đích, đặc biệt là các em học sinh Chiến dịch giáo dục dựa vào trường học và huy động xã hội để nâng cao kiến thức và chuyển đổi nó thành thực hành là điều cần thiết cho việc kiểm soát dịch bệnh SXHD ở Jeddah [35]

Soodsada Nalongsack và các cộng sự (2009), nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động nhận thức về Sốt xuất huyết Dengue nên được bao gồm ở cấp trường học Đài phát thanh và truyền hình đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền đạt thông tin y tế [39]

Juliana Maria Trindade Bezerra và các cộng sự (2011) qua nghiên cứu đánh giá kiến thức của học sinh về SXHD của 14 trường tiểu học ở Caxias, bang Maranhão, Brazil đã cho thấy: các học sinh có một số kiến thức về các biện pháp

phòng ngừa SXHD và véc tơ Aedes aegypti, trẻ em ở Trizidela có tỷ lệ các câu trả

lời chính xác về bệnh tật và véc tơ Hoạt động giáo dục có kết quả lâu dài nhưng vẫn còn một số hạn chế và cần lồng ghép với các hoạt động của Chính phủ, chủ yếu liên quan đến việc cải thiện các dịch vụ cơ bản, ví dụ như nhà ở thích hợp và nguồn

HUPH

Trang 31

cung cấp nước sạch tin cậy Những vấn đề này là một thách thức đối với phòng SXHD ở Brazil cũng như trên toàn thế giới Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy việc

áp dụng vẫn còn mới bước đầu và còn hạn chế; qua đó nêu bật sự cần thiết phải thay đổi trong xây dựng các chiến dịch phòng bệnh SXHD với mục tiêu duy nhất là cộng đồng tham gia tốt hơn [30]

Qua các nghiên cứu về Sốt xuất huyết Dengue ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới đã cho thấy SXHD là vấn đề sức khỏe công cộng khẩn cấp cần phải có chiến lược ứng phó toàn cầu Các nghiên cứu đưa giáo dục phòng bệnh SXHD vào các trường tiểu học đã cho thấy hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức, và chỉ cho các em học sinh thấy bệnh SXHD là bệnh có thể được kiểm soát bằng các biện pháp đơn giản Chiến lược tốt nhất là kết hợp tiêu diệt muỗi trưởng thành và kiểm soát các hình thái ấu trùng bằng các biện pháp kiểm soát diệt lăng quăng và bọ gậy Đưa chiến dịch giáo dục vào trường học và huy động xã hội để nâng cao kiến thức và từ

đó dần dần chuyển thành thực hành là điều cần thiết cho việc kiểm soát SXHD

1.3 2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

1.3.2.1 N ghiên cứu về kiểm soát véc tơ truyền bệnh

Sách lược chính của Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống SXHD là việc phòng, chống dựa vào cộng đồng, thông qua đội ngũ cộng tác viên Một nghiên cứu cắt ngang nhằm bước đầu đánh giá hoạt động và tính hiệu quả của mô hình phòng, chống SXHD dựa vào cộng đồng thông qua mạng lưới CTV đã được thực hiện tại 19 tỉnh thành phía Nam từ tháng 12/2000 đến tháng 01/2001 Qua nghiên cứu này nhận thấy tỷ lệ HGĐ có kiến thức đúng về phát hiện bệnh còn thấp (41%), tuy nhiên tỷ lệ hộ biết tác nhân gây bệnh là lăng quăng, muỗi lại khá cao (80%) Tại

hộ CTV và HGĐ, vẫn còn 33% nhà CTV có lăng quăng, tỷ lệ này ở hộ dân là 42%

Về các biện pháp diệt lăng quăng, tỷ lệ hộ dân có đậy kín vật chứa nước chiếm 60%, súc rửa thường xuyên chiếm 70% Để tăng cường tính hiệu quả của mô hình, việc phối hợp chặt chẽ giữa Chính quyền - Nhà Trường - Cộng tác viên trong tổ chức, tăng cường kiểm tra, giám sát định kỳ là các vấn đề cần ưu tiên thực hiện [21,

tr 68 - 75]

HUPH

Trang 32

B.H.Kay và Vũ Sinh Nam (2005) đã phát hiện một chiến lược kiểm soát muỗi, gồm 4 yếu tố sau: (1) Kết hợp phương pháp tiếp cận theo chiều dọc và chiều ngang tùy theo hiểu biết của cộng đồng; (2) Ưu tiên kiểm soát ấu trùng theo môi

trường sống chủ yếu; (3) Sử dụng Mesocyclops, một giống của Copepods, như là

một tác nhân kiểm soát sinh học; (4) Các hoạt động của tình nguyện viên y tế, trường học và cộng đồng; chiến lược này đã được thử nghiệm tại cộng đồng từ năm

1998 và kết quả cho thấy chiến lược này bền vững ở Việt Nam và được áp dụng ở

những nơi mà Aedes aegypti sống ở các dụng cụ chứa nước lớn [31, pp 613 - 617] Trần Vũ Phong và các cộng sự (2010) qua nghiên cứu cho thấy Mesocyclops

góp phần kiểm soát SXHD một cách có hiệu quả; các chiến dịch truyền thông có sự tham gia tích cực của người dân có sử dụng Mesocyclops có thể làm giảm đáng kể

quần thể véc tơ của vi rút Dengue, từ đó góp phần phòng, chống và kiểm soát SXHD có hiệu quả [17, tr 239 - 244]

Đánh giá hiệu quả mô hình phòng, chống chủ động véc tơ SXHD bằng rèm

tẩm hóa chất và tác nhân sinh học Mesocyclops trong cộng đồng tại thực địa tỉnh

Long An, Vũ Sinh Nam và cộng sự (2011) đã đưa ra kết luận: rèm tẩm hóa chất kết

hợp với cộng đồng sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops phòng chống véc tơ

truyền bệnh SXHD có hiệu quả làm giảm quần thể véc tơ và làm giảm sự lan truyền SXHD tại thực địa xã Tân Ân và Phước Tuy Quần thể véc tơ SXHD giảm 87%, tỷ

lệ DCCN có Mesocyclops tăng 3,7 lần so với trước thử nghiệm Không có bệnh

nhân SXHD mắc tại khu vực thử nghiệm, 89% hộ gia đình chủ động tham gia diệt

loăng quăng một lần trong tháng Sử dụng rèm tẩm và Mesocyclops phòng, chống

SXHD được người dân chấp nhận và hưởng ứng Tuy nhiên, chất liệu làm rèm, màu sắc và cách treo cần được nghiên cứu thêm, phù hợp với từng vùng sinh thái và sự chấp nhận của người dân [13, tr 20 - 24]

Phân tích một số đặc điểm dịch tễ học các trường hợp tử vong do bệnh SXHD tại 19 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam trong năm 2000, Nguyễn Thị Kim Tiến và cộng sự (2001) cho thấy lứa tuổi tử vong tập trung chủ yếu ở trẻ em < 15 tuổi (90%), đặc biệt ở trẻ 5 - 9 tuổi; 81,6% số tử vong này thuộc các tỉnh miền Tây

HUPH

Trang 33

Nam Bộ Đa số bệnh nhân nhập viện muộn (3 - 4 ngày sau khi khởi bệnh); 58,1%

số tử vong diễn ra trong 24 giờ đầu nhập viện; 98% các trường hợp tử vong diễn ra trong ngày 3 - 6 của bệnh [21, tr 63 - 67]

Nghiên cứu hồi cứu 288 trường hợp tử vong do SXHD trên toàn quốc tại Việt Nam trong 3 năm 2008 - 2010, tác giả Lê Bảo Thư đã rút ra một số kết luận sau: (1) Trong 3 năm 2008 - 2010, tỷ lệ mắc SXHD có xu hướng tăng nhưng tỷ lệ

tử vong/mắc có xu hướng giảm, tỷ lệ tử vong/mắc trung bình là 0,09%; (2) Mắc và

tử vong do SXHD tập trung chủ yếu tại miền Nam (82,3%), tiếp theo là miền Trung

và Tây Nguyên, miền Bắc có số mắc và tử vong thấp nhất (1,4%); (3) Tử vong do SXHD chủ yếu tập trung ở trẻ em dưới 15 tuổi (83%) trong đó lứa tuổi từ 1 - 10

tuổi chiếm đa số (67,7%), tỷ lệ tử vong ở nữ cao hơn nam (63,2% và 36,8%) [20]

Năm 2003, giám sát huyết thanh học, vi rút học bệnh SXHD tại một số tỉnh miền Bắc, Trương Uyên Ninh và cộng sự nhận thấy có sự lưu hành của 3 típ huyết thanh DEN1, DEN2 và DEN4 Tỷ lệ vi rút DEN4 lưu hành rộng hơn, trong khi đó

vi rút DEN2 vẫn đóng vai trò chủ đạo [16, tr 16 - 20]

Miền Trung là khu vực bệnh SXHD lưu hành dai dẳng, đây là khu vực có số mắc và chết hàng năm cao nhất cả nước Tổng hợp số liệu giám sát huyết thanh học

và phân lập vi rút Dengue của 11 tỉnh khu vực miền Trung năm 2006, Ngô Lê Minh Tâm và cộng sự đã đưa ra kết quả sau: có 793 mẫu huyết thanh dương tính với kháng thể IgM kháng Dengue trong tổng số 2.059 mẫu thực hiện kỹ thuật MAC ELISA (38,51%), 91 chủng vi rút Dengue phân lập được từ 447 mẫu trong đó có 51 mẫu là típ vi rút DEN1 và 40 mẫu là típ vi rút DEN2 Như vậy, năm 2006 típ vi rút DEN1 và DEN2 lưu hành tại khu vực miền Trung và típ DEN1 chiếm ưu thế [19, tr

29 - 32]

Đào Thị Minh An và Nguyễn Danh Phương (2012) khi nghiên cứu dịch tễ học SXHD và một số yếu tố liên quan tại Thanh Hóa năm 2008 - 2010 đã đưa ra kết luận: tỷ lệ mắc giữa nam và nữ tương ứng 54% và 46%, ca bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm từ 15 đến 24 tuổi, nông dân, sinh viên và cán bộ, công nhân viên chức Các

ca bệnh bắt đầu xảy ra từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11 với đỉnh cao vào tháng 8,

HUPH

Trang 34

9, 10 hàng năm Lượng mưa, nhiệt độ và di dân có liên quan đến SXHD qua các

năm là (0,63, 0,71, 0,92), (0,55, 0,52, 0,43), (0,42, 0,85, 0,46) [1, tr 40 - 47]

huyết Dengue trên đối tượng học sinh

Nguyễn Lâm (2009) qua nghiên cứu thu được kết quả sau: có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê trước và sau can thiệp; tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hành đúng trước can thiệp là 58,6%, 75,9%, 48,7% và sau can thiệp là 93,2%, 82,2% và 80,1% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thực hành đúng với khối lớp Kết quả cho thấy dự án can thiệp phòng, chống SXHD dựa vào học sinh đã thể hiện rõ tính hiệu quả và khả thi trong việc làm tăng kiến thức, thái độ và thực hành phòng, chống SXHD cho học sinh [11]

Trần Thị Cẩm Nguyên và Nguyễn Đỗ Nguyên (2010) qua nghiên cứu cho kết quả: tất cả các kiến thức sau giáo dục sức khỏe đều tăng có ý nghĩa thống kê, trừ kiến thức trung gian truyền bệnh là muỗi vằn Tăng cao nhất là kiến thức về tác nhân gây bệnh, rồi đến các biện pháp phòng bệnh và kiến thức về các biện pháp diệt lăng quăng Sau giáo dục sức khỏe những thái độ đúng tăng, và những thái độ không đúng giảm so với trước Học sinh nhận thức nhiều hơn rằng trong nhà có nhiều muỗi là do chính mình, và trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng là của cả nhà nước và người dân Biện pháp phòng bệnh được học sinh lựa chọn nhiều trước giáo dục sức khỏe là các biện pháp xua và diệt muỗi, sau tập huấn giáo dục sức khỏe được thay bằng các biện pháp loại bỏ vật phế thải chứa nước và súc rửa các vật chứa nước Tỷ lệ của các thực hành diệt lăng quăng sau tập huấn là rất cao [14]

Phạm Thị Nhã Trúc và Phạm Trí Dũng (2011) qua nghiên cứu cho thấy > 75% học sinh có thực hành đúng (trường THCS Tân Hiệp chiếm 85,6%, trường THCS Phong Phú chiếm 77,3%); nguồn thông tin học sinh tiếp cận nhiều nhất là tivi (> 93%), thầy cô giáo (> 75%), sách báo (80%), thông tin từ các tranh ảnh, tờ rơi, khẩu hiệu, pano, áp phích (THCS Tân Hiệp chiếm 39,2%, THCS Phong Phú chiếm 70,1%) và nguồn thông tin từ CBYT xã, các nhân viên y tế ấp và các nguồn khác chiếm tỷ lệ thấp hơn [25]

HUPH

Trang 35

Nguyễn Hải Đăng (2012) qua nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue của 399 học sinh THCS ở quận Ô Môn cho thấy: có 85,7% ĐTNC có kiến thức đúng, chỉ có 47,6% ĐTNC có thái độ tích cực

và 58,6% ĐTNC có thực hành đạt về phòng, chống bệnh SXHD Nguồn thông tin

về phòng, chống SXHD mà học sinh tiếp cận chủ yếu qua các kênh truyền thông như: ti vi (89,2%), thầy cô giáo (85,2%), cán bộ y tế, tranh ảnh, tờ rơi, khẩu hiệu, loa, đài xã/phường và sách báo (từ 63,9% đến 71,2%) Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ và kiến thức với thực hành có ý nghĩa thống kê [10]

Các nghiên cứu ở Việt Nam đã cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue của các đối tượng nghiên cứu chưa cao

và còn ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Biện pháp diệt loăng quăng và phun hóa chất dập dịch không cho bùng phát lớn đã thể hiện rõ tính hiệu quả và khả thi trong việc làm hạn chế dịch SXHD bùng phát, đồng thời cũng có hiệu quả kiểm soát

chỉ số côn trùng ở mức ổn định và an toàn Việc duy trì sử dụng Mesocyclops và chiến lược dựa vào cộng đồng chống lại Aedes aegypti là biện pháp phòng chống SXHD hữu hiệu và ít tốn kém, sử dụng Mesocyclops có thể làm giảm đáng kể quần

thể véc tơ của vi rút Dengue, từ đó góp phần phòng, chống và kiểm soát SXHD có hiệu quả

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh Sốt xuất huyết Dengue trên đối tượng học sinh cho thấy, học sinh đã nhận thức được nhiều hơn trong nhà có nhiều muỗi là do chính mình, và trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng

là của cả nhà nước, ngành y tế và người dân Biện pháp phòng bệnh được học sinh lựa chọn nhiều trước giáo dục sức khỏe là các biện pháp xua và diệt muỗi, sau tập huấn giáo dục sức khỏe được thay bằng các biện pháp loại bỏ vật phế thải chứa nước và súc rửa các vật dụng chứa nước Tỷ lệ của các thực hành diệt loăng quăng sau tập huấn của học sinh là rất cao Từ đó, cần thiết đưa đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh khối THCS cùng tham gia vào chương trình phòng, chống SXHD,

thường xuyên giáo dục, tuyên truyền nâng cao kiến thức và nhận thức về bệnh SXHD cho các em để hình thành nên hành vi mới thực hành phòng, chống bệnh SXHD ở các em

HUPH

Trang 36

1.4 Khung lý thuyết của nghiên cứu

Thực hành kiểm soát và phòng bệnh Sốt xuất huyết

Dengue

- Loại bỏ nguồn sinh sản của

muỗi Aedes; loại bỏ ấu trùng

của muỗiAedes Aegypti

- Dọn dẹp vệ sinh môi trường xung quanh, nhà ở

- Tham gia vào các hoạt động phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue ở cộng đồng

- Số người trong gia đình…

Kiến thức về Sốt xuất huyết

Dengue

- Biểu hiện của bệnh Sốt xuất huyết Dengue

- Đường lây truyền của bệnh

Sốt xuất huyết Dengue

- Nơi sinh sản của muỗi Aedes

Các yếu tố tăng cường

- Tiếp cận thông tin về Sốt

xuất huyết Dengue

- Tiếp nhận thông tin về Sốt

xuất huyết Dengue

- Hỗ trợ từ giáo viên

- Hỗ trợ từ cán bộ y tế

xã/phường…

HUPH

Trang 37

1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

1.5 1 Đặc điểm vị trí địa lý tỉnh Khánh Hòa và thành phố Nha Trang

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam Tỉnh lỵ của Khánh Hòa là thành phố Nha Trang Diện tích tự nhiên của Khánh Hòa, cả trên đất liền và hơn 200 đảo và quần đảo là 5.197 km2 Bờ biển dài 385 km với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, nhiều đảo và vùng biển rộng lớn Ðặc biệt, Khánh Hòa có Trường

Sa là huyện đảo, nơi có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng trọng yếu Khánh Hòa hiện nay bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Nha Trang và Cam Ranh), 1 thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện (Vạn Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm và huyện đảo Trường Sa) Dân số Khánh Hòa là 1.255.297 người với 32 dân tộc đang sinh sống (Kinh, Raglai, Hoa, Ê-đê, Cơ-ho, một nhóm nhỏ dân tộc Tày, Nùng, Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ ) [27]

Thành phố Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa, là một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước Thành phố Nha Trang có diện tích tự nhiên 253 km2; dân số 392.218 người với 98.931 hộ dân sống tại 08 xã và 19 phường [28]

Trên địa bàn thành phố Nha Trang có tổng cộng 24 trường trung học cơ sở, chúng tôi chọn 2 trường tham gia vào nghiên cứu là trường THCS Mai Xuân Thưởng và trường THCS Nguyễn Khuyến nằm ở phía Bắc thành phố Nha Trang, thuộc 2 phường Vĩnh Hải và Vĩnh Phước, là 2 phường có tỷ lệ người mắc SXHD cao trong năm 2013 và các năm vừa qua

1.5 2 Tình hình bệnh SXHD tại tỉnh Khánh Hòa và thành phố Nha Trang

Tại tỉnh Khánh Hòa, Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh lưu hành địa phương từ nhiều năm Khánh Hòa có khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho việc lan truyền bệnh quanh năm Nhiệt độ trung bình dao động từ 22 - 300C, độ ẩm trung bình là 80,2%; lượng mưa hàng năm là 1.100 - 1.800mm Đây là những điều kiện rất thuận

lợi cho sự phát triển của loài muỗi Aedes aegypti là véc tơ truyền bệnh chính

Diễn biến tình hình dịch SXHD tại Khánh Hòa rất phức tạp Chỉ trong 3 năm

2010 - 2012, Khánh Hòa đã liên tiếp xảy ra 2 vụ dịch lớn với số mắc năm 2010 là 6.928 ca và năm 2012 là 5.887 ca Năm 2013 có 6.988 ca mắc, 04 ca tử vong [18]

HUPH

Trang 38

Biểu đồ 1.2: So sánh SXHD Khánh Hòa theo tháng năm 2008 - 2013

Theo báo cáo của Viện Pasteur Nha Trang, trong những năm qua Khánh Hòa luôn là một trong những tỉnh có số ca mắc Sốt xuất huyết Dengue cao nhất khu vực miền Trung Năm 2013, Khánh Hòa dẫn đầu trong số 10 tỉnh/thành phố có tỷ lệ

mắc/100.000 dân cao nhất cả nước (6.988 ca) [6] (Biểu đồ 1.3)

Trang 39

1628 378

6988

2739 2616 1107 1519 2089 831

338 421

Phú Yên

Khánh Hòa

Ninh

Bình

Biểu đồ 1.3: So sánh tình hình SXHD của Khánh Hòa với các tỉnh

trong khu vực năm 2013

Thành phố Nha Trang luôn là khu vực dẫn đầu về số ca mắc Sốt xuất huyết Dengue trong toàn tỉnh trong những năm qua Năm 2012 có 1.389 ca mắc, 2 ca tử vong; năm 2013 số ca mắc SXHD lên đến 2.335 ca tại 27 xã/phường trên địa bàn thành phố (Phụ lục 4), tăng 68% so với năm 2012, chiếm 31% số ca mắc trong toàn tỉnh, có 1 ca tử vong Phường Vĩnh Hải và phường Vĩnh Phước thuộc thành phố Nha Trang là 2 phường có số ca mắc SXHD cao (Vĩnh Hải 172 ca; Vĩnh Phước 163 ca) [24]

Mặc dù chương trình phòng, chống Sốt xuất huyết Dengue đã được triển khai

từ năm 1999 với các nội dung như: giám sát véc tơ; phòng chống véc tơ chủ động bằng các biện pháp giảm nguồn sinh sản của véc tơ, phòng muỗi đốt, xua, diệt muỗi, tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng, huy động cộng đồng; giám sát bệnh nhân SXHD; giám sát huyết thanh và vi rút Dengue; phun hóa chất diệt muỗi, ngành y tế tỉnh Khánh Hòa và các ban ngành liên quan cũng đã triển khai tích cực công tác phòng, chống dịch SXHD tại địa phương, nhưng dịch SXHD vẫn gia tăng trên địa bàn tỉnh trong các năm qua

Tỉnh

HUPH

Trang 40

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh các khối lớp 7, 8, 9 của 2 trường trung học cơ sở (trường THCS Nguyễn Khuyến và trường THCS Mai Xuân Thưởng) trên địa thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trong năm học 2013 - 2014

Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu và loại trừ:

- Chọn vào:

+ Học sinh các khối lớp 7, 8, 9 tại 2 trường THCS Nguyễn Khuyến và THCS Mai Xuân Thưởng

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Loại trừ đối tượng nghiên cứu khi:

+ Học sinh vì một lý do nào đó vắng mặt trong thời gian phát vấn tự điền + Học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2014 đến tháng 6/2014

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

- Trường THCS Nguyễn Khuyến và trường THCS Mai Xuân Thưởng thuộc phường Vĩnh Phước và phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w