TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ------x VŨ THỊ MAI LAN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀSỬ DỤNG THUỐC XỊT, HÍT CỦA NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -x
VŨ THỊ MAI LAN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀSỬ DỤNG THUỐC XỊT, HÍT CỦA NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI HẢI DƯƠNG
NĂM 2019
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I
NAM ĐỊNH – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa học và chuyên đề tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Nhà trường, các thầy cô giáo phòng Đào tạo sau Đại học, Bộ môn Chuyên ngành Nội người lớn, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
và các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho tôi kiến thức, kỹ năng thực hành thiết thực nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Hải Dương, Trưởng phòng Nghiệp vụ Y – Sở Y tế Hải Dương đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập, đồng thời hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.BS Ngô Huy Hoàng, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi làm chuyên đề, tận tình quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các bác sỹ, điều dưỡng và người bệnh COPD điều trị ngoại trú đang được quản lý tại Phòng khám ngoại trú CMU - Bệnh viện Phổi Hải Dương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và hợp tác để tôi thực hiện chuyên đề này Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ và động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề
Hải Dương,ngày 10 tháng 6 năm 2019
Học viên
Vũ Thị Mai Lan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, do chính tôi lần đầu thực hiện, các số liệu trong báo cáo là trung thực, chính xác và đáp ứng các quy định về trích dẫn
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan này
Học viên
Vũ Thị Mai Lan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
Chương 2 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC XỊT, HÍTCỦA NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH 21
2.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thông tin liên quan đến bệnh 23
2.3 Kiến thức về sử dụng thuốc dự phòng của người bệnh 30
2.4 Đánh giá thực hành sử dụng bình xịt định liều MDI và bình hít bột khô DPI của người bệnh theo các bước trong bảng kiểm 32
2.5 Phân tích những vấn đề tồn tại, ưu điểm, hạn chế 36
Chương 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THUỐC XỊT, HÍT CỦA NGƯỜI BỆNH COPD ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI HẢI DƯƠNG NĂM 2019 40
KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CAT Thang điểm đánh giá triệu chứng người bệnh COPD
(COPD Assessment Test)
COPD Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary
Disease) VPQM Viêm phế quản mạn
CMU: Đơn vị quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽ mạn tính
DPI: Bình hít dạng bột khô (Dry Powder Inhaler)
MDI: Bình xịt định liều (Metered dose inhaler) MID Bình xịt định liều (Metered dose inhaler)
mMRC: Thang điểm đánh giá mức độ khó thở
GOLD: Chiến lược toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(The Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease) FVC: Dung tích sống thở mạnh (Foreed vital capacity)
FEV1: Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên
(Forced Expiratory Volume after 1s) WHO: Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ nghiêm trọng COPD của GOLD 8 Bảng 2.1 Phân bố người bệnh theo nhóm tuổi và giới tính 21 Bảng 2.2 Số năm bị bệnh 23 Bảng 2.3 Bệnh mắc kèm 24 Bảng 2.4 Các loại thuốc xịt, người bệnh được kê sử dụng điều trị ngoại trú 25 Bảng 2.5 Tỷ lệ người bệnhsai sót trong từng bước dùng bình xịt định liều MDI 28 Bảng 2.6 Tỷ lệ người bệnh mắc sai sót trong từng bước khi dùngbình hít bột khô DPI 29 Bảng 2.7 Tỷ lệ người bệnh sai sót tính theo tổng số bước chung 30 Bảng 2.8 Tỷ lệ người bệnh sai sót tính theo tổng số bước quan trọng 30 Bảng 2.9 Tỷ lệ người bệnh theo phân mức kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng xịt,
hít 31
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 2.1 Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn 22
Biểu đồ 2.2 Nơi ở của đối tượng nghiên cứu 23
Biểu đồ 2.3 Phân loại mức độ nặng của bệnh theo GOLD dựa vào kết quả đo chức năng hô hấp 24
Biểu đồ 2.4 Hướng dẫn cách dùng thuốc 25
Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ người bệnh liệt kê thiếu các bước sử dụng bình xịt định liều26 Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ người bệnh liệt kê thiếu các bước sử dụng bình hít định liều27 Biểu đồ 2.7 kiểm tra liều còn lại và sức miệng sau khi dùng thuốc 31
Hình 1.1 Một số dạng bình xịt định liều 11
Hình 1.2 Minh hoạ các bước sử dụng bình xịt định liều Ventolin 11
Hình 1.3 Một số dạng bình hít Tubuhaler 12
Hình 1.4 Minh hoạ các bước sử dụng bình xịt định liều Tubuhaler 13
Hình 3.5 Buồng đệm có van và buồng đệm với mặt nạ 36
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính(Chronic Obstructive Pulmonary Disease - COPD) là bệnh đường hô hấp có đặc tính chung là tắc nghẽn đường thở không hồi phục hoàn toàn Đây cũng là một nhóm bệnh hô hấp thường gặp trên thế giới cũng như ở Việt Nam Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã thực sự trở thành vấn đề lớn về sức khỏe của toàn cầu vì tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều trị cao và
hậu quả gây tàn phế[10] [11], [16],
Bệnh không thể điều trị khỏi hoàn toàn và tiến triển liên tục với tốc độ chậm
Dù không điều trị khỏi hoàn toàn; nếu chăm sóc, điều trị và tập luyện đúng sẽ giúp hạn chế tốc độ tiến triển của bệnh Việc người bệnh điều trị tại nhà trong giai đoạn
ổn định có hiệu quả hay không phụ thuộc nhiều vào công tác hướng dẫn của nhân viên y tế vì khi người bệnh về nhà, nhân viên y tế không giám sát được việc điều trị Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới ngày càng tăng Năm 1990, trên thế giới có khoảng 2,2 triệu người chết vì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đứng thứ 6 trong các nguyên nhân gây tử vong Năm 2000 có 2,7 triệu người chết vì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Năm
2015 có 3,17 triệu người đã chết do Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, chiếm 6% tổng
số ca tử vong trên toàn cầu Theo dự đoán của các chuyên gia, tỷ lệ tử vong của COPD đến năm 2020 đứng hàng thứ 3, chỉ sau bệnh tim thiếu máu cục bộ và tai biến mạch máu não
Ở Việt Nam, một nghiên cứu dịch tễ năm 2010 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chiếm tới 2,2% dân số cả nước Năm 2016, trong một nghiên cứu khác tỷ lệ người lớn tuổi mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính lên đến 12,6%, trong đó tỷ lệ mắc ở nam là 16,8% và nữ là 10% Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng gây nên gánh nặng to lớn cho kinh tế Việt Nam khi mà người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chiếm 25% số giường bệnh tại khoa hô hấp và trong các phòng chăm sóc tích cực lúc nào cũng có người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thở máy [9; 10]
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang trở thành mối lo ngại về sức khoẻ của nhiều quốc gia trên thế giới Để có thể ngăn chặn sự diễn tiến của bệnh chúng ta cần phải nhận thức rõ về gánh nặng bệnh tật, các yếu tố nguy cơ gây bệnh Sự hiểu biết,
Trang 10thái độ, thực hành tốt của người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chính là cơ
sở để phát hiện, điều trị sớm, kiểm soát được bệnh, từ đó làm giảm gánh nặng chi phí điều trị cho gia đình, xã hội
Dùng thuốc trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giúp giảm triệu chứng, giảm tần suất và độ nặng của các đợt cấp, cải thiện tình trạng sức khỏe chung và khả năng gắng sức Sự lựa chọn thuốc được sử dụng phổ biến trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phụ thuộc vào hiệu quả, chi phí và đáp ứng của bệnh nhân Mỗi phác đồ điều trị cần phù hợp với từng người bệnh cụ thể Sử dụng các thuốc đường hít trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải chú ý đến hiệu quả phân phối thuốc và cần phải hướng dẫn kỹ thuật hít cho bệnh nhân Lựa chọn loại dụng
cụ hít nào sẽ phụ thuộc vào hiệu quả, chi phí, kê đơn chỉ định của bác sỹ, kỹ năng
và khả năng của bệnh nhân Người bệnh mắc mệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể gặp khó khăn trong phối hợp động tác khi sử dụng dụng cụ xịt/hít định liều (MDI, Tubuhaler) Điều quan trọng là người bệnh đảm bảo kỹ thuật hít đúng và cách người bệnh sử dụng dụng cụ hít phải được kiểm tra lại mỗi lần đến khám [7; 17]
Tại Bệnh viện Phổi Hải Dương, số người bệnh mắc COPD đang gia tăng Hầu hết các người bệnh điều trị ngoại trú tại phòng quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính đều được dùng thuốc dự phòng từ nguồn Bảo hiểm y tế và được nâng cao kiến thức phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Tại tỉnh Hải Dương, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về kiến thức và thực hành của người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị ngoại trú Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo sức khỏe về điều trị ngoại trú cho người bệnh mắc Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính, tôi thực hiện chuyên đề: “Thực trạng kiến thức và thực hành về sử dụng thuốc xịt, hít của người bệnh mắc bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2019”với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành về sử dụng thuốc xịt, hít của người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2019
2 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc xịt, hít của người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2019
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Định nghĩa
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Diseease -
COPD) là bệnh phổ biến có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn dòng khí do bất thường của đường dẫn khí
và/hoặc ở phế nang thường do tiếp xúc với các hạt hoặc các khí độc hại[17]
Theo Hiệp hội lồng ngực Mỹ và Hiệp hội hô hấp Châu Âu (AST/ERS) 2005:
“Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh có thể phòng và điều trị được, được đặc
trưng bởi sự hạn chế thông khí hồi phục không hoàn toàn Sự hạn chế này thường xuyên tiến triển và có liên quan đến đáp ứng viêm bất thường của phổi với các phân
tử độc hoặc chất khí, mà nguyên nhân chủ yếu là do hút thuốclá”[15]
Theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” của Bộ
Y tế 2018 định nghĩa: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh hô hấp phổ biến có thể phòng và điều trị được Bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng khí, là hậu quả của những bất thường của đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc hại, trong đó khói thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ chính, ô nhiễm không khí và khói chất đốt cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng gây BPTNMT Các bệnh đồng mắc và đợt kịch phát làm nặng thêm tình trạng bệnh.[1]
1.1.2.Yếu tố nguy cơ
1.1.2.1 Các yếu tố liên quan đến môi trường
+ Hút thuốc thụ động
Trang 12Tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc của những người hút thuốc trong cùng phòng (nhà ở hoặc nơi làm việc) làm tăng tỷ lệ mắc COPD Con của những người nghiện thuốc lá bị nhiễm trùng đường hô hấp nhiều hơn và nặng hơn con những người không hút thuốc lá, sau này thường có biến chứng mạn tính về hô hấp Một
số đối tượng không hút thuốc nhưng đã phơi nhiễm đến mức độ cao khói thuốc lá: chồng hút thuốc lá nặng, vợ không bao giờ hút thuốc, dấu hiệu tắc nghẽn thấy ở cả hai vợ chồng
- Bụi và hoá chất nghề nghiệp
Ô nhiễm nghề nghiệp làm gia tăng tần suất mắc bệnh đường hô hấp, làm tắc nghẽn đường dẫn khí, giảm thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên (FEV1) nhanh hơn Bụi và hoá chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói) gây COPD khi phơi nhiễm với tác động mạnh và kéo dài
- Ô nhiễm không khí
Mặc dù không rõ ràng là yếu tố nào của ô nhiễm không khí thực sự gây hại, nhưng có bằng chứng cho rằng, các tiểu phần ô nhiễm không khí sẽ làm thêm gánh nặng ở lượng khí hít vào Vai trò của ô nhiễm không khí gây ra COPD không rõ ràng Tác động của ô nhiễm không khí tới sự xuất hiện COPD thấp hơn thuốc lá
- Nhiễm trùng đường hô hấp
Người bệnh bị VPQM dễ mắc các đợt nhiễm trùng cấp hơn so với người bình thường Nhiễm trùng có liên quan đến nguyên nhân cũng như tiến triển của COPD Những người hút thuốc có thể bị viêm tắc đường thở ngay khi chỉ nhi ễm trùng đường hô hấp nhẹ Nhiều nghiên cứu đã làm rõ quan hệ giữa các bệnh đường hô hấp với nhiễm virus, nấm, nhiễm vi khuẩn Tiền sử có nhiễm trùng hô hấp khi còn nhỏ có liên quan đến giảm chức năng phổi và tăng các triệu chứng ở tuổi trưởng thành Viêm phổi nặng do virus xảy ra khi còn nhỏ có thể dẫn đến tắc nghẽn mãn tính các đường thở sau này Nhiễm virus có thể liên quan đến các yếu tố khác như là trọng lượng khi sinh thấp và bản thân điều này cũng là yếu tố nguy cơ của COPD
- Tình trạng kinh tế xã hội
Nguy cơ xuất hiện COPD không hoàn toàn liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội Tuy nhiên, những cư dân có tình trạng kinh tế xã hội thấp thường có tình trạng dinh dưỡng nghèo nàn, cũng như môi trường sống ẩm thấp và bị ô nhiễm, do vậy tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhiễm khuẩn hô hấp và xuất hiện COPD [5], [6], [7]
Trang 131.1.2.2.Các yếu tố liên quan đến cơ địa
- Yếu tố gen
Nhiều nghiên cứu cho thấy COPD tăng lên trong những gia đình có tiền sử mắc bệnh, yếu tố nguy cơ gen được biết rõ nhất là thiếu hụt di truyền α1-antitrypsin Mặc dù thiếu α1-antitrypsin là yếu tố nguy cơ lớn cho COPD nhưng chỉ có < 1% dân số có thiếu hụt yếu tố này
- Tăng đáp ứng đường thở
Hen và tăng đáp ứng đường thở cũng được xác định là yếu tố nguy cơ cho COPD Tăng phản ứng đường thở không đặc hiệu thường thấy ở nữ > nam Cơ chế của tăng phản ứng đường thở dẫn đến COPD còn đang được nghiên cứu nhưng các tác giả cho rằng tăng phản ứng đường thở là hậu quả rối loạn thông khí trong COPD
- Sự phát triển của phổi
Sự phát triển của phổi có liên quan đến quá trình phát triển ở bào thai, trọng lượng khi sinh và các phơi nhiễm thời niên thiếu Nếu chức năng phổi của một cá thể khi trưởng thành không đạt mức bình thường thì cá thể này có nguy cơ dễ bị COPD
- Giới tính
Người ta thấy rằng tỷ lệ mắc COPD của nam giới cao hơn nữ giới liên quan tới hút thuốc lá Nhưng những năm trở lại đây tỷ lệ mắc COPD ở nữ ngày càng tăng Sự khác nhau về giới trong COPD là kết quả của sự tương tác về gen giới tính
và sự khác biệt giới tính về văn hoá xã hội trong thời kỳ niên thiếu, dậy thì và trưởng thành Sự khác biệt về giới tính trong chức năng sinh lý của phổi và đáp ứng của hệ miễn dịch ảnh hưởng đến COPD Ngày càng có nhiều bằng chứng rằng, những hormon giới tính ảnh hưởng đến sự phản ứng của đường thở trong suốt cả cuộc đời Ngoài ra sự khác biệt này còn liên quan đến sự khác nhau ở mức độ phơi nhiễm và các loại yếu tố phơi nhiễm khác như khói thuốc lá, nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường và thường giới nữ có nhiều rủi ro hơn nên cần lưu ý hơn nhất
Trang 14của nam giới có nghiện thuốc lá, thuốc lào Bệnh bắt đầu từ lúc nào khó xác định, khi bệnh đã rõ ràng thường có các triệu chứng sau:
- Ho và khạc đờm: thường ho và khạc đờm về buổi sáng, đờm nhầy, trong, dính hoặc có màu xanh đục, vàng đục như mủ, lượng đờm trong 24 giờ khoảng 200ml Mỗi đợt ho và khạc đờm kéo dài khoảng 3 tuần lễ, thường vào những tháng mùa đông, đầu mùa xuân
- Đợt cấp của viêm phế quản mạn tính: thỉnh thoảng bệnh lại vượt lên một đợt cấp do bội nhiễm, trong đợt cấp gặp những triệu chứng sau:
+ Ho khạc đờm có mủ
+ Khó thở giống như cơn hen phế quản
+ Sốt, ít khi sốt cao
+ Nghe phổi: Có ran rít, ran ngáy, ran ẩm
Người bệnh dễ bị tử vong trong những đợt cấp do suy hô hấp cấp [6], [14]
- Xét nghiệm đờm: Tìm vi khuẩn gây bệnh, chú ý tìm BK
- Thăm dò chức năng hô hấp: Thường thấy giảm dung tích sống [9], [10], [14]
1.1.4 Tiến triển và biến chứng
- Giai đoạn sớm của bệnh khám phổi có thể bình thường, người bệnh không để
ý vì không ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt Bệnh tiến triển từ từ trong khoảng
5-10-20 năm Trong quá trình tiến triển có biến chứng sau:
+ Bội nhiễm phổi: Viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi
+ Giãn phế nang
+ Suy hô hấp cấp
+ Suy tim phải (tâm phế mạn tính) [5], [6], [10]
1.1.5 Chẩn đoán và đánh giá COPD
1.1.5.1 Chẩn đoán
- Chẩn đoán lâm sàng nên được nghĩ tới ở bất cứ người bệnh nào có khó thở,
ho, khạc đờm mạn tính và/hoặc tiền sử tiếp xúc yếu tố nguy cơ của bệnh
- Đo chức năng thông khí: được yêu cầu để khẳng định chẩn đoán khi có
Trang 15FEV1/FVC sau test giãn phế quản < 70%
1.1.5.2 Đánh giá mức độ nặng của COPD
Theo hệ thống phân loại của Chương trình phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính toàn cầu (GOLD (2017), Global Initiative for Chronic Obstructive Lung
Disease.), các giai đoạn của COPD được định nghĩa theo mức độ nghiêm trọng của
bệnh.COPD được chia thành 4 giai đoạn theo kết quả đo chức năng hô hấp: GOLD I:
nhẹ; GOLD II: trung bình; GOLD III: nặng, GOLD IV: rất nặng [15]
* GOLD I: COPD nhẹ
Ở giai đoạn này, có sự tắc nghẽn đường thở nhẹ nhưng người bệnh không biết rằng chức năng phổi đã bắt đầu bị suy giảm Thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (Forced Expiratory Volume in One Second- FEV1) sẽ lớn hơn hoặc bằng 80% và chỉ số FEV1/FVC nhỏ hơn70%
* GOLD II: COPD trung bình
Ở giai đoạn II, tình trạng tắc nghẽn đường dẫn khí nặng hơn và người bệnh bắt đầu chú ý hơn tới các triệu chứng, đặc biệt là khó thở khi gắng sức kèm theo ho và đờm Chỉ số FEV1 của người bệnh nằm trong khoảng 50- 70% và giá trị FEV1/FVC
sẽ nhỏ hơn 70% Hầu hết người bệnh bắt đầu điều trị ở giai đoạn này
* GOLD III: COPD nặng
Khi bệnh đã tiến đến giai đoạn III, mức độ COPD nặng, tình trạng tắc nghẽn đường thở xấu đi đáng kể, khó thở trở nên rõ rệt và đợt cấp COPD diễn ra thường xuyên hơn Nếu tiến tới giai đoạn này, người bệnh có thể sẽ phải giảm cường độ vận động và tăng sự mệt mỏi
* GOLD IV: COPD rất nặng
Theo thời gian bệnh sẽ tiến tới giai đoạn IV, mức độ COPD rất nặng, chất lượng cuộc sống của người bệnh suy giảm nghiêm trọng Đợt cấp ở giai đoạn này
có thể đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân Đường dẫn khí bị tắc nghẽn nghiêm trọng (FEV1 nhỏ hơn 30-50% và FEV1/FVC sẽ nhỏ hơn 70%) Suy hô hấp mạn tính thường biểu hiện ở giai đoạn này và có thể dẫn tới các biến chứng về tim, như tâm phế mạn, thậm chí là tử vong
Trang 16Bảng 1.1: Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ nghiêm trọng COPD của GOLD
COPD nhẹ FEV1/FVC <0.7
FEV1 ≥ 80% dự đoán
Ở giai đoạn này người bệnh không biết chức năng phổi của mình đang bị suy giảm
COPD trung bình FEV1/FVC <0.7
COPD rất nặng
* FEV1/FVC <0.7
* FEV1 < 30% dự đoán hoặc FEV1 < 50% dự đoán với tình trạng suy hô hấp mạn
Chất lượng cuộc sống suy giảm nghiêm trọng Đợt cấp COPD có thể đe dọa tính mạng của người bệnh
1.1.6 Điều trị
1.1.6.1 Điều trị COPD giai đoạn ổn định
* Loại bỏ các yếu tố nguy cơ
- Thuốc lá: là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây COPD, cần ngăn ngừa cả hút thuốc
lá chủ động và thụ động
- Ô nhiễm không khí: khói, bụi nghề nghiệp, bụi nhà, khói bếp Người bệnh cần tránh những nghề có mật độ khói bụi cao Cần sắp xếp môi trường trong nhà hợp lý, tránh đun bếp than; bếp ga và bếp điện nên để cạnh cửa sổ và xa bệnh nhân
- Nhiễm khuẩn hô hấp: nên giữ ấm cẩn thận mỗi khi đi ra ngoài, nếu xuất hiện nhiễm khuẩn hô hấp, cần điều trị đầy đủ ngay từ đầu
* Giáo dục
Nhằm giúp người bệnh hiểu đúng về bệnh của mình, từ đó hợp tác với bác sĩ trong việc theo dõi và quản lý bệnh tốt, tránh các yếu tố nguy cơ, cung cấp cho người bệnh các kỹ năng dùng thuốc đúng Chủ đề của giáo dục bao gồm:
- Bỏ thuốc lá, thuốc lào
- Những thông tin cơ bản về COPD
- Mục tiêu điều trị chung và các kỹ năng tự quản lý, chiến lược giúp hạn chế
Trang 17tối đa khó thở (như kỹ thuật thở và các bài tập), khi nào thì cần tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sỹ, tự quản lý và đưa ra quyết định trong tình trạng nặng
* Điều trị thuốc
- Các thuốc giãn phế quản
- Glucocorticosteroid
- Điều trị các thuốc khác: Vắc xin cúm, thuốc long đờm…
* Điều trị không dùng thuốc
- Phục hồi chức năng hô hấp: tập thở hiệu quả
- Điều trị với oxy dài hạn tại nhà
* Cải thiện tình trạng dinh dưỡng:
Ăn nhiều bữa nhỏ, thêm các chất dinh dưỡng lỏng, tránh thức ăn làm đầy bụng
* Điều trị phẫu thuật
- Cắt bỏ kén khí
- Phẫu thuật làm giảm thể tích phổi
- Ghép phổi [2], [3], [4], [7]
1.1.6.2 Điều trị đợt cấp COPD
* Xác định nguyên nhân gây đợt cấp
- Nhiễm khuẩn hô hấp: Viêm phế quản cấp, viêm phổi do virus hoặc vi khuẩn
- Các bệnh lý hô hấp: Tràn khí màng phổi, tắc động mạch phổi
- Các bệnh lý khác: Suy tim trái, rối loạn nhĩ thất Các rối loạn chuyển hoá, nhiễm khuẩn phủ tạng khác
- Do dùng thuốc an thần, chẹn beta (thuốc nhỏ mắt…), dùng oxy không đúng (lưu lượng cao), dùng thuốc không đúng hoặc dừng thuốc đột ngột
- Các nguyên nhân khác: Mệt cơ hô hấp, thay đổi thời tiết
* Điều trị
- Kháng sinh trong đợt bội nhiễm
- Thuốc giãn phế quản
- Corticoid uống hoặc truyền tĩnh mạch
- Điều trị Oxy
- Thuốc long đờm nên dùng ở người bệnh có đờm nhiều
- Phục hồi chức năng hô hấp, dẫn lưu tư thế
Trang 18- Những trường hợp tiến triển nặng với suy hô hấp cấp, nhiễm toan hô hấp thì phải đặt ống nội khí quản, mở khí quản nếu cần thông khí nhân tạo dài ngày [2], [3], [4], [7]
1.1.7 Một số nội dung giáo dục sức khỏe cụ thể cho người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Trang 19Hình 1.1 Một số dạng bình xịt định liều
Hình 1.2 Minh hoạ các bước sử dụng bình xịt định liều
Ventolin
Nguồn: Bộ Y tế - 2018 [1]
Trang 202 Vặn phần đế qua bên trái hết mức, sau đó vặn ngược lại đến khi nghe
tiếng click (mới đạt yêu cầu)
3 Thở ra hết cỡ (lưu ý không được thở qua đầu ngậm)
4 Ngậm kín ống thuốc giữa hai hàm răng và đảm bảo môi bao trùm kín miệng ống thuốc
5 Hít vào bằng miệng thật NHANH, thật SÂU và thật DÀI
6
Nín thở trong khoảng 5-10 giây hoặc đến khi không chịu được (nín thở tối đa),giữ nguyên trong khoảng 5- 10 giây để thuốc có thể tới phổi, hoặc đến khi không chịu được (nín thở tối đa) trong khi đó, rút DPI từ từ ra khỏi miệng
7 Vệ sinh bình xịt và đậy nắp
8 Súc miệng
Hình 1.3 Một số dạng bình hít Tubuhaler
Trang 21Hình 1.4 Minh hoạ các bước sử dụng bình xịt định liều Tubuhaler
Nguồn: Bộ Y tế - 2018 [1]
1.1.7.3 Đánh giá kỹ thuật của người bệnh trong việc sử dụng các dụng cụ hít khi tái khám
* Đánh giá kỹ thuật sử dụng các dụng cụ hít
- Tỷ lệ người bệnh được kê thuốc sử dụng loại dụng cụ này trong đơn
- Tỷ lệ người bệnh mắc sai sót ở mỗi bước khi sử dụng dụng cụ này
- Tỷ lệ người bệnh mắc ít nhất 1 sai sót khi sử dụng dụng cụ này
- Tỷ lệ người bệnh mắc ít nhất 1 sai sót ở các bước quan trọng khi sử dụng dụng cụ này
- Tỷ lệ người bệnh mắc số sai sót tương ứng từ: không sai bước nào đến sai hết tất cả các bước khi sử dụng dụng cụ này
Trang 22- Tỷ lệ người bệnh mắc số sai sót ở các bước quan trọng tương ứng từ: không sai bước nào đến sai hết tất cả các bước khi sử dụng dụng cụ này
- Tỷ lệ mức độ sử dụng dụng cụ của người bệnh với 4 mức độ từ không biết cách dùng đến kỹ thuật tối ưu[17]
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới kỹ thuật sử dụng các dạng thuốc hít của bệnh nhân: tuổi, nơi ở, học vấn, tiền sử dùng thuốc hít
1.1.7.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các thuốc dạng hít
Các phân tử thuốc phân bố vào đường dẫn khí theo ba cơ chế: lực quán tính, lực hút trọng lực và chuyển động Brown Khi phân tử thuốc được đưa ra khỏi dụng cụ chứa thuốc nhờ lực đẩy của dụng cụ hoặc lực hít của bệnh nhân, tuỳ theo kích thước và tốc độ, nó sẽ có gia tốc hay lực quán tính khác nhau Những phân tử thuốc có kích thước lớn, tốc độ nhanh thì lực quán tính mạnh, sẽ không kịp chuyển hướng ở những chỗ chia nhánh và lắng đọng lại (chủ yếu ở vùng hầu họng) Những phân tử thuốc có kích thước nhỏ hơn, tốc độ chậm hơn
có thể đi sâu hơn trong đường hô hấp Tuy nhiên, khi càng vào sâu, tốc độ càng giảm, cho đến khi gia tốc không thắng nổi trọng lực thì phân tử thuốc sẽ lắng đọng Còn lại những phân tử do kích thước quá nhỏ, trọng lượng thấp sẽ di chuyển sâu vào các phế quản tận hay phế nang và chuyển động hỗn loạn theo chuyển động Brown Tại đây, một số hạt sẽ dính vào niêm mạc đường hô hấp do
va chạm, số còn lại bị đưa ra khỏi đường hô hấp khi người bệnh thở ra Hiệu quả của các thuốc dạng hít sẽ phụ thuộc vào kích thước tiểu phân thuốc, lực hít và cách hít của người bệnh
Hiện nay có nhiều dụng cụ để dùng thuốc dạng hít, mỗi dụng cụ có kỹ thuật
sử dụng riêng bao gồm nhiều bước thực hiện Khi người bệnh không thực hiện đúng một hoặc nhiều bước trong kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít sẽ có ít thuốc, thậm chí không có thuốc vào tới phổi để phát huy hiệu quả điều trị Ví dụ, nếu người bệnh dùng MDI mà không lắc hộp thuốc, thuốc và chất đẩy sẽ không kết hợp với nhau và lượng thuốc được giải phóng sau một nhát xịt sẽ không đủ liều Nếu người bệnh không thở ra hoặc thở ra không đủ để tạo chỗ trống trong phổi thì sẽ không có hoặc rất ít thuốc có thể vào tới phổi trong bước hít vào Với MDI, bước phối hợp thao tác “tay ấn miệng hít” là rất quan trọng để đảm bảo đủ lượng thuốc vào tới phổi và phát huy hiệu quả điều trị Hít trước khi ấn thì khi
Trang 23thuốc được giải phóng, người bệnh không còn đủ hơi để hít và phổi không còn
đủ chỗ trống để chứa thuốc Hít sau khi ấn thì lượng thuốc được giải phóng trước khi hít đã lắng đọng trong khoang miệng và không thể đi sâu vào phổi Như vậy,
kỹ thuật sử dụng các dụng cụ có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả điều trị củathuốc [9]
1.1.7.5 Thực trạng sai sót trong kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít
Các nghiên cứu đánh giá kỹ thuật sử dụng các dạng thuốc hít đã được thực hiện ở nhiều nước và cho kết quả không mấy khả quan Chaicharn Pothirat và cộng
sự (2015) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên 103 người bệnh tại phòng khám ngoại trú lồng ngực thuộc Bệnh viện Đại học Chiang Mai ở Thái Lan từ tháng 3/2013 đến tháng 2/2014 Nghiên cứu đánh giá kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít của các người bệnh COPD trên bốn loại dụng cụ: MDI, MDI có kèm buồng đệm, Accuhaler và Handihaler Đối tượng nghiên cứu là những người bệnh được chẩn đoán mắc COPD giai đoạn ổn định, đã dùng một trong bốn dụng cụ nói trên trong hơn ba tháng tính tới thời điểm nghiên cứu và chỉ nhận được chỉ dẫn bằng lời về kỹ thuật đúng từ dược sỹ của mình Người bệnh đến khám tại phòng khám và được đánh giá kỹ thuật hít bởi một y tá chuyên khoa hô hấp trước khi gặp bác sỹ Người bệnh thao tác trên mô hình giả được kết hợp với lời nói tương ứng với từng bước thực hiện, y tá sẽ đánh giá kỹ thuật hít của người bệnhdựa trên một bảng kiểm (xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đó và khuyến nghị từ các nhà cung cấp) Sau
đó, người bệnh được hướng dẫn thực hiện đúng kỹ thuật theo hình thức đào tạo mặt-đối-mặt (face - to-face) và được đánh giá lại kỹ thuật sau một tháng Kết quả:
có 200 quan sát kỹ thuật hít đã được thực hiện trên 103 người bệnh COPD, trong đó 74,8% người bệnh thực hiện ít nhất một bước không chính xác cho tất cả các thiết
bị MDI là dụng cụ có tỷ lệ người bệnh mắc sai sót cao nhất (77,3%) với các bước thường mắc lỗi là “thở ra hết sức” và “lắc hộp thuốc”
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để phân tích các yếu tố liên quan đến kỹ thuật hít của người bệnh Mô hình đơn biến đã chỉ ra ba yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến kỹ thuật hít của người bệnh là: tuổi, trình độ học vấn và điểm CAT Nhưng chỉ duy nhất yếu tố học vấn cho thấy sự ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê lên
kỹ thuật hít của người bệnh trong mô hình hồi quy đa biến, cụ thể người bệnh có trình độ học vấn càng cao thì khả năng mắc sai sót trong kỹ thuật hít càng thấp
Trang 24Hình thức đào tạo mặt-đối-mặt làm giảm đáng kể tỷ lệ người bệnh mắc sai sót trong
kỹ thuật hít với tất cả các dụng cụ[16]
Piyush Arora và cộng sự (2014) đã thực hiện một nghiên cứu quan sát tại phòng khám hô hấp ở Ấn Độ nhằm đánh giá kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít của người bệnh COPD/hen suyễn điều trị ngoại trú tại phòng khám Kỹ thuật hít của người bệnh được ghi lại bởi một điều tra viên độc lập (đã được đào tạo về cách sử dụng các dụng cụ hít) theo phương pháp quan sát Ngoài ra, người bệnh cũng được phỏng vấn để thu thập các thông tin về tên, tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế, hôn nhân, thói quen nghề nghiệp, tình trạng hút thuốc, loại thiết bị đang sử dụng, tần suất sử dụng và tần suất được hướng dẫn cách sử dụng các dụng
cụ hít Kết quả: trong số 300 bệnh nhân, có tới 82,3% người bệnh mắc một hoặc nhiều lỗi đối với tất cả dụng cụ; người bệnh dùng MDI có tỷ lệ mắc lỗi cao nhất (94,3%), tiếp theo là DPI (82,3%), MDI kèm buồng đệm (78%) và ít nhất là máy phun khí dung (70%) Những lỗi thường gặp ở người bệnh dùng MDI bao gồm
“không nín thở” (45,7%), “không thở ra hết sức” (40%) và “không lắc hộp thuốc” (37,1%) Lỗi thường gặp ở người bệnh dùng DPI là “không hít đủ nhanh” (52,3%)
và “không hít đủ sâu” (36,9%) Nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố liên quan đến kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít của người bệnh: người bệnh với trình độ học vấn cao hơn
có tỷ lệ mắc lỗi thấp hơn, người bệnh sống ở tầng lớp kinh tế - xã hội thấp hơn có tỷ
lệ mắc lỗi cao hơn, tỷ lệ mắc lỗi cao hơn ở nhóm tuổi 51-60 so với nhóm tuổi 15-20
và người bệnh được hướng dẫn sử dụng thuốc bởi nhân viên y tế có tỷ lệ mắc lỗi thấp hơn so với tự học Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam - nữ và giữa người bệnh COPD với người bệnh hen [20]
Joshua Batterink và cộng sự (2012) đã thực hiện nghiên cứu tại bệnh viện Vancouver General Hospital, một bệnh viện ở British Columbia, từ tháng 10 năm
2010 đến tháng 4 năm 2011 Những người bệnh nhập viện với chẩn đoán COPD, đã
sử dụng các thuốc dạng hít ít nhất một tháng trước khi nhập viện được tham gia nghiên cứu Bảng kiểm được xây dựng dựa trên các dạng thuốc hít có sẵn ở Canada: MDI, MDI có kèm buồng đệm, Turbuhaler, DiskusvàHandihaler.Với mỗi dụng cụ, bảng kiểm gồm từ7-9 bước, được xây dựng dựa trên những công bố trước đó và các khuyến nghị từ nhà sản xuất Dựa trên các nghiên cứu trước đó, một số bước được xác định là bước quan trọng, nếu thao tác sai ở bước này sẽ có rất ít hoặc không có
Trang 25thuốc vào được phổi Người bệnh được yêu cầu thao tác trên mô hình và kỹ thuật hít được ghi nhận, đánh giá dựa trên bảng kiểm đã được xây dựng Kết quả: 37 người bệnh (tuổi trung bình là 78) đủ điều kiện tham gia vào nghiên cứu Trong đó, 59% người bệnh đã mắc ít nhất một lỗi nghiêm trọng và 26% người bệnh mắc sai sót trong tất cả các bước khi thực hiện kỹ thuật hít[21]
1.1.7.6 Tái khám
Người bệnhcần tái khám theo hẹn của bác sỹ ngay cả khi không có triệu chứng nặng của bệnh Thông thường các người bệnh theo chương trình các câu lạc bộ người bệnh COPD thường được kê đơn dùng thuốc trong 1 hoặc 2 tháng Người bệnh sẽ phải quay trở lại khám khi hết thuốc để được kê đơn mới
Người bệnh cần đi khám ngay nếu thấy các dấu hiệu sau:
- Thấy khó thở nhiều
- Đi lại thấy nhanh mệt hơn trước
- Nhịp tim rất nhanh hoặc bất thường
- Dùng thuốc theo đơn của bác sỹ không có tác dụng hoặc tác dụng ít [3], [4]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình dịch tễ học thế giới
Tại Mỹ (1994) có khoảng 16,365 triệu người mắc COPD trong đó có 50% số người bệnh bị bỏ sót không được chẩn đoán Tỷ lệ mắc bệnh ước tính vào khoảng 4 – 5% dân số, có xấp xỉ 96.000 người chết trong năm vì bệnh COPD được ước tính với tỷ lệ mắc là 6,2% ở 11 nước thuộc Hiệp hội bệnh Hô hấp châu Á Thái Bình Dương [16]
Ratnesworee Prajapati và cộng sự (2015) đã thực hiện một nghiên cứu mô tả cắt ngang để đánh giá mức độ tuân thủ của người bệnh COPD và xác định các yếu
tố liên quan tới tuân thủ điều trị Nghiên cứu được tiến hành ở một bệnh viện tại Nepal, những người bệnh đã dùng thuốc COPD trong ít nhất 3 tháng được mời tham gia nghiên cứu Tuân thủ điều trị của người bệnh được đánh giá thông qua bộ câu hỏi Morisky bản 4 tiêu chí (MMAS-4) Các thông tin của người bệnh được thu thập
để phân tích mối liên quan đến tuân thủ điều trị Kết quả: trong 100 người bệnh được đánh giá, tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị là 83% [21]
Tamas Agh và cộng sự (2011) đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang nhằm đánh giá mức độ tuân thủ điều trị và xác định các yếu tố liên quan tới tuân thủ điều
Trang 26trị của người bệnh COPD Nghiên cứu được tiến hành tại một phòng khám ngoại trú
ở Hungary Đối tượng nghiên cứu là người bệnh trên 40 tuổi, đã được chẩn đoán COPD ít nhất 1 năm và đã được điều trị bằng thuốc Bộ câu hỏi gồm 2 phần, phần
để đánh giá tuân thủ điều trị sử dụng bộ câu hỏi Morisky MMAS, phần để đánh giá chất lượng cuộc sống sử dụng bộ câu hỏi EQ-5D (EuroQol 5-dimension questionnaire) Kết quả, trong số 170 người bệnh được đánh giá, tỷ lệ người bệnh
có mức tuân thủ tối ưu là 58,2% “Quên thuốc” và “Cảm thấy mệt hơn khi dùng thuốc” là hai nguyên nhân phổ biến nhất dẫn tới người bệnh không tuân thủ [19] Hillary J Gross và cộng sự (2011) đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh COPD ở 5 nước thuộc châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha) Tuân thủ điều trị của người bệnh được đánh giá sử dụng bộ câu hỏi Morisky MMAS bản 4 tiêu chí Các thông tin của người bệnh được thu thập để phân tích bao gồm: giới tính, tình trạng việc làm và thu nhập, tình trạng uống rượu, hút thuốc và thể dục, mức độ bệnh COPD, bệnh mắc kèm và chi phí chi trả cho thuốc Kết quả: trong số 1.263 người bệnh tham gia nghiên cứu, tỷ lệ người bệnh không tuân thủ là 42,7% Nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến người bệnh không tuân thủ là “ngừng thuốc khi cảm thấy khoẻ hơn” (25%) “Ngừng thuốc khi cảm thấy mệt hơn” là nguyên nhân ít gặp nhất (18%)[18]
1.2.2 Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam
Năm 2016, Nguyễn Hoài Thu nghiên cứu trên 211 người bệnh đang điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai, kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ tái khám đạt yêu cầu: 84,4% Tỷ lệ xếp loại mức độ tuân thủ theo Morisky: 37,9% người bệnh tuân thủ tốt, 41,2% người bệnh tuân thủ ở mức trung bình và 20,9% người bệnh tuân thủ kém [12]
Tại Việt Nam, trong tổng số người tử vong, tỷ trọng do bệnh không lây nhiễm tăng từ 56% năm 1990 lên 72% năm 2010, trong đó, bệnh đường hô hấp mạn tính chiếm 6% COPD gây gánh nặng lớn cho y tế Việt Nam, người bệnh COPD thường chiếm 25% số giường bệnh tại khoa Hô hấp [14] COPD có tên trong danh sách các bệnh không lây nhiễm gây gánh nặng bệnh tật, tử vong cao cần được hệ thống y tế ưu tiên giải quyết trong kế hoạch 5 năm tới (2016-2020) [3]
Trang 271.2.3 Tình hình Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại tỉnh Hải Dương
Theo điều tra dịch tễ học toàn tỉnh có khoảng 26 nghìn người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính( COPD), trong đó diện được quản lý khoảng 15 nghìn người Trong số người bệnh được quản lý có gần 10 nghìn người mắc bệnh ở thể nhẹ, số còn lại đã chuyển sang giai đoạn bệnh nặng Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một trong những bệnh gây tàn phế và có tỉ lệ tử vong cao Đây là tình trạng bệnh lý ở phổi biểu hiện bởi giới hạn thông khí ở phổi, gây tắc nghẽn lưu thông khí, gia tăng lượng khí cặn trong phổi, làm người bệnh khó thở Bệnh bao gồm viêm phế quản mạn, khí phế thũng và hen phế quản không hồi phục
Bệnh viện Phổi Hải Dương là bệnh viện chuyên khoa hạng I, quy mô 325 giường bệnh (thực kê 381 giường) với 16 khoa/phòng chức năng và 334 cán bộ nhân viên, trong đó có 54 người có trình độ chuyên môn là bác sỹ và dược sỹ từ đại học trở lên, có 193 điều dưỡng, kỹ thuật viên Hàng năm bệnh viện khám và điều trị cho khoảng 27.547 lượt người bệnh điều trị nội và ngoại trú Đơn vị quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (CMU) tuyến tỉnh được thành lập năm 2012 đặt tại Bệnh viện Phổi Hải Dương Nằm trong dự án Quốc gia về phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và hen phế quản
Tại Bệnh viện Phổi, Bệnh viện đa khoa tỉnh những năm gần đây, số lượng người bệnh COPD và hen phế quản có chiều hướng tăng mạnh Tính đến cuối năm
2018, toàn tỉnh đang quản lý 6.436 người bệnh COPD Hàng năm Bệnh viện đã hỗ trợ cho các bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế tuyến huyện khám sàng lọc, phát hiện người bệnh COPD và chuyển tiếp người bệnh đến các đơn vị CMU tuyến tỉnh để được quản lý Trong những năm qua, bệnh viện mở các lớp đào tạo cho gần 500 lượt học viên về chẩn đoán, điều trị COPD; đọc, đo chức năng hô hấp và mở rộng hoạt động truyền thông về COPD trên các phương tiện thông tin đại chúng Trong quá trình thực hiện, việc quản lý người bệnh COPD cũng gặp phải một số khó khăn
do khách quan, như:
- Tuyến dưới chẩn đoán sai hoặc chậm, hạn chế chuyển người bệnh giai đoạn 3,4 và những trường hợp khó chẩn đoán lên CMU tuyến tỉnh dẫn đến việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn, làm tăng chi phí điều trị cũng như tăng khả năng tử vong của người bệnh
- Người bệnh phát hiện mắc COPD qua khám sàng lọc trong các can thiệp tích
Trang 28cực dựa vào cộng đồng không đƣợc Trung tâm Y tế tuyến huyện chuyển tuyến BHYT để điều trị tại CMU tuyến tỉnh
- Quy định về trần BHYT thấp so với thực tế điều trị nội và ngoại trú COPD (trung bình 1 bệnh án 11-12 triệu đồng, trong khi trần bệnh án là 9,1 triệu đồng) [8]