1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thảo luận ngân hàng chương 123

99 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thảo Luận Ngân Hàng Chương 1
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Ngân Hàng
Thể loại Bài Luận
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 93,68 KB
File đính kèm THẢO LUẬN NGÂN HÀNG CHƯƠNG 123.rar (92 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THẢO LUẬN MÔN LUẬT NGÂN HÀNG Chương 1 1. Qua các giai đoạn trong lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống ngân hàng và pháp luật ngân hàng: a. So sánh quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng trên thế giới và Việt Nam? Lịch sử hình thành ngân hàng thế giới. Đối với lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng trên thế giới, thì hệ thống ngân hàng thế giới được hình thông qua 03 giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn sơ khai, giai đoạnhình thành hệ thống ngân hàng một cấp và giai đoạn hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp. Giai đoạn đầu tiên: Giai đoạn hình thành các hoạt động ngân hàng sơ khai. Giai đoạn sơ khai, với sự xuất hiện của cả 3 điều kiện sau đây đã hình thành nên các hoạt động ngân hàng sơ khai.  Điều kiện 01: Sự xuất hiện của tiền tệ.  Điều kiện 02: Sự xuất hiện nhu cầu gửi tiền và nhóm người nhận giữ tiền.  Điều kiện 03: Sự gia tăng nhu cầu vốn. Khi xuất hiện cả 03 điều kiện trên đã dẫn đến sự hình thành của các ngân hàng sơ khai, các ngân hàng sơ khai. Về hình thái, chức năng hoạt động của các ngân hàng sơ khai, các ngân hàng này thực hiện 03 hoạt động chính sau:• + Hoạt động nhận giữ tiền và cho vay lại vốn. Nguyên nhân chính của hoạt độngnày là do nhu cầu gửi tiền của một bộn phận xã hội có dư thừa tiền và có nhucầu gửi tiền nhằm cất trữ, bảo vệ số tài sản của mình và một bên là một bộphận xã hội có nhu cầu về “Vốn” để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh.• + Hoạt động mua bán, chuyển đổi các loại tiền tệ. Nguyên nhân hình thành hoạtđộng này là do sự phát triển của hoạt động thương nghiệp, các thương nhânthường giao thương tại nhiều nơi, nhiều quốc gia khác nhau. Ở mỗi quốc giakhu vực lại có tiền tệ riêng, nên để giao thương thuận tiên mới phát sinh nhucầu đổi tiền.• + Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặc. Sau khi hình thành nên các ngân hàng sơ khai, do điều kiện kinh tế xã hội không ngừng phát triển, nhu cầu về “vốn” không ngừng tăng đến một mức độ các ngân hàng sơ khai không thể đáp ứng được nhu cầu “vốn” của các chủ thể vay nguyênnhân là do các ngân hàng sơ khai này còn nhỏ lẻ, không đáp ứng đủ vốn vay cho các chủ thể khác. Điều này tạo tiền đề dẫn đến vào thế kỷ XV, để đáp ứng nhu cầu về “vốn”, nên chủ thể thực hiện hoạt động ngân hàng sơ khai đã liên kết lại tạo thành các “hội buôn”, các “Công ty” hoạt động ngân hàng. Nên dẫn đến sự hình thành ngân hàng đầu tiền. Giai đoạn ngân hàng một cấp. Các ngân hàng đầu tiên được thành lập bởi các cá nhân, nhà buồn, … nên chủ sở hữu các ngân hàng này chính là tư nhân. Ngân hàng một cấp là các ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân. Mặc khác, các ngân hàng cấp một này được thành lập bởi các cá nhân, nhà buồn, … và xuất phát từ những hoạt động ngân hàng sơ khai, cho nên các ngân hàng cấp một này không có giới hạn phạm vi hoạt động ngân hàng. Được tự do phát hành tiền tệ và tự do thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ. Mặc khác, trong giai đoạn này nhà nước chưa tiến hành can thiệp vào trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cấp. Giai đoạn ngân hàng hai cấp.

Trang 1

THẢO LUẬN MÔN LUẬT NGÂN HÀNG Chương 1

1 Qua các giai đoạn trong lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống ngân hàng và pháp luật ngân hàng:

a So sánh quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng trên thế giới và Việt Nam?

* Lịch sử hình thành ngân hàng thế giới.

Đối với lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng trên thế giới, thì hệ thống ngân hàng thế giới được hình thông qua 03 giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn sơ khai, giai đoạnhình thành hệ thống ngân hàng một cấp và giai đoạn hình thành hệthống ngân hàng hai cấp

- Giai đoạn đầu tiên: Giai đoạn hình thành các hoạt động ngân hàng sơ khai.Giai đoạn sơ khai, với sự xuất hiện của cả 3 điều kiện sau đây đã hình thànhnên các hoạt động ngân hàng sơ khai

 Điều kiện 01: Sự xuất hiện của tiền tệ

 Điều kiện 02: Sự xuất hiện nhu cầu gửi tiền và nhóm người nhận giữ tiền

 Điều kiện 03: Sự gia tăng nhu cầu vốn

Khi xuất hiện cả 03 điều kiện trên đã dẫn đến sự hình thành của các ngân hàng sơ khai, các ngân hàng sơ khai Về hình thái, chức năng hoạt động của các ngân hàng sơ khai, các ngân hàng này thực hiện 03 hoạt động chính sau:

Trang 2

+ Hoạt động nhận giữ tiền và cho vay lại vốn Nguyên nhân chính của hoạt độngnày là do nhu cầu gửi tiền của một bộn phận xã hội có dư thừa tiền và có nhucầu gửi tiền nhằm cất trữ, bảo vệ số tài sản của mình và một bên là một bộphận xã hội có nhu cầu về “Vốn” để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh.+ Hoạt động mua bán, chuyển đổi các loại tiền tệ Nguyên nhân hình thành hoạtđộng này là do sự phát triển của hoạt động thương nghiệp, các thương

nhânthường giao thương tại nhiều nơi, nhiều quốc gia khác nhau Ở mỗi quốc giakhu vực lại có tiền tệ riêng, nên để giao thương thuận tiên mới phát sinh nhucầu đổi tiền.

+ Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặc

Sau khi hình thành nên các ngân hàng sơ khai, do điều kiện kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, nhu cầu về “vốn” không ngừng tăng đến một mức độ các ngân hàng sơ khai không thể đáp ứng được nhu cầu “vốn” của các chủ thể vay nguyênnhân là do các ngân hàng sơ khai này còn nhỏ lẻ, không đáp ứng đủ vốn vay cho các chủ thể khác Điều này tạo tiền đề dẫn đến vào thế kỷ XV, để đáp ứng nhu cầu về “vốn”, nên chủ thể thực hiện hoạt động ngân hàng sơ khai đãliên kết lại tạo thành các “hội buôn”, các “Công ty” hoạt động ngân hàng Nên dẫn đến sự hình thành ngân hàng đầu tiền

- Giai đoạn ngân hàng một cấp

Các ngân hàng đầu tiên được thành lập bởi các cá nhân, nhà buồn, … nên chủ sở hữu các ngân hàng này chính là tư nhân Ngân hàng một cấp là các ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân

Mặc khác, các ngân hàng cấp một này được thành lập bởi các cá nhân, nhà buồn, … và xuất phát từ những hoạt động ngân hàng sơ khai, cho nên các ngân

Trang 3

hàng cấp một này không có giới hạn phạm vi hoạt động ngân hàng Được tự do phát hành tiền tệ và tự do thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ Mặc khác, trong giai đoạn này nhà nước chưa tiến hành can thiệp vào trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cấp.

- Giai đoạn ngân hàng hai cấp

Do các ngân hàng có quyền tự do in tiền, phát hành tiền tệ, khi này sẽ phát sinhtrường hợp mỗi ngân hàng sẽ có một loại tiền tệ riêng Điều này dẫn đến trong thị trường xuất hiện nhiều loại tiền tệ khác nhau và do số lượng tiền lớn được phát hành đưa vào trong lưu thông nên dẫn đến lam phát Nền kinh tế quốc gia rối loạn, nền kinhtế phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng nên nếu ngân hàng sụp đổ nền kinh tế cũng sụp đỗ Nên phát sinh nhu cầu quản lý hoạt động này từ phía nhà nước

Nhà nước tiền hành quản lí hoạt động ngân hàng thông quan 03 biện pháp:+ Kiểm soát quyền phát hành tiền.

+ Quy định lại phạm vi hoạt động ngân hàng.

+ Quốc hữu hóa ngân hàng phát hành

Điều này đã dẫn đến sự hình thành nên hệ thống ngân hàng hai cấp Với ngânhàng cấp một là ngân hàng trung ương hay còn gọi là ngân hàng nhà nước.Đặc điểm của của hệ thống ngân hàng hai cấp:

+ Về hình thưc sở hữu:

 Ngân hàng cấp 1: Thuộc sở hữu của nhà nước

 Ngân hàng cấp 2: Thuộc sở hữu của nhà nước hoặc sở hữu tư nhân.

Trang 4

+ Phạm vi hoạt động: Đã có sự tách bạch giữa hoạt động in tiền, phát hành tiền và hoạt động kinh doanh tiền tệ Việc phát hành tiền thuộc về ngân hàng cấp 01.

+ Sự can thiệp của nhà nước: Nhà nước có sự can thiệp vào việc phát hành tiền;phân chia, tách bạch phạm vi hoạt động của ngân hàng; quốc hữu hóa

ngânhàng phát hành tiền

* Lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Đối với lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng Việt Nam, có thể chia thành

04 giai đoạn như sau: Trước năm 1945; từ năm 1945 đến năm 1987; từ năm 1987đến năm 1990 và tư năm 1990 đến nay

Đối với giai đoạn trước năm 1945: Ở trước năm 1945 thì ở Việt Nam chưa có

Ở giai đoạn này, ở Việt Nam hình thành hệ thống ngân hàng một cấp, nhưng ngân hàng một cấp này lại thuộc sở hữu của nhà nước không thuộc sở hữu tư nhân, chịu sự can thiệp của nhà nước

Trang 5

Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1990: Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện,sâu sắc và triệt để theo Nghị quyết Đại hội Đảng VI và các Nghị quyết Đại hội Đảng sau đó, công cuộc đổi mới đất nước được triển khai mạnh mẽ, nền kinh

tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế

Sau một thời gian tiến hành làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh doanh XHCN, ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh” Tổ chức, bộ máy của Ngân hàng Nhà nước được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năngngân hàng của các ngân hàng; các ngân hàng chuyên doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.Ở giai đoạn này Việt Nam đã từng bước chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấpsang thí điểm hệ thống ngân hàng hai cấp

Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: Sau một thời gian thực hiện thí điểm hoạt động hệthống ngân hàng hai cấp Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2Pháp lệnhNgân hàng Hệ thống ngân hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh

mẽ, căn bản vàtoàn diện phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầncủa Đảng, Nhà nước Đến đây hệ thống ngân hàng hai cấp ở Việt Nam đã hoàn thiện

* So sánh

Trang 6

Tiêu chí Thế giới Việt Nam

Giai

đoạn sơ

khai

Với sự xuất hiện các 03 điều kiện:

+ Sự xuất hiện của tiền tệ

+ Nhu cầu gửi tiền và người giữ

tiền

+ Nhu cầu về vốn

=> Đã hình thành nên hệ thống

ngân hàng đâu tiên

- Các hoạt động ngân hàng chủ yêu:

+ Hoạt động nhận giữ tiền và cho

Trang 7

phạm vi hoạt động, được tự do phát

hành tiền tệ

+ Sự can thiệp của nhà nước: Ngân

hàng một cấp do các tư nhận thành

lập, thuộc sở hữu của tư nhân và

không có sự can thiệp của nhà nước

là không có

+ Sự can thiệp của nhà nước:Ngân hàng thuộc sở hữu củanhà nước nên nhà nước có sựcan thiệp vào trong hoạt độngcủa ngân hàng

một chỉ thuộc sở hữu của nhà nước

Ngân hàng cấp hai thuộc sở hữu

của nhà nước hoặcsở hữu tư nhân

+ Về phạm vi hoạt động:Ngân hàng

cấp một và ngân hàng cấp hai có sự

tách bạch về phạm vi hoạt động

Ngân hàng cấp một chuyên phát

hành tiền tệ mà không được trực

tiếp giao dịch với các chủ thể khác

mà giao dịch qua các ngân hàng

cấp hai Ngân hàng cấp hai chi

được kinh doanh tiền mà không

được in tiền

+ Sự can thiệp của nhà nước: Nhà

Ngân hàng hai cấp ở Việt Nam

có những đặc điểm sau:

+ Về hình thưc sở hữu: Ngânhàng nhànước là ngân hàng cấpmột sẽ thuộc sở hữu của nhànước Các ngân hàng cấp hai cóthể thuộc sở hữu nhà nươc nhưAgribank, BIDV, … hoặc là sởhữu tư nhân

+ Về phạm vi hoạt động: Ngânhàng nhà nước là ngân hàng duynhất được thực hiện chức năngphát hành tiền tại Việt Nam vàngân hàng nhà nước khôngđược trực tiếp thực hiện cáchoạt động ngân hàng đối với cácchủ thể khác mà chỉ được thựchiện giao dịch với các ngân

Trang 8

nướccó sự can thiệp vào trong hoạt

động của các ngân hàng thông qua

- Kiểm soát việc phát hành tiền

hàng cấp hai Ngân hàng cấp haichỉ được thực hiện các hoạtđộng ngân hàng, kinh doanhtiền mà không được phát hànhtiền

+ Sự can thiệp của nhà nước:Tương tự đối với các hệ thốngngân hàng hai cấp trên thế giới,nhà nước can thiệp như sau:

- Quốc hữu hóa ngân hàng pháthành tiền.

- Giới hạn phạm vi hoạt độngcủa các ngân hàng.

- Kiểm soát việc phát hành tiền

b So sánh hệ thống ngân hàng một cấp và hệ thống ngân hàng hai cấp? Ưu

và nhược điểm của từng hệ thống/

Trang 9

- Sự can thiệp của Nhà nước:

+ Đối với ngân hàng nhà nước một cấp sự can thiệp của Nhà nước hầu như không có hoặc rất mờ nhạt 

+ Đối với ngân hàng nhà nước hai cấp, nhà nước đã nhận thức vai trò quyết định của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế và bắt đầu can thiệp bằng công cụpháp luật để quy hoạch hệ thống ngân hàng của quốc gia mình Cụ thể, nhà nước

đã kiểm soát quyền phát hành tiền, nếu ngân hàng thỏa mãn các điều kiện do nhànước đặt ra sẽ được xếp và ngân hàng cấp 1, nếu không thỏa mãn các điều kiện

sẽ được xếp vào ngân hàng cấp 2

-Phạm vi hoạt động: 

+ Đối với ngân hàng một cấp lĩnh vực kinh doanh không hạn chế, phụ thuộc vào khả năng của mình mà mỗi ngân hàng có thể thực hiện một số hoặc toàn bộ các hoạt động như huy động vốn, cho vay, kinh doanh tiền tế, vàng, kim loại quý

kể cả phát hành các chứng thư dùng thanh toán thay tiền Như vậy, ngân hàng một cấp được quyền tiến hành hoạt động kinh doanh liên quan đến tiền, kể cả phát hành tiền.

+ Đối với ngân hàng hai cấp đã có sự phân định phạm vi hoạt động giữa nhómcác ngân hàng phát hành và các ngân hàng thương mại, tức ngân hàng cấp 1 hay ngân hàng cấp 2 chỉ được quyền kinh doanh tiền hoặc phát hành tiền

-Hình thức sở hữu:

+ Đối với ngân hàng một cấp thuộc sở hữu tư nhân, tức là do các cá nhân, gia đình, nhóm các thương nhân bỏ vốn thành lập và quản lí.

Trang 10

+ Đối với ngân hàng hai cấp có cả hình thức sở hữu tư nhân và hình thức sở hữu nhà nước, cụ thể ngân hàng cấp một thuộc sở hữu nhà nước, ngân hành cấp hai thuộc sở hữu nhà nước hoặc tư nhân.

+ Ngân hàng một cấp thuộc sở hữu tư nhân dễ dẫn đến tình trạng lạm phát, phát hành tiền một cách ồ ạt Bên cạnh đó, các ngân hàng có thể phát hành nhiều loại tiền do các ngân hành tự do phát hành

Ngân hàng hai cấp:

-Ưu điểm:

+ Ở ngân hàng hai cấp với sự can thiệp của nhà nước đã giúp cải tổ, sắp xếp lại hệ thống ngân hàng, khắc phục tình trạng phát hành tiền ồ ạt, mất cân đối, đồng tiền mất giá lạm phát do hình thức sở hữu tư nhân ở ngân hàng một cấp đã gây ra.

+ Với viêc xuất hiện ngân hàng độc quyền phát hành tiền có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế và pháp lí Nó mở đầu cho giai đoạn chuyên môn hóa hoạt

Trang 11

động ngân hàng, tạo ra phạm vi, ranh giới hoạt động của mỗi nhóm trong hệ thống ngân hàng hai cấp.

-Nhược điểm: Ngân hàng 2 cấp thuộc sở hữu của nhà nước dẫn đến việc thiếu cạnh tranh giữa các ngân hàng

2 Chứng minh rằng một trong những nội dung cơ bản của Luật Ngân hàng

là cơ chế pháp lý nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng.

Một trong những nội dung cơ bản của Luât Ngân hàng là cơ chế pháp lý nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng, được thể hiện cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật Ngân hàng:

- Các quy định về nghĩa vụ TCTD phải công bố thông tin, tuân thủ các

nguyên tắc trong quản trị ngân hàng

- Các quy định về hạn mức tín dụng, các quy định về các trường hợp cấm chovay, các trường hợp về hạn chế cho vay

- Quy định về quy trình đánh giá, thẩm định hồ sơ tín dụng; phân tích và đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư;

- Quy định về các chuẩn mực tài chính và tỷ lệ đảm bảo an toàn, duy trì khả năngchi trả của TCTD, quy định trong việc trích lập các quỹ dự phòng rủi ro, tuân thủ các tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần, góp vốn liên doanh do NHNN quy định trong từng thời kỳ;

- Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người gửi tiền trong đó có quy định về bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền

Trang 12

3 Rủi ro trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ đâu? Pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện nay quy định như thế nào để hạn chế rủi ro này?

Có nhiều loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng, chẳng hạn như:

- Rủi ro tín dụng: bắt nguồn từ lỗi của cả hai bên tham gia quan hệ túi dụng: Ngân hàng và khách hàng đi vay

+ Đánh giá sai năng lực tài chính và sản xuất kinh doanh của người vay do không thu thập đầy đủ thông tin về hoạt động và mục đích của người vay

+ Việc lập quỹ dự phòng túi dụng chưa đưỏc thực hiện nghiêm túc; trình độ củađội ngũ cán bộ còn yếu kém, công tác tổ chức cán bộ còn thiếu hỏp lý, phân định chứcnăng mỗi bộ phận không rõ ràng

+ Doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, tụt hậu trong cạnh tranh, ứ đọng vốn, sản phẩm làm ra không bán được Do đó, doanh nghiệp không có tiền trả nợngân hàng

+ Sự biến động của nền kinh tế như suy thoái kinh tế, sự không ổn định của nềnkinh tế, lạm phát gia tăng, sự biến động tỷ giá ảnh hưởng tới hoạt động ồ doanh nghiệp gây ra rủi ro tín dụng…

- Rủi ro tỷ giá

-Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường đối với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái sinh lãi suất trên sổ kinh doanh của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- Rủi ro xuất phát khi niềm tin, tín nghiệm vào ngân hàng bị lung lay: là rủi

ro dưluận đánh giá xấu về ngân hàng, gây khó khăn nghiêm trọng cho ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khiến khách hàng rời bỏ ngân hàng

Trang 13

- Rủi ro xuất phát khi có sự biến động chính sách kinh tế, quy định pháp luật.

- Nhận dạng, đo lướng, theo dõi và kiểm soát rủi ro hoạt động

Điều này được quy định cụ thể tại Điều 42 Thông tư 13/ 2018/TT-NHNN (sửa đổi tại Điều 2 Thông tư 40/2018/TT-NHNN)

- Quản lý rủi ro hoạt động đối với hoạt động thuê ngoài Quản lý rủi ro hoạt động đối với hoạt động thuê ngoài được thực hiện thông qua: Quản lý hoạt động thuê ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều này và Nhận dạng, đo lường, theo dõi

và kiểm soát rủi ro hoạt động phát sinh từ hoạt động thuê ngoài theo quy định tại Điều 42 Thông tư này

-Mua bảo hiểm để giảm thiểu tổn thất rủi ro hoạt động

Bên cạnh việc đo lường và kiểm soát rủi ro hoạt động thì ngân hàng thương mại lựa chọn phương án mua bảo hiểm để giảm thiểu tổn thất rủi ro hoạt động

Cụ thể quy định tại Điều 45 Thông tư 13/2018/TT-NHNN

Thứ nhất, Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được muabảo hiểm để giảm thiểu tổn thất phát sinh từ rủi ro hoạt động theo quy định của pháp luật, đảm bảo phù hợp với năng lực tài chính và bù đắp tổn thất của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thứ hai, Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không sử dụng việc mua bảo hiểm để thay thế quản lý rủi ro hoạt động, phải đánh giá hiệu quả giảm thiểu tổn thất phát sinh từ rủi ro hoạt động của việc mua bảo hiểm, đánh giá năng lực của doanh nghiệp bán bảo hiểm trong việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm và các rủi ro mới khác (nếu có)

-Báo cáo nội bộ về rủi ro hoạt động

Trang 14

Mọi hoạt động ngân hàng đều phải tuân thủ quy định về báo cáo nội bộ nhằmđảm bảo cho quá trình kiểm soát nội bộ đạt hiệu quả Việc quản lý rủi ro hoạt động cũng vậy Pháp luật quy định việc báo cáo về rủi ro hoạt động tại Điều 47 Thông tư 13/2018/TT-NHNN Theo đó, định kỳ tối thiểu 06 tháng hoặc đột xuất,ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có báo cáo nội bộ về rủi

ro hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 47

4 Hiểu thế nào là hoạt động ngân hàng? Trình bày các đặc điểm của hoạt động ngân hàng?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước 2010 thì: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.

Đặc điểm của hoạt động ngân hàng:

Đặc điểm 1: Chịu sự điều chỉnh trực tiếp của NHNN VN:

- Quản lý, điều chỉnh chặt chẽ, khắc khe hơn

- NHNN là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp, chính

Đặc điểm 2: Yếu tố chủ thể:

- Chủ thể thực hiện hoạt động ngân hàng: TCTD, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài và một số chủ thể được cấp phép àPhải được NHNN cấp phép hoạt động ngân hàng tại Việt Nam

Trang 15

- Mỗi loại hình tổ chức tín dụng có phạm vi hoạt động khác nhau.

- TCTD chỉ được tiến hành các hoạt động được ghi nhận rõ trong giấy phép

do NHNN cấp

Đặc điểm 3: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện: + Nguyên nhân:

- Đối tượng kinh doanh là tiền tệ

- Hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro

- Hoạt động quan trọng của nền kinh tế

- Hoạt động ngân hàng là hoạt động nhạy cảm với các biến động kinh tế

 Hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro:

- Có nhiều loại rủi ro khác nhau:

• Rủi ro tín dụng

• Rủi ro tỷ giá

• Rủi ro lãi suất

- Rủi ro xuất phát khi niềm tin, tín nhiệm vào ngân hàng bị lung lay

- Rủi ro xuất phát khi có sự biến động chính sách kinh tế, quy định pháp luật…

 Hoạt động quan trọng của nền kinh tế:

+ Điều kiện kinh doanh hoạt động ngân hàng:

- Vốn pháp định;

Trang 16

- Điều lệ hoạt động;

- Tính khả thi của phương án kinh doanh;

- Năng lực của người điều hành

+ Điều kiện về tính khả thi của phương án kinh doanh:

- Phương án kinh doanh của các ngân hàng phải có tính khả thi, phải có khả năng hoạt động và mang lại lợi nhuận

- Mục đích: kiểm soát, ngăn chặn việc tạo ra sự độc quyền, hạn chế hiện tượng cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng với nhau à đảm bảo cho sự an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng Đặc điểm 4: Hoạt động ngân hàng mang đặc điểm cạnh tranh song hành với hợp tác:

- Tính cạnh tranh: Cạnh tranh để tìm kiếm khách hàng à tối đa hóa lợi nhuận

- Tính hợp tác: vì sao? Biểu hiện?

+ Đối tượng kinh doanh tiền tệ

+ Hợp tác để hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Trang 17

– Hoạt động kinh doanh khác là tài sản hàng hóa…

b Nội dung

– Hoạt động ngân hàng: bao gồm các hoạt động tín dụng như nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng có dịch vụ thanh toán nhằm thực hiện các hoạt động nghiệp vụ để sinh lợi nhuận và ổn định lưu thông tiền tệ trongthị trường

– Hoạt động kinh doanh khác: các hoạt động gồm mua bán, trao đổi hàng hóa, các hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi nhuận là chủyếu

c Cơ cấu tổ chức

– Hoạt động ngân hàng: cơ cấu tổ chức hoạt động ngân hàng rất chặt chẽ, được quy định theo luật Ngân hàng và những người trong ngành cần có chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo bài bản

– Hoạt động kinh doanh khác: có thể có hoặc không tổ chức theo một bộ máy, các mô hình kinh doanh thì rất đa dạng có thể là hộ kinh doanh, thành lập các công ty, doanh nghiệp

Trang 18

* Ngoài tổ chức tín dụng, chỉ có TCTD or chi nhánh NH nc ngoài đc tiến hành hoạt động ngân hàng?

Về khái niệm hoạt động ngân hàng “Hoạt động ngân hàng là việc kinh

doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”

Thứ nhất, khái niêm hoạt động ngân hàng được Luật Ngân hàng nhà

nướcViệt Nam năm 2010 thiết kế hoạt động ngân hàng theo phương pháp liệt kê

3 nội dung chính của hoạt động: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Và đây chính là các lĩnh vực mà nhà nước cho phép kinh doanh Việc liệt kê như vậy mang tính rõ ràng mạch lạc để các cá thể có thểhiểu rõ và nhận diện một cách dễ dàng về khái niệm hoạt động ngân hàng Nhưng điều này vô tình làm kiềm hãm sự phát triển trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng

Khi mà thị trường ngày càng phát triển xu hướng luôn được thay đổi thì việc liệt kê là không đủ Vì vậy, khái niệm hoạt động ngân hàng sẽ gây khó khăn

Trang 19

cản trở sự mở rộng hoạt động của các tổ chức tín dụng Vì nó không quy định phạm vi hoạt động và không có cơ chế nào quy định việc đăng ký NHNN.

Thứ hai, hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực đặc thù đòi hỏi phải có một

cơ chế riêng Việc mở rộng hoạt động của mình thì phải xin phép NHNN là hợp

lý Việc xin phép không những đảm bảo việc kinh doanh đó là hợp pháp mà cònđảm bảo được sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh

Ngoài ra mọi hoạt động của các tổ chức tín dụng đều phải đăng ký với Ngân hàng nhà nước điều đó đồng nghĩa với việc chịu sự quản lý Việc kinh doanh của các tổ chức tín dụng đều được thực hiện dựa trên giấy phép mà ở đó Ngân hàng nhà nước cho phép kinh doanh hoạt động nào thì tổ chức tín dụng kinh doanh hoạt động đó

Vì vậy muốn thực hiện một hoạt động kinh doanh mới đòi hỏi phải đăng kívới Ngân hàng nhà nước

7 NHNNVN có được phép thực hiện hoạt động Ngân hàng hay không?

NHNNVN không được thực hiện hoạt động ngân hàng vì

Theo khoản 3 Điều 2 LNHNNVN 2010 thì bản chất của Ngân hàng nhà nước

là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, được sử dung các công cụquản lý, quyền lực nhà nước để đảm bảo cho hoạt động ngân hàng

Về hoạt động ngân hàng, căn cứ khoản 1 Điều 6 LNHNNVN 2010 thì hoạt đông ngân hàng bao gồm: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Đây là những hoạt động nhằm để sinh lợi của các tổ chức tín dụng, trong khi đó ngân hàng nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận

mà để đảm bảo cho đồng tiền VN được ổn định, bảo đảm cho sự an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng

Trang 20

Từ đó có thể nói rằng NHNNVN là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, không nhằm mục đích lợi nhuận nên không được phép thực hiện các hoạt đông ngân hàng.

CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH

1 Tiền đề cho sự xuất hiện hoạt động ngân hàng là hoạt động gửi giữ tiền.

Nhận định sai, bởi vì: Tiền đề xuất hiện ngân hàng xuất phát từ 3 yếu tố:

- Do sự xuất hiện của tiền tệ: trong quá trình phát triển, xã hội có sự phân cônglao động, cải tiến công cụ sản xuất xuất hiện sản phẩm lao động dư thừa, tích lũy đượcdưới dạng tiền tệ

- Có sự xuất hiện nhu cầu gửi tiền và nhóm người nhận giữ tiền

- Nhu cầu sử dụng vốn vào các mục đích trong đời sống gia tăng

=> Như vậy Tiền đề xuất hiện ngân hàng xuất phát từ 3 yếu tố chứ không phải chỉ là hoạt động gửi giữ tiền

2 Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng, trong đó các ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh

Nhận định SAI

Nhận định này là sai vì hệ thống ngân hàng hai cấp bao gồm ngân hàng trung ươngvà các ngân hàng thương mại Trong đó ngân hàng trung ương sẽ không trực tiếp kinh doanh tiền và độc quyền trong việc phát hành tiền Còn các ngân hàng cấp 2 sẽ thực hiện các chức năng về kinh doanh tiền tệ Ngân hàng cấp 1 vàcấp 2 đã có sự tách bạch giữa hoạt động phát hành tiền và hoạt động kinh doanh tiền tệ Theo đó, việc ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh

Trang 21

doanh là hệ thống ngân hàng một cấp nơi mà việc phát hành tiền và thực hiện cáchoạt động kinh doanh là không hạn chế

3 Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện

Nhận định ĐÚNG

Căn cứ Quy định tại số 220, 221, 221 Phục lục IV Luật Đầu tư năm 2020; khoản 1 Điều 06 Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010; thì dựa trên các quy định trên do theo khoản 1 Điều 06 Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010 hoạt động ngân hàng trước tiên nó phải là hoạt động kinh doanh, do là hoạt động kinh doanh nên đó đòi hỏi cần phải được đăng ký để kinh doanh Mặc khác, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì để kinh doanh cần phải tiến hành đăng

ký kinh doanh, nhưng theo hương quy định tại số 220, 221, 222 thì đối với hoạt động của ngân hàng thương mại, các tổ chức phi ngân hàng, ngân hàng hợp tác

xã, … được xem là hoạt động kinh doanh có điều kiện Vì vậy có thể nói hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh cóđiều kiện

Mặc khác, nguyên nhân làm cho hoạt động ngân hàng hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện là bởi vì các lí do sau:

- Đây là một hoạt động kinh doanh về tiền tệ, mà tiền tệ lại là một phương tiệnlưu thông , thước đo giá trị, phương tiện cất giữ không thể thiếu trong kinh tế thương mại

- Hai là một hoạt động chứa nhiều rủi ro, Sự biến động về chính sách kinh tế,

sự biến động về niềm tin khi bị lung lay có thể dẫn đến sự sụp đổ, thua lỗ

- Ba là một hoạt động quan trọng của nền kinh tế, xuất phát từ việc kinh doanh tiền tệ , nhưng chúng ta đã biết tiền tệ có chức năng quan trọng như thế nào

Trang 22

- Cuối cùng, đó là hoạt động nhạy cảm với các biến động kinh tế Cho nên phápluật đã đòi hỏi các điều kiện kinh doanh nhất định như vốn, điều lệ hoạt động, tính khảthi phương án kinh doanh và năng lực của người điều hành

4 NHNNVN được phép kinh doanh tiền tệ

Nhận định sai

Bởi vì, căn cứ quy định tại Điều 04 Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010 Dựa trên quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng nhà nước được quy định tại Điều 04, Luật Ngân hàng nhà nước không có quy định cho phép Ngân hàng nhà nước được kinh doanh tiền tệ Mặc khác, do hệ thống ngân hàng ở nước ta là hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó ngân hàng nhà nước là ngân hàng cấp một (Ngân hàng trung ương) chịu sự quản lí của nhà nước và phạm vi hoạt động của ngân hàng cấp một chỉ là hoạt động phát hành tiền mà không đượcphép kinh doanh tiền tệ, không được trực tiếp giao dịch, kinh doanh tiền với các chủ thể cần vốn trong xã hội Mà chỉ có ngân hàng cấp hai mới được phép kinh doanh tiền tệ

5 Nguồn của luật ngân hàng là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành.

Nhận định SAI

Nguồn của luật ngân hàng không chỉ bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành Theo đó, nguồn của luật ngân hàng bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành như Hiến pháp, luật ngân hàng,

bộ luật dân sự, các nghị định của chính phủ, thì còn các hiệp định, điều ước quốc tế và tập quán, thông lệ quốc tế cũng được xem là nguồn của luật ngân hàng

Trang 23

6 Đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng có thể là đối tượng điều chỉnh của cácngành luật khác.

Nhận định ĐÚNG

Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng và hoạt động ngân hàng là đối tượng điều chỉnh của ngành luật ngân hàng, trong một số trường hợp chúng có thể đồng thời là đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác như luật dân sự, luật thương mại, luật hành chính và đặc biệt là luật tài chính

Điển hình như các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản trị, điều hành NHNNVN, thủ tục, trình tự thành lập, hoạt động giải thể, cơ cấu tổ chức của các tổ chức tín dụng, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức tín dụng, những quan hệ này không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng mà còn

có cả những quy phạm của các ngành luật khác như là luật doanh nghiệp, luật phá sản,…

Do vậy, đối tượng điều chỉnh của luật ngân hang có thể là đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác

PHẦN BÀI TẬP

1 Tình huống 1: A (Đài Loan) muốn thành lập doanh nghiệp tại VN với hoạt động kinh doanh chính là đại lý ký gởi hàng hóa, đại lý bán vé máy bay, và kinh doanh lữ hành nội địa Để thuận tiện cho việc cấp GCNĐKKD,

A quyết định cho anh B (1.000.000.000 VND theo Hơp đồng vay số 01) và chị C (1.000.000.000 VND theo Hợp đồng vay số 02) vay, thay mặt mình quản lý vốn và đứng tên trên GCNĐKKD Sau đó, anh B và chị C đã tiến hành các thủ tục thành lập công ty TNHH D, gồm 2 thành viên là anh B và chị C, mỗi người sở hữu 50% vốn điều lệ (2.000.000.000 VNĐ).

Trang 24

Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?

Bài làm:

Hoạt động này không phải là hoạt động ngân hàng.Căn cứ vào khoản 1 Điều

6 Luật Ngân hàng “Hoạt động ngân hàng là việc kinhdoanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

Thì việc A cho anh B và chị C vay mỗi người 1.000.000.000 VND thì đây chỉ là hợp đồng cho vay mang tính thuận tiện cho việc cấp GCNĐKKD Theo đócăn cứ vào khoản 21 Điều 4 LDN 2020 “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.” thì việc A cho vay không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận nhằm mục đích kinh doanh mà chỉ thaymặt mình quản lý vốn và đứng tên GNĐKKD Thêmvào đó đây cũng không phải là một hoạt động thường xuyên mà việc cho vay chỉ xuất hiện một cách nhất thời để đảmbảo việc cấp GCNĐKKD Như vậy dù có hoạt động cấp tín dụng cụ thể là việc A cho B và C vay nhưng hoạt động này không đáp ứng đủ nhu cầu được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Ngân hàng

2 Tình huống 2: Ông A, bà B và cô C cùng nhau góp vốn thành lập công ty TNHH D Ngoài hoạt động chính trong lĩnh vực xây dựng, Công ty TNHH D còn thường xuyên nhận tiền gửi từ các thành viên (A, B, và C) và người thân trong gia đình của các thành viên (A, B, và C) để cho vay kiếm lời.

Trang 25

Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?

Bài làm:

Theo quan điểm của nhóm em thì hoạt động trong tình huống trên khôngphải là hoạt động ngân hàng Bởi vì, căn cứ quy định tại Khoản 01 Điều 06 LuậtNgân hàng nhà nước năm 2010 Thì để được xem là hoạt động ngân hàng thìphải thỏa mãn những đặc điểm sau:

1 Phải là hoạt động kinh doanh

2 Việc kinh doanh này phải kinh doanh cung ứng thường xuyên các hoạtđộng ngân hàng

3 Phải cung ứng một hoặc một số hoạt động ngân hàng được quy định tạicác điểm a, b, c khoản 1 Điều 06 Luật Ngân nhà nước năm 2010 Đối với điềukiện thứ nhất và thứ hai, thì do công ty TNHH D là công ty trách nhiệm hữu hạn,theo quy địnhcủa Luật Doanh nghiệp 2020 thì để thành lập Công ty TNHH D thìphải tiến hành đăng ký kinh doanh, nhưng hoạt động kinh doanh của công ty Dkhi đăng ký là kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng, không có đăng ký kinhdoanh hoạt động ngân hàng Nên việc nhận tiền gửi của các thành viên và chovay sẽ không phải là hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên liên tục củacông ty TNHH D Vì vậy không thỏa mãn điều kiện thứ hai như đã nêu

Do đó hoạt động nhận tiền gửi và cho vay lại của công ty TNHH D khôngphải là hoạt động ngân hàng

3 Tình huống 3: Công ty TNHH D được thành lập và hoạt động theo đúng pháp luậtvà có nhu cầu vay 1.000.000.000 VND để đầu tư sản xuất Sau khi xét hồ sơ đề nghị vay, Ngân hàng TMCP A quyết định cấp tín dụng cho

Trang 26

Công ty TNHH D theo Hợp đồng tín dụng, có nội dung sau: khoản vay 1 tỷ VND, với thời hạn vay 06 tháng, và lãisuất 1,5%/tháng.Hỏi: Từ những dự kiện nêu trên, anh (chị) hãy cho biết hoạt động này có phải là hoạt động ngân hàng? Giải thích tại sao?

Bài làm:

- Căn cứ khoản 1 điều 6 luật ngân hàng 2010: “1 Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

- Từ cơ sở pháp lý đó ta xét hoạt động của ngân hàng TMCP A, Bỏ qua việcxem xét có chịu sự điều chỉnh của nhà nước hay không và về yếu tố chủ thể nhưđược cấp phép hoạt động, phạm vi hoạt động, các hoạt động được thực hiện,…

Vì khi thànhlập trở thành một công ty, mô hình pháp nhân thì chắc hẳn đã đủ cácđiều kiện này nếuhoạt động của ngân hàng thoả mãn như những gì trọng điều 6của luật này quy định

- Bên cạnh đó, họ cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng, ở đây làcông ty D, cấp tín dụng biểu hiện cụ thể là cho vay tiền với mong muốn lợinhuận biểu hiệnqua lãi xuất và thời hạn cho vay rõ ràng trong nội dung hợp đồngvay

- Về mặt công ty D, do có nhu cầu kinh doanh do có nhu cầu đầu tư kinhdoanh, nói đúng hơn là cần vay vốn để phục vụ sản xuất Đó là sự bơm tiền, luânchuyển, xoay sở vốn từ nơi thừa tiền sang nơi thiếu tiền

Trang 27

=> Cho nên, ta thấy việc Bên cho vay là ngân hàng A đang thực hiện vớicông ty D là một hoạt động ngân hàng.

4 Tình huống 4: Công ty A (được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc) muốn cung cấp một dịch vụ thanh toán tiêu dùng ưu việt bằng cách mở tài khoản cho toàn thể nhân viên của Công ty A, sau đó Công ty A sẽ cấp cho mỗi nhân viên 1 thẻ thanh toán.Với thẻ thanh toán này, người lao động được quyền mua hàng hóa, dịch vụ ở bất cứ nơi đâu có liên kết với Công ty A với

số tiền thanh toán vượt gấp 3 lần lương cơ bản hằng tháng của chủ tài khoản Giá trị thanh toán vượt đó được tính theo lãi suất cơ bảndo NHNNVN công bố Mục đích của Công ty A là không mong muốn thành lập ngân hàng ở Việt Nam vì những điều kiện pháp lý (như: vốn, người điều hành…) Hơn nữa, A không có ý định tham gia vào toàn bộ các hoạt động như một ngân hàng tại Việt Nam

Hỏi: Nếu là luật sư tư vấn cho Công ty A, anh (chị) sẽ tư vấn cho khách hàng của mình như thế nào?

Bài làm:

Nếu là luật sư tư vấn cho công ty A, em sẽ tư vấn:

- Thứ nhất, theo khoản 4 điều 4 Luật TCTD 2010 sửa đổi, bổ cung 2017 thì

“Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiệnmột hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạtđộng nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoảncủa khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công

ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.” Theo đó, công

ty A muốn thực hiện một hoạt động ngân hàng là cung cấp một dịch vụ thanh

Trang 28

toán ưu việt nhưng không mong muốn thành lập ngân hàng Việt Nam Như vậy,công ty A có thể trở thành tổ chức tín dụng phi ngân hàng

- Thứ hai, do công ty tài chính phải được thành lập và hoạt động theo phápluật Việt Nam mà Công ty A lại được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc Vìvậy, cần tư vấn cho công ty rằng nếu muốn trở thành công ty tài chính thì phảithành lập theo pháp luật Việt Nam

- Thứ ba, cần tư vấn cho công ty A về một số hoạt động ngân hàng đượcthực hiện nếu trở thành công ty tài chính Theo đó, công ty tài chính được thựchiện một số hoạt động quy định tại khoản 1 điều 108 Luật TCTD 2010 sửa đổi,

bổ sung 2017

- Thứ tư, cần tư vấn cho công ty A về một số hoạt động kinh doanh kháccủa công ty theo điều 111 Luật TCTD 2010, sửa đổi, bổ sung 2017 nếu trở thànhcông ty tài chính

5 Tình huống 5: A là một tập đoàn chuyên cung cấp các dịch vụ ngân hàng trên toàn cầu thông qua các công ty con và chi nhánh tại mỗi quốc gia A đã

có hiện diện thương mại tại Việt Nam là ngân hàng TNHH B (ngân hàng 100% vốn nước ngoài) cótrụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh Hiện tại, A đang có ý định xây dựng một Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management System, gọi tắt "CRM") nhằm mục đích quản lý thông tin khách hàng là các doanh nghiệp (không phải là khách hàng cá nhân) trên toàn cầu Tuy nhiên, những thông tin của các khách hàng doanh nghiệp vẫn có thể bao gồm cả các thông tin cá nhân, ví dụ như: thông tin về người đại diện theo pháp luật, giám đốc, người bảo lãnh của doanh nghiệp Hệ thống CRM dự kiến được đặt tại trụ sở chính của A tại Nhật Bản, sẽ tiếp nhận thông tin từ các công ty con (là các ngân hàng) tại

Trang 29

các quốc gia, và sau đó, các thông tin này sẽ được chia sẻ cho các công ty con khác (cũng là các ngân hàng) tại các quốc gia khác trong hệ thống quản lý của A Hỏi: Nếu là luật sư tư vấn cho Công ty A, anh (chị) sẽ tư vấn cho khách hàng của mình như thế nào?

Bài làm:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là Khoản 3 Điều 14 LCTCTDquy định không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sảngửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàngnước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác thì hoạt động của Công ty A sẽ khôngđược thựchiện

MQH giữa A và B là quan hệ giữa cty mẹ và cty con (chỉ dừng ở quan hệ vốnchủ sh)

- B thành lập tại VN, theo Pl VN => mang quốc tịch VN

- A là 1 PN mang 1 quốc tịch khác (NB) => không được quyền chia sẻthông tin

=> Chỉ có 2 trường hợp được chia sẻ

- Có yêu cầu của CQNN có thẩm quyền: TA

- Chính chủ sở hữu tài khoản có yêu cầu

Trang 30

Chương 2: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NNVN

CÂU HỎI TỰ LUẬN

1 Tại sao Việt Nam lại lựa chọn mô hình NHTW trực thuộc Chính Phủ?

Vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thiết lập theo môhình cơ quancủa Chính phủ, là cơ quan ngang bộ Việt Nam lựa chọn mô hìnhNHTW trực thuộc Chính phủra đời từ quan niệm: chính sách tiền tệ, ngân hàng

là một bộ phận của chính sách cai trị cũngnhư tài chính – tiền tệ là một phươngtiện của chính quyền Việt Nam lựa chọn mô hình NHTWtrực thuộc Chính phủbởi các lý do sau:

Thứ nhất, thông qua công cụ tài chính một cách vĩ mô, Chính phủ có thểthống nhất, phốihợp đồng bộ các nguồn lực tài chính đảm bảo thực hiện có hiệuquả chức năng và nhiệm vụcủa mình để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội

Thứ hai, thể chế chính trị của Việt Nam là tập trung quyền lực, thống nhấtquản lý từ trênxuống Chính vì vậy Việt Nam theo đuổi mô hình Ngân hàng TWtrực thuộc CP là phù hợp vớithể chế của Việt Nam, thông qua đó, Ngân hàngNhà nước VN thể hiện được vai trò cũng nhưlà hiệu quả trong chính sách kinh tế

- xã hội của Việt Nam, đồng thời đảm bảo sự đồng bộ giữa chính sách tiền tệquốc gia và chính sách kinh tế - xã hội

Thứ ba, khoản 1 Điều 2 Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân,vì Nhân dân.”, mục đích hoạt động của Chính phủ

và Quốc hội là phục vụ cho số đông nênviệc lựa chọn mô hình quản lý nhà nước

về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối thuộc Chính phủ là phù hợp, đảm

Trang 31

bảo sự giám sát thường xuyên của mình, đồng thời kịp thời canthiệp để đảm bảohài hoà giữa các lợi ích, giải quyết các mâu thuẫn nội tại nếu xảy ra

2 Tại sao Luật NHNNVN năm 2010 lại khẳng định/thừa nhận NHNNVN là một pháp nhân?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 74 BLDS 2015 điều kiện để tổ chức đượccông nhận là pháp nhân:

“1 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sảncủa mình;

d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

Luật NHNN VN năm 2010 lại khẳng định thừa nhận Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam làmột pháp nhân bởi:

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập theo pháp luật.Trên cơ sở chủtrương chính sách mới về tài chính – kinh tế mà Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ II (tháng02/1951) đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch HồChí Minh đã ký Sắc lệnh số 15/SLthành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam vớicác nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hànhgiấy bạc và tổ chức lưu thôngtiền tệ, quản lý Kho bạc nhà nước, thực hiện chính sách tín dụngđể phát triển sảnxuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch

Trang 32

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Ngânhàng Nhànước Việt Nam được tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm

bộ máy điều hành vàhoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh ở cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các văn phòng đại diện trong nước, ngoàinước và các đơn vị trực thuộc

Thứ ba, có tài sản độc lập, vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước Theo quyđịnh tạiQuyết định số 07/2013/QĐ-TTg: Mức vốn pháp định của Ngân hàng Nhànước là 10.000 tỷđồng, được hình thành từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước đãcấp, vốn đầu tư xây dựng cơbản và mua sắm tài sản cố định, khoản trích từ chiphí bằng 12% trên giá trị tài sản cố địnhbình quân hàng năm Bên cạnh đó, Ngânhàng Nhà nước còn có các nguồn vốn khác Ngânhàng Nhà nước được quản lý,

sử dụng nguồn vốn để trang trải chi phí hoạt động và tuân thủquy định của phápluật về chế độ tài chính của NHNN

Thứ tư, nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật NHNN

VN là ngânhàng trực thuộc Chính phủ nên mức độ độc lập giữa NHTW với CP

sẽ yếu hơn so với NHTWtrực thuộc quốc hội Tuy nhiên, mô hình này phù hợpvới thể chế của VN Vì vậy, các nhà làmluật ý thức được tính độc lập của ngânhàng NN có vẻ yếu khi theo mô hình NHTW trực thuộcCP nên các nhà làm luật

đã không ngừng bổ sung những quy định để gia tăng tính độc lập củaNHTW với

CP và một trong những biện pháp đó là trao tư cách pháp nhân một cách mạnhmẽvà rõ rệt cho NHNN VN dù là cơ quan ngang bộ trực thuộc CP

3 Có quan điểm cho rằng: “Việc quy định thành lập Chi nhánh NHNNVN ở mỗi tỉnh,thành phố như hiện nay là không cần thiết, làm cho bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh,hoạt động kém hiệu quả” Anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay không? Giải thích?

Trang 33

Nhóm không đồng ý với quan điểm trên

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương là đơnvị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Căn cứ theo quyđịnh tại khoản 2 Điều 2 QĐsố 1692/QĐ-NHNN về việc quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaNgân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương: “Chi nhánh có chứcnăng tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (sau đây gọi tắt là Thống đốc) thựchiện quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối trên địa bàn và thực hiệnmột số nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương theo ủy quyền của Thống đốc.”

Theo đó, chi nhánh NHNN ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương làđại diện của NHNNVN ở địa phương, hoạt động theo ủy quyền Thống đốcNHNNVN Chi nhánh NHNNVN sẽ thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước

ở địa phương về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, ngoại hối; là một đơn vụ khôngthể thiếu của NHNNVN, giúp cho NHNNVN ở trung ương có thể dễ dàng nắmbắt được những hoạt động cũng như công tác quản lý Nhà nướcvề tiền tệ, hoạtđộng ngân hàng, ngoại hối ở địa phương mà NHNNVN ở trung ương khôngthểthực hiện được một cách hiệu quả

Thứ hai, Chi nhánh NHNNVN được đặt tại các tỉnh thành của Việt Nam,thực hiện nhiệmvụ và quyền hạn trên địa bàn theo quy định của Ngân hàng Nhànước và của pháp luật, là đơnvị phụ thuộc NHNN dưới sự quản lý của Thống đốcNHNN, và hoạt động với tư cách phápnhân ủy quyền của NHNN Nhiệm vụ,quyền hạn của Chi nhánh NHNNVN được quy định tại Điều 3 Quyết định số1692/QĐ-NHNN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vàcơ cấu tổchức của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,theođó Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ

Trang 34

kiểm tra, thanh trahoạt động ngân hàng trên địa bàn được phân công, cấp thu hồigiấy phép thành lập và hoạtđộng ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giảithể, chấp thuận, chia tách, hợp nhất, sápnhập các tổ chức tín dụng trên địa bàn,thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn và cho vay thanh toán;cung ứng dịch vụ thanhtoán, ngân quỹ, các dịch vụ ngân hàng khác cho tổ chức tín dụng và Kho bạcNhà nước, và thực hiện các ủy quyền khác theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, Chi nhánh NHNNVN được đặt ở mỗi tỉnh, thành phố, là cầu nốithuận tiện,nhanh chóng để kịp thời giải quyết những nhu cầu về tiền tệ cho các tổchức, cá nhân, gópphần đảm bảo bộ máy quản lý hành chính được thực hiện mộtcách có hiệu quả

Do đó, việc quy định thành lập Chi nhánh NHNNVN ở mỗi tỉnh, thành phốnhư hiện naylà cần thiết, làm cho bộ máy quản lý hành chính hoạt động có hiệuquả

4 Anh (chị) có nhận xét gì về vị trí pháp lý và vai trò của NHNNVN hiện nay? Có quanđiểm cho rằng: “Chúng ta cần nâng cao hơn nữa vị thế và tính độc lập của NHNNVN trong bộ máy nhà nước ta hiện nay để NHNNVN có thể phát huy tích cực hiệu quả hoạtđộng của mình” Anh (chị) có suy nghĩ như thế nào về quan điểm này?

CSPL: Điều 2 Luật Ngân hàng NNVN 2010: “Ngân hàng nhà nước ViệtNam (sau đâygọi là ngân hàng nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, làNgân hàng trung ươngcủa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…”

Vị trí pháp lý 1: Ngân hàng NNVN là cơ quan công quyềnNgân hàng NNVN

là cơ quan ngang bộ, trực thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quảnlý nhà nước

về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Trang 35

Vị trí pháp lý 2: Ngân hàng NNVN là ngân hàng trung ương của nước Cộnghòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam

- Ngân hàng NNVN là ngân hàng duy nhất phát tiền

- Ngân hàng NNVN là ngân hàng của các ngân hàng: Thứ nhất, NHNNVNnhận mở tàikhoản cho các tổ chức tín dụng – ngân hàng cấp 2 và nhận giữ tiềncho các TCTD Thứ hai,NHNNVN cho vay đối với các TCTD (tái cấp vốn vàcho vay đặc biệt) Thứ ba, NHNNVNcung ứng dịch vụ thanh toán cho các TCTD

- Ngân hàng NNVN là ngân hàng cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ(khoản 24, 25 Điều 24 LNHNNVN): vừa là mối quan hệ phụ thuộc giữa cấp trêncấp dưới, vừa là mối quan hệ bình đẳng ngang hàng Ngân hàng là tổ chức cungứng dịch vụ còn Chính phủ là kháchhàng

Nhận xét về vị trí pháp lý và vai trò của NHNNVN hiện nay

Với tư cách là cơ quan ngang bộ của Chính phủ Ngân hàng Nhà nước là làmột cơ quanquản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng cao nhất của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam Vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nướctrong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nướcthuộc hệ thống cơ quan hành pháp, thựchiện chức năng quản lý hành chính nhà nước chứ không chỉ đơn thuần là mộtngân hàng

Với tư cách là Ngân hàng Trung ương, NHNNVN giữvai trò điều tiết, chiphối hệ thống ngân hàng thông qua các nghiệp vụ ngân hàng trung ương:nghiệp

vụ tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở, nghiệp vụ ngoại hối, nghiệp vụ thanh toánqua hệthống ngân hàng, … Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năngquản lý nhà nước vềtiền tệ và hoạt động ngân hàng; đồng thời, đây còn là ngânhàng phát hành tiền, ngân hàng củacác tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch

Trang 36

vụ tiền tệ cho Chính phủ Hoạt động của Ngânhàng Nhà nước nhằm ổn định giátrị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổchức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hộichủnghĩa.

Có quan điểm cho rằng: “Chúng ta cần nâng cao hơn nữa vị thế và tính độc lập củaNHNNVN trong bộ máy nhà nước ta hiện nay để NHNNVN có thể phát huy tích cực hiệu quả hoạt động của mình”, nhóm đồng tình với quan điểm trên Bởi lẽ:

NHNNVN là ngân hàng trung ương (NHTW) của nước CHXHCNVN.NHTW đóng vaitrò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Một nềnkinh tế chỉ có thể phát triểnlành mạnh khi có một NHTW thực hiện tốt chức năngđiều tiết hệ thống tiền tệ Trong nền kinhtế thị trường, để NHTW điều hànhchính sách tiền tệ một cách hiệu quả, tính độc lập củaNHTW là yếu tố then chốt

Ở nước ta, từ khi thành lập cho đến nay, NHNN là cơ quan củaChính phủ, chịu

sự can thiệp hành chính của Chính phủ Do vậy, thẩm quyền của NHNNtrongxây dựng và điều hành chính sách tiền tệ còn hạn chế, mức độ độc lập củaNHNN còn tươngđối thấp Tính độc lập này trong thời gian qua đã phần nàođược cải thiện, song vẫn chưa cao,khiến việc điều hành nhiều khi còn lúng túng,hiệu quả chưa được như mong đợi Uy tín củamột NHTW vì thế vẫn chưa cao

Vì vậy, để tăng cường hiệu quả hoạt động của NHNN, việcnâng cao tính độc lậpcủa NHNN là hết sức cần thiết Tuy nhiên, tính độc lập của NHTWkhông thểmột sớm một chiều có thể có được Cần tùy vào điều kiện, hoàn cảnh và trìnhđộphát triển kinh tế - chính trị - xã hội của nước ta mà tăng cường tính độc lậpcủa NHTW saocho phù hợp

5 Có nên bỏ quy định về lãi suất cơ bản không? Giải thích vì sao?

Trang 37

Ý kiến của nhóm là nên bỏ quy định về lãi suất cơ bản

Theo Điều 12 Luật NHNNVN 2010, lãi suất cơ bản (LSCB) do Ngân hàngNhà nướccông bố để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi, làm

cơ sở cho các tổ chức tíndụng ấn định lãi suất kinh doanh Thực tế cho thấy mứcLSCB hiện nay đang áp dụng là mứclãi suất được NHNN công bố trong Quyếtđịnh 2868/2010/QĐ-NHNN với mức LSCB bằngđồng Việt Nam là 9,0%/năm,qua nhiều năm NHNN vẫn không có sự điều chỉnh mức lãi suấtcơ bản này trongkhi lãi suất thực tế trên thị trường đã có diễn biến khác đi theo từng thời kì,điềunày cho thấy công cụ này còn mờ nhạt, NHNN có khiếm khuyết khi sử dụngcông cụ này.Về “chống cho vay nặng lãi”, đối với tội “cho vay lãi nặng tronggiao dịch dân sự” trong Bộluật Hình sự 2015, căn cứ để xác định “lãi nặng” đượcxác định dựa vào mức lãi suất được quyđịnh cố định trong Bộ luật Dân sự 2015,chứ không phải là mức lãi suất cơ bản Nhà nước côngbố, vậy lãi suất cơ bảnkhông phải là “thước đo” để xử lý tội cho vay nặng lãi trong giao dịchdân sự.Quy định về mức lãi suất trần khi kinh doanh dựa trên lãi suất cơ bản do Ngânhàng Nhà nước công bố, các tổ chức tín dụng bị ràng buộc vào mức lãi suất cơbản không theo kịpnhững biến đổi của thị trường, lãi suất kinh doanh của cácTCTD luôn chịu sự tác động củahoạt động cạnh tranh trên thị trường tín dụngngân hàng và sự cạnh tranh này đủ lớn để khôngcó TCTD nào tự ấn định mức lãisuất cho vay quá cao so với mặt bằng chung lãi suất ngânhàng, do vậy, việc ấnđịnh mức lãi suất kinh doanh dựa trên lãi suất cơ bản Nhà nước công bốcũng làkhông cần thiết Theo nhóm, nên thay đổi lãi suất cơ bản bằng một loại lãi suấtchỉ đătra để ổn định thị trường tiền tệ khi có biến động, đối với các trường hợpkhác như trong giaodịch dân sự thì sẽ áp dụng lãi suất cố định như BLDS hiệnhành và hoạt động của các tổ chứctín dụng sẽ dựa trên lãi suất thỏa thuận, khốngchế bằng sự cạnh tranh kinh doanh

Trang 38

Trên cơ sở bồi thường thiệt hại, khi 1 bên chậm trả với bên bị thiệt hại thìphải trả lãi suấtchậm trả và lãi suất chậm trả dựa trên mức lãi suất cơ bản doNHNN quy định Cho nên ngoàiquan hệ tín dụng, Lãi suất cơ bản còn ảnh hướngđến nhiều mối quan hệ khác như trong quanhệ pháp luật dân sự.

6 Tại sao nói rằng “Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm” Chứng minh?

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng (tiếp vốn) của Ngân hàng nhà nước,nhằm cungứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng Sở

dĩ nói Tái câp vốn là mộthình thức cấp tín dụng có bảo đảm bởi vì các lý do dướiđây:

- Thứ nhất, về thời hạn tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tíndụng doNgân hàng Nhà nước xem xét, quyết định và phải dưới 12 tháng Thờigian gia hạn mỗi lầnkhông vượt quá thời hạn vay tái cấp vốn và tổng thời gian táicấp vốn và gia hạn tái cấp vốnkhông quá 12 tháng Việc quy định khoảng thờigian trong 12 tháng để Ngân hàng nhà nướcđảm bảo rằng trong khoảng thời gian

đó tổ chức tín dụng phải có khả năng chi trả để NHNN cóthể thu hồi lại vốn đãcấp cho các tổ chức tín dụng

- Thứ hai, về điều kiện chung để tổ chức tín dụng được tái cấp vốn là tổ chứctín dụngđó cũng phải đảm bảo không được nằm trong tình trạng kiểm soát đặcbiệt tại thời điểm xin táicấp vốn và đối với từng hình thức cho tái cấp vốn thì tổchức tín dụng còn phải đáp ứng điềukiện quy định riêng

- Thứ ba, về các hình thức tái cấp vốn thì đều có điểm chung đều là có điểmchung phải có biện pháp tài sản bảo đảm

Trang 39

- Thứ tư, theo quy định khoản 4 Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010 nhưsau: Cấptín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiềnhoặc cam kết cho phépsử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằngnghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngânhàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Tái cấpvốn được coi một hình thức cấptín dụng bởi đối với các hình thức tái cấp vốn đều tuân thủtheo nguyên tắc cóhoàn trả trực tiếp như đối với hình thức cho vay có đảm bảo bằng cầm cốcác giấy

tờ có giá hay hình thức cho chiết khấu giấy tờ có giá, thì tới thời hạn đảmbảoNHNN đều có thể thu hồi cả vốn và lãi từ tổ chức tín dụng

7 So sánh tái cấp vốn và cho vay trong trường hợp đặc biệt (Điều 146d Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017)

* Giống nhau:

Đều là các hình thức NHNN thực hiện hoạt động cấp tín dụng

* Khác nhau:

Tái cấp vốn Cho vay hoặc TH đặc biệt

CSPL Điều 11 Luật Ngân

hàng nhà nước Việt Nam

2010

Điều 146d Luật CTCTD 2010 sđ 2017Thông tư 01/2018/TT-NHNN

2010 (Mất khả năng thanh toán)

Trang 40

Chủ thể Ngân hàng nhà nước Ngân hàng nhà nước, ngân hàng hợp tác

xã,bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Tổ chứctín dụng khác (khoản 4 Điều 3 Thông tư01/2018/TT-NHNN)

từ đó gây ảnhhưởng và làm mất uy tíncũng như hoạt độngbình thường của

hệ thống ngân hàng Hoạt động nàykhông nhằm mục tiêu lợi nhuậnmànghiêng về mục đích thực hiện chứcnăng quảnlý nhà nước về tiền tệ

tiền tệquốc gia, bơm tiền

vào nền kinh tế để lưu

cố nghiêm trọng khác;

Ngày đăng: 04/10/2023, 01:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức chiết khấu giấy tờ có giá trị công cụ tái cấp vốn - Thảo luận ngân hàng chương 123
Hình th ức chiết khấu giấy tờ có giá trị công cụ tái cấp vốn (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w