1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

THẢO LUẬN LUẬT NGÂN HÀNG CHƯƠNG 2

17 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 32,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 2 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM I Lý thuyết 1 Tại sao Việt Nam lại lựa chọn mô hình NHTW trực thuộc Chính Phủ? Hiện nay trên thế giới tồn tại 3 mô hình NHTW NHTW thuộc. 2. Tại sao Luật NHNNVN năm 2010 lại khẳng địnhthừa nhận NHNNVN là một pháp nhân? (tự luận) 3. Có quan điểm cho rằng: “Việc quy định thành lập Chi nhánh NHNNVN ở mỗi tỉnh, thành phố như hiện nay là không cần thiết, làm cho bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả.” Anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay không ? Giải thích ?

Trang 1

CHƯƠNG 2 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

I Lý thuyết

1 Tại sao Việt Nam lại lựa chọn mô hình NHTW trực thuộc Chính Phủ?

Hiện nay trên thế giới tồn tại 3 mô hình NHTW

– NHTW thuộc Quốc hội (độc lập với CP)

– NHTW thuộc CP

– NHTW thuộc BTC

Việt Nam lựa chọn mô hình NHTW trực thuộc CP hay các quốc gia lựa chọn mô hình nào là phụ thuộc vào lịch sử, điều kiện văn hóa xã hội và thể chế trính trị của quốc gia đó

Ưu điểm của mô hình này:

– Theo mô hình này chính phủ có quyền can thiệp vào hoạt động của ngân hàng trung ương, thực hiện các chức năng quản lý kinh tế vĩ mô

– Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ Chính phủ nắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng và phối hợp một cách đồng bộ và hiệu quả các công cụ đó, đặc biệt là chính sách tiền tệ

– Có một bộ máy hành chính , 1 cơ quan nhà nước đầy quyền lực, tạo được uy tín độ tin cậy vào nhà nước của các cá nhân tổ chức vào bộ máy nhà nước

– Giảm thất nghiệp, tạo công ăn việc làm tạo sự công bằng xã hội thông qua việc cung cấp hàng hóa công

– Chính phủ có thể lợi dụng chính sách tiền tệ để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

– Phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiền năng xây dựng kinh

tế trong thời kỳ tiền phát triển

Với ưu điểm cuối, thấy rằng nước ta đang trên đà phát triển, theo chế độ xã hội chủ nghĩa nên cần áp dụng mô hình này

2 Tại sao Luật NHNNVN năm 2010 lại khẳng định/thừa nhận NHNNVN là một pháp nhân? (tự luận)

Trang 2

Theo điều 94 Bộ luật Dân sự, một tổ chức được công nhận là có tư cách pháp nhân khi hội đủ 4 điều kiện sau đây:

-Tổ chức đó được thành lập hợp pháp (theo quy định của pháp luật Việt Nam)

-Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

-Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập đó

-Nhân danh mình tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập

Về mặt dân sự, NHNNVN là một pháp nhân NHNNVN có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, Thủ tướng Chính phủ qui định mức vốn pháp định của NHNNVN phù hợp trong từng thời kỳ NHNNVN hoạt động theo nguyên tắc Chênh lệch thu, chi hàng năm của Ngân hàng Nhà nước được xác định từ nguồn thu về hoạt động nghiệp vụ ngân hàng

và các nguồn thu khác, sau khi trừ chi phí hoạt động và khoản dự phòng rủi ro Ngân hàng Nhà nước trích từ chênh lệch thu, chi để lập quỹ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ; số còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước

CSPL Điều 1 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1997 (sửa đổi, bổ sung 2003)

3 Có quan điểm cho rằng: “Việc quy định thành lập Chi nhánh NHNNVN ở mỗi tỉnh, thành phố như hiện nay là không cần thiết, làm cho bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả.” Anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay không ? Giải thích ?

Theo nhóm, chúng em không đồng ý với quan điểm trên Thứ nhất, việc thành lập Chi nhánh NHNNVN ở mỗi tỉnh, thành phố được tổ chức dựa trên địa giới hành chính Với cơ cấu tổ chức này, NHNNVN có thể thực hiện triệt để chức năng quản lý nhà nước của mình, năm bắt rõ từng đơn vị địa phương

Thứ 2, Chi nhánh NHNNVN không có tư cách pháp nhân và chỉ hoạt động với tư cách pháp nhân ủy quyền của Ngân hàng Nhà nước Do đó, cũng có thể hiểu rằng Chi nhánh NHNNVN thực hiện các nhiệm tất cả các chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước giống như NHNN ở trung ương nhưng nó thực hiện ở địa phương Chi nhánh thực hiện các thủ tục giao dịch nhanh chóng, hiệu quả đối với cá nhân tổ chức trên địa bàn thay vì đi tới NHNNVN Điều này giảm tải công việc cho NHNNVN

Trang 3

Thứ ba, từng tỉnh, thành phố đều sẽ có chi nhánh NHNNVN đặt tại địa phương đó để giao dịch, thanh tra, kiểm tra hoạt động ngân hàng trên địa bàn được phân công Việc thanh tra, kiểm soát các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn mình quản lý của mình

4 Anh (chị) có nhận xét gì về vị trí pháp lý và vai trò của NHNNVN hiện nay?

Có quan điểm cho rằng: “Chúng ta cần nâng cao hơn nữa vị thế và tính độc lập của NHNNVN trong bộ máy nhà nước ta hiện nay để NHNNVN có thể phát huy tích cực hiệu quả hoạt động của mình” Anh (chị) có suy nghĩ như thế nào

về quan điểm này?

NHNN VN trực thuộc chính phủ, là cơ quan ngang bộ có ưu và khuyết điểm: đạt được sự thống nhất giữa chính sách tiền thệ và các chính sách kinh tế khác của nhà nước nhưng lại khó độc lập trong thực hiện chính sách TTQG

Luật cho NHNN có tư cách pháp nhân nên NHNN sẽ tự chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn của nó và nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật, đặc biệt là quan hệ với các TCTD, CP, TCTC quốc tế nước ngoài khác

NHNH quản lý nhà nước về tiền tệ và chủ thể duy nhất phát hành tiền bởi tiền tệ chứa nhiều rủi ro, ảnh hưởng nền kinh tế, với mục đích ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo sự

an toàn trong HĐ ngân hàng và hệ thống các TCTD

Việt Nam hiện nay là quốc gia đang phát triễn nơi cần có sự tập quyền cao độ vào tay chính phủ để giúp cho cơ quan hành pháp chủ động các chính sách về kinh tế của nhà nước Đối với quan điểm trên vị thế và tính độc lập của NHNNVN như nào còn phải xét vào điều kiện, chính sách yếu tố kinh tế-xã hội

5 Có nên bỏ quy định về lãi suất cơ bản không? Giải thích vì sao?

Lãi suất cơ bản được quy định bởi Ngân hàng nhà nước, được tạo ra với mục tiêu là công

cụ điều chỉnh chính sách tiền tệ theo từng thời điểm

Có lãi suất cơ bản như là khung pháp lý, khuôn khổ pháp lý để điều chỉnh chính sách tiền

tệ, tránh việc trốn thuế, việc tổ chức cho vay nặng lãi hay lạm dụng lãi suất bên ngoài mà không có sự cho phép của nhà nước

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì lãi suất do các bên thoả thuận, nhưng sự thỏa thuận không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố

Trang 4

Theo đó thì mức giới hạn lãi suất cho vay dựa vào lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định

Tuy nhiên Bộ luật Dân sự năm 2015 bỏ lãi suất cơ bản, quy định lãi suất dựa trên khoản tiền vay chứ không dựa trên lãi suất cơ bản Việc Bộ luật Dân sự hiện hành bỏ quy định

về lãi suất cơ bản là hợp lý, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế hiện nay Theo đó thì hiện nay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay trong quan hệ vay

Một số lý do cơ bản mà pháp luật hiện hành bỏ quy định về lãi suất cơ bản có thể kể đến như:

- Nước ta đang tiến tới nền kinh tế thị trường thì việc quy định lãi suất dựa vào lãi suất cơ bản gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ

- Đồng tiền trên thị trường tiền tệ không ổn định, luôn biến đổi nên việc giới hạn mức lãi suất cơ bản không phù hợp với

- Việc quy định lãi suất cơ bản sẽ làm hạn chế quá trình tự do hóa lãi suất trên thị trường

và hạn chế quan hệ cung cầu và sự điều tiết của quan hệ cung cầu

- Vì lãi suất cơ bản không có ý nghĩa về mặt kinh tế mà lại mang nặng tính hành chính và lãi suất cơ bản chỉ phù hợp với tình hình thị trường không ổn định

- Vấn đề lãi suất còn phụ thuộc vào tính khả thi và tính rủi ro của dự án nên việc khống chế lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản sẽ làm bó hẹp quyền lợi của ngân hàng, tính rủi ro tăng cao và ngân hàng sẽ gánh trách nhiệm pháp lý trong vấn

đề này

- Lãi suất cho vay có thể tăng hoặc giảm theo chính sách của Ngân hàng Trung Ương Việc tăng cao hay hạ thấp nhiều mức lãi suất có thể tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng khi quy định giới hạn mức lãi suất dựa vào lãi suất cơ bản

Vì việc quy định lãi suất cơ bản không còn phù hợp với nền kinh tế hiện nay và nên được bãi bỏ

6 Tại sao nói rằng “Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm” Chứng minh?

Trang 5

- Để thực hiện chính sánh tiền tệ quốc gia Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sử dụng nhiều loại công cụ tài chính trong đó có công cụ tái cấp vốn

Nói “Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm” vì:

- Tái cấp vốn được xem là phương thức cung ứng tiền một cách lành mạnh vì dựa trên một lượng hàng hóa vật tư đang lưu thông trên thị trường Đây là hình thức cấp tín dụng (tiếp vốn) của NHNN, nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho TCTD.1

- Theo Khoản 2 Điều 11 thì các tổ chức tín dụng được vay vốn của NHNN là các tổ chức tín dụng là ngân hàng được vay ngắn hạn bằng việc tái cấp vốn của NHNN thông qua các hình thức:

• Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá (VBHN 06/2014/VBHN-NHHH);

• Chiết khấu giấy tờ có giá (TT 01/2012/TT-NHNN);

• Các hình thức tái cấp vốn khác: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng (TT 15/2012/TT-NHNN)

- Ngoài ra TCTD là ngân hàng trong trường hợp đặc biệt tạm thời mất khả năng thanh toán có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống các tổ chức dụng thì NHNN sẽ là đứng ra cho vay như cứu cánh cuối cùng

- Tái cấp vốn hình thành trên cơ chế NHNN cho các TCTD là ngân hàng vay trên cơ

sở bù đắp thiếu hụt trong thanh toán để đáp ứng nhu cầu về vốn cho các TCTD để cung ứng vốn cho khách hàng, tạo ra kênh cung ứng vốn tín dụng có sự kiểm soát của NHNN

- Khi nhu cầu của khách hàng cần vốn lên cao trong khi các tổ chức tín dụng thiếu tiền ( với vai trò là chủ thể duy nhất được quyền phát hành tiền và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia NHNN không kinh doanh tiền tệ, không trực tiếp giao dich với khách hàng mà phải thông qua ngân hàng trung gian là các tổ chức tín dụng) thì TCTD là

1 Khoản 1 Điều 11 Luật NHNN năm 2010.

Trang 6

ngân hàng sẽ gởi yêu cầu lên NHNN để vay, NHNH dựa vào hồ sơ tín dụng để cho TCTD vay

- NHNN cung ứng tiền cho TCTD khi dựa vào tình hình thực tế của đất nước Nếu như tình hình đất nước lạm phát lên cao thì NHNN sẽ điều chỉnh tăng lãi suất vay ngắn hạn nhằm mục đích hạn chế lượng tiền lưu thông trên thị trường Để tránh tình trạng lạm phát khi bơm tiền vào thị trường quá nhiều sẽ dẫn đến lạm phát Để đảm bảo có thể rút vốn về khi cần thiết tạo tính linh hoạt để các ngân hàng huy động vốn thêm từ bên ngoài, nhanh chóng thu nguồn vốn về để đảm bảo ổn định tỷ giá cho kinh tế thị trường Ngược lại nếu như tình hình đất nước giảm lạm phát thì NHNN sẽ tiến hành giảm lãi suất vay ngắn hạn nhằm mục đích phân bổ hợp lý số tiền lưu thông trên thị trường, kích thích kích cầu, nâng cao tỷ giá, kích thích sử dụng tiền… Như vậy TCTD là ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc hoạch định các chính sách của NHNN.2

7 So sánh TCV và cho vay trong trường hợp đặc biệt (Điều 146d Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017).

Cho vay tái cấp vốn Cho vay đặc biệt

Cơ sở

pháp lý

Điều 11 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010

Khoản 2 Điều 24, điều 151 và Điều

146 Luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung 2017

Thông tư 01/2018/TT-NHNN

Khái

niệm

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín

Cho vay đặc biệt hay còn gọi là cho vay phục hồi khả năng thanh toán (cho vay cứu cánh) là hình thức cho vay khi tổ chức tín dụng rơi vào các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 24 (Mất khả năng thanh

2 https://luatduonggia.vn/ngan-hang-nha-nuoc-chi-duoc-tai-cap-von-ngan-han-cho-cac-to-chuc-tin-dung-bai-tap-hoc-ky-luat-ngan-hang/

Trang 7

dụng toán)

Trường

hợp cho

vay

Là phương thức ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bơm tiền vào lưu thông:

+ Trường hợp tổ chức tín dụng cần tiền để cấp tín dụng;

+ Tổ chức tín dụng thiếu phương tiện thanh toán

Khi tổ chức tín dụng rơi vào trường hợp:

+ Mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng;

+ Có nguy cơ mất khả năng chi trả do sự

cố nghiêm trọng khác;

Chủ thể

cho vay Ngân hàng nhà nước

Ngân hàng nhà nước, ngân hàng hợp tác

xã, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Tổ chức tín dụng khác (khoản 4 điều 3 Thông tư 01/2018/TT-NHNN)

Thời hạn

cho vay Ngắn hạn

Tùy vào quyết định cho vay của Ngân hàng nhà nước

Trong một số trường hợp không quá 2 năm hoặc theo thỏa thuận

(Điều 10 thông tư 01/2018/TT-NHNN)

Phương

thức tái

cấp vốn

+ Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá

+ Chiếc khấu giấy tờ có giá + Các hình thức tái cấp vốn

Cho vay không cần bảo đảm (Dựa vào khả năng có thể phục hồi của Tổ chúc tín dụng

mà quyết định cho vay)

Trang 8

Thủ tục

cho vay

Đơn giản hơn (vì là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng nhà nước, điều phối tiền tệ)

Phức tạp, vì tổ chức tín dụng phải bị rơi vào trường hợp bị kiểm soát đặc biệt, có quyết định kiểm soát đặc biệt, quyết định cho vay đặc biệt

(Mục 1 Chương VIII Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017)

Lãi suất Ngân hàng nhà nước công bố

+ Lãi suất cho vay đặc biệt ưu đãi (sau đây gọi là lãi suất ưu đãi) là lãi suất thấp hơn lãi suất tái cấp vốn do Ngân hàng Nhà nước công bố trong từng thời kỳ tại thời điểm khoản cho vay đặc biệt được giải ngân, gia hạn (khoản 5 Điều 3 TT 01/2018/TT-NHNN)

+ Lãi suất ưu đãi đến 0% (thông tư 01/2018/TT-NHNN)

Ưu tiên

hoàn trả

Theo thứ tự hoàn trả luật định

Khoản vay đặc biệt được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác, kể cả các khoản nợ có tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng hoặc được chuyển đổi thành phần vốn góp, vốn cổ phần tại tổ chức tín dụng liên quan khoản 2 điều 151 (xem thêm Điều 13 Thông tư 01/2018/TT-NHNN)

8 Phân biệt công cụ nghiệp vụ thị trường mở với hình thức chiết khấu GTCG trong công cụ TCV.

Nghiệp vụ thị trường mở Chiết khấu GTCG

Trang 9

CSPL Thông tư số 42/2015/TT-NHNN Thông tư 01/2012/TT-NHNN

Khái

niệm

Chiết khấu GTCG là việc NHNN

mua ngắn hạn các GTCG còn thời

hạn thanh toán của các TCTD, chi

nhánh ngân hàng nước ngoài trước

khi đến hạn thanh toán

NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua hoặc bán ngắn hạn giấy tờ có giá đối với TCTD (không vì mục đích lợi nhuận)

Chủ

thể

TCTD, chi nhánh NH nước ngoài tại

Việt Nam (trừ tổ chức tài chính vi

mô, quỹ tín dụng nhân dân)

ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Quỹ tín dụng nhân dân TW trong thời gian chưa chuyển đổi thành Ngân hàng Hợp tác xã theo quy định của Luật Các TCTD 2010

Điều

kiện

đối với

các chủ

thể

Các chủ thể này phải được NHNN

công nhận là thành viên NVTTM Không bị đặt vào tình trạng kiểmsoát đặc biệt; có giấy tờ có giá đủ

tiêu chuẩn; không có nợ quá hạn tại NHNNVN tại thời điểm đề nghị;

có tài khoản tiền gửi mở tại NHNN hoặc hệ thống máy móc kết nối với

hệ thống máy chủ tại NHNN

Đối

tượng

GTCG được phép giao dịch thông

qua TTM do NHNN quy định

+ Có thể mua, bán được và nằm

trong danh mục các loại giấy tờ có

giá được giao dịch qua nghiệp vụ thị

trường mở;

+ Được phát hành bằng đồng VN;

+ Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà

nước trước khi đăng ký bán Giấy tờ

có giá được mua hẳn có thời hạn còn

lại tối đa là 91 ngày

Được phát hành bằng VNĐ; được phép chuyển nhượng; thuộc sở hữu hợp pháp của TCTD đề nghị vay;

có thời hạn còn lại tối đa của giấy

tờ có giá theo quy định; không phải

là giấy tờ có giá do TCTD đề nghị vay phát hành

Phươn + Đấu thầu khối lượng (Mass TCTD yêu cầu NHNN mua ngắn

Trang 10

g thức

thực

hiện

Tender)

+ Đấu thầu lãi suất (Interest rate

Tender)

hạn giấy tờ có giá (chưa đến hạn thanh toán)

II Nhận định

1 Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính.

- Nhận định sai

- CSPL: Điều 18 Luật các TCTD 2010, Điều 7 Văn bản hợp nhất Số: 15/VBHN-NHNN ban hành ngày 21 tháng 8 năm 2018 quy định việc cấp giấy phép, tổ chức

và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

- Giải thích:

+ Theo Khoản 6 Điều 2 NĐ số 16/2017/NĐ-CP có quy định về nhiệm vụ và quyền

hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rằng: “Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng,…”

+ “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác” (Khoản 4 Điều 4 Luật Các

TCTD 2010)

+ Theo Điều 18 Luật Các TCTD 2010 quy định về Thẩm quyền cấp, thu hồi Giấy

phép thì “Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung và thu hồi Giấy phép theo quy định của Luật này”

+ Tại khoản 1 Điều 7 Văn bản hợp nhất Số: 15/VBHN-NHNN ban hành ngày 21

tháng 8 năm 2018 quy định về giấy phép thì: “ Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể nội dung hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác trong Giấy phép cấp cho từng tổ chức tín dụng phi ngân hàng trên cơ sở mẫu Giấy phép tương ứng với từng loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng quy định tại Phụ lục số 09A, 09B, 09C, 09D Thông tư này”.

Ngày đăng: 23/09/2022, 09:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-NHNN cung ứng tiền cho TCTD khi dựa vào tình hình thực tế của đất nước. Nếu như tình hình đất nước lạm phát lên cao thì NHNN sẽ điều chỉnh tăng lãi suất vay ngắn hạn nhằm mục đích hạn chế lượng tiền lưu thơng trên thị trường - THẢO LUẬN LUẬT NGÂN HÀNG CHƯƠNG 2
cung ứng tiền cho TCTD khi dựa vào tình hình thực tế của đất nước. Nếu như tình hình đất nước lạm phát lên cao thì NHNN sẽ điều chỉnh tăng lãi suất vay ngắn hạn nhằm mục đích hạn chế lượng tiền lưu thơng trên thị trường (Trang 6)
Đơn giản hơn (vì là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng nhà nước, điều phối tiền tệ) - THẢO LUẬN LUẬT NGÂN HÀNG CHƯƠNG 2
n giản hơn (vì là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng nhà nước, điều phối tiền tệ) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w