1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ nguy cơ cổ đông lợi dụng sự buông lỏng giám sát của ban kiểm soát thao túng ngân hàng tmcp, tình huống ngân hàng tmcp á châu (acb)

59 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguy cơ cổ đông lợi dụng sự buông lỏng giám sát của ban kiểm soát thao túng ngân hàng TMCP, tình huống ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)
Tác giả Phạm Minh Đức
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH (9)
    • 1.1 Tổng quan hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam – Bối cảnh chính sách (9)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi chính sách (10)
    • 1.3 Phạm vi nghiên cứu (10)
    • 1.4 Cấu trúc Luận văn (11)
  • CHƯƠNG 2 KHUNG PHÂN TÍCH (12)
    • 2.1 Lý thuyết về Quản trị công ty (12)
    • 2.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng (vai trò của Người ủy nhiệm và Người thừa hành) (14)
    • 2.3 Các quy định về BKS trong NHTMCP tại Việt Nam và các điểm bất hợp lý làm suy giảm vai trò giám sát của BKS (17)
    • 2.4 BKS ở một số nước trên thế giới (23)
  • CHƯƠNG 3 TÌNH HUỐNG NGÂN HÀNG ACB (25)
    • 3.1 Giới thiêu về Ngân hàng ACB (25)
    • 3.2 Sơ đồ tổ chức Ngân hàng ACB (27)
    • 3.3 Ban kiểm soát tại Ngân hàng ACB (giai đoạn 2008 – 2012) (28)
    • 3.4 Hoạt động của Ban kiểm soát (30)
    • 3.5 Đánh giá hoạt động của Ban kiểm soát ACB (30)
    • 3.6 Vấn đề người ủy nhiệm – người thừa hành giữa cổ đông và BKS ACB (32)
    • 3.7 Hành vi thao túng của cổ đông Nguyễn Đức Kiên đối với các hoạt động điều hành Ngân hàng ACB (33)
  • CHƯƠNG 4 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN (51)
    • 4.1 Khuyến nghị chính sách (51)
    • 4.2 Kết luận (55)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (57)

Nội dung

Để khắc phục điều này Luật Doanh nghiệp năm 2005 khi ra đời đã quy định về chức năng và nhiệm vụ của Ban kiểm soát với ý tưởng Ban kiểm soát là cơ quan đối trọng để kiểm tra giám sát các

TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH

Tổng quan hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam – Bối cảnh chính sách

1.1.1 Tổng quan hệ thống ngân hàng Việt Nam

Ngành ngân hàng Việt Nam chính thức bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ đầu những năm 1990, khi hệ thống ngân hàng chuyển từ mô hình một cấp sang một hệ thống đa dạng và phong phú Trong hơn 20 năm qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, xây dựng một hệ thống gồm nhiều ngân hàng thương mại, tổ chức phi ngân hàng và các dịch vụ tài chính đa dạng Sự phát triển này đã thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập và phát triển bền vững.

Hiện tại, hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm 5 Ngân hàng Thương mại Nhà nước (NHTMNN) và 34 Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP), thể hiện sự đa dạng và phát triển của ngành ngân hàng trong nước.

Các ngân hàng liên doanh (NHLD) gồm 04 ngân hàng, trong đó có 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài cùng hơn 100 chi nhánh và phòng giao dịch của ngân hàng nước ngoài Ngoài ra, thị trường còn có 18 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính và khoảng 1.100 quỹ tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có tổng tài sản lớn nhất, trong khi Ngân hàng Công thương có vốn điều lệ lớn nhất Phần lớn các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) có quy mô nhỏ, với tổng tài sản dưới 50.000 tỷ đồng và vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ đồng Chỉ có bốn ngân hàng gồm NHTMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (EIB), Sài Gòn Thương Tín (STB), Sài Gòn (SCB) và Quân đội (MBB) có vốn điều lệ trên 10.000 tỷ đồng So với các ngân hàng trong khu vực, quy mô các ngân hàng Việt Nam vẫn còn khá nhỏ bé.

1.1.2 Bối cảnh chính sách – Vụ án “Bầu Kiên”

Trong giai đoạn 2013-2014, vụ án “Bầu Kiên” đã thu hút sự chú ý lớn của truyền thông, với ông Nguyễn Đức Kiên bị tuyên án 30 năm tù sau phiên xử phúc thẩm vì các tội danh liên quan đến thao túng hoạt động điều hành của Ngân hàng Á Châu (ACB) Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ rõ rằng ông Nguyễn Đức Kiên, với vai trò là cổ đông lớn và Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập, đã lợi dụng vị trí của mình để thao túng những hoạt động của ngân hàng, mặc dù không nắm giữ các chức vụ do Ngân hàng Nhà nước phê duyệt Trong khi đó, Ban kiểm soát (BKS) của ACB vẫn hoạt động bình thường, thực hiện các nhiệm vụ theo quy định pháp luật, nhưng báo cáo giai đoạn 2008-2011 không phát hiện dấu hiệu nào cho thấy hoạt động điều hành bị thao túng bởi cổ đông không tham gia vào bộ máy quản lý Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ dính líu thực sự của cổ đông Nguyễn Đức Kiên và lý do tại sao BKS không thể ngăn chặn hoặc phát hiện kịp thời hành vi thao túng này.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi chính sách

Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu: Nguy cơ cổ đông lợi dụng sự buông lỏng giám sát của

Ban kiểm soát (BKS) đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần nhằm đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật Tuy nhiên, tình huống của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đã làm rõ những hạn chế trong việc kiểm soát thao túng và thiếu hiệu quả của BKS trong việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm Do đó, cần đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến chức năng và quyền hạn của BKS tại NHTMCP để nâng cao vai trò giám sát độc lập, hiệu quả hơn trong việc bảo vệ lợi ích của cổ đông và ổn định hệ thống tài chính Các thay đổi này sẽ giúp tăng cường năng lực kiểm soát và hạn chế các hành vi thao túng, tiêu cực trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần.

Hành vi thao túng ngân hàng của cổ đông lớn là vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng, vì nếu có, nó có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng cho ngân hàng Thao túng này có thể làm sai lệch hoạt động tài chính, gây rối loạn thị trường và ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của các cổ đông cũng như khách hàng Điều này đe dọa sự ổn định và an toàn của ngân hàng, đồng thời làm giảm giá trị cổ phiếu và tác động xấu đến nền kinh tế Việc phát hiện và xử lý hành vi thao túng ngân hàng của cổ đông lớn là cần thiết để bảo vệ lợi ích của toàn bộ hệ thống tài chính.

Các quy định pháp luật hiện hành đã đủ mạnh để Ban kiểm soát thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát và ngăn chặn hành vi thao túng của các cổ đông lớn trong hoạt động điều hành ngân hàng hay chưa? Việc quy định rõ ràng về quyền hạn của Ban kiểm soát giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quản lý ngân hàng, đồng thời hạn chế các hành vi thao túng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngân hàng và lợi ích của khách hàng Tuy nhiên, cần đánh giá thêm về mức độ thực thi và hiệu quả của các quy định này trong thực tế để đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ từ phía cơ quan kiểm soát.

Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung phân tích các quy định của luật pháp hiện hành về chức năng, nhiệm vụ của Ban Kiểm Tra (BKS) trong ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), đồng thời xem xét các cách thức ông Kiên thao túng hoạt động điều hành tại Ngân hàng ACB Bên cạnh đó, nghiên cứu còn làm rõ vai trò và trách nhiệm của BKS trong việc phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng Các phân tích này nhằm cung cấp cái nhìn tổng thể về sự hiệu quả của hệ thống kiểm tra, giám sát trong ngân hàng và những ảnh hưởng của việc thao túng điều hành đến hoạt động của ACB.

ACB thực thi chức năng nhiệm vụ của mình đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành.

Cấu trúc Luận văn

Chương 1 trình bày tổng quan về hệ thống NH Việt Nam với bối cảnh chính sách là vụ Bầu Kiên - một trọng án trong năm 2013 - 2014, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi chính sách của luận văn Chương 2 trình bày khung phân tích trong đó bao gồm mối quan hệ ủy quyền – thừa hành (principal agent), lý thuyết về quản trị công ty Tiếp theo luận văn trình bày những quy định về BKS trong NHTMCP tại Việt Nam Chương 3 sử dụng nghiên cứu tình huống (NCTH) ACB để chỉ ra các hành vi thao túng của Bầu Kiên trong các hoạt động điều hành NH, cách thức thực hiện các hành vi thao túng đó, đồng thời chỉ ra chức năng nhiệm vụ của BKS ACB trong giai đoạn này đã đƣợc thực hiện nhƣ thế nào? có đúng với quy định của luật pháp hiện hành không? Và sau cùng, Chương 4 đưa ra các khuyến nghị về sửa đổi các quy định hiện hành nhằm giúp BKS có thể thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình, ngăn chặn đƣợc những hành vi thao túng các hoạt động điều hành nhƣ đã từng xảy ra tại ACB.

KHUNG PHÂN TÍCH

Lý thuyết về Quản trị công ty

Quản trị công ty không có một định nghĩa duy nhất phù hợp cho tất cả các trường hợp và thể chế, vì các khái niệm này phụ thuộc vào từng tác giả, thể chế, quốc gia và truyền thống pháp lý Các định nghĩa về quản trị công ty hiện nay đa dạng, phản ánh sự khác biệt trong cách tiếp cận và đặc thù của từng hệ thống pháp luật và văn hóa.

Theo Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), quản trị công ty (QTCT) gồm các cơ cấu và quá trình giúp định hướng và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã xuất bản “Các nguyên tắc quản trị công ty”, cung cấp một định nghĩa chi tiết hơn về QTCT, nhấn mạnh vai trò của các cơ cấu quản lý và quy trình nhằm thúc đẩy sự minh bạch, trách nhiệm và năng suất của công ty.

Quản trị công ty là các biện pháp nội bộ nhằm điều hành và kiểm soát công ty, liên quan đến mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và cổ đông cùng các bên có quyền lợi liên quan Nó thiết lập cơ cấu để đề ra mục tiêu của công ty, xác định phương tiện đạt được mục tiêu và giám sát kết quả hoạt động Quản trị công ty hiệu quả khi thúc đẩy Giám đốc và Hội đồng quản trị hướng tới lợi ích của công ty và cổ đông, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để giám sát hoạt động doanh nghiệp một cách hiệu quả Điều này khuyến khích công ty sử dụng nguồn lực tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và giá trị dài hạn của doanh nghiệp.

QTCT là một hệ thống các mối quan hệ được xác định bởi các cơ cấu và quy trình, ví dụ như mối quan hệ giữa cổ đông và Ban giám đốc (BGĐ), nơi cổ đông cung cấp vốn để nhận lợi nhuận và bầu ra Hội đồng quản trị (HĐQT) hoặc Ban kiểm soát (BKS) để giám sát hoạt động Trách nhiệm chính của HĐQT là định hướng chiến lược và giám sát BGĐ, trong khi BGĐ có trách nhiệm cung cấp báo cáo tài chính và hoạt động minh bạch cho các cổ đông, và tất cả đều chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông.

Trong quản trị doanh nghiệp, các bên liên quan đóng vai trò thiết yếu trong việc định hướng và kiểm soát công ty Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đại diện cho các cổ đông và ra quyết định quan trọng, như phân chia lợi nhuận hoặc lỗ Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát toàn diện, đề ra chiến lược phát triển và theo dõi hoạt động của ban giám đốc (BGĐ) Ban giám đốc (BGĐ) thực hiện điều hành hoạt động hàng ngày, bao gồm triển khai chiến lược, lập kế hoạch kinh doanh, quản trị nhân sự, xây dựng chiến lược marketing, bán hàng và quản lý tài sản Các hoạt động này nhằm chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm một cách hợp lý, qua đó gia tăng giá trị lâu dài cho cổ đông.

Hệ thống QTCT cơ bản và các mối quan hệ giữa các thể chế quản trị trong công ty đƣợc mô tả trong Hình 2.1

Hình 2.1 Hệ thống quản trị công ty

Các cổ đông (Đại hội đồng cổ đông)

Bổ nhiệm và miễn nhiệm Đại diện và báo cáo

Báo cáo minh bạch Cấp vốn

Bổ nhiệm, miễn nhiệm, chỉ đạo và giám sát Báo cáo và trả lời

Lý thuyết về thông tin bất cân xứng (vai trò của Người ủy nhiệm và Người thừa hành)

Theo những nghiên cứu về lý thuyết ủy quyền - thừa hành của Jensen và Meckling

Quan hệ người sở hữu – người thừa hành là một hợp đồng, trong đó người sở hữu thuê người thừa hành thực hiện các dịch vụ thay mặt và có quyền đưa ra quyết định liên quan Người sở hữu phải trả công cho người thừa hành để họ thực hiện nhiệm vụ được ủy quyền Tuy nhiên, do đa số cá nhân luôn hành động nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân, người thừa hành có thể không hành động vì lợi ích tốt nhất của người sở hữu Vì vậy, người sở hữu cần thiết kế các cơ chế khuyến khích phù hợp và thực hiện giám sát để hạn chế các hoạt động gây tổn hại đến lợi ích của mình từ người thừa hành.

2.2.1 Sự phân chia quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần

* Sở hữu và quản lý

Quản lý là hoạt động điều phối các yếu tố đầu vào và thực hiện các hợp đồng thỏa thuận giữa chúng để đảm bảo sự tồn tại và sinh lời của công ty Người quản lý thuê nguồn vốn con người (human capital) và chịu trách nhiệm giám sát các yếu tố này nhằm đạt được thành công kinh doanh Mức lương của người quản lý thường phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty, ảnh hưởng đến mức lương trong tương lai và buộc họ phải hướng tới mục tiêu đưa công ty phát triển bền vững Chủ sở hữu (người ủy nhiệm) cung cấp vốn để công ty hoạt động và kỳ vọng nhận lợi nhuận từ khoản đầu tư này trong tương lai.

Hiện nay, thị trường vốn cho phép các nhà đầu tư chuyển giao quyền lợi và rủi ro để đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro Theo lý thuyết danh mục đầu tư, nhà đầu tư có thể tối ưu hóa phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa vào nhiều công ty khác nhau, giúp tránh phụ thuộc quá nhiều vào một doanh nghiệp duy nhất Việc duy trì danh mục đầu tư đa dạng giúp các nhà đầu tư cá nhân không phải theo dõi chi tiết hoạt động của từng công ty mà có thể đánh giá qua thị trường vốn Tuy nhiên, giảm thiểu rủi ro của nhà đầu tư càng làm nổi bật vai trò của việc phân chia quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty, góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động và quản trị doanh nghiệp.

* Các lý do thúc đẩy việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý:

Các công ty lớn thường có thể có rất nhiều cổ đông, do vậy tất cả các cổ đông không thể cùng tham gia quản lý

Khi doanh nghiệp đạt đến quy mô lớn, việc chủ doanh nghiệp trực tiếp điều hành trở nên khó khăn và thiếu hiệu quả Điều hành doanh nghiệp lớn và phức tạp đòi hỏi kỹ năng và phẩm chất đặc thù, không phải nhà đầu tư nào cũng có thể có Điều này dẫn đến sự phân chia rõ ràng giữa quyền quản lý và quyền kiểm soát Những người có vốn nhưng thiếu khả năng quản lý thường trở thành ông chủ, thuê những chuyên gia có năng lực và kinh nghiệm để điều hành doanh nghiệp Các chuyên gia này được giao quyền quản lý và trở thành người thừa hành, từ đó phát sinh mối quan hệ giữa chủ và người thừa hành.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.2.2 Chi phí ủy quyền, hậu quả của sự phân định quyền sở hữu và quyền quản lý

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Bằng chứng về sự tư lợi của người thừa hành thể hiện qua việc tiêu dùng nguồn lực doanh nghiệp dưới dạng đãi ngộ và bổng lộc, cũng như hành động mạo hiểm với các cơ hội rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận lớn, dẫn đến các khoản thưởng lớn khi thành công và chi phí thất bại do cổ đông gánh chịu Mâu thuẫn đại diện tiềm ẩn phát sinh khi người điều hành sở hữu ít hơn 100% cổ phần doanh nghiệp; nếu doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân do chính chủ quản lý, người chủ – người thừa hành – sẽ tập trung tối đa hóa lợi nhuận cá nhân, có thể dùng tài sản cá nhân để đo lường thành tích nhưng phải từ bỏ các lợi ích khác như nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ Khi người chủ – người thừa hành bán một phần cổ phần cho nhà đầu tư bên ngoài, mâu thuẫn lợi ích tiềm ẩn hình thành rõ rệt gọi là mâu thuẫn ủy quyền – thừa hành, ví dụ như họ có thể không làm việc hết sức vì muốn giữ lợi ích cá nhân hoặc tiêu tốn nhiều bổng lộc khiến cổ đông khác gánh chịu chi phí.

Trong các doanh nghiệp lớn, mâu thuẫn ủy quyền – thừa hành thường rõ rệt do người điều hành doanh nghiệp chỉ sở hữu một phần nhỏ cổ phần Điều này dẫn đến sự bất đồng về ưu tiên giữa nhà quản trị và cổ đông về mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản Việc đánh giá đúng mức độ ưu tiên các mục tiêu của nhà quản trị là yếu tố then chốt giúp tối đa hóa lợi ích của cổ đông và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Việc thúc đẩy các người điều hành làm việc vì lợi ích của cổ đông có thể đạt được thông qua các biện pháp, khuyến khích, ép buộc và trừng phạt, nhưng chỉ hiệu quả khi cổ đông có khả năng giám sát tất cả các hoạt động của người thừa hành Sự xuất hiện của các mối nguy đạo đức có thể dẫn đến hành vi không kiểm soát của người thừa hành vì họ lợi dụng lỗ hổng trong khả năng giám sát của cổ đông để trục lợi cá nhân Để giảm thiểu rủi ro đạo đức và hạn chế thiệt hại cho cổ đông do vấn đề đại diện gây ra, các cổ đông cần chịu chi phí ủy quyền, nhằm đảm bảo quá trình hợp tác giữa các bên diễn ra minh bạch và hiệu quả Tuy nhiên, chi phí ủy quyền không chỉ phát sinh trong các mối quan hệ rõ ràng mà còn trong mọi nỗ lực hợp tác giữa các cá nhân hoặc tổ chức.

Các quy định về BKS trong NHTMCP tại Việt Nam và các điểm bất hợp lý làm suy giảm vai trò giám sát của BKS

2.3.1 Các quy định hiện hành về BKS tại NHTMCP

Nhiệm vụ của BKS: Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, BKS trong

NHTMCP có nhiệm vụ thực hiện kiểm toán nội bộ, kiểm soát và đánh giá việc chấp hành các quy định pháp luật, quy định nội bộ, Điều lệ và nghị quyết của ĐHĐCĐ, chủ sở hữu, HĐQT, Hội đồng thành viên Điều này cho thấy nhiệm vụ của BKS rất toàn diện và có trách nhiệm giám sát toàn bộ hoạt động điều hành của ngân hàng.

Nếu NH thực hiện tốt chức năng giám sát của mình một cách chặt chẽ và hiệu quả, thì phạm vi giám sát này sẽ hạn chế tối đa các sai phạm của Ban điều hành NH Nhờ có hệ thống giám sát hiệu quả, các hành vi sai trái của Ban điều hành sẽ khó lọt qua được, giúp đảm bảo tính minh bạch và ổn định trong hoạt động của ngân hàng Việc giám sát chặt chẽ từ NH đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát rủi ro và nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường.

Theo luật, số lượng thành viên của Ban Kiểm Soát (BKS) trong ngân hàng tối thiểu là 3 người, với quy định cụ thể do điều lệ của từng ngân hàng xác định Để đảm bảo tính độc lập, luật yêu cầu ít nhất một nửa số thành viên BKS là thành viên chuyên trách, không đảm nhiệm chức vụ hoặc công việc ở các tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp khác Điều này nhằm đảm bảo rằng khi BKS tiến hành các quyết định hoặc đánh giá báo cáo, số phiếu của các thành viên chuyên trách luôn ở mức cân bằng hoặc chiếm ưu thế, từ đó đảm bảo tính khách quan và độc lập trong các quyết định của Ban Kiểm Soát.

Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát (BKS) theo luật không quá 5 năm, đảm bảo tính ổn định về nhân sự, giúp các thành viên có thể quan sát và hiểu rõ hoạt động hàng ngày của ngân hàng Các thành viên BKS có thể được bầu hoặc bổ nhiệm lại không giới hạn số nhiệm kỳ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì sự ổn định và phát triển lâu dài của bộ máy giám sát Điều này cho phép BKS thực hiện chức năng giám sát hiệu quả dựa trên kiến thức sâu rộng về hoạt động ngân hàng.

Trong các quy định của Luật, BKS được trao các quyền hạn và công cụ mạnh mẽ để thực thi nhiệm vụ của mình, đảm bảo hiệu quả kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật và các quy định của doanh nghiệp.

+ Quyền được tiếp cận thông tin một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời:

1 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 44, mục 1

2 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 44, mục 2

3 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 44, mục 4

Chức năng kiểm toán nội bộ được thực hiện để đảm bảo hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát chặt chẽ Các đơn vị có quyền sử dụng tư vấn độc lập nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán và đánh giá rủi ro Đồng thời, họ có quyền tiếp cận và cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin và tài liệu liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành của tổ chức tín dụng Các hoạt động này đều nhằm hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao một cách hiệu quả.

Quyền này cho phép BKS có thể tiếp cận các thông tin cần thiết một cách kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ của mình

+ Quyền kiểm tra sổ sách kế toán và các tài liệu, kiểm tra các công việc quản lý và điều hành:

Ban kiểm soát có trách nhiệm kiểm tra sổ kế toán, tài liệu và hoạt động quản lý của tổ chức tín dụng khi cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, cổ đông lớn, nhóm cổ đông, chủ sở hữu hoặc Hội đồng thành viên, phù hợp với quy định pháp luật Thời hạn để thực hiện kiểm tra là 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận yêu cầu Sau khi kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo và giải trình các vấn đề liên quan trong vòng 15 ngày đến tổ chức hoặc cá nhân yêu cầu.

Quyền hạn của Ban kiểm tra (BKS) đã được nâng cao đáng kể trong quy định mới, cho phép BKS chủ động kiểm tra khi “xét thấy cần thiết” hoặc theo “yêu cầu” Điều này giúp BKS có công cụ mạnh mẽ hơn để thực hiện chức năng giám sát một cách linh hoạt và hiệu quả hơn trong quá trình công tác.

+ Quyền thông báo hành vi vi phạm cho HĐQT/HĐTV về hành vi vi phạm:

Kịp thời thông báo cho Hội đồng quản trị và Hội đồng thành viên khi phát hiện người quản lý tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm pháp luật Đồng thời, yêu cầu người vi phạm chấm dứt ngay hành vi vi phạm và đề ra các giải pháp khắc phục hậu quả, đảm bảo tính kịp thời và hiệu quả trong quản lý rủi ro của tổ chức tín dụng.

Quyền này giúp BKS có công cụ răn đe mạnh mẽ đối với các cá nhân trong bộ máy quản lý và điều hành của ngân hàng, góp phần tăng cường tính nghiêm minh và trách nhiệm Việc này tạo thêm chi phí cho các hành vi vi phạm, khiến các cá nhân có ý định vi phạm phải cân nhắc kỹ lưỡng về các hậu quả pháp lý và thiệt hại tiềm ẩn Nhờ đó, trách nhiệm và đạo đức trong quản lý ngân hàng được nâng cao, hạn chế tối đa các hành động trái quy định.

+ Quyền đề nghị họp HĐQT bất thường hoặc đề nghị triệu tập Đại hội cổ đông (ĐHCĐ) bất thường:

4 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 45, mục 3

5 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 45, mục 5

6 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 45, mục 6

Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên có thể họp bất thường hoặc triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường theo quy định của Luật và Điều lệ tổ chức tín dụng để xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng Đây là biện pháp mạnh nhằm răn đe các vi phạm nghiêm trọng, giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm trong tổ chức Việc thực hiện quyền này sẽ tạo ra tác dụng răn đe rõ rệt và giúp bộ máy quản lý kịp thời khắc phục hậu quả của các hành vi vi phạm.

+ Quyền triệu tập ĐHCĐ bất thường:

Triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường là công cụ mạnh nhất mà Ban kiểm soát (BKS) có thể sử dụng trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, như khi Hội đồng quản trị có quyết định vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật hoặc vượt quá thẩm quyền được giao Quyền hạn này giúp BKS tạo áp lực để bảo vệ lợi ích của tổ chức tín dụng khi đối diện với các quyết định trái pháp luật hoặc vượt quá phạm vi quyền hạn Điều này phù hợp với quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng, nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và kiểm soát chặt chẽ hoạt động quản trị.

Hội đồng quản trị (HĐQT) cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và nội bộ ngân hàng để đảm bảo quyền lợi của đa số cổ đông được đặt lên hàng đầu Đồng thời, quy định này cũng tạo điều kiện cho các cổ đông có thể nhanh chóng phế truất HĐQT khi cần thiết, qua đó kịp thời xử lý và hạn chế các hậu quả phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng.

2.3.2 Các điểm bất hợp lý trong quy định của pháp luật làm suy giảm vai trò giám sát của BKS trong NHTMCP

Cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm thành viên HĐQT và BKS trong Ngân hàng TMCP dựa trên quy trình bầu cử tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ), sử dụng phương thức bầu dồn phiếu Các cổ đông lớn với tỷ lệ sở hữu cao có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả bỏ phiếu và quyết định đề cử, bổ nhiệm các thành viên HĐQT, thường phản ánh lợi ích của cổ đông lớn Do đó, các thành viên HĐQT phần lớn là do cổ đông lớn đề cử và bầu chọn, dẫn đến việc họ đại diện và hành động vì lợi ích của các cổ đông này Pháp luật yêu cầu có cơ chế giám sát đối trọng là Ban Kiểm Soát (BKS), song thực tế vấn đề đặt ra chính là hiệu quả và vai trò thực sự của BKS trong việc đảm bảo quản trị minh bạch và trung lập.

7 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 45, mục 8

Theo Điều 59, khoản 2, mục d của Luật các tổ chức tín dụng 2010, cơ chế bỏ phiếu của các cổ đông lớn quyết định việc bầu chọn các thành viên Ban kiểm soát, dẫn đến nguy cơ giảm thiểu chức năng giám sát của Ban kiểm soát khi bị kiểm soát bởi các cổ đông lớn Cơ chế bầu cử dồn phiếu, quy định tại Luật doanh nghiệp 2005, cho phép cổ đông nhỏ tập trung toàn bộ phiếu của mình để ủng hộ một hoặc nhiều ứng viên, nhằm tăng khả năng ảnh hưởng của cổ đông nhỏ trong cuộc bầu cử Tuy nhiên, do tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhỏ thường rất thấp và chi phí tập hợp phiếu lớn, nên việc phân tán phiếu của các cổ đông nhỏ khiến cơ chế cộng dồn phiếu không còn nhiều tác dụng trong việc nâng cao độ tập trung và ảnh hưởng của họ trong quyết định của hội đồng quản trị và ban kiểm soát.

BKS ở một số nước trên thế giới

Tại Đức, cấu trúc quản trị nội bộ của công ty theo mô hình hai tầng gồm Hội đồng quản trị, Hội đồng giám sát và Đại hội đồng cổ đông, trong đó ĐHĐCĐ bầu chọn thành viên Hội đồng giám sát Hội đồng giám sát có thẩm quyền bổ nhiệm, cách chức các thành viên của Hội đồng quản trị và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của công ty Ngoài ra, Hội đồng giám sát còn thực hiện vai trò giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, đảm bảo quản trị công ty minh bạch và hiệu quả So sánh với Ủy ban kiểm tra (BKS) tại Việt Nam, do ĐHĐCĐ bầu và chỉ có chức năng cơ bản, mô hình hai tầng của Đức mang lại sự phân chia rõ ràng và kiểm soát chặt chẽ hơn trong quản trị doanh nghiệp.

13 Thông tƣ 52/2012/TT-BTC, Điều 10

14 Thông tƣ số 49/2014/TT-NHNN của NHNN, Điều 14, khoản 2, mục b

Hệ thống giám sát trong quản trị công ty bao gồm các cơ quan như Hội đồng giám sát ở Đức và Ban kiểm tra tại Việt Nam, tuy nhiên, chức năng và quyền hạn của chúng có sự khác biệt rõ rệt Hội đồng giám sát của các công ty cổ phần tại Đức chỉ chịu trách nhiệm giám sát, không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hay cách chức thành viên bộ máy quản lý, và không tham gia quyết định các vấn đề quản trị quan trọng Trong khi đó, tại Việt Nam, HĐQT và BKS do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn, gồm các thành viên do cổ đông lựa chọn, còn tại Đức, người lao động cũng có quyền tham gia bầu cử thành viên Hội đồng giám sát theo luật pháp năm 1952 và 1976, tỷ lệ này phụ thuộc vào số lượng lao động của công ty Thêm vào đó, thành viên của Hội đồng giám sát không thể đồng thời tham gia điều hành, còn thành viên của BKS trong Việt Nam có thể giữ chức vụ điều hành, mặc dù có giới hạn về số lượng Khác biệt nổi bật là, Hội đồng giám sát tại Đức có thể tham gia quyết định các vấn đề quan trọng về quản trị công ty, trong khi BKS ở Việt Nam chủ yếu thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát Một số ý kiến cho rằng mô hình này giúp giám sát độc lập và hiệu quả hơn so với hệ thống của Anh-Mỹ, nhưng đồng thời cũng làm các công ty trở nên kém năng động hơn do hạn chế trong hoạt động điều hành của bộ máy quản lý.

Tại Anh-Mỹ, mô hình quản trị nội bộ của công ty cổ phần theo cấu trúc hội đồng đơn gồm có Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị, trong đó Bộ phận quản trị – điều hành chỉ do HĐQT đảm nhiệm Các thành viên HĐQT, được bầu bởi Đại hội đồng cổ đông, thường có từ ba đến hai chục người Mô hình này không có cơ quan giám sát riêng như Ban kiểm soát ở Việt Nam hay Hội đồng giám sát trong mô hình hai tầng của Đức, nhưng các công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, ngày càng có xu hướng bổ sung thành viên độc lập không điều hành để xem xét và giám sát hoạt động của HĐQT và bộ phận điều hành Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, sự giám sát giữa các thành viên trong HĐQT có thể thiếu khách quan và hiệu quả do thiếu tính độc lập, khiến hoạt động giám sát này kém tin cậy hơn so với một cơ quan giám sát độc lập, nhưng lại mang lại sự linh hoạt cao hơn cho bộ máy điều hành của công ty.

TÌNH HUỐNG NGÂN HÀNG ACB

Giới thiêu về Ngân hàng ACB

- Tên tổ chức: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU

- Tên giao dịch quốc tế: ASIA COMMERCIAL BANK

- Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q 3, TP Hồ Chí Minh

- Vốn điều lệ 9.377 tỷ đồng (tính đến thời điểm 31/12/2014)

3.1.2 Quy mô về Mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch

Tính đến 31/12/2014 ACB dã có tổng số 346 chi nhánh và phòng giao dịch phân bổ trên cả nước

Hình 3.1: Tăng trưởng mạng lưới qua các năm

Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2014 của ACB

Hình 3.2: Mạng lưới của ACB phân bố theo vùng

Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2014 của ACB.

Sơ đồ tổ chức Ngân hàng ACB

Hình 3.3: Sơ đồ tổ chức Ngân hàng ACB

Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB

Các Hội đồng ĐẠI HỘI ĐỒNG

Ban kiểm toán nội bộ

Khối Phát triển kinh doanh

Trung tâm Công nghệ thông tin

Khối Quản trị Nguồn lực

Phòng đầu tƣ Ban đảm bảo chất lƣợng

Ban chính sách và quản lý rủi ro tín dụng

Các sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, Trung tâm thẻ, Trung tâm ATM và TT VàngCác công ty trực thuộc: Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS),

Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản ACB (ACBA), Công ty cho thuê Tài chính (ACBL)

Ban kiểm soát tại Ngân hàng ACB (giai đoạn 2008 – 2012)

Trong giai đoạn từ 2008 đến 2012, ông Nguyễn Đức Kiên không tham gia vào Hội đồng quản trị của ACB do hết nhiệm kỳ từ ngày 22/3/2008, nhưng vẫn can thiệp vào hoạt động của ngân hàng thông qua ảnh hưởng của mình tại ACB đến khi bị bắt ngày 20/8/2012 Ông Kiên đã sử dụng nhiều công cụ để gây ảnh hưởng, trong đó nổi bật là vai trò cổ đông lớn và chức danh Phó chủ tịch Hội đồng sàn lượng (HĐSL) Thời gian này, dù không chính thức giữ chức vụ trong HĐQT, ông Kiên vẫn giữ vị trí quan trọng và ảnh hưởng lớn tới quyết định và hoạt động của ACB.

Hình 3.4: Sơ đồ hoạt động của Ban kiểm soát Ngân hàng ACB

Nguồn: Do tác giả tự vẽ dựa trên thông tin về BKS của ACB

Bộ phận giúp việc cấp dưới chịu sự chỉ đạo trực tiếp của BKS ACB theo quy định là

Trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2012, Bộ phận kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Á Châu (ACB) trung bình có khoảng 100 nhân viên Theo quy định, tổ chức tín dụng phải thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ chuyên trách trực thuộc Ban kiểm soát để đảm bảo hoạt động kiểm toán nội bộ hiệu quả Việc thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ chuyên trách là yêu cầu bắt buộc nhằm nâng cao tính độc lập và chất lượng kiểm toán trong ngân hàng.

16 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 41, mục 1

Bộ phận kiểm toán nội bộ

HĐQT/Ban điều hành BKS

Thành viên Cung cấp thông tin

BKS ACB giai đoạn 2008 – 2012 có 04 thành viên:

Hộp 1: Các thành viên của Ban kiểm soát Ngân hàng ACB giai đoạn 2008 – 2012

Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2008 của ACB

1 Ông Huỳnh Nghĩa Hiệp, Trưởng BKS Ông theo học chương trình Cử nhân ngành thương mại tại Đại học Vạn Hạnh, và tiếp tục học Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến 1978 Sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại Trường làm giảng viên và giảng dạy trong mười lăm năm Ông chuyển sang công tác tại Ngân hàng Á Châu ngay từ ngày thành lập, và đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng giám đốc từ năm 1994 đến năm 2008

2 Bà Hoàng Ngân, Thành viên BKS

Bà đã theo học chương trình Cử nhân Luật tại Đại học Luật Khoa Sài Gòn, sau đó tiếp tục nâng cao trình độ tại Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh với chuyên ngành tài chính kế toán từ năm 1975.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Kinh tế năm 1978, bà bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại trường Trung học Ngân hàng Trung Ương trong mười năm (1978-1988), góp phần xây dựng nền tảng kiến thức chuyên môn vững chắc Sau đó, bà chuyển sang làm việc tại Công ty Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn (SJC), mở rộng kỹ năng và trải nghiệm trong ngành kim hoàn cao cấp Từ năm 2003 đến nay, bà là thành viên Ban Kiểm Soát Ngân hàng Á Châu, đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý rủi ro và đảm bảo hoạt động ngân hàng ngày càng minh bạch, hiệu quả.

Bà đã từng giữ vị trí thành viên Hội đồng quản trị tại Công ty Cổ phần Thương mại và Du lịch Sài Gòn (SPCO) và đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Kiểm Soát tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), thể hiện sự am hiểu sâu sắc trong lĩnh vực thương mại và lĩnh vực trang sức kim loại quý.

3 Ông Triệu Cao Phong, Thành viên BKS Ông tốt nghiệp Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh ngành quản trị kinh doanh Từ năm

1980 đến năm 1992 ông làm Chủ nhiệm Hợp tác xã sản xuất Tháng Năm, Tp Hồ Chí Minh Ông là Trưởng BKS Ngân hàng Á Châu từ năm 1993 đến năm 2008

4 Bà Phùng Thị Tốt, Thành viên BKS

Sau khi tốt nghiệp Đại học Kinh tế ngành Ngân hàng năm 1978, bà giảng dạy tại Trường Trung học Ngân hàng III và Trung Ương đến năm 1993 Từ khi Ngân hàng Á Châu thành lập, bà chuyển sang công tác tại ngân hàng này và đảm nhận vị trí Kế toán trưởng từ năm 1994 đến 2002 Tiếp đó, bà giữ chức vụ Kiểm toán trưởng Ngân hàng Á Châu từ năm 2002 đến 2003, và là thành viên Ban Kiểm sát Ngân hàng Á Châu từ năm 2003 đến 2008.

Hoạt động của Ban kiểm soát

Ban kiểm soát thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động quản trị và điều hành của doanh nghiệp thông qua việc tham dự các phiên họp và phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Quản trị, Thường trực Hội đồng Quản trị và Ban Tổng giám đốc Các lĩnh vực chính bao gồm giám sát hoạt động của hệ thống doanh nghiệp, kiểm soát chi phí điều hành và thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính Việc này nhằm đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý và phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Kiểm soát, Ban Kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm toán quy trình, tuân thủ và kiểm soát hoạt động thông qua hệ thống giám sát từ xa nhằm phòng ngừa rủi ro và bảo vệ an toàn tài sản của ngân hàng Công tác kiểm toán và giám sát từ xa giúp phát hiện rủi ro kịp thời và đưa ra các kiến nghị chỉnh sửa lỗi, xử lý sai phạm của cá nhân và đơn vị Đồng thời, các đề xuất về bổ sung và điều chỉnh quy trình nghiệp vụ được thực hiện để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, tuân thủ quy định.

Đánh giá hoạt động của Ban kiểm soát ACB

3.5.1 Về cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm và nhân sự của BKS

Các thành viên Ban kiểm tra (BKS) của ACB được đề cử và bầu chọn tại ĐHCĐ, trong đó kết quả bầu cử phụ phụ thuộc rất lớn vào lá phiếu của nhóm cổ đông lớn trong HĐSL, đặc biệt là cổ đông Nguyễn Đức Kiên với tỷ lệ sở hữu 9,03% Cơ chế bầu cử theo quy định hiện hành đã làm giảm tính độc lập của BKS tại ACB, ảnh hưởng đến khả năng kiểm tra, giám sát của BKS đối với HĐQT và Ban điều hành Thực tế, trong giai đoạn 2008 – 2012, các báo cáo của BKS không hề cảnh báo về hành vi thao túng của ông Kiên, phản ánh rõ việc chức năng kiểm tra, giám sát của BKS chưa được thực hiện đúng đắn.

Các thành viên Ban kiểm soát (BKS) của ACB đã từng tham gia vào Ban điều hành trong một thời gian dài, như ông Huỳnh Nghĩa Hiệp – Trưởng ban, người đã làm việc tại ACB từ ngày thành lập đến năm 2008 mới chuyển sang làm Trưởng BKS, hoặc bà Phùng Thị Tốt, cũng làm việc từ ngày đầu thành lập đến năm 2003 mới đảm nhiệm chức vụ thành viên BKS (xem Box 1) Trong thời gian làm việc trong bộ máy điều hành, họ đều là cấp dưới và chịu sự chỉ đạo của các thành viên HĐQT và Ban điều hành, do ảnh hưởng lâu dài từ các mối quan hệ này.

17 Cáo trạng số 09/VKSTC-V1 ngày 27/1/2014 của VKSNDTC – Trang 2

Chương 2, mục 2.3.2 đề cập đến hệ thống trước đó, nơi các thành viên dễ bị tác động bởi ý chí của Hội đồng quản trị và Ban điều hành Điều này làm giảm tính độc lập của các thành viên trong hệ thống, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình ra quyết định và quản lý doanh nghiệp Việc đảm bảo tính độc lập của các thành viên là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp và tăng cường sự minh bạch trong hoạt động của tổ chức.

3.5.2 Về thù lao của BKS

Tại ACB, thù lao và các lợi ích của Ban kiểm soát (BKS) được quyết định bởi ĐHCĐ dựa trên bỏ phiếu của các cổ đông lớn, giúp họ dễ dàng tác động đến các khoản thù lao này Các cổ đông lớn, cùng với Hội đồng quản trị và Ban điều hành, có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết định về mức thù lao của BKS, làm giảm khả năng giám sát độc lập của BKS Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng giám sát khách quan và chống lợi ích của cổ đông nhỏ hơn, khiến bối cảnh kiểm soát tại ACB không còn hoàn toàn độc lập.

3.5.3 Về động cơ trong việc thực thi nhiệm vụ của BKS

Theo các báo cáo chính thức, kể từ khi thành lập, Ban Kiểm Soát (BKS) của ACB chưa từng nhận được bất kỳ khoản khen thưởng nào liên quan đến việc hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Sau vụ án “Bầu Kiên” được xét xử vào tháng 6/2014, BKS ACB cũng không đối mặt với bất kỳ hình thức chế tài xử phạt nào do lỗi không hoàn thành nhiệm vụ giám sát và thiếu cảnh báo về các hành vi thao túng của cổ đông Nguyễn Đức Kiên Thiếu cơ chế khen thưởng và chế tài xử phạt đã khiến BKS ACB thiếu động lực để nỗ lực trong việc giám sát HĐQT và Ban điều hành, ảnh hưởng tới hiệu quả công tác kiểm soát và giám sát của ngân hàng.

3.5.4 Về nguồn lực để thực thi nhiệm vụ của BKS

Theo Luật, Ban kiểm soát (BKS) được phép sử dụng các nguồn lực của ngân hàng, bao gồm việc thuê chuyên gia và tổ chức bên ngoài để thực hiện nhiệm vụ Tuy nhiên, thực tế cho thấy mọi khoản chi của ngân hàng đều phải qua xét duyệt của Ban điều hành, khiến nguồn lực của ngân hàng nằm hoàn toàn trong tay Ban này Điều này khiến BKS phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách do Ban điều hành cấp phát, không thể tự thiết lập ngân sách riêng để thực thi nhiệm vụ hiệu quả hơn.

Khoản 3 Điều 44 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định về các chi phí như chi phí lưu trú, công tác phí, văn phòng phẩm, chi phí đi lại và các khoản chi phí khác được sử dụng trong hoạt động kiểm toán Tuy nhiên, việc này dẫn đến suy giảm đáng kể tính độc lập của Ban kiểm tra, vì họ không còn được đảm bảo sự độc lập tương đối trong việc sử dụng nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ của mình.

3.5.5 Về minh bạch và công bố thông tin hoạt động của BKS

Theo quy định của luật, Ban kiểm soát (BKS) của ACB phải lập báo cáo và trình tại Đại hội đồng cổ đông thường niên hàng năm ACB, là một công ty niêm yết, đã thực hiện tốt nghĩa vụ công bố thông tin và nhiệm vụ báo cáo của BKS tại ĐHCĐ hàng năm Tuy nhiên, việc chỉ báo cáo tại ĐHCĐ thường niên là chưa đủ và không kịp thời, đặc biệt khi cổ phiếu của ACB được niêm yết trên thị trường chứng khoán, nơi giá trị cổ phiếu biến động nhanh chóng và nhạy cảm theo các tin tức Do đó, cần công bố thường xuyên hơn các thông tin về hoạt động giám sát của BKS cũng như các cảnh báo về vi phạm trong hoạt động điều hành để đảm bảo quyền lợi cổ đông và nâng cao tính minh bạch của công ty.

Vấn đề người ủy nhiệm – người thừa hành giữa cổ đông và BKS ACB

Ban kiểm soát trong ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) được bầu và miễn nhiệm bởi Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), có nhiệm vụ giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban điều hành, thay mặt tất cả các cổ đông Trong thực tế, các thành viên Ban kiểm soát thường do các cổ đông lớn đề cử và được bầu dựa trên quyết định của các cổ đông lớn, dẫn đến sự phụ thuộc vào ý chí của nhóm cổ đông lớn qua các đại diện trong Hội đồng quản trị và Ban điều hành Thù lao và lợi ích của Ban kiểm soát được trình lên ĐHĐCĐ để các cổ đông biểu quyết, trong đó vai trò của cổ đông lớn lại càng thể hiện rõ qua từng quyết định Như vậy, lợi ích của Ban kiểm soát phần lớn do Hội đồng quản trị, Ban điều hành và nhóm cổ đông lớn quyết định, khiến Ban kiểm soát có khả năng hành động vì lợi ích của nhóm cổ đông lớn thay vì tất cả các cổ đông.

20 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 59, khoản 2, mục d

3.6.2 Bất cân xứng thông tin

Các cổ đông nhỏ thường không hiểu rõ hoặc không đầy đủ về ảnh hưởng chi phối của các cổ đông lớn đối với các thành viên Ban Kiểm Soát (BKS) thông qua các mối quan hệ phức tạp trong nội bộ và bên ngoài ACB Trong khi đó, các ứng viên cho chức vụ thành viên BKS lại nắm rõ các thông tin này nhưng không công khai cho cổ đông biết Điều này dẫn đến việc các cổ đông nhỏ có thể đưa ra quyết định bỏ phiếu sai lầm, không nhận thức được rằng các thành viên BKS có thể hành động vì lợi ích của nhóm cổ đông lớn thay vì toàn bộ cổ đông, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi chung.

Thông tin thứ hai không cân xứng đến từ cơ chế đặc thù của ACB là HĐSL, nơi BKS có quyền dự các cuộc họp của HĐQT theo Điều lệ của ngân hàng Tuy nhiên, do HĐSL ảnh hưởng lớn đến hoạt động điều hành của HĐQT và Ban điều hành, và không được quy định trong luật hoặc bắt buộc BKS phải tham dự các cuộc họp này, nên thông tin từ HĐSL không đến được với BKS, gây ra sự thiếu minh bạch trong quá trình ra quyết định tại ACB.

Hành vi thao túng của cổ đông Nguyễn Đức Kiên đối với các hoạt động điều hành Ngân hàng ACB

3.7.1 Giới thiệu về cổ đông Nguyễn Đức Kiên

Ông Nguyễn Đức Kiên là sinh viên khóa 15 trường Đại học Kỹ thuật Quân sự từ năm 1980, sau đó học tại Trường Kỹ thuật Quân sự Zalkamaté, Hungary từ năm 1981 đến 1985 Ông từng giữ vị trí Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng ACB từ 1994 đến 2008, và đảm nhận vai trò CEO từ 2004 đến 2006 Từ tháng 3/2007 đến tháng 8/2012, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB Ngày 20/8/2012, ông bị bắt tạm giam với cáo buộc về tội kinh doanh trái phép, và ngày 9/6/2014, Tòa án nhân dân Hà Nội xét xử sơ thẩm, tuyên phạt ông Nguyễn Đức Kiên 30 năm tù về nhiều tội danh Ngày 5/12/2014, Tòa án nhân dân tối cao đã xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Thao túng: “Nắm giữ và chi phối, bắt phải hành động theo ý của mình” 21

Cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là người sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của tổ chức tín dụng đó Những cổ đông này có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động và quyết định của tổ chức tín dụng Việc xác định cổ đông lớn giúp đảm bảo sự minh bạch, ổn định và tuân thủ các quy định pháp luật trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Cổ đông lớn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của tổ chức tín dụng cổ phần qua việc tham gia điều hành và kiểm soát hoạt động kinh doanh.

Người có liên quan là tổ chức hoặc cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với người khác, bao gồm các trường hợp như vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em của người đó, nhằm đảm bảo rõ ràng về mối quan hệ trong các trường hợp pháp lý hoặc giao dịch.

Cổ đông Nguyễn Đức Kiên là cổ đông lớn của Ngân hàng ACB, với tỷ lệ sở hữu chiếm tới 9,03% vốn điều lệ của ngân hàng Sự đóng góp của ông Kiên và các bên liên quan đã ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc cổ đông của ACB, thể hiện tầm quan trọng của nhóm cổ đông này trong chiến lược và hoạt động của ngân hàng Việc sở hữu lớn này cũng phản ánh vai trò chiến lược của ông Nguyễn Đức Kiên trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng tại Việt Nam.

Nguyễn Đức Kiên cùng các thành viên trong gia đình sở hữu tổng cộng 937.696.506 cổ phần Ngân hàng ACB, chiếm tỷ lệ 9,03% vốn điều lệ của ngân hàng Trong đó, Nguyễn Đức Kiên trực tiếp sở hữu 31.574.183 cổ phần, tương đương 3,37% vốn điều lệ.

3.7.3 Ảnh hưởng và cách thức thao túng các hoạt động điều hành Ngân hàng ACB của cổ đông Nguyễn Đức Kiên

Từ năm 1994 đến 2008, cổ đông Nguyễn Đức Kiên đã trực tiếp tham gia vào bộ máy điều hành của Ngân hàng ACB, đảm nhiệm vị trí Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị cùng các chức vụ quan trọng khác như Chủ tịch Hội đồng Đầu tư, Thành viên Thường trực Ủy ban Nhân sự và Thành viên Ủy ban Quản lý Rủi ro Trong giai đoạn này, ông Kiên đề xuất thành lập Hội đồng Sức khỏe Liên doanh (HĐSL) vào ngày 9/3/2007, thể hiện sự chủ động trong việc xây dựng các bộ phận quản lý chiến lược của ngân hàng.

22 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 4, Mục 26

23 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 4, Mục 28

Vào ngày 27/1/2014, theo cáo trạng số 09/VKSTC-V1 của VKSNDTC, đông đảo cổ đông của ACB cùng ông Kiên đã giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng Sản phẩm của Hội đồng Quản trị (HĐSL) cho đến thời điểm bị bắt Hội đồng Sản phẩm (HĐSL) tham dự và đóng góp ý kiến trong tất cả các cuộc họp của Hội đồng Quản trị, thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình điều hành và quản lý ngân hàng ACB.

Từ ngày 9/3/2007 đến cuối năm 2008, ông Nguyễn Đức Kiên đã chỉ đạo hoạt động điều hành Ngân hàng Á châu (ACB) thông qua vai trò Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Phó Chủ tịch Hội đồng Sáng lập Đến cuối năm 2008, ông Kiên kết thúc nhiệm kỳ thành viên HĐQT nhưng vẫn giữ vai trò Phó Chủ tịch HĐSL và là cổ đông lớn chiếm 9,03% cổ phần, đồng thời có ảnh hưởng cá nhân đáng kể trong bộ máy điều hành của ACB Dù không còn nằm trong HĐQT, ông Kiên vẫn tiếp tục can thiệp vào các hoạt động điều hành của ngân hàng, theo lời khai của ông Lý Xuân Hải – nguyên Tổng Giám đốc ACB.

Hội đồng sáng lập không ký vào biên bản họp Hội đồng quản trị, nhưng họ có quyền thông qua các chủ trương để ban hành quyết định Nếu các quyết định của chúng tôi không được sự đồng ý của họ, họ có quyền phủ quyết nếu sở hữu trên 35% vốn điều lệ Trong trường hợp quyết định của chúng tôi đúng đắn nhưng bị họ từ chối, chúng tôi sẽ không thể thực hiện Ông Lê Vũ Kỳ, nguyên Phó chủ tịch HĐQT ACB, cũng xác nhận về quyền phủ quyết và ảnh hưởng của các cổ đông lớn trong quá trình ra quyết định.

Anh Kiên, Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập and cổ đông lớn, ghi nhận uy tín cao trong ngân hàng Ý kiến của anh Kiên có trọng lượng đáng kể, và nếu anh không đồng ý, thì việc thông qua các quyết định sẽ gặp khó khăn.

Từ năm 2008 đến khi vụ án xảy ra, các chủ trương lớn đều do ông Nguyễn Đức Kiên khởi xướng, đóng vai trò ảnh hưởng đáng kể trong công ty dù không trực tiếp tham gia Hội đồng quản trị Dù không giữ chức vụ chính thức, nhưng là cổ đông lớn, ông Kiên có thể triệu tập cuộc họp bất thường để xem xét trách nhiệm của các thành viên, tạo ra sức ép mạnh mẽ khiến mọi người phải tuân thủ theo ý mình Quyền lực vô hình này của ông Kiên đã khiến các thành viên trong doanh nghiệp phải hành xử theo ý ông.

25 Báo cáo thường niên của ACB năm 2011 (2011)

Ông Nguyễn Đức Kiên đã có ảnh hưởng rõ rệt đối với bộ máy điều hành của Ngân hàng ACB, đặc biệt là các vị trí cấp cao như Tổng giám đốc và Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Mức độ ảnh hưởng của ông thể hiện qua sự tác động sâu rộng đến chiến lược và hoạt động của ngân hàng Điểm nổi bật trong vai trò của ông là góp phần định hình các chính sách và quyết định quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ACB Với vai trò quan trọng này, ông Nguyễn Đức Kiên đã trở thành nhân tố ảnh hưởng lớn trong hệ thống quản trị của ngân hàng.

Ông Trần Xuân Giá, nguyên Chủ tịch HĐQT (thành viên độc lập) của ACB, đã thừa nhận về ảnh hưởng của ông Kiên đối với ngân hàng Ông cho biết rằng ông Kiên đã có tác động đáng kể đến hoạt động và quyết định của ACB trong thời gian ông còn giữ chức vụ Những chia sẻ này giúp làm rõ mức độ ảnh hưởng của ông Kiên tại ngân hàng, góp phần hiểu rõ hơn về các mối quan hệ nội bộ trong tổ chức.

Ngân hàng ACB hoạt động theo mô hình quản trị gia đình, do hai cá nhân là Trần Mộng Hùng, Chủ tịch Hội đồng sáng lập ngân hàng, và Nguyễn Đức Kiên điều hành Cả hai người này có ảnh hưởng lớn nhất đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh của ACB, đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển của ngân hàng.

Ông Trần Mộng Hùng, nguyên Chủ tịch HĐSL, cho biết rằng ảnh hưởng của ông Kiên đối với các thành viên trong HĐSL là rất mạnh, lấn át cả các lời khai từ các cá nhân trong Hội đồng quản trị và Ban điều hành Câu này nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của ông Kiên trong nội bộ, đồng thời giúp tăng cường sự tin cậy và rõ ràng về mức độ ảnh hưởng của ông.

KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Ngày đăng: 26/02/2023, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. IFC (2010), “Cẩm nang Quản trị công ty”, IFC, truy cập ngày 15/12/2014 tại địa chỉ:http://www.ifc.org/ifcext/mekongpsdf.nsf/AttachmentsByTitle/CG+newsletter2-VN/$FILE/CG+newsletter2-VN.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang Quản trị công ty
Tác giả: IFC
Nhà XB: IFC
Năm: 2010
10. Ngân hàng ACB (2009 – 2012), Báo cáo thường niên của Ngân hàng ACB giai đoạn 2008 – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của Ngân hàng ACB giai đoạn 2008 – 2011
Tác giả: Ngân hàng ACB
Năm: 2009
11. Ngân hàng ACB (2009 – 2012), Báo cáo tổng kết của Ngân hàng ACB giai đoạn 2008 – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng ACB giai đoạn 2008 – 2011
Tác giả: Ngân hàng ACB
Năm: 2009 – 2012
3. Hoàng Duy (2014), ““Bầu" Kiên phủ nhận các lời khai khác về việc chi phối HĐQT ACB”, Báo Đầu tư chứng khoán, truy cập ngày 25/5/2015 tại địa chỉ:http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-dinh/bau-kien-phu-nhan-cac-loi-khai-khac-ve-viec-chi-phoi-hdqt-acb-107894.html Link
4. Việt Dũng (2014), “Ông Lý Xuân Hải: 'Không biết bầu Kiên mua cổ phiếu ACB”, VnExpress, Truy cập ngày 27/5/2015 tại địa chỉ: http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/ong-ly-xuan-hai-khong-biet-bau-kien-mua-co-phieu-acb-3115772.html Link
5. Vũ Hạnh (2014), ““Bầu” Kiên thừa nhận mình có vị trí rất cao ở ACB”, vov.vn, truy cập ngày 2/5/2015 tại địa chỉ: http://vov.vn/phap-luat/bau-kien-thua-nhan-minh-co-vi-tri-rat-cao-o-acb-370078.vov Link
6. Nguyễn Hƣng (2014), ““Bầu” Kiên chỉ đạo sâu sát các hoạt động của Ngân hàng ACB nhƣ thế nào?”, An ninh thế giới, truy cập ngày 28/11/2014 tại địa chỉ:http://antg.cand.com.vn/Vu-an-noi-tieng/Bau-Kien-chi-dao-sau-sat-cac-hoat-dong-cua-Ngan-hang-aCB-nhu-the-nao-334848/ Link
8. Tâm Lụa (2014), “Cựu lãnh đạo ACB: “Mọi việc do anh Kiên quyết định””, Báo Tuổi trẻ, truy cập ngày 27/5/2015 tại địa chỉ: http://tuoitre.vn/tin/phap- luat/20141203/cuu-lanh-dao-acb-moi-viec-do-anh-kien-quyet-dinh/679818.html Link
9. Đức Minh (2014), “Bầu Kiên: Tôi không có vai trò gì ở ACB để có thể chỉ đạo ai”, phapluattp.vn, truy cập ngày 28/11/2014 tại địa chỉ: http://plo.vn/phap-luat/bau- kien-toi-khong-co-vai-tro-gi-o-acb-de-co-the-chi-dao-ai-470153.html Link
12. NHNN Việt Nam (2015), “Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản”, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, truy cập ngày 23/04/2015 tại địa chỉ:http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/pages/trangchu/tk/hdchtctctd/tkmsctcb?_afrLoop=4806215035495835&_afrWindowMode=0&#%40%3F_afrLoop%3D4806215035495835%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D15wz2tms1u_92 Link
13. Nhóm phóng viên PetroTimes (2014), “"Bầu" Kiên từng dọa cách chức cả HĐQT Ngân hàng ACB”, PetroTimes, truy cập ngày 2/5/2015 tại địa chỉ:http://petrotimes.vn/news/vn/kinh-te/bau-kien-tung-doa-cach-chuc-ca-hdqt-ngan-hang-acb.html Link
14. PV (2014), “"Bầu" Kiên – "đạo diễn" cho tấn bi kịch ACB”, petrotimes.vn, truy cập ngày 19/12/2014 tại địa chỉ: http://petrotimes.vn/news/vn/kinh-te/bau-kien-dao-dien-cho-tan-bi-kich-acb.html Link
17. Đ.Tâm (2014), “Ông Trần Xuân Giá khai gì về bầu Kiên?”, VietnamNet.vn, Truy cập ngày 5/6/2015 tại địa chỉ: http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/170877/ong-tran-xuan-gia-khai-gi-ve-bau-kien-.html Link
19. V.H/VOV.VN (2014), “Phúc thẩm vụ “bầu” Kiên: Nguyễn Đức Kiên tự ý mua cổ phiếu của ACB”, Vov.vn, Truy cập ngày 27/5/2015 tại địa chỉ: http://vov.vn/phap- Link
2. Bộ tài chính (2012) Thông tư số 52/2012/TT-BTC, ngày 5 tháng 4 năm 2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w