3. Nghiên cứu Bản án số 2132014DSST của Tòa án nhân dân quận Tân Bình ngày 1482014 và trả lời các câu hỏi sau: Tóm tắt Bản án số 132014DSST của Tòa án nhân dân quận Tân Bình ngày1482014: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Lộc Bị đơn: Công ty Mặt Trời Mọc Ông Lộc là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh Tết dân gian”, các cụm hình ảnh này cónguồn gốc từ văn hóa dân gian được ông thể hiện theo phong cách riêng để hình thành nên tác phẩm của mình. Ông Lộc cho rằng đã đăng kí bảo hộ tácphẩm này tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng lại không có gì chứng minh làông được cấp Giấy chứng nhận bản quyền ngày 07012013. Sau đó, ông phát hiệnCông ty Mặt Trời Mọc sử dụng cụm hình ảnh trong tác phẩm trên mà không xin phéptrong một năm không trả tiền. Do đó ông đã kiện Công ty Mặt Trời Mọc vì cho rằngcông ty đã xâm phạm quyền tác giả của mình. Ông Nguyễn Văn Lộc yêucầu Công tyMặt Trời Mọc phải công khai xin lỗi trên 03 tờ báo: Báo Tuổi Trẻ, Báo ThanhNiên,Báo Pháp luật và bồi thường cho ông số tiền 20.000.000 đồng. TAND quận Tân Bình bác yêu cầu của ông Nguyễn Văn Lộc về việc yêu cầuCông ty Mặt Trời Mọc phải công khai xin lỗi trên 03 tờ báo và bồi thường cho ông sốtiền 20.000.000 đồng. a) Ai là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”? Tác phẩm này có được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao? Nguyên đơn (ông Nguyễn Văn Lộc) là tác giả của tác phẩm “Hình thức thể hiệntranh tết dân gian”. Tác phẩm này được bảo hộ quyền tác phẩm vì nó đã được Cục bảnquyền cấp giấy chứng nhận đăng ký bản quyền số 1692013QTG ngày 07012013 và cókèm theo hình ảnh đăng ký bản quyền. Nội dung tác phẩm là tập hợp những hình ảnh củacác nhân vật có nguồn gốc từ dân gian như hình ảnh ông thầy đồ, múa lân, ông địa...)được sắp xếp lại để thể hiện không khí ngày tết Việt Nam. 1. Đọc, nghiên cứu Bản án số 4 “Bảo hộ tác phẩm kiến trúc”. 1 Theo quy định của pháp luật SHTT, đối tượng quyền tác giả bao gồm những đối tượng nào? Nêu cơ sở pháp lý. Dựa trên quy định của pháp luật SHTT hiện hành thì tác phẩm kiến trúc có phải là đối tượng quyền tác giả hay không? Vì sao? Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 14, Luật Sở hữu trí tuệ về Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thì đối tượng của quyền tác giả bao gồm: Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ (Quy định tại Khoản 1, Điều 14 như Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; Tác phẩm báo chí; Tác phẩm âm nhạc; ...). Mặt khác, tại khoản 1 Điều 6 Luật SHTT: “1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.” Lúc này, tác phẩm kiến trúc chỉ được bảo hộ nếu được thể hiện dưới hình thức rõ ràng, hoàn toàn phù hợp với “bản vẽ thiết kế” và đã được cục bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận. Tác phẩm phái sinh nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Dựa trên quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành thì Tác phẩm kiến trúc là đối tượng quyền tác giả, cụ thể là tại Điểm i, Khoản 1, Điều 14 Luật SHTT 2015. 2 Theo Tòa án xác định trong bản án số 4, đối tượng đang tranh chấp có phải là đối tượng của quyền tác giả hay không? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy? Theo Tòa án xác định trong bản án số 4, đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của quyền tác giả. Toà án cho rằng các bản vẽ thiết kế đã được Cục Bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả. Mặt khác, theo Điểm i, Khoản 1, Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, các bản vẽ này là các tác phẩm kiến trúc, thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Do vậy, Tòa án xác định đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của quyền tác giả. 3 Quan điểm của tác giả bình luận có cho rằng đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của quyền tác giả không? Lập luận của tác giả như thế nào về vấn đề này? Quan điểm của tác giả bình luận cho rằng đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của quyền tác giả. Theo quy định tại Điều 17, NĐ 1002006NĐCP( đã được sửa đổi bởi NĐ85 01 NĐCP ), tác phẩm kiến trúc có 2 đặc trưng sau: Tác phẩm kiến trúc được thể hiện dưới hình thức bản vẽ thiết kế. Nội dung thiết kế là ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian (quy hoạch xây dựng) đã hoặc chưa xây dựng. Trong bản án trên, các bản vẽ đều là bản vẽ thiết kế nên đáp ứng được điều kiện thứ nhất. Đối tượng của các bản vẽ thiết kế này bao gồm: Nhà ngũ gian tứ hạ, Nhà vọng nguyệt lục giác, Cổng tam quan cổ lầu, Khu nhà rường Việt Nam. Nếu các công trình này có tính chất đúng như tên gọi thì được xem là “công trình xây dựng” và đáp ứng điều kiện thứ hai. Từ những lập luận trên, tác giả bình luận cho rằng đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của quyền tác giả dưới dạng tác phẩm kiến trúc. 2. Phân tích đặc điểm tính lãnh thổ của quyền Sở hữu trí tuệ? Quyền sở hữu trí tuệ là “quyền có tính lãnh thổ”, nghĩa là chúng thường chỉ được bảo hộ trong lãnh thổ một nước (ví dụ, nước Việt Nam) hoặc trong lãnh thổ một khu vực (ví dụ, trong lãnh thổ các nước thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ châu Phi (OAPI)) nơi đăng ký và nhận được sự bảo hộ. Vì vậy, một công ty đã nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp hợp pháp ở thị trường nội địa và đã được cấp các quyền thì không có nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ đó chỉ được bảo hộ tại quốc gia đã đăng ký mà không mang lại sự bảo hộ ở thị trường khác, trừ khi các quyền đó đã được đăng ký và được cấp bởi cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia (hoặc khu vực) của thị trường khác có liên quan.
Trang 1Buổi thảo luận SHTT
A LÝ THUYẾT
1 Vì sao cần phải bảo hộ tài sản trí tuẹ? Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng gì
so với các tài sản hữu hình?
a Vì sao cần phải bảo hộ tài sản trí tuệ:
Những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thường diễn ra trong phạm vi một quốcgia và trên phạm vi toàn thế giới bởi tính hữu ích của các sản phẩm trí tuệ có sự lan tỏarất rộng Các sản phẩm trí tuệ do đặc điểm vô hình cho nên việc quản lý rất phức tạptrong phạm vi của một quốc gia và trên thế giới Nhằm có sự thống nhất trong việc quản
lý, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể có quyền đối với các sản phẩm sáng tạo trítuệ, sử dụng sản phẩm trí tuệ nhằm tạo ra hàng hóa và đáp ứng nhu cầu về tinh thần củacon người, cho nên cần thiết phải có sự kết hợp và thống nhất trong việc bảo hộ quyền sởhữu đối với các sản phẩm sáng tạo trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới Cụ thể:
- Đối với chủ thể nắm quyền sở hữu: việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích sựsáng tạo, thúc đẩy những nỗ lực, cống hiến của họ vào các hoạt động nghiên cứu khoahọc, cải tiến kỹ thuật, tạo ra những sản phẩm tốt Việc bảo vệ quyền còn giúp chủ sở hữuthu được nguồn tài chính đáng kể, đó sẽ là thu nhập cho chính họ
- Đối với chủ thể sản xuất kinh doanh thì việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp phần vàogiảm thiểu tổn thất và thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh hợp pháp Nếu không bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ thì trên thị trường sẽ tràn lan những sản phẩm giả, kém chấtlượng, ảnh hưởng nghiêm trọng về cả uy tín và doanh thu cho các chủ thể đang sản xuất,kinh doanh những mặt hàng có chất lượng, có sự đầu tư trí tuệ vào sản phẩm
- Đối với người tiêu dùng thì việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ giúp cho họ có cơ hội lựachọn và được sử dụng các hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của họ
- Đối với sự phát triển của quốc gia thì việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả sẽ tạođược môi trường cạnh tranh lành mạnh, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hútchuyển giao công nghệ và đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh toàn cấu hóa hiện nay, với
Trang 2sự luân chuyển mạnh mẽ, liên tục của tài sản hữu hình cũng như tài sản vô hình giữa cácquốc gia, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn có ý nghĩa về chính trị Nếu muốn gia nhập làm thànhviên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì điều kiện tiên quyết đối với các quốc gia
là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Như vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quantrọng trong việc hội nhập kinh tế nước ta với thế giới
Ngoài ra, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại lànhmạnh trên phạm vi toàn cầu
b Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng gì so với các tài sản hữu hình
Tiêu chí Quyền sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu tài sản hữu
hìnhKhái
niệm
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với
kết quả của hoạt động sáng tạo của con người
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả đối
với các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học
kĩ thuật; quyền đối với các đối tượng sở hữu
công nghiệp (Quyển tác giả; Quyền hữu công
nghiệp)
Quyền sỡ hữu tài sản hữuhình là quyền sở hữu nhữngvật chất được sở hữu hoặc
có thể sở hữu được Mà để
có thể sở hữu, vật với tínhcách là tài sản phải nằmtrong sự chiếm hữu của conngười, có đặc trưng giá trị
và trở thành đối tượng giaolưu của dân sự
Trang 3tượng
Tài sản vô hình là kết quả của quá trình tư duy
sáng tạo trong bộ não con người được biểu
hiện dưới nhiều hình thức Là những tài sản
không nhìn thấy được, nhưng trị giá được tính
bằng tiền và có thể trao đổi Ví dụ: tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu
diễn…
Tài sản hữu hình đượcqui định tại Điều 163BLDS 2005 (Điều 105BLDS 2015) bao gồm vật,tiền, giấy tờ có giá và cácquyền tài sản
Hình thái Thể hiện dưới dạng quyền tài sản và quyền
nhân thân
Thể hiện dưới dạng hìnhthái vật chất nhất định
Bảo hộ
tài sản sở
hữu
- Phạm vi: có giới hạn nhất định Chỉ được bảo
hộ trong phạm vi một quốc gia, khi có tham gia
Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ thì lúc đó
phạm vi bảo hộ được mở rộng ra các quốc gia
thành viên
Ví dụ: bạn đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì
trong phạm vi quốc gia này, không ai được
xâm phạm đến quyền sở hữu của bạn đối với
tài sản đó Tuy Bảo hộ một cách tuyệt đối
tuy nhiên quyền này không hề có giá trị tại
quốc gia B (hay C) khác, trừ khi các quốc gia
này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Thời gian: Pháp luật có đặt ra thời hạn bảo
hộ Trong thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
là bất khả xâm phạm Hết thời hạn bảo hộ này
(bao gồm cả thời hạn gia hạn nếu có), tài sản
đó trở thành tài sản chung của nhân loại, có thể
được phổ biến một cách tự do mà không cần
Bảo hộ quyền sở hữu tàisản hữu hình pháp luậtkhông đặt ra thời hạn bảo
hộ cho những tài sản này,tài sản hữu hình có thời hạnbảo hộ tuyệt đối
Trang 4bất kỳ sự cho phép nào của chủ sở hữu
Ví dụ: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 của Việt Nam
quy định:
+ Quyền tác giả: Tác phẩm điện ảnh, nhiếp
ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm quyết danh
có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác
phẩm được công bố đầu tiên
- Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm
được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình
thức vật chất nhất định, không phân biệt nội
dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn
ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký
hay chưa đăng ký (Khoản 1 Điều 6 Luật
SHTT 2005)
- Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà
không gây phương hại đến quyền tác giả
(Khoản 2 Điều 6 Luật SHTT 2005)
- Quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 3 Điều 6
Luật SHTT 2005)
- Quyền đối với gioóng cây trông (Khoản 4
- Do lao động, do hoạt độngsản xuất, kinh doanh hợppháp, do hoạt động sáng tạo
ra đối tượng quyền sở hữutrí tuệ
- Được chuyển quyền sởhữu theo thỏa thuận hoặctheo bản án, quyết định củaTòa án, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác
- Tạo thành tài sản mới dosáp nhập, trộn lẫn, chế biếnCác trường hợp chiếm hữutheo quy định của pháp luậttheo Điều 221 BLDS 2015
- Việc định đoạt tài sản hữu
Trang 5Điều 6 Luật SHTT 2005).
Quyền sở hữu Quyền sở hữu chỉ đề cao
quyền sử dụng, định đoạt Vì bản chất là tài
sản vô hình, chúng ta không thể cầm nắm được
tài sản nên quyền chiếm hữu ít được đề cập tới
hình cần kèm theo với sựchiếm hữu
Ví dụ: Tiêu dùng hết tài sản
sẽ làm chấm dứt quyền sởhữu đối với tài sản đó Khibán một tài sản sẽ làm chấmdứt quyền sở hữu của người
đã bán nhưng lại làm phátsinh quyền sở hữu về tài sản
đó đến với người mua.Đăng ký
bảo hộ
Các quyền thuộc quyền sở hữu trí tuệ gồm
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,
quyền đối với giống cây trồng Có quyền phải
đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền mới phát sinh quyền được bảo hộ Tuy
nhiên, quyền tác giả thì phát sinh mà
không cần đăng ký (Điều 49, 86, 87, 88, 164
LSHTT)
Đăng ký quyền sở hữu đốivới tài sản là bất động sản,nếu là động sản không cầnđăng ký trừ trường hợppháp luật về đăng ký tài sản
có quy định khác.(Điều 106BLDS 2015)
Định giá Tài sản vô hình gặp khó khăn trong việc xác
định giá trị
Tài sản hữu hình dễ dàngxác định giá trị
2 Phân tích đặc điểm tính lãnh thổ của quyền Sở hữu trí tuệ?
Quyền sở hữu trí tuệ là “quyền có tính lãnh thổ”, nghĩa là chúng thường chỉ được bảo hộtrong lãnh thổ một nước (ví dụ, nước Việt Nam) hoặc trong lãnh thổ một khu vực (ví dụ,trong lãnh thổ các nước thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ châu Phi (OAPI)) nơi đăng
ký và nhận được sự bảo hộ Vì vậy, một công ty đã nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế,nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp hợp pháp ở thị trường nội địa và đã được cấp cácquyền thì không có nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ đó chỉ được bảo hộ tại quốc gia đã đăng
Trang 6ký mà không mang lại sự bảo hộ ở thị trường khác, trừ khi các quyền đó đã được đăng ký
và được cấp bởi cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia (hoặc khu vực) của thị trường khác cóliên quan
Đối tượng quyền SHTT được bảo hộ theo pháp luật trong phạm vi của quốc gia mà nóđăng ký hoặc được thừa nhận Nếu một chủ thể quyền đăng ký bảo hộ quyền SHTT tạiViệt Nam thì văn bằng bảo hộ đó có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam Nếu một đốitượng quyền SHTT muốn được bảo hộ theo pháp luật của quốc gia hoặc nhóm quốc gia(Liên minh Châu Âu) nào thì chủ sở hữu quyền phải đăng ký bảo hộ ở quốc gia hoặcnhóm quốc gia đó Tùy vào đối tượng của quyền SHTT muốn được bảo hộ mà thủ tụcđăng ký bảo hộ cũng như cơ quan đăng ký bảo hộ sẽ khác nhau
Một đối tượng quyền SHTT đã đăng ký bảo hộ nước này không đồng nghĩa sẽ được bảo
hộ ở nước khác nếu như đối tượng đó không được đăng ký hoặc thừa nhận ở quốc giakia Chẳng hạn như trường hợp một nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ ở Việt Nam sẽ khôngđồng nghĩa với việc nhãn hiệu đó sẽ được bảo hộ tại Hoa Kỳ nếu nhãn hiệu đó chưa đượcđăng ký bảo hộ ở Hoa Kỳ
Trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc các nhãn hiệu của Việt Nam không được đăng ký ởcác thị trường nước ngoài và để tiến hành các biện pháp pháp lý nhằm đòi lại nhãn hiệuthuộc về mình, các cá nhân, tổ chức Việt Nam phải tốn rất nhiều chi phí, công sức, thậmchí trong một số trường hợp không thể đòi lại được Tương tự, có nhiều vụ việc các cánhân, tổ chức ở Việt Nam đăng ký nhãn hiệu giống hoặc tương tự với nhãn hiệu của cácchủ sở hữu nước ngoài và đối mặt với các tranh chấp pháp lý tại tòa Do cố tình sử dụngnhãn hiệu tương tự dễ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của các cá nhân, tổ chức nước ngoàinên theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền các cá nhân, tổ chức ở ViệtNam buộc phải chấm dứt hành vi sử dụng nhãn hiệu đó
Ví dụ: Vụ việc của Cà phê Trung Nguyên là một điển hình Tháng 7/2000, Công tyTrung Nguyên tiếp xúc với Rice Field với mục đích đưa sản phẩm sang thị trường Mỹ Tuy nhiên, khi hai bên còn đang thương thảo, chưa đi đến ký thỏa thuận hợp đồng thìphía đối tác đã đăng ký bảo hộ thương hiệu Cafe Trung Nguyên với các cơ quan chức
Trang 7năng Mỹ và Tổ chức bảo hộ Trí tuệ Thế giới (WIPO) Đứng trước nguy cơ mất thươnghiệu tại thị trường Mỹ, một mặt Cafe Trung Nguyên nộp đơn đăng ký bảo hộ với các cơquan chức năng Hoa Kỳ, với WIPO; mặt khác tiến hành thương thảo, đàm phán với RiceField Kết quả là, WIPO đã không chấp nhận bảo hộ cho Rice Field, còn công ty nàycùng đành lùi bước.
3 Phân tích mối quan hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả
Để phân tích mối quan hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan, trước hết cần xem xétđịnh nghĩa của quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả
Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 đang định nghĩa quyềntác giả như sau:
“2 Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo
ra hoặc sở hữu.”
Định nghĩa về quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là tắt là quyền liên quan)hiện đang được định nghĩa tại khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi 2009 nhưsau:
“3 Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi tắt là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sáng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”
Quyền tác giả, quyền liên quan với tư cách là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ đã vàđang đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia cũngnhư quá trình hội nhập quốc tế
Để có được quyền liên quan, những chủ thể như: người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình… phải biểu diễn, thể hiện, tổ chức, phát sóng dựa trên tác phẩm gốc của chủ
sở hữu quyền tác giả Tức là người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, ngườiphát sóng đóng vai trò trung gian, truyền đạt nội dung, thông tin, giá trị của tác phẩm gốcđến với công chúng Đó cũng chính là lý do tại sao quyền trung gian này được gọi tên là:quyền liên quan đến quyền tác giả
Trang 8Như vậy, một tác phẩm được ra đời, được thể hiện dưới một hình thức nhất định, đượccông bố nhưng chưa chắc cộng đồng có thể đón nhận và tiếp thu hết giá trị, thông tin màtác phẩm đó mang lại Thông qua những chủ thể trung gian của quyền liên quan, tácphẩm đó có thể dễ dàng đi vào lòng người hơn, được công chúng đánh giá cao hơn bởikhả năng truyền đạt hấp dẫn, kỹ xảo của người biểu diễn, tổ chức phát sóng, ghi âm, ghihình… Ví dụ, một nhạc sĩ sáng tác một ca khúc về tình yêu, nhờ vào giọng hát truyềncảm và đầy nội lực của một ca sĩ khiến âm hưởng bài hát dễ đi vào lòng người và nêu bậtđược tình cảm của tác giả qua ca khúc.
Quyền liên quan đến quyền tác giả chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hạiđến quyền tác giả Quyền liên quan này tồn tại song song và gắn liền với tác phẩm, chỉkhi tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả cho phép khai thác và sử dụng tác phẩm thìnhững chủ thể của quyền liên quan mới có thể thực hiện để tạo ra sản phẩm Và cũngtương tự như quyền tác giả, những chủ thể của quyền liên quan cũng được bảo vệ quyềnnhân thân, quyền tài sản đối với sản phẩm của mình
Có thể khẳng định quyền liên quan giữ vai trò quan trọng giúp cho công chúng tiếp cậnđược tác phẩm, thu hút được nhiều người biết đến tác phẩm, nâng cao giá trị tác phẩm
4 Tìm ít nhất 3 tranh chấp về quyền tác giả, nhãn hiệu, sáng chế?
+ Vụ tranh chấp giữa họa sỹ Lê Phong Linh và Công ty Phan Thị về Bộ truyện tranh nổitiếng “Thần đồng đất Việt”
+ Tranh chấp nhãn hiệu “AQUAFINA” và “AQUAVISA”; nhãn hiệu “Asano” và nhãnhiệu “Asanzo”
+ Vụ tranh chấp quyền sáng chế đối với hoạt chất Sitagliptin giưac Công ty Merck Sharp
& Dohme và công ty Dược phẩm Đạt Vi Phú
5 Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”) là gì? Tìm hiểu quy định của pháp luật nước ngoài về vấn đề này và so sánh với các quy định hiện hành của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Trang 9* Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”) là tình huống sử dụng các đối tượngquyền sởhữu trí tuệ không xâm phạm quyền tác giả hoặc đôi khi còn được gọi là sử dụnghợp lý(fair use) mang bản chất là giới hạn phạm vi độc quyền đối với chủ sở hữu quyềntác giả.Tuy nhiên, việc sử dụng này phải đảm bảo rằng người thực hiện hành vi sử dụngđókhông được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gâyphươnghại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về têntác giả vànguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm
*Quy định của pháp luật nước ngoài:
- Pháp luật Hoa Kỳ: Quy định tại Điều 107 Luật Quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
về Hạn chếđối với các quyền độc quyền - sử dụng hợp lý:
“Không trái với các quy định tại Điều 106 và 106A, sử dụng được phép một tácphẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thứcsao chép dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kỳ một phương thức nào đượcquy định trong Điều này cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (baohàm cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập là không
vi phạmquyền tác giả Để xác định xem liệu việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp cụ thểcó phải là sử dụng được phép hay không cần xem xét các nhân tố sau: (1) Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, bao gồm việc sử dụng đó có tính chất thươngmại không hay là chỉ nhằm mục đích giáo dục phi lợi nhuận;
(2) Bản chất của tác phẩm được bảo hộ;
(3) Số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm được bảo hộ như làmột tổng thể; và
(4) Vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giátrị của tác phẩm được bảo hộ;
Ghi nhận là một tác phẩm chưa công bố về bản chất không ngăn cản việc tìm kiếm
để sửdụng hợp lý nếu việc tìm kiếm này được thực hiện dựa trên việc xem xét tất cả các nhântố kể trên”
Trang 10.- Pháp luật Thuỵ Điển cụ thể là Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệthuật năm
1960 sửa đổi, bổ sung năm 2000 tại Chương 2 “Giới hạn quyền tác giả” cụ thểlà cáctrường hợp: Sao chép nhằm mục đích sử dụng cá nhân (Điều 12), Sao chép tronghoạtđộng giáo dục (Điều 13 và Điều 14), Sao chép phục vụ các hoạt động trong bệnhviện(Điều 15), Sao chép trong cơ quan lưu trữ và thư viện (Điều 16), Sao chép dànhchonhững người khiếm thị (Điều 17), Tác phẩm hỗn hợp sử dụng trong hoạt động giảngdạy(Điều 18), Phân phối bản sao (Điều 19), Trưng bày bản sao (Điều 20), Biểu diễncôngcộng (Điều 21),…
- Pháp luật Việt Nam:
Tại Khoản 1 Điều 25 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định về cáctrườnghợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuậnbút, thùlao, cụ thể là các trường hợp từ Điểm a đến Điểm k
Tuy nhiên tại Khoản 1 Điều 25 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2022 quyđịnh vềcác trường hợp ngoại lệ không xâm phạm đến quyền tác giả đã có sự thay đổi, bổsungthêm từ Điểm a đến Điểm m Khoản 1 Điều này và việc sử dụng này không đượcmâuthuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bấthợp lýđến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Đồng thời tên của Điều25cũng được thay đổi
Nhìn chung, vấn đề về “sử dụng hợp lý” đều được pháp luật các nước ghi nhậntrong vănbản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ của quốc gia mình Tuy nhiên, ở mỗiquốc giakhác nhau thì cũng có những cách quy định khác nhau nhất định Pháp luật củaHoa Kỳkhông sử dụng cách liệt kê các trường hợp được xem là giới hạn quyền tác giảnhư quyđịnh của Thuỵ Điển và Việt Nam mà quy định một cách khái quát, nêu ra cácđiều kiện đểxét xem một trường hợp có “sử dụng hợp lý” hay không Cách quy định nàymang tínhphổ quát, trong mọi trường hợp chỉ cần xét các điều kiện để tránh bỏ sót cáctrường hợptrên thực tế mà luật chưa đề cập Còn đối với việc liệt kê các trường hợp như Thuỵ Điển
và Việt Nam, các trường hợp “sử dụng hợp lý” của Việt Nam quy định khágiống với cáctrường hợp “sử dụng hợp lý” của Thuỵ Điển
Trang 11Tuy nhiên, trong khi quy định của Thuỵ Điển dành một chương để đề cập về vấnđề này,mỗi điều luật quy định mỗi trường hợp một cách cụ thể, rõ ràng thì quy định củaViệtNam chỉ dành một điều luật để đề cập về vấn đề này Bên cạnh đó, Luật SHTT 2005 sửađổi, bổ sung 2022 đã bổ sung thêm một số hành vi sao cho phù hợp, tiếp cận với xãhội,thực tế Tuy nhiên, các quy định của Việt Nam về các trường hợp “sử dụng hợp lý”chỉđơn thuần là liệt kê nên có thể không bao quát được hết các hành vi diễn ra thực tế.
Tóm lại, pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam khi đề cập vấn đề “sửdụng hợplý” còn hạn chế, chưa có khái niệm bao quát để điều chỉnh so với pháp luật củamột sốnước về vấn đề này
6 Có mấy hình thức chuyển giao quyền tác giả? Phân biệt các hình thức này.
Theo quy định tại Điều 45, 47 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chuyển giao quyền tác giả có 02hình thức là chuyển nhượng quyền tác giả và chuyển quyền sử dụng quyền tác giả
Tiêu chí Chuyển nhượng quyền tác giả Chuyển quyền sử dụng quyền tác
Định nghĩa Chuyển nhượng quyền tác giả,
quyền liên quan là việc chủ sở hữuquyền tác giả, chủ sở hữu quyền liênquan chuyển giao quyền sở hữu cho
tổ chức, cá nhân khác theo hợpđồng; hoặc theo quy định của phápluật có liên quan
Chuyển quyền sử dụngquyền tácgiả, quyền liên quan
là việc chủsở hữu quyền tácgiả, chủ sở hữuquyền liên quancho phép tổ chức, cánhân khác
sử dụng có thời hạn một,một sốhoặc toàn bộ các quyền quyđịnhtại khoản 3 Điều 19, Điều20,khoản 3 Điều 29, Điều 30 vàĐiều 31của Luật này
Đặc điểm Chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu
đối với quyền nhân thân và quyền tài
Chuyển giao một hoặc một sốquyền nhân thân, quyền tài sản
Trang 12sản cho bên được chuyển nhượng cho bên sử dụng được sử dụng
trong thời gian nhất định
Hệ quả Kể từ thời điểm chuyển giao,
bênchuyển nhượng sẽ chấm dứt tưcáchchủ sở hữu đối với cácquyềnđã chuyển giao Sau khichuyển nhượng, bên chuyển nhượngkhông cóquyền sử dụng cũng nhưđịnh đoạt các quyền năng đó
Quyền nhân thân và quyền tàisản của chủ sở hữu quyền tácgiả, quyền liên quan chỉ đượcpháp luật bảo hộ trong thời hạn
và trong phạm vi khônggian nhất định
âm, ghi hình,chương trình phát sóng
có các phầnriêng biệtcó thể tách ra
sử dụng độclập thì chủsở hữu quyềntác giả, chủsở hữu quyền liên quan
có thể chuyểnnhượng quyền tác giả,quyền liên quanđối với phần riêngbiệt của mìnhcho tổ chức, cánhân khác
Phải có sự thỏa thuận của tất cảcácđồng chủ sở hữu; trongtrường hợpcó đồng chủ sở hữunhưng tác phẩm,cuộc biểudiễn, bản ghi âm,ghihình, chương trình phát sóngcócác phần riêng biệt có thể táchrasử dụng độc lập thì chủ sở hữuquyềntác giả, chủ sở hữu quyềnliên quancó thể chuyển quyền sửdụng quyềntác giả, quyền liênquan đối với phầnriêng biệt củamình cho tổ chức, cá nhân khác.Ngoaị lệ Không có trường hợp ngoại lệ Tổ chức, cá nhân được chuyển
quyềnsử dụng quyền tác giả,quyền liênquan có thể chuyển
Trang 13quyền sử dụngcho tổ chức, cánhân khác nếu đượcsự đồng ýcủachủ sở hữu quyền tác
giả, chủ sở hữu quyền liên quanHợp đồng Điều 46 Luật Sở hữu trí tuệ Đây
được xác định là loại hợp đồngchuyển giao quyền sở hữu
Điều 48 Luật Sở hữu trí tuệ quyđịnh trong đó tại điểm c khoản 1Điều 48 yêu cầu các bên quyđịnh rõ về phạm vi chuyển quyền
sử dụng tác giả Đây được xácđịnh là loại hợp đồng chuyểngiao quyền sử dụng
7 Nhận định ĐÚNG/SAI, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn
a) Giải pháp kỹ thuật có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khar năng áp dụng công nghiệp thì sẽ được cấp Bằng độc quuyền sáng chế khi có đơn yêu cầu được nộp.
NHẬN ĐỊNH SAI
Theo khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dướidạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác đinh nào đó bằng việc ápdụng các quy luật tự nhiên Theo đó, sáng chế là giải pháp kỹ thuật nhưng không phảihầuhết mọi giải pháp kỹ thuật đều trở thành sáng chế Để giải pháp kỹ thuật được bảohộdưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế thì giải pháp kỹ thuật đó phải được xemlàsáng chế, đáp ứng đủ các điều kiện tại khoản 1 Điều 58 Luật SHTT hiện hành, thuộcđốitượng có quyền đăng ký sáng chế theo Điều 86 Luật SHTT hiện hành và không thuộccácđối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế tại Điều 59 Luật SHTThiệnhành.Mặt khác, theo Điều 90 Luật SHTT hiện hành quy định về nguyên tắc ưu tiênthìtrong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương nhauthìvăn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc
Trang 14ngàynộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằngbảo hộ.
b) Bằng độc quyền sáng chế được gia hạn hiệu lực khi chủ văn bằng nộp lệ phí gia hạn hiệu lực.
NHẬN ĐỊNH SAI
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 93, khoản 1 Điều 94 Luật SHTT hiện hành.Bằng độc quyềnsáng chế có hiệu lực từ này được cấp và kéo dài trong hai mươi năm kểtừ ngày nộp đơn,đồng thời, luật chỉ cho phép duy trì hiệu lực chứ không gia hạn thêmhiệu lực đối vớibằng độc quyền sáng chế Do đó, bằng độc quyền sáng chế được duy trìhiệu lực khi chủvăn bằng nộp phí, lệ phí để duy trì hiệu lực
c) Đơn đăng ký sáng chế không được thẩm định nội dung đơn nếu không có yêu cầu
từ người nộp đơn
NHẬN ĐỊNH SAI
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 113 Luật SHTT hiện hành, Điều 25 Thôngtư01/2007/TT-BKHCN thì người nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc bất kỳ người thứ banàođều có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp (Cục Sởhữutrí tuệ) thẩm định nội dung đơn Do đó, khi không có yêu cầu thẩm định nội dung đơncủa người nộp đơn thì đơn đăng ký sáng chế vẫn được thẩm định nội dung đơn nếu cóyêu cầu của bất kỳ người thứ ba nào
d) Tính mới của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ là tính mới tuyệt đối
NHẬN ĐỊNH SAI
Theo Khoản 1 Điều 65 Luật SHTT hiện hành, kiểu dáng công nghiệp được coi là cótínhmới nếu có khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ côngkhaitrước đây Đồng thời tại Khoản 4 Điều 65 Luật SHTT hiện hành cũng có quy địnhkiểudáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trườnghợpsau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn 6tháng kể từ ngày công bố:
Trang 15- Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng khôngđược phép của người cóquyền đăng ký;
- Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký côngbố dưới dạng báo cáokhoa học;
- Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký trưngbày tại cuộc triển lãmquốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triểnlãm quốc tế chính thức hoặc được thừanhận là chính thức
Như vậy, tính mới của kiểu dáng công nghiệp chỉ mang tính tương đối chứ khôngphảituyệt đối
8 Phân tích nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc về quyền ưu tiên Các nguyên tắc này được áp dụng cho những đối tượng nào?
- Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được quy định tại Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửađổi, bổ sung năm 2022
Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được hiểu là trong trường hợp có nhiều người nộpđơn đăng
ký bảo hộ một sản phẩm nào đó, mà sản phẩm đó trùng hoặc không khác biệtđáng kể vớinhau, vào những thời điểm khác nhau, nếu các sản phẩm này đáp ứng đượcđiều kiện bảo
hộ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cấp văn bằng bảo hộ cho đơnhợp lệ có ngàynộp sớm nhất trong các đơn đã nộp Nếu trong trường hợp cùng ngày ưu tiên hoặc cùngngày nộp đơn sớm nhất, có nhiều đơn đăng ký cùng đáp ứng các điều kiện để được cấpvăn bằng bảo hộ thì văn bằngbảo hộ chỉ được cấp cho 01 đơn duy nhất theo sự thỏa thuậncủa tất cả những người nộpđơn Những người nộp đơn phải tiến hành bàn bạc với nhau
để cùng thống nhất quyếtđịnh chọn một trong số các đơn đó cho cơ quan có thẩm quyềnxem xét Nếu không thểthỏa thuận được giữa các bên thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấpvăn bằng bảo hộ
Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên có thể làm căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp củangười nộp đơn đầu tiên nếu như có tranh chấp xảy ra Trong trường hợp đó, cơquan cóthẩm quyền sẽ xem xét xem ngày đầu tiên của sản phẩm được bảo hộ là do aiđăng ký, từ
đó có những quyết định hợp lý và ưu tiên theo nguyên tắc này Chính vì có sự ưu tiên
Trang 16trong việc cấp văn bằng bảo hộ như vậy, mà việc đăng ký bảo hộ đối với các sảnphẩmcủa cá nhân, tổ chức phải hết sức nhanh chóng và không được quyền chậm trễtrong việcnộp đơn.
Nguyên tắc trên có thể được coi là một công cụ tạo nên sự thúc đẩyviệc nộp đơn diễn ranhanh chóng và hiệu quả; đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, sángtạo trong lĩnh vực mỹthuật ứng dụng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đăngký đầu tiên.Trong đăng
ký bảo hộ sáng chế: trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khácnhau đăng ký bảo hộcùng một sáng chế thì pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc “nộpđơn đầu tiên”, theo
đó văn bằng bảo hộ sáng chế chỉ có thể cấp cho đơn hợp lệ có ngàyưu tiên hoặc có ngàynộp đơn sớm nhất trong số các điều kiện để được cấp bằng bảo hộ.Nếu nhiều đơn đủ điềukiện thì sẽ được cấp bằng theo sự thỏa thuận của những người nộpđơn, nếu không thỏathuận được thì đều bị từ chối
Trong đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp: trường hợp có từ hai đơn trở lên yêucầucấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho cùng một kiểu dáng công nghiệp, nếuđủđiều kiện thì đơn nào nộp sớm nhất sẽ được cấp bằng bảo hộ Nguyên tắc nộp đơnđầutiên không cho phép những người có kiểu dáng công nghiệp được quyền chậm trễtrongviệc nộp đơn đăng ký
Trong đăng ký bảo hộ nhãn hiệu: trường hợp nhiều đơn có nhãn hiệu tương tựhoặc cókhả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì cơ quan đăng ký sẽ cấp bằng bảohộ chongười nộp đơn đầu tiên
- Nguyên tắc về quyền ưu tiên được quy định tại Điều 91 Luật SHTT 2005 sửađổi, bổsung 2022Quyền ưu tiên này sẽ được áp dụng khi có ít nhất hai đơn cùng đăng ký để bảohộcho cùng một sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu
Theo đó, yêu cầu hưởngquyền ưu tiên của người nộp đơn sẽ được chấp nhận nếu đáp ứngcác điều kiện sau:
- Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên của điều ướcquốc tế
có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng làthành viênhoặc có thỏa thuận áp dụng quy định như vậy với Việt Nam;
Trang 17-Người nộp đơn là công dân Việt Nam, công dân của nước khác quy định tại điểmakhoản này cư trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước kháclàthành viên của điều ước này hoặc có thỏa thuận áp dụng quy định như vậy với ViệtNam.
- Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơnđầu tiên
có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;
- Đơn được nộp trong thời hạn ấn định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hộichủ nghĩaViệt Nam là thành viên.Nguyên tắc quyền ưu tiên được áp dụng cho nhóm đối tượng làsáng chế, kiểudáng công nghiệp, nhãn hiệu
9 Vẽ sơ đồ tóm tắt các bước trong quy trình tiếp nhận đơn, xử lý đơn và cấp Bằng độcquyền sáng chế
Nộp đơn(Điều 100 Luật SHTT)
Tiếp nhận đơn(Điều 108 Luật SHTT)
Thẩm định hình thức đơn(Điều 109 Luật SHTT)
Trang 18Thông báo chấpnhận đơn hợp lệ
Không sữa chữaSữa chữa không đạtyêu cầu
Không phản đốixác đáng
Thông báo
dự định từchối chấpnhận đơn
Sữa chữa đạtyêu cầu
Có ý kiếnphản đối xácđáng
Công bố đơn(Điều 110 LuậtSHTT)
Thông báo từ chốichấp nhận đơn
Thông báochấp nhậnđơn
Yêu cầu thẩm định nội dung
Không có yêu cầu
thẩm định nội dung
Có yêu cầu thẩmđịnh nội dung
Đơn coi như đã
Không đáp ứng điều
kiện bảo hộ
Đáp ứng điều kiệnbảo hộ
Cấp bằng Độcquyền sáng chế
Từ chối cấp Bằng
Trang 1910 Nhận định ĐÚNG/SAI, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn
a) Khi thiết kế nhãn hiệu cho hàng hóa, dịch vụ, các doanh nghiệp phải thiết kế kết hợp dấu hiệu chữ và hình ảnh
NHẬN ĐỊNH SAI
Cơ sở pháp lý: Khoản 16 Điều 4, Điều 72 Luật SHTT hiện hành
Theo đó, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổchức, cánhân khác nhau Luật SHTT có quy định về các điều kiện bảo hộ đối với nhãnhiệu “Làdấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình bachiều hoặc
sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu” và “Cókhả năng phânbiệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụcủa chủ thể khác.”.Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 72 Luật SHHT sửa đổi bổ sung 2022 cóbổ sung thêm “dấuhiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa” Do đó, khi thiết khi thiết kế nhãn hiệucho hàng hoá, dịch vụ, các doanh nghiệp cóthể thiết kế nhãn hiệu mang dấu hiệu hìnhảnh hoặc mang dấu hiệu từ ngữ mà không nhấtthiết bắt buộc phải thiết kế kết hợp cả dấuhiệu chữ và hình ảnh
b) Tổ chức nước ngoài nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ.
NHẬN ĐỊNH SAI
Khoản 2 Điều 89 Luật SHTT hiện hành quy định “Tổ chức nước ngoài không cócơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam thì nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu côngnghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam” Do đó, trong trường hợp tổ chứcnước ngoài
không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam thì không nộp đơn đăng kýbảo hộ nhãnhiệu trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ mà thông qua đại diện hợp pháp tại ViệtNam
c) Doanh nghiệp bị từ chối bảo hộ nhãn hiệu sẽ chấm dứt khi chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh
NHẬN ĐỊNH SAI
Trang 20Theo điểm i Khoản 1 Điều 3 Nghị định 103/2006/NĐ-CP thì Bộ Khoa học Côngnghệ cóthẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với trường hợp thông báo từ chối bảo hộnhãn hiệu bịkhiếu nại, còn Cục Sở hữu trí tuệ không có thẩm quyền này Ngoài ra, tại
Khoản 1 Điều 119a Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022 cũng quy định cụ thểtrườnghợp tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định hoặcthông báoliên quan đến việc xử lý đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp thì cóquyềnkhiếu nại với cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hoặc khởikiện tạiTòa án Dẫn chiếu đến điểm i Khoản 1 Điều 3 Nghị định 103/2006/NĐ-CP thì cơquanquản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ở đây là Bộ Khoa học Công nghệ
d) Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ chấm dứt khi chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh
NHẬN ĐỊNH SAI
Cơ sở pháp lý: điểm c khoản 1 Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành
Trong trường hợp chủ giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt độngkinhdoanh nhưng có người thừa kế hợp pháp thì văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ không bịchấmdứt hiệu lực Ngoài ra, tại điểm c khoản 1 Điều 95 Luật SHTT sửa đổi bổ sung năm
2022 cũng quy định trường hợp chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạtđộngkinh động nhưng có người thừa kế thì văn bằng bảo hộ nhãn hiệu cũng sẽ không bịchấmdứt toàn bộ hoặc một phần hiệu lực
11 Trình bày điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cánhân khácnhau theo khoản 16 Điều 4 Luật SHTT hiện hành
Căn cứ Điều 72 Luật SHTT hiện hành thì nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng cácđiềukiện sau đây:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cảhình bachiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
Trang 21- Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa,dịch
vụ của chủ thể khác
Thứ nhất, nhãn hiệu trước tiên phải là dấu hiệu.
Các dấu hiệu dùng để làm nhãn hiệu là những dấu hiệu có thể nhìn thấy được, nhậnbiếtđược bằng thị giác Dấu hiệu nhìn thấy được có thể đăng ký làm nhãn hiệu gồm:
- Từ ngữ bao gồm tên của công ty, doanh nghiệp, họ tên của cá nhân, tên địa lý,khẩu hiệuhay một từ, cụm từ bất kỳ nào không cần có ý nghĩa, chỉ cần có khả năng phá tâm
- Dấu hiệu ba chiều
Như vậy, Luật SHTT hiện hành chưa bảo hộ các dấu hiệu là âm thanh, mùi vị hoặccácdấu hiệu không nhìn thấy được bằng mắt thường Tuy nhiên, đến Luật SHTT sửa đổibổ
sung năm 2022 đã có sự bổ sung vượt bậc khi có quy định thêm “dấu hiệu âm thanhthể hiện dưới dạng đồ họa”.
Thứ hai, các dấu hiệu phải có khả năng phân biệt
Tại khoản 1 Điều 74 LuậtSHTT hiện hành quy định rằng nhãn hiệu được coi là có khảnăng tự phân biệt nếu đượctạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớhoặc từ nhiều yếu tố kết hợpthành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộccác trường hợp nhãn hiệuchứa đựng các dấu hiệu không có khả năng phân biệt tại khoản
2 Điều 74 Luật SHTThiện hành Tiếp cận Luật SHTT sửa đổi bổ sung năm 2022 thì cáctrường hợp tại khoản 2Điều 74 của Luật này đã bổ sung thêm điểm o và điểm p
Thứ ba, các dấu hiệu này không thuộc trường hợp các dấu hiệu không được bảohộ là nhãn hiệu quy định tại Điều 73 Luật SHTT nhằm bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệcác quy chuẩn đạo đức xã hội.
Trang 22- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy,quốc
ca của các nước Ví dụ: Quốc kỳ Việt Nam…
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huyhiệu, tênviết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội, tổchức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghềnghiệp của ViệtNam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép.Ví dụ: huy hiệu
tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bútdanh,hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài.Ví dụ:Lấy tên anh hùng Nguyễn Trãi làm nhãn hiệu
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấukiểm tra,dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sửdụng, trừtrường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêudùng vềnguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tínhkhác củahàng hóa, dịch vụ Ví dụ: sử dụng ngọn núi nổi tiếng ở Thụy Sỹ cho sản phẩmsô cô la…Đến Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022 đã bổ sung thêm Khoản 6 và Khoản 7Điều
73 về “dấu hiệu là hình dạng vốn có của hàng hoá hoặc do đặc tính kỹ thuật củahàng hoábắt buộc phải có” và “dấu hiệu chứa bản sao tác phẩm, trừ trường hợp đượcphép của chủ
Trang 23Theo Luật SHTT hiện hành thì nhãn hiệu nổi tiếng có thể được hiểu là nhãn hiệuđược sửdụng một cách liên tục, được biết đến một cách rộng rãi nhưng đặc biệt phảiđược biếtđến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam cho các sản phẩm, dịch vụ có uy tín bởingười tiêudùng trên lãnh thổ Việt Nam.
Căn cứ Điều 75 Luật SHTT hiện hành quy định “Các tiêu chí sau đây được xemxét khiđánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng” như sau:
- Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán,sửdụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo Số lương ngườitiêudùng ở đây Luật SHTT hiện hành quy định ở đây có thể hiểu là những khách hàng cóliênquan đến loại hàng hóa đó
- Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành Đây làtiêuchí xác định yếu tố không gian mà nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng
- Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc sốlượnghàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
- Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
- Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu Việc đánh giá uy tín thôngquacác tiêu chí như chất lượng, mùi vị, giá thành sản phẩm, sự tín nhiệm… không chỉ ởquốcgia đăng ký nhãn hiệu mà còn xét trên phạm vi khu vực hoặc thế giới
- Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;- Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổitiếng;
- Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư củanhãnhiệu
2/Tại Pháp:
Ở Pháp, nhãn hiệu nổi tiếng đã được ghi nhận trong Bộ luật về SHTT (Điều L.711-4)nhưng các nhà lập pháp không đưa ra khái niệm của nhãn hiệu nổi tiếng nhưng theocácchuyên gia Pháp, họ có quan điểm cho rằng “thực ra không có các tiêu chí cho sự
Trang 24nổitiếng nhưng có các dấu hiệu mà sự tích tụ chúng đưa thẩm phán tới xác định mộtnhãnhiệu là nổi tiếng”.
Khác với nước ta, cơ quan lập pháp không chỉ đặt ra khái niệm tại khoản 16 Điều4 màcòn đưa ra các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 75 Luật SHTT hiệnhành
3/Tại Trung Quốc
-Nhãn hiệu nổi tiếng tại Trung Quốc được nhận biết sau khi Trung Quốc ký hiệpđịnhTRIPS, được hưởng phạm vi bảo hộ rộng hơn và mạnh hơn so với các nhãn hiệuđượcđăng ký một cách thông thường
- Tại Trung Quốc, có thể dựa trên 05 yếu tố để xem xét ghi nhận một nhãn hiệu lànổitiếng, cụ thể là:
+ Mức độ nhận biết của công chúng trong lĩnh vực kinh doanh cho nhãn hiệu;
+ Khoảng thời gian nhãn hiệu được sử dụng;
+ Thời hạn và phạm vi quảng cáo của nhãn hiệu, và khu vực địa lý mà quảng cáođượcthực hiện;
+ Các chứng cứ chứng minh nhãn hiệu đã được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng;+ Các yếu tố khác tạo nên tính nổi tiếng của nhãn hiệu
Bên cạnh đó, Điều 14 Luật Nhãn hiệu năm 2001 cũng đưa ra một danh sác các tiêu chíđểđánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng và Hướng dẫn năm 2003 khẳng định không cầnthiết phải thỏa mãn tất cả các tiêu chí mà luật đã liệt kê để một nhãn hiệu được xác định
là nổitiếng
Theo cách quy định của Điều luật sẽ dẫn đến cách hiểu việc xác định một nhãnhiệu có
là nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam hay không phải thỏa mãn đủ các yếu tố tạiĐiều 75.Tuy nhiên, thực tế rất khó để xác định nhãn hiệu nổi tiếng nếu đáp ứng đủ cácđiều kiệntại Điều 75 và thực tiễn xét xử Tòa án đều hướng đến việc xác định nhãn hiệunổi tiếngkhi nhãn hiệu này đáp ứng một số tiêu chí tại Điều 75 Do đó, Luật SHTT sửađổi, bổsung năm 2022 đã có sự thay đổi thuyết phục khi ghi nhận “việc xem xét, đánhgiá một
Trang 25nhãn hiệu là nổi tiếng được lựa chọn từ một số hoặc tất cả các tiêu chí sau đây”tại Điều75.
4/Tại Hoa Kỳ
- Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được nhận biết một cách rộng rãi bởi côngchúngtiêu thụ chung của Hoa Kỳ như là một chỉ định, chỉ dẫn về nguồn gốc, xuất xứ củahànghóa, dịch vụ dưới tên chủ sở hữu nhãn hiệu
Để xác định một nhãn hiệu được coi là được nhận biết một cách rộng rãi, nổitiếng, tòa
án có thể xem xét tất cả các yếu tố có liên quan, bao gồm:
+ Thời hạn, phạm vi và tầm địa lý của quảng cáo và công bố nhãn hiệu, không kểđếncác yếu tố này được thực hiện bởi chủ sở hữu hoặc các bên thứ ba;
+ Số lượng, khối lượng, và phạm vi địa lý của hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệuđượccung cấp;• Mức độ được công nhận thực tế của nhãn hiệu
+ Không kể đến việc nhãn hiệu đã được đăng ký theo Luật của ngày 03 Tháng Banăm
1881, hay Đạo luật 20 Tháng 2 năm 1905, hoặc trên sổ đăng ký chính
So với quy định của nước ta, tại khoản 2 Điều 75 Luật SHTT hiện hành quy địnhrõ
về phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành Còn
kháiniệm tại khoản 16 Điều 4 Luật SHTT hiện hành lại quy định phạm vi “trên toàn lãnh thổViệt Nam” Như vậy, có nhất thiết toàn bộ người tiêu dùng ở Việt Nam phải biết
đến haykhông? Do đó, tại Luật SHTT sửa đổi bổ sung năm 2022 đã sửa đổi thành thuật
ngữ “biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam” Như vậy, có thể suy ra, nhãn hiệu nổi
tiếng theoLuật SHTT sửa đổi bổ sung sẽ không bắt buộc trên phạm vi toàn lãnh thổ nhưtrước đây
Trang 2613 Điều kiện bảo hộ của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn cóđiểm gì khác biệt
so với điều kiện bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp? Giải thích.
Điều kiện bảo hộ Thiết kế bố trí mạch
Có tính mới
Có trình độ sáng tạo
Có khả năng ápdụng công nghiệp
Có tính mới
Có tính sáng tạo
Có khả năng ápdụng công nghiệpThiết kế bố trí được coi là có tính nguyên gốc nếu đáp ứng các điều kiệ tại Điều 70 LuậtSHTT:
- Là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả;
- Chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất tích hợpbán dẫnbiết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế đó Yêu cầu này đòi hỏithiết kế bốtrí chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, trình bày hoặc mô tả bằngvăn bảnhoặc các hình thức bộc lộ khác Do đặc trưng của mạch tích hợp bán dẫn hoàntoàn mangtính kỹ thuật mà chỉ có những người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực mớihiểu và nắmbắt được nên phạm vi bộc lộ chỉ cần giới hạn trong giới những người sángtạo thiết kế bốtrí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn Yêu cầu về tính nguyêngốc của thiết kế
bố trí không cao như yêu cầu về trình độ sáng tạo của sáng chế
Cả thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, sáng chế và kiểu dáng công nghệ đều yêucầu vềtính mới nhưng tính mới của thiết kế bố trí khác với tính mới của sáng chế, kiểudángcông nghiệp Nếu tính mới của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp là tính mới tuyệt đối tính
từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên thì tính mới của thiết kế bố trí là tính mớithương mạiđược quy định tại Điều 71 Luật SHTT hiện hành:
Trang 27– Thiết kế bố trí được coi là có tính mới thương mại nếu chưa được khai thácthươngmại (sản xuất, phân phối, mua bán, chuyển nhượng) tại bất kỳ nơi nào trên thếgiới trướcngày nộp đơn đăng ký.
– Thiết kế bố trí không bị coi là mất tính mới thương mại nếu đơn đăng ký thiết kếbốtrí được nộp trong thời hạn hai năm kể từ ngày thiết kế bố trí đó đã được người cóquyềnđăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác nhằm mục đích thương mạilầnđầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới
– Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích thương mại quy định tại khoản b phầnnày làhành vi phân phối công khai nhằm mục đích thương mại đối với mạch tích hợpbán dẫnđược sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hoá chứa mạch tích hợp bán dẫn đó
14 Hiện nay tại Việt Nam có bao nhiêu chỉ dẫn địa lý được bảo hộ? Tìm hai ví dụ về chỉdẫn địa lý của Việt Nam bị xâm phạm và cho biết hành vi xâm phạm theo bạn là hành vinào? (Dựa trên quy địnhphaps luật hiện hành)
Theo Cục Sở hữu trí tuệ, hiện nay Việt Nam có 116 chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
(https://ipvietnam.gov.vn/danh-sach-cac-chi-dan-ia-ly-uoc-bao-ho-tai-viet-nam)
Hai ví dụ về chỉ dẫn địa lý của Việt Nam bị xâm phạm:
- Vụ việc chỉ dẫn địa lý “Tân Triều" cho sản phẩm bưởi, năm 2012, bưởi TânTriềuđược cấp chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý Tuy nhiên, tình trạng nhiều người mangbưởiđường lá cam trồng ở vùng khác về cù lao Tân Triều để bán, dưới danh nghĩa bưởiTânTriều, thậm chí mạo danh “bưởi Tân Triều” để dễ dàng đưa đi các địa phương kháctiêuthụ như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Hành vi này đã xâm phạm đến chỉ dẫn
địa lýđược bảo hộ, cụ thể theo điểm c khoản 3 Điều 129 Luật SHTT “Sử dụng bất kỳ dấu hiệunào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồngốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sảnphẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó"
- Vụ việc chỉ dẫn địa lý cua Cà Mau cho sản phẩm cua Tháng 6/2022, tên gọi “cua
Cà Mau” đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý Tuynhiên, bên cạnh các cửa hàng bán Cua Cà Mau có nguồn gốc thật sự từ Cà Mau, thì
Trang 28cũngđã có không ít dân buôn nhập các sản phẩm cua ở các địa phương khác như CầnGiờ,Vũng tàu, Bến Tre và gắn “mác” Cua Cà Mau, việc này làm cho người tiêu dùnghiểu sairằng sản phẩm có nguồn gốc từ Cà Mau Hành vi này đã xâm phạm đến chỉ dẫn
địa lý được bảo hộ, cụ thể theo điểm c khoản 3 Điều 129 Luật SHTT “Sử dụng bất kỳ dấu hiệunào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồngốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sảnphẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó".
-Tương tự, thương hiệu nước mắm nổi tiếng của Phú Quốc cũng bị một DN tại MỹlàViet Huong Fishsauce giành quyền đăng ký bảo hộ từ năm 1982 Theo đó, các sảnphẩmcủa công ty này từ năm 1982 đến nay đều sử dụng nhãn hiệu “nước mắm PhúQuốc” cóhình con cá cơm, đảo Phú Quốc và bản đồ Việt Nam Đến năm 2006, nhãn hiệunướcmắm nổi tiếng của Việt Nam xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, Úc, Thái Lan,TrungQuốc… nhưng là sản phẩm của Viet Huong Fishsauce.Hành vi này đã xâm phạm
đến chỉdẫn địa lý được bảo hộ, cụ thể theo điểm c khoản 3 Điều 129 Luật SHTT “Sử dụng bất kỳdấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không cónguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đỏ lắm cho người tiêu dùng hiểu sairằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó”.
15 Khái niệm “tên gọi xuất xứ hàng hóa” là gì? Thuật ngữnày và “chỉ dẫn địa lý”
có giống nhau không? Vì sao?
Theo Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT hiện hành: “Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia cụthể”
Theo quy định tại Điều 786 BLDS 1995 thì: “Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địalý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó vớiđiều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điềukiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả haiyếu tố đó”
Khái niệm chỉ dẫn địa lý bao hàm cả tên gọi xuất xứ Thuật ngữ “tên gọi xuất xứ hànghoá” và “chỉ dẫn địa lý” không giống nhau Vì:
Trang 29- Về mặt khái niệm:Chỉ dẫn địa lý là từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh, chỉ rõ một quốcgia hoặc mộtvùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia mà đặc trưng về chất lượng,
uy tín, danhtiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này chủ yếu là do nguồn gốcđịa lý tạonên
Còn tên gọi xuất xứ là tên địa lý của nước, địa phương nhằm để chỉ xuất xứ củamặthàng từ nước, địa phương đó và các mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thùdựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt bao gồm các yếu tố tự nhiên, conngườihoặc cả yếu tố đó
- Về mặt hình thức thể hiện: Chỉ dẫn địa lý có các dấu hiệu có thể là từ, ngữ, hìnhảnh,
ký hiệu Còn tên gọi xuất xứ chỉ bao gồm từ ngữ
- Về mối quan hệ tương quan giữa hàng hóa và xuất xứ địa lý: Chỉ dẫn địa lý cómốiquan hệ chủ yếu, nghĩa là một hoặc một số hoặc toàn bộ quá trình sản xuất hàng hoáđượcthực hiện ở một vùng địa lý đó Tên gọi xuất xứ hàng hoá có mối quan hệ dựa trên,tức làtoàn bộ quá trình sản xuất phải được thực hiện tại vùng địa lý đăng ký bảo hộ
Do đó, hai thuật ngữ “tên gọi xuất xứ hàng hoá” và “chỉ dẫn địa lý” này là khác nhau
B BÀI TẬP
1 Đọc, nghiên cứu Bản án số 1 “Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ” (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:
1/ Theo quy định của pháp luật SHTT, đối tượng quyền SHTT bao gồm những gì? Nêu cơ sở pháp lý Dựa trên quy định của pháp luật SHTT hiện hành thì hồ sơ công
bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu có phải là đối tượng quyền SHTT hay không? Vì sao?
Trả lời:
Theo Điều 3 Luật SHTT Việt Nam bao gồm 3 nhóm:
Trang 30- Đối tượng quyền tác giả: bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượngquyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chươngtrình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình mã hóa.
- Đối tượng là quyền sở hữu công nghiệp: bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,thiết kế bố trí mạch bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địalý
- Đối tượng quyền đối với giống cây trồng: bao gồm vật liệu nhân giống hoặc vật liệuthu hoạch
Dựa trên quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chấtlượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu đang tranh chấp trong tình huốngnêu trên không là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Bởi lẽ, căn cứ vào Khoản 1 vàKhoản 2, Điều 3, sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7loại rượu không thuộc một trong các đối tượng của quyền tác giả hoặc quyền sở hữu trítuệ Mặt khác, theo Khoản 2, Điều 15, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh antoàn thực phẩm đối với 7 loại rượu được ban hành theo mẫu của Bộ Y tế - đây là văn bảnhành chính nên là đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả Do vậy, hồ sơcông bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu không làđối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
2/ Theo Tòa án xác định, các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu mà nguyên đơn đang tranh chấp có phải là đối tượng quyền SHTT hay không? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?
Theo Tòa án xác định, các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thựcphẩm đối với 7 loại rượu mà nguyên đơn đang tranh chấp không là đối tượng quyền sởhữu trí tuệ Các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm cơ sởPhước Lộc Thọ được Sở Y tế TP Hồ Chí Minh tiếp nhận được thực hiện trong khoảngthời gian từ năm 2002 đến 2004 và sử dụng từ đó đến năm 2009 nên đối chiếu lược về sởhữu trí tuệ thời gian này áp dụng các quy định về sở hữu trí tuệ quy định trong BLDS
1995 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005
Trang 31Theo các điều 747, 781, 788, BLDS 1995, các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệsinh, an toàn thực phẩm được tiếp nhận bởi Sở Y tế không phải là đối tượng thuộc quyền
sở hữu trí tuệ, ông Trí cũng không có các văn bằng bảo hộ được cấp bởi cơ quan có thẩmquyền nên không xác định đối tượng này là các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Mặt khác, theo Điều 3, Điều 15, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Khoản 2, Điều
21, NĐ 100/2006/NĐ-CP, các hồ sơ này không phải là các đối tượng sở hữu trí tuệ đượcpháp luật bảo hộ Do vậy các tranh chấp việc sử dụng các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chấtlượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm không thuộc sự điều chỉnh của các quy định pháp luật
về sở hữu trí tuệ mà các hồ sơ này được xác định là quyền tài sản
3/ Quan điểm của tác giả bình luận có cho rằng hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng,
vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu là đối tượng của quyền tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp không? Lập luận của tác giả như thế nào?
Quan điểm của tác giả bình luận không cho rằng hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng ,
vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu là đối tượng của quyền tác giả hay quyền
sở hữu công nghiệp
- Đối với quyền tác giả : Một tác phẩm muốn được bảo hộ thì phải đáp ứng các điều kiện:
+ Nội dung không vi phạm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, cóhại cho an ninh quốc phòng
+ Được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định
+ Có tính nguyên gốc nghĩa là không sao chép, không bắt chước tác phẩm khác.Mặt khác, trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ tại Điều 14, Luật Sở hữu trí tuệ,không thấy đối tượng là hồ sơ công bố chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Hồ sơ nàythực chất là tổng hợp những tài liệu có liên quan đến chất lượng điều kiện vệ sinh an toànthực phẩm được ban hành theo mẫu của Bộ Y tế Đây là các văn bản hành chính để thựchiện chức năng quản lý hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Chính vìvậy mà tính sáng tạo trong các hồ sơ này không có Khi không đáp ứng điều kiện có tínhsáng tạo thì đối tượng này không không được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả Nói cách
Trang 32khác, hồ sơ công bố chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm không là đối tượng của quyềntác giả.
- Đối với quyền sở hữu công nghiệp:
Xét trong mối liên quan thì hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm có thể
có mối liên hệ với bí mật kinh doanh và sáng chế Đối với bí mật kinh doanh được bảo hộkhi đáp ứng đủ các điều kiện đó :
+ Thông tin chưa được biết đến rộng rãi và không dễ dàng có được qua những cách thứcthích hợp bởi những người khác trong phạm vi liên quan
+ Tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ bí mậtkinh doanh đó
+ Thông tin đó phải được bảo mật
Trong trường hợp này, hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm không đápứng được điều kiện phải tồn tại trong tình trạng bí mật ( theo Điều 84 , Luật Sở hữu trítuệ ) nên hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm không được xem là bí mậtkinh doanh Đối với sáng chế thì được thể hiện dưới dạng quy trình Tuy nhiên, hồ sơ nàyđược làm theo mẫu của Bộ Y tế; nếu có một quy trình sản xuất hoặc điều chế rượu thìviệc mô tả công bố đối tượng có dẫn đến việc đối tượng đó không đáp ứng được điềukiện về tính mới của sáng chế ( theo Điều 60 , Luật Sở hữu trí tuệ ) Do vậy, hồ sơ công
bố chất lượng, vệ sinh , an toàn thực phẩm cũng không được xem là sáng chế
Mặt khác, xét căn cứ xác lập quyền sở hữu trí tuệ thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng
ký quyền tác giả , quyền quyền liên quan sẽ là Cục Bản quyền tác giả văn học - nghệthuật và đối với quyền sở hữu công nghiệp sẽ là Cục Sở hữu trí tuệ Trong trường hợpnày, có thể thấy, các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩmđược cấp bởi Sở tế - đây không là cơ quan có thẩm quyền trong việc xác lập quyền sởhữu trí tuệ nên các hồ sơ này không là đối tượng của quyền tác giả và quyền sở hữu côngnghiệp
Trang 33Từ đó, có thể thấy rằng, theo lập luận của tác giả thì hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh,
an toàn thực phẩm không là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp hay quyền tác giả
4/ Theo quan điểm của bạn, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu đang tranh chấp trong tình huống nêu trên có
là đối tượng của quyền SHTT hay không? Giải thích vì sao?
Theo quan điểm của nhóm, hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn thựcphẩm của 7 loại rượu kể trên không là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ vì:
- Thứ nhất, xét về đối tượng nói chung, hồ sơ trên không là đối tượng sở hữu trí tuệ ở góc
độ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp dưới dạng bí mật kinh doanh, kiểu dángcông nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫnđịa lý hay quyền đối với giống cây trồng theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 3,Luật Sở hữu trí tuệ
- Thứ hai, dưới góc độ bảo hộ dưới dạng sáng chế thì hồ sơ trên cũng không đáp ứng điềukiện để được bảo hộ (cụ thể là tính mới)
- Thứ ba, xét về căn cứ phát sinh xác lập, hồ sơ trên tuy được Bộ Y tế tiếp nhận, nhưng
Bộ Y tế lại không phải là cơ quan có thẩm quyền xác lập quyền sở hữu trí tuệ Hồ sơ trêncũng không phải là văn bản bảo hộ được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền bảo hộ Từ cáclập luận trên, có thể kết luận rằng, hồ sơ công bố , chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩmđang tranh chấp không phải là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
2 Đọc, nghiên cứu tranh chấp quyền tác giả trong vụ việc TRuyện tranh Thần Đồng Đất Việt (thông qua các phương tiện thông tin đại chúng) và đánh giá các vấn
đề pháp lý sau (trêncơ sở thông tin này):
a) Theo Luật SHTT, truyện tranh Thần Đồng Đất Việt có được bảo hộ quyền tác giả không?
Truyện tranh Thần Đồng Đất Việt thuộc loại hình tác phẩm văn học được bảo hộquyềntác giả tại điểm a Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm2019,2022.Theo Luật SHTT thì truyện tranh Thần Đồng Đất Việt là đối tượng được bảo hộ quyềntác giả
Trang 34Tác phẩm này đảm bảo tính nguyên gốc theo khoản 3 Điều 14 Luật SHTT 2005sửa đổi,
bổ sung năm 2019,2022 do tác giả Lê Linh trực tiếp sáng tạo bằng lao động trítuệ củamình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác Truyện tranh Thần ĐồngĐất Việt
đã được định hình dưới dạng vật chất nhất định là chữ viết, đường nét, hìnhkhối, bố cục,màu sắc theo khoản 3 Điều 3 NĐ 22/2018/NĐ-CP.Do đó, truyện tranh Thần Đồng ĐấtViệt được bảo hộ quyền tác giả
b) Ai là chủ sở hữu bộ truyện tranh này?
Chủ sở hữu trong đăng ký quyền tác giả của tác phẩm Thần Đồng Đất Việt làCông tyPhan Thị vì ông Lê Linh là người làm việc cho công ty Phan Thị và trong quátrình làmviệc thì ông được công ty giao thực hiện bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt mà theoquy định tại Khoản 1 Điều 39 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung 2019 tổ chức mà giaonhiệm vụ cho thành viên của tổ chức mình là tác giả của tác phẩm là chủ sở hữucủa tácphẩm:
"1 Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chứcmình
là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừtrường hợp có thoả thuận khác”
Như vậy, công ty Phan Thi Là chủ sở hữu của bộ truyện tranh Thần Đồng ĐấtViệt
c) Ai là tác giả bộ truyện tranh này?
Ông Lê Linh là tác giả của bộ truyện tranh vì căn cứ vào khoản 1 Điều 13 LuậtSHTT
2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019:
"1 Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộquyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quyđịnh tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.".
Theo đó, mặc dù có thể là bộ truyện tranh này hình thành trên cơ sở ý tưởng củabàHạnh; tuy nhiên ông Lê Linh là người đã trực tiếp sáng tạo ra nó bằng trí tuệ củamìnhmà không có sự sao chép từ các tác phẩm khác và được thể hiện dưới dạng vật chấtnhất định đó là bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt Còn bà Hạnh khi là người đại diện
Trang 35cho công ty Phan Thị giao nhiệm vụ cho ông Lê Linh sáng tạo ra bộ truyện tranh mãkhôngtrực tiếp tạo ra nó Do vậy ông Lê Linh sẽ là tác giả của bộ truyện tranh ThầnĐồng ĐấtViệt.
d) Công ty Phan Thị có quyền gì đối với bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt?
Căn cứ Điều 39 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung 2019 quy định:“1 Tổ chức giaonhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chứcmình là chủ sở hữu cácquyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừtrường hợp có thoảthuận khác.”Ông Linh là nhân viên Công ty Phan Thị với công việc là vẽ tranh minh họavàđược giao thực hiện bộ truyện tranh TĐĐV Nên nhóm xác định công ty Phan Thịthuộcloại chủ sở hữu là tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả, vì vậy, nếucácbên không có thỏa thuận khác, Công ty Phan Thị sẽ có các quyền quy định tại Điều
20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT.Cụ thể, công ty Phan Thị có toàn bộ quyền tài sảnbao gồm: quyền làm tác phẩmphái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chéptác phẩm; phân phối, nhậpkhẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đếncông chúng bằng phươngtiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng phương tiện thông tin điện tửhoặc bất kỳ phương tiện kỹthuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điệnảnh, chương trình máy tính Đồng thời, công ty Phan Thị cũng có một phần quyền nhânthân là quyền công bố tácphẩm
e) Việc công ty Phan Thị cho xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi có phù hợpvới quy định pháp luật không?
Vì công ty Phan Thị là chủ sở hữu quyền tác giả của bộ truyện quy định tại Điều39 LuậtSHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2019), do đó có quyền sao chép, làm tác phẩm pháisinhtheo Điều 20 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022) Cho nên, nếu công ty cho xuấtbản bộ truyện từ tập 79 trở đi và hành vi này không xâm phạm đến quyền nhân thân,không gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả thì phù hợp với quy địnhphápluật Còn nếu có hành vi cắt xén, sửa chữa tác phẩm xâm phạm đến danh dự, uy tíntácgiả trong khi tiếp tục xuất bản bộ truyện được quy định tại khoản 4 Điều 19 LuậtSHTT2005 (sửa đổi, bổ sung 2019) thì đây là hành vi vi phạm pháp luật
Trang 363 Nghiín cứu Bản ân số 213/2014/DS-ST của Tòa ân nhđn dđn quận Tđn Bình ngăy 14/8/2014 vă trả lời câc cđu hỏi sau:
Tóm tắt Bản ân số 13/2014/DS-ST của Tòa ân nhđn dđn quận Tđn Bình ngăy14/8/2014:Nguyín đơn: Ông Nguyễn Văn Lộc
Bị đơn: Công ty Mặt Trời Mọc
Ông Lộc lă tâc giả tâc phẩm “Hình thức thể hiện tranh Tết dđn gian”, câc cụm hình ảnhnăy cónguồn gốc từ văn hóa dđn gian được ông thể hiện theo phong câch riíng để hìnhthănh nín tâc phẩm của mình Ông Lộc cho rằng đê đăng kí bảo hộ tâcphẩm năy tại cơquan nhă nước có thẩm quyền nhưng lại không có gì chứng minh lẵng được cấp Giấychứng nhận bản quyền ngăy 07/01/2013
Sau đó, ông phât hiệnCông ty Mặt Trời Mọc sử dụng cụm hình ảnh trong tâc phẩm trín
mă không xin phĩptrong một năm không trả tiền Do đó ông đê kiện Công ty Mặt TrờiMọc vì cho rằngcông ty đê xđm phạm quyền tâc giả của mình Ông Nguyễn Văn Lộcyíucầu Công tyMặt Trời Mọc phải công khai xin lỗi trín 03 tờ bâo: Bâo Tuổi Trẻ, BâoThanhNiín,Bâo Phâp luật vă bồi thường cho ông số tiền 20.000.000 đồng TAND quậnTđn Bình bâc yíu cầu của ông Nguyễn Văn Lộc về việc yíu cầuCông ty Mặt Trời Mọcphải công khai xin lỗi trín 03 tờ bâo vă bồi thường cho ông sốtiền 20.000.000 đồng
a) Ai lă tâc giả tâc phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dđn gian”? Tâc phẩm năy có được bảo hộ quyền tâc giả không? Vì sao?
Nguyín đơn (ông Nguyễn Văn Lộc) lă tâc giả của tâc phẩm “Hình thức thể hiệntranh tếtdđn gian”
Tâc phẩm năy được bảo hộ quyền tâc phẩm vì nó đê được Cục bảnquyền cấp giấy chứngnhận đăng ký bản quyền số 169/2013/QTG ngăy 07/01/2013 vă cókỉm theo hình ảnhđăng ký bản quyền Nội dung tâc phẩm lă tập hợp những hình ảnh củacâc nhđn vật cónguồn gốc từ dđn gian như hình ảnh ông thầy đồ, múa lđn, ông địa )được sắp xếp lại đểthể hiện không khí ngăy tết Việt Nam
Trang 37b) Từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” có được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao?
Theo quan điểm của nhóm, “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiệntranh tếtdân gian” của ông Nguyễn Văn Lộc sẽ không được bảo hộ quyền tác giả Vì:
(1) Về nguồn gốc, các cụm hình ảnh được thể hiện trong tác phẩm của ông Lộc lànhữnghình ảnh đã được lưu truyền trong văn hóa dân gian từ lâu đời (hình ảnh múa lân,ôngđịa, liễn chúc tết, ông đồ viết chữ ), cho nên quyền tác giả của các hình ảnh đókhôngthể xác định là của ai Ông Lộc chỉ thay đổi một số đường nét và sắp xếp theo một
bố cụcvà hình thức thể hiện để tạo nên tác phẩm riêng của mình Vì thế, quyền tác giả đốivớitác phẩm ở đây được xác định là bố cục sắp xếp, hình thức thể hiện trong một tổngthểthống nhất không thể tách rời theo từng bộ phận.Mặt khác, ông Lộc đã gộp chung cả
05 cụm hình vào trong một tác phẩm để đăng ký quyền tác giả Bởi lẽ, theo trình tự đăng
ký quyền tác giả nếu muốn bảo hộ cho từng cụmhình ảnh thì ông phải lập từng hồ sơtương ứng với từng cụm hình ảnh (ở đây là 05 cụmhình ảnh tương ứng với 05 hồ sơ) đểđăng ký quyền tác giả Điều này sẽ mất nhiều thờigian nên ông đã gộp chung cả 05 cụmhình vào trong một tác phẩm để đăng ký quyền tác giả
(2) Về phía nguyên đơn, chính ông Lộc cũng thừa nhận việc tạo nên bức tranh từ việclấycảm hứng từ văn hóa dân gian, tranh Tết dân gian đã được nhiều tác giả thể hiện, mỗitácgiả có hình thức và bố cục thể hiện riêng của mình
Như vậy từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dângian”không được bảo hộ quyền tác giả Cho nên ông chỉ có quyền tác giả đối với phầnnghiêncứu sưu tầm, giới thiệu của mình dưới dạng bố cục tổng thể đã được cấp Giấychứngnhận đăng ký quyền tác giả
c) Hành vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn không? Nêu
cơ sở pháp lý
Thứ nhất, căn cứ vào chứng cứ mà ông Lộc cung cấp thì hình ảnh được trang trítrong showroom Công ty Mặt Trời Mọc và tác phẩm của ông Lộc có điểm khác biệt vềbốcục lẫn hình thức thể hiện Chứng cứ hình ảnh do ông cung cấp được chụp bằng
Trang 38điệnthoại và không có tác dụng chứng minh rằng những hình ảnh được trang trí ởshowroomđúng với nguyên bản là các bức tranh của ông.
Thứ hai, nguồn gốc của các cụm hình ảnh được thể hiện trong tác phẩm củaôngNguyễn Văn Lộc là những hình ảnh đã được lưu truyền trong văn hóa dân gian từ lâuđời(hình ảnh múa lân, ông địa,…) và cách sắp xếp theo một bố cục và hình thức thể hiệnđểtạo nên tác phẩm riêng của mình Quyền tác giả ở đây chỉ là bố cục và hình thức sắpxếpcác cụm hình ảnh Ngoài ra, do ông gộp chung 05 cụm hình ảnh để đăng ký quyền tácgiảnên không xác định được quyền riêng rẽ từng cụm hình ảnh Bên cạnh đó, Công tyĐăng Viễn đã cho rằng họ không sử dụng tác phẩm của ông Lộc để trang trí tạishowroom củacông ty Mặt Trời Mọc, mà công ty Đăng Viễn sưu tầm, mua lại các hìnhảnh riêng rẽ tạicác websites (vectordep.vn, nguyenthehien.com) và sau đó họ thiết kế, sắpxếp, bố cụchình thành hình thức thể hiện không khí Tết dân gian cho tác phẩm trang trícủa mình
Thứ ba, căn cứ vào Khoản 3 Điều 49 Luật SHTT hiện hành quy định như sau:
“Tổchức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứngnhậnđăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liênquanthuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại”
Do đó, theo như dữ kiện trong bản án, hợp đồng giữa hai công ty này đã được hoànthành, nghiệm thu và thanh lý vào ngày 05/12/2012 trước thời điểm ông Lộc được cấpGiấy chứng nhậnđăng ký bản quyền, cụ thể là ngày 07/01/2013 Thời điểm ông Lộc đượccấp Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền sau thời điểm hợp đồng được hoàn thành Nếumuốn biết cóhành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình hay không thì ông Lộcphải có nghĩa vụchứng minh điều đó.Từ các lập luận trên, nhóm cho rằng không có hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ từ phía bị đơn đối với nguyên đơn
d) Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có những điểm khácbiệt nào so với các loại hình tác phẩm khác?
- Về điều kiện bảo hộ:
Trang 39Thứ nhất, sản phẩm sáng tạo phải được thể hiện dưới dạng văn học, nghệ thuật.Điều này có nghĩa là để được coi là một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian thìtácphẩm đó cần phải được thể hiện dưới dạng văn học, nghệ thuật mà cụ thể là một sốloạihình được quy định trong khoản 1, 2, 3 Điều 18 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP:
“1 Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23của Luật SHTT là các loại hình nghệ thuật ngôn từ.
2 Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại các điểm b và c khoản 1Điều
23 của Luật SHTT là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như chèo, tuồng, cải lương,múa rối, điệu hát, làn điệu âm nhạc; điệu múa, vở diễn, trò chơi dân gian, hội làng, cáchình thức nghi lễ dân gian.
3 Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại các điểm a, b và c khoản 1Điều 23 của Luật SHTT được bảo hộ không phụ thuộc vào việc định hình.”
Thứ hai, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được bảo hộ mang tính sáng tạotậpthể, không bao gồm sáng tạo của cá nhân Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân trênnền tảng tập thể nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dângian.Thứ ba, không phải tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nào cũng bắt buộc phảithểhiện dưới hình thức vật chất nhất định (không bắt buộc phải định hình)
- Về chủ sở hữu quyền tác giả:
Khoản 1 Điều 23 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung 2022:
“Tác phẩm văn học,nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặccác cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm vănhóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏnghoặc bằng cách khác.”
Như vậy, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là sở hữu của toàn cộng đồng Mỗithành viên cộng đồng đều có quyền sử dụng bất cứ một hay tất cả vốn văn học nghệthuậtdân gian của cộng đồng mình Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là những tácphẩmcó giá trị nhân văn, có sức sống trường tồn, lưu truyền trong đời sống củanhân dân
Trang 40mà tácgiả của chúng là các thế hệ nhân dân, là cộng đồng xã hội nơi màtác phẩm văn họcnghệthuật dân gian được hình thành và phát triển là chủ sở hữu tác phẩm do mình sángtạo ra.
Với ý nghĩa đó, về nguyên tắc, chủ sở hữu quyền tác giả có tính pháp lý thực sự làtoànthể cộng đồng Nhưng các nghệ nhân và người thực hành đều là thành viên công xã,nhờtài năng, nhờ những hiểu biết vừa rộng rãi vừa sâu về một lĩnh vực nào đó của vănhọcnghệ thuật dân gian, họ trở thành người đại diện cho cả cộng đồng và cộng đồng ghinhậncông lao của họ
- Về nội dung bảo hộ:
* Quyền nhân nhân: Được quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 19 Luật SHTThiệnhàng, đó là các quyền:
“2 Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danhkhi tác phẩm được công bố, sử dụng
4 Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặcxuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín củatác giả.”
Tương tự như quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật SHTT hiện hành:“Tổ chức, cá nhânkhisử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hìnhtácphẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuậtdângian”
* Quyền tài sản: Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 tác phẩm văn học, nghệ thuậtdângian chỉ được bảo hộ quyền nhân thân chứ không bảo hộ quyền tài sản.Việc xác địnhquyền thu phí bản quyền, việc này dùng để bảo tồn và phát huy cáctác phẩm văn họcnghệ thuật dân gian của dân tộc Việt Nam Vì vậy, mức phí không đượcxác định trên cơ
sở thoả thuận giữa chủ sở hữu quyền với người sử dụng và không đượcquá đề cao đểngười dân không cảm thấy đắn đo khi sử dụng chính các tác phẩm văn họcnghệ thuật dângian của mình