ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu.
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: Thuận tiện, tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật nội soi u tuyến yên từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2021
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ, lấy tất cả người bệnh đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
Chọn mẫu nghiên cứu dựa trên đối tượng, thời gian và tiêu chuẩn lựa chọn cũng như tiêu chuẩn loại trừ, chúng tôi đã tuyển chọn thành công 117 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu:
- Thu thập thông tin trên hồ sơ bệnh án một số dữ liệu về nhân khẩu học, đặc điểm cận lâm sàng (xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu)
Việc lượng giá và thăm khám trên bệnh nhân (NB) được thực hiện định kỳ nhằm thu thập dữ liệu về đặc điểm lâm sàng tại các thời điểm quan trọng trong quá trình điều trị Các mốc thời gian bao gồm trước phẫu thuật, trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật, 3 ngày sau phẫu thuật, trước khi ra viện và 1 tháng sau ra viện Quá trình này giúp đánh giá chính xác tiến trình hồi phục của bệnh nhân và điều chỉnh kế hoạch điều trị kịp thời Việc theo dõi lâm sàng liên tục tại các thời điểm này góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
- Phỏng vấn và tham khảo hồ sơ bệnh án, hồ sơ điều dưỡng để thu thập các dữ liệu liên quan đến hoạt động chăm sóc người bệnh
- Phỏng vấn để thu thập dữ liệu về sự hài lòng của NB đối với công tác chăm sóc của điều dưỡng
2.5.2 Các bước thu thập số liệu
- Bước 1: Xin phép Lãnh đạo Bệnh viện và các Khoa phòng liên quan
- Bước 2: Gặp gỡ đối tượng nghiên cứu để trao đổi thông tin liên quan đến nghiên cứu
- Bước 3: Tiến hành lấy mẫu theo bộ công cụ đã xây dựng sẵn
- Bước 4: Tổng kết các phiếu và nhập liệu sau mỗi buổi thu thập số liệu
Theo dõi, đánh giá tình trạng chung: tri giác,
Chăm sóc, đánh giá vệ sinh khoang mũi miệng
Chọn danh sách người bệnh được phẫu thuật
Theo dõi, đánh giá chức năng tuyến yên Thực hiện chăm sóc theo quy trình của Bệnh viện
Danh sách NB được chẩn đoán xác định U tuyến yên dựa trên kết quả Giải phẫu bệnh
Trong quá trình can thiệp điều dưỡng, việc chọn đối tượng nghiên cứu dựa vào lịch mổ hàng tuần giúp đảm bảo tính chính xác và dễ dàng theo dõi Đánh giá nhu cầu chăm sóc bệnh nhân (NB) tại các thời điểm sau phẫu thuật là vô cùng quan trọng, bao gồm các mốc thời gian như 24 giờ sau mổ, sau 3 ngày, khi bệnh nhân ra viện và sau 1 tháng để đánh giá quá trình hồi phục và điều trị.
Các biến số và tiêu chí đánh giá trong nghiên cứu
2.6.1 Biến số về thông tin, tình trạng chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới tính: Giới tính của đối tượng nghiên cứu, xác định tỉ lệ tương quan về giới
Tuổi được tính theo năm dương lịch, bằng cách lấy năm 2022 trừ đi năm sinh của mỗi người Việc phân chia nhóm tuổi dựa trên độ tuổi trung bình giúp xác định tỷ lệ mắc u tuyến yên nặng cao nhất trong các nhóm tuổi khác nhau Điều này giúp đánh giá chính xác hơn về nguy cơ và diễn biến của bệnh u tuyến yên theo từng độ tuổi.
- Nghề nghiệp: Công việc chính của người bệnh đang làm: hành chính sự nghiệp; công nhân; nông dân; học sinh, sinh viên; tự do; hưu trí
- Địa dư sinh sống: Nơi người bệnh sinh sống: thành thị, nông thôn
- Trình độ học vấn: Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học, sau đại học
- Chỉ số BMI: Là chỉ số khối của cơ thể phản ánh mức độ béo phì/thừa cân hay nhẹ cân của người bệnh
Công thức tính BMI = cân nặng / (chiều cao) 2
+ BMI > 24: thừa cân/ béo phì
- Hoàn cảnh kinh tế: Không nghèo, cận nghèo
- Bảo hiểm y tế: Đúng tuyến, vượt tuyến, không có BHYT
- Bệnh lý kèm theo: Những bệnh kèm theo của người bệnh; tim mạch, hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu, nội tiết
2.6.1.2 Tình trạng chung người bệnh:
- Lý do vào viện + Đau đầu
+ Giảm thị lực + Buồn nôn, nôn + Rối loạn kinh nguyệt + Khác: tăng cân, to đầu chi
- Chẩn đoán: U tuyến yên tiên phát hay u nguyên phát tái phát
- Điều trị trước mổ: Các phương pháp điều trị NB đã được điều trị kể từ khi được chẩn đoán bệnh:
+ Xạ trị + Chưa điều trị
- Tri giác: Đánh giá theo thang điểm GCS, so sánh trước và sau mổ
+ Tỉnh: 14-15 điểm + Lơ mơ: 12-13 điểm + Mê: 90 lần/ phút: nhanh
+ Huyết áp: 20 lần/ phút: nhanh + SPO 2 :93%: bình thường
+ Nhiệt độ: Hạ thân nhiêt < 36,5 o C; Bình thường: 36,5 oC -37,5 o C; Sốt: >
- Triệu chứng lâm sàng: so sánh trước và sau mổ
+ Dấu hiệu thần kinh khu trú: Đồng tử (đều, P>T, P< T, PXAS) Liệt nửa người, không liệt, liệt cả 2 bên
+ Giảm thị lực, bán manh
+ Các đặc điểm tiết niệu: Tiểu qua sonde; tự tiểu
- Tâm lý người bệnh trước mổ và sau mổ: Lo lắng ít; lo lắng nhiều
- Xét nghiệm công thức máu: so sánh trước và sau mổ các chỉ số trong CTM: Hồng cầu, Hematocrit, Huyết sắc tố, Bạch cầu
- Kết quả chụp CT scanner, MRI
- Kết quả giải phẫu bệnh : U tuyến yên tăng tiết, U tuyến yên không tăng tiết
- Biến chứng chung sau mổ: Hôn mê, chảy máu nội sọ, Viêm màng não, rò dịch não tủy, giảm thị lực
2.6.2 Chăm sóc, đánh giá mũi, miệng
- Tiền sử can thiệp ngoại khoa vùng mũi, miệng
- Tình trạng mũi, miệng trước mổ: viêm nhiễm, ngạt mũi, khô sạch
- Tình trạng mũi, miệng sau mổ:
+ Chảy máu, chảy dịch mũi
- Biến chứng liên quan đến mũi, miệng sau mổ: chảy máu xoang mũi, phù nề xoang, đọng mủ, mất ngửi (khám lâm sàng, cận lâm sàng)
2.6.3 Chăm sóc, đánh giá chức năng tuyến yên
- Đặc điểm lâm sàng trước và sau mổ: Giảm thị lực, bán manh; Đái tháo nhạt; triệu chứng suy tuyến yên
- Đặc điểm cận lâm sàng trước và sau mổ:
+ Xét nghiệm sinh hóa: Glucose, điện giải đồ
+ Xét nghiệm nội tiết: Cortisol, FSH, LH, TSH, FT3, FT4, T3, T4, estrogen, prolactin, testoterol
- Biến chứng liên quan đến tuyến yên sau mổ:
2.6.4 Chăm sóc của điều dưỡng
- Các hoạt động điều dưỡng:
- Các can thiệp điều dưỡng:
- Hoạt động chăm sóc dinh dưỡng
- Hoạt động hỗ trợ thông tin cho người nhà người bệnh/ người bệnh:
+ Hướng dẫn tác dụng phụ của thuốc
+ Hướng dẫn chế độ lao động nghỉ ngơi
+ Hướng dẫn chế độ ăn
+ Hướng dẫn tuân thủ điều trị
- Sự hài lòng của người bệnh: Đánh giá mức độ người bệnh hài lòng/ chưa hài lòng về chăm sóc của điều dưỡng
- Kết quả chăm sóc: Kết quả chăm sóc người bệnh u tuyến yên được mổ nội soi qua xoang bướm được chia thành 2 mức:
Chăm sóc tốt cho bệnh nhân bao gồm việc theo dõi và phát hiện kịp thời các biến chứng, cung cấp hướng dẫn vệ sinh và chăm sóc vùng mũi miệng, cùng các thông tin cần thiết về bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện Đặc biệt, sự hài lòng về thái độ phục vụ của nhân viên trong khoa cũng góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc y tế.
+ Chăm sóc chưa tốt: Người bệnh không được giải thích, chuẩn bị mổ chưa đầy đủ, chưa được hướng dẫn vệ sinh thân thể, vệ sinh mũi…
- Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc
+ Đặc điểm chúng về tuổi, giới, bệnh lý nền kèm theo liên quan đến KQCS + Tình trạng U tái phát và U lần đầu liên quan đến KQCS
+ Một số hoạt động tư vấn, GDSK liên quan đến KQCS
+ Sự hài lòng của NB liên quan đến KQCS.
Khái niệm, thang đo và các tiêu chí đánh giá
2.7.1 Thang đo đánh giá Tri giác (Glasgow) Đáp ứng với mắt
Không mở mắt khi gây đau 1 Đáp ứng với lời nói
Nói những từ không thích hợp 3 Ú ớ, không nói được thành lời 2
Không đáp ứng 1 Đáp ứng với vận động
Làm đúng theo yêu cầu 6
Gạt đúng khi bị kích thích đau 5
Co chi khi bị kích thích đau 4
Duỗi cứng mất não( khi kích thích đau) 2
2.7.2 Thang đo đánh giá tình trạng đau sau mổ
- Mức độ đau: Được đánh giá dựa vào thang điểm đau của Wong- Baker, với biểu hiện trên nét mặt của NB
Không đau Đau ít Đau vừa Đau nhiều Đau rất nhiều Đau không chịu được
Minh họa mức độ đau theo VAS 2.7.3 Thang đo đánh giá sự hài lòng của NB với công tác chăm sóc:
- Đánh giá theo 5 mức độ: Rất không hài lòng/ Không hài lòng/ Bình thường/ Hài lòng/ Rất hài lòng
2.7.4 Đánh giá tình trạng tâm lý
Tâm lý được đánh giá theo mức độ lo âu trên thang điểm Zung[78] (Phụ lục) Tổng điểm của 20 câu hỏi được đánh giá theo mức độ sau:
5 Lo âu rất nặng 71 – 80 điểm
Sai số và cách khống chế sai số trong nghiên cứu
Sai số gặp trong nghiên cứu có thể có:
- Sai số do bộ công cụ thu thập dữ liệu, những câu hỏi đánh giá người bệnh chưa rõ ràng dẫn đến sự đánh giá sai lệch
- Sai số trong quá trình nhập liệu hoặc xử lý số liệu
Các biện pháp khống chế sai số đƣợc áp dụng bao gồm:
Để thiết kế bộ công cụ thu thập dữ liệu chính xác, cần xin ý kiến chuyên gia để đảm bảo tính khách quan và phù hợp Bộ câu hỏi nên được thiết kế dễ hiểu, có sẵn các lựa chọn phù hợp nhằm giúp đối tượng dễ dàng trả lời Việc chuẩn hoá bộ câu hỏi qua các cuộc điều tra thử nghiệm giúp nâng cao độ tin cậy của công cụ Ngoài ra, tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên và giám sát chặt chẽ quá trình thu thập dữ liệu là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính chính xác và toàn diện của dữ liệu thu thập được.
Trong quá trình nhập số liệu, bộ dữ liệu được kiểm tra kỹ lưỡng bằng cách nhập lại khoảng 10% số phiếu để đảm bảo tính chính xác của thông tin Việc này giúp hạn chế tối đa các sai sót trong quá trình nhập dữ liệu, nâng cao độ chính xác và độ tin cậy của kết quả cuối cùng Áp dụng phương pháp này là một bước quan trọng trong kiểm soát chất lượng dữ liệu, đảm bảo dữ liệu nhập vào hệ thống là chính xác và minh bạch.
Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu sau khi nhập vào máy tính bằng Excel
- Phân tích sử dụng phần mềm SPSS 22.0 Trong quá trình xử lý, các số liệu bị thiếu, vô lý, ngoại lai được kiểm tra và khắc phục
Các thống kê mô tả và thống kê suy luận đều dựa trên việc tính toán các chỉ số như giá trị trung bình, trung vị và độ lệch chuẩn cho các biến định lượng, giúp hiểu rõ đặc điểm dữ liệu Đồng thời, các tỷ số và tỷ lệ cho biến định tính được sử dụng để phân tích sự phân bổ và mối quan hệ giữa các nhóm dữ liệu Việc áp dụng các phương pháp thống kê này đảm bảo phân tích dữ liệu chính xác, hỗ trợ đưa ra các kết luận đáng tin cậy trong nghiên cứu khoa học.
Trong quá trình phân tích dữ liệu, việc sử dụng thuật toán kiểm định Chi Square (X²) là phương pháp hiệu quả để xác định sự khác biệt giữa các biến định tính hoặc biến định lượng Kết quả kiểm định dựa trên giá trị p (p-value), trong đó mức ý nghĩa thống kê được xem là có ý nghĩa khi p < 0,05 Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của các kết luận nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự chấp thuận của trường Đại học Thăng Long Hà Nội và Bệnh viện hữu nghị Việt Đức
Mọi bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được giải thích rõ về tình trạng bệnh lý của mình, các phương pháp điều trị phù hợp, cũng như các phương pháp theo dõi sau điều trị Đồng thời, họ được thông báo về các tai biến có thể gặp phải trong quá trình điều trị để đảm bảo sự hiểu biết và đồng thuận trong quá trình nghiên cứu.
- Số liệu được thu thập một cách trung thực,xử lý số liệu theo phần mềm toán học đảm bảo sự minh bạch trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý và tự nguyện hợp tác của người bệnh và người nhà, đảm bảo quyền lợi và sự tự do của họ Mọi thông tin cá nhân của người bệnh đều được giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ quyền riêng tư Các dữ liệu, kết quả thu thập trong quá trình nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích khoa học và không nhằm vào bất kỳ lợi ích cá nhân nào.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm, tình trạng chung của người bệnh mổ nội soi u tuyến yên
Bảng 3.1 Nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét: đối tượng nghiên cứu trong độ tuổi từ 40 – 59 chiếm tỷ lệ cao nhất là 35%, sau đó là nhóm dưới 40 tuổi chiếm 33,3%
Biểu đồ 3.1 Giới tính của đối tượng nghiên cứu (n = 117)
Nhận xét: tỷ lệ người bệnh là nữ giới chiếm 53%, nam giới chiếm 47%
Biểu đồ 3.2 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n = 117)
Nhận xét: tỷ lệ người bệnh có nghề nghiệp khác chiếm 32,5%; nông dân chiếm 26,5%; CBCNV chiếm 23,1% và hưu trí chiếm 17,9%
Biểu đồ 3.3 Nơi ở của đối tượng nghiên cứu (n = 117) Nhận xét: tỷ lệ người bệnh ở thành thị chiếm 53,8%; nông thôn chiếm 46,2%
Biểu đồ 3.4 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (n = 117)
Nhận xét: đa số người bệnh có trình độ học vấn là THCS/THPT chiếm 47%, sau đó là
Bảng 3.2 Đặc điểm về BMI trước mổ và sau mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117) Trước mổ n (%)
Nhận xét: đa số người bệnh trước mổ có BMI nằm trong giới hạn bình thường chiếm
76,1%, thừa cân/béo phì chiếm 18,8% Sau mổ 1 tháng, tỷ lệ BMI bình thường là 81,2%, thừa cân/béo phì là 15,4%
THCS/THPTCĐ/ĐH/SĐH
Bảng 3.3 Tình hình kinh tế và BHYT
Biến số nghiên cứu NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Tần số (n) Tỷ lệ (%) Hoàn cảnh kinh tế
Bảo hiểm y tế Đúng tuyến 91 77,8
Nhận xét: hầu hết người bệnh có hoàn cảnh kinh tế bình thường chiếm 97,4% Tỷ lệ
BHYT đúng tuyến là 77,8%, vượt tuyến là 17,1% và không có BHYT là 5,1%
Bảng 3.4 Bệnh lý kèm theo của đối tượng nghiên cứu
Bệnh lý kèm theo NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Bệnh tim mạch 2 1,7 Đái tháo đường 9 7,7
Nhận xét: tỷ lệ người bệnh có bệnh đi kèm cao nhất là tăng huyết áp chiếm 22,2%, sau đó là các bệnh khác chiếm 15,4%, đái tháo đường chiếm 7,7%
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh mổ nội soi u tuyến yên
3.1.2.1 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh trước mổ
Bảng 3.5 Lý do vào viện của đối tượng nghiên cứu
NB mổ nội soi UTY (n = 117) Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đau đầu 90 76,9
Thông tin nhận xét cho thấy, nguyên nhân chính khiến người bệnh nhập viện là do đau đầu và giảm thị lực, với tỷ lệ lần lượt là 76,9% và 66,7% Ngoài ra, các triệu chứng rối loạn kinh nguyệt, buồn nôn và nôn cũng chiếm tỷ lệ đáng kể, lần lượt là 17,9% và 15,4%.
Bảng 3.6 Chẩn đoán và điều trị trước mổ
Biến số nghiên cứu NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Tần số (n) Tỷ lệ (%) Chẩn đoán
U tuyến yên phát hiện lần đầu 95 81,2
U tuyến yên tái phát 22 18,8 Điều trị trước mổ
Nhận xét: hầu hết người bệnh được chẩn đoán là UTY phát hiện lần đầu chiếm 81,2% và chưa được điều trị trước mổ chiếm 94,9%
Bảng 3.7 Dấu hiệu sinh tồn của đối tượng nghiên cứu trước mổ
Dấu hiệu sinh tồn NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Tần số tim Bình thường 112 95,7
Nhận xét: tỷ lệ người bệnh có huyết áp cao là 7,7%; tần số tim nhịp chậm là 4,3%
Bảng 3.8 Triệu chứng lâm sàng của người bệnh trước mổ
Triệu chứng lâm sàng NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Dấu hiệu liệt Không liệt 117 100
Trong tổng số bệnh nhân, tỷ lệ người gặp phải triệu chứng nôn và buồn nôn chiếm lần lượt 14,5%, trong khi 2,6% cần tiểu qua sonde để hỗ trợ Về tình trạng đau đầu, có 17,1% bệnh nhân bị đau dữ dội, 17,9% cảm giác rất đau, 35,9% gặp đau vừa phải, 13,7% đau nhẹ và 15,4% không có triệu chứng đau đầu Các dữ liệu này giúp đánh giá mức độ khó chịu và các triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân, từ đó có thể hướng tới các phương pháp điều trị phù hợp.
Bảng 3.9 Tâm lý người bệnh trước mổ
Tâm lý người bệnh NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét: đa số người bệnh lo lắng ít chiếm 60,7%; lo lắng vừa chiếm 39,3%
3.1.2.2 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh trước mổ
Bảng 3.10 Đặc điểm về dấu hiệu sinh tồn của người bệnh sau mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện
Tần số tim Bình thường 115 (98,3%) 115 (98,3%) 115 (98,3%)
Bình thường 115 (98,3%) 115 (98,3%) 116 (99,1%) Bất thường(cao) 2 (1,7%) 2 (1,7%) 1 (0,9%)
Hầu hết người bệnh sau mổ đều có nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ và SpO2 ở mức bình thường, cho thấy quá trình hồi phục diễn ra thuận lợi Các chỉ số sinh tồn này đều tiến triển tốt từ 24 giờ sau phẫu thuật cho đến khi xuất viện, phản ánh khả năng hồi phục nhanh chóng và ổn định của bệnh nhân This positive trend in vital signs emphasizes the effectiveness of postoperative care and timeliness of recovery.
Bảng 3.11 Triệu chứng lâm sàng của người bệnh sau mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện Sau mổ 1 tháng
Dấu hiệu liệt Không liệt 115 (98,3%) 115 (98,3%) 116 (99,1%) 116 (99,1%)
Không 20 (17,1%) 21 (17,9%) 53 (45,3%) 100 (85,5%) Nhẹ (1-3) 80 (68,4%) 87 (74,4%) 64 (54,7%) 17 (14,5%) Vừa (4-6) 16 (13,7%) 8 (6,8%) 0 (0%) 0 (0%) Rất đau (7-8) 1 (0,9%) 1 (0,9%) 0 (0%) 0 (0%) Khủng khiếp
Qua sonde 107 (91,5%) 25 (21,4%) 0 (0%) 0 (0%) Nôn, buồn nôn
Nhận xét: các triệu chứng của người bệnh hầu hết đã được cải thiện rõ rệt từ sau mổ
Sau 24 giờ đến khi xuất viện, phần lớn bệnh nhân hết đau đầu hoặc chỉ còn đau đầu nhẹ, với tỷ lệ lần lượt là 45,3% và 54,7% Sau một tháng, triệu chứng đau đầu đã cải thiện rõ rệt, chỉ còn 14,5% bệnh nhân gặp phải đau đầu nhẹ, cho thấy sự tiến triển tích cực sau điều trị và thời gian hồi phục.
Bảng 3.12 Tâm lý người bệnh sau mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét: tỷ lệ lo lắng vừa sau mổ chiếm 17,1%; lo lắng ít chiếm 82,9%
Bảng 3.13 Biến chứng chung sau phẫu thuật
Biến chứng sau phẫu thuật
NB mổ nội soi UTY (n = 117) Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Chảy máu mũi 5 4,3 Đái tháo nhạt 10 8,5
Hầu hết các bệnh nhân sau phẫu thuật gặp ít biến chứng chung, trong đó đái tháo nhạt chiếm tỷ lệ cao nhất với 8,5% Các biến chứng khác như mất khả năng ngửi, chiếm 7,7%, chảy máu mũi, chiếm 4,3%, và rò dịch não tủy, cũng chiếm 4,3%, đều có mức độ phổ biến thấp và thường gặp trong quá trình hậu phẫu.
3.1.3 Kết quả cận lâm sàng của người bệnh mổ nội soi u tuyến yên
3.1.3.1 Kết quả cận lâm sàng trước mổ
Bảng 3.14 Kết quả cận lâm sàng về công thức máu trước mổ
Xét nghiệm công thức máu NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Huyết sắc tố Bình thường 107 91,5
Hầu hết các xét nghiệm công thức máu của bệnh nhân trước phẫu thuật đều cho kết quả bình thường, cho thấy tình trạng sức khỏe ổn định Tuy nhiên, tỷ lệ bất thường cao nhất là số lượng bạch cầu chiếm 9,4%, thể hiện khả năng nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm tiềm ẩn Ngoài ra, tỷ lệ bất thường về huyết sắc tố là 8,5%, cần chú ý theo dõi để đảm bảo an toàn cho quá trình phẫu thuật.
Bảng 3.15 Kết quả giải phẫu bệnh (n = 117)
Kết quả Tần só (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: kết quả giải phẫu bệnh cho thấy tỷ lệ người bệnh UTY không tăng tiết chiếm tỷ lệ 46,2%, UTY tăng tiết chiếm 42,7%, UTY khác chiếm 11,1%
3.1.3.2 Kết quả cận lâm sàng sau mổ
Bảng 3.16 Kết quả cận lâm sàng về công thức máu sau mổ
Xét nghiệm công thức máu
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét: tỷ lệ bất thường sau mổ cao nhất là huyết sắc tố chiếm 5,1%; bạch cầu bất thường chiếm 4,3%; hematocrit bất thường chiếm 3,4%, hồng cầu bất thường chiếm 2,6%.
Kết quả đánh giá tình trạng mũi miệng
Bảng 3.17 Tiền sử các bệnh lý vùng mũi miệng
NB mổ nội soi UTY (n = 117) Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Can thiệp ngoại khoa vùng mũi miệng 22 18,8
Nhận xét: Bệnh nhân có tiền sử viêm mũi xoang chiểm tỷ lệ nhỏ: 7,7%; 18,8% bệnh nhân có tiền sử can thiệp ngoại khoa vùng mũi miệng
Bảng 3.18 Tình trạng mũi trước mổ
Tình trạng mũi trước mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét: Tất cả các bệnh nhân đều có tình trạng mũi bình thường trước mổ
Bảng 3.19 Tình trạng mũi sau mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện 1 tháng sau mổ
Sau phẫu thuật, có 20,5% người bệnh gặp phải hiện tượng ngạt mũi trong vòng 24 giờ đầu, trong khi 17,1% bị chảy dịch mũi và 4,3% xuất hiện chảy máu mũi Các triệu chứng này giảm dần theo thời gian, còn lại 6,8% bệnh nhân vẫn còn ngạt mũi và 4,3% còn chảy dịch mũi khi xuất viện Sau 1 tháng, chỉ còn 3,4% bệnh nhân vẫn gặp phải triệu chứng ngạt mũi và 0,9% vẫn còn chảy dịch mũi, cho thấy mức độ hồi phục sau phẫu thuật là khá tốt.
Kết quả đánh giá tình trạng tuyến yên
Bảng 3.20 Biểu hiện về tuyến yên của người bệnh trước mổ
Triệu chứng về tuyến yên NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Hội chứng suy tuyến yên
Nhận xét: đa số người bệnh đều có giảm thị lực trước mổ chiếm 66,7%; hội chứng suy tuyến yên chiếm 12,8%; đồng tử giãn là 2,6%
Bảng 3.21 Biểu hiện về tuyến yên của người bệnh sau mổ
Biểu hiện về tuyến yên
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện Sau mổ 1 tháng
Không cải thiện 30 (25,6%) 25 (21,4%) 21 (17,9%) 10(8,5%) Cải thiện 87 (74,4%) 92 (78,6%) 96 (82,1%) 107 (91,5%)
Hội chứng suy tuyến yên
Nhận xét: các biểu hiện về tuyến yên đã được cải thiện từ sau mổ 24h đến khi ra viện
Tỷ lệ người bệnh khi ra viện còn giảm thị lực là 17,9%, sau 1 tháng còn 8,5%; có hội chứng suy tuyến yên ra viện là 8,5% và sau 1 tháng là 4,3%
Bảng 3.22 Kết quả cận lâm sàng về sinh hóa trước mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117) Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân có xét nghiệm sinh hóa bất thường trước mổ là đáng chú ý, với đường máu cao chiếm 20,5%, cortisol thấp chiếm 17,1%, natri thấp chiếm 11,1%, clo thấp chiếm 9,4%, và kali thấp chiếm 6,0%.
Bảng 3.23 Kết quả cận lâm sàng về nội tiết trước mổ
Xét nghiệm nội tiết NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Based on an evaluation of hormonal tests, a significant proportion of patients exhibit abnormal results, with 33.3% having elevated prolactin levels, 31.6% experiencing low LH levels, and 29.1% showing high FSH levels, indicating notable hormonal imbalances in this patient group.
Bảng 3.24 Kết quả cận lâm sàng về sinh hóa sau mổ
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét: kết quả xét nghiệm sinh hóa sau mổ cho thấy: tỷ lệ cortisol thấp chiếm
12,8%; cortisol cao chiếm 10,3%; đường máu cao chiếm 12,0%; natri thấp chiếm 8,5%; kali thấp chiếm 6,8%; clo thấp chiếm 5,1%
Bảng 3.25 Kết quả cận lâm sàng về Nội tiết sau mổ
Xét nghiệm nội tiết NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét : tỷ lệ người bệnh có FT3 thấp chiếm 37,6%; LH thấp chiếm 30,8%; FT4 thấp chiếm 26,5%; TSH thấp chiếm 25,6%; FSH cao chiếm 25,6%.
Kết quả chăm sóc người bệnh mổ nội soi u tuyến yên và một số yếu tố liên quan
3.4.1 Kết quả chăm sóc người bệnh mổ nội soi u tuyến yên
Bảng 3.26 Tiếp nhận người bệnh của điều dưỡng
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Trước mổ Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện Đo DHST đúng quy định
Kiểm tra, đánh giá nước tiểu
HD tư thế NB < 1 lần/ngày 29 (24,8%) 10 (8,5%) 9 (7,7%) 9 (7,7%)
HD NB thở < 1 lần/ngày 21 (17,8%) 3 (2,6%) 3 (2,6%) 2 (1,7%)
Tỷ lệ người bệnh được đo DHST trên 2 lần/ngày đạt 82,1%, cho thấy theo dõi liên tục và chặt chẽ trong quá trình điều trị Ngoài ra, 86,3% bệnh nhân được kiểm tra ven truyền ít nhất 2 lần/ngày, đảm bảo an toàn trong quản lý dịch truyền Việc hướng dẫn tư thế cho người bệnh trên 1 lần/ngày chiếm tỷ lệ 75,2%, giúp nâng cao sự hiểu biết và tự chăm sóc bản thân Đồng thời, 81,2% bệnh nhân được hướng dẫn thở trên 1 lần/ngày, góp phần cải thiện chức năng hô hấp và tăng khả năng phục hồi.
Bảng 3.27 Các can thiệp điều dưỡng với người bệnh
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Trước mổ Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện
Không can thiệp 3 (2,6%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) Động viên 42 (35,9%) 0 (0%) 0 (0%) 1 (0,9%) Thuốc 8 (6,8%) 2 (1,7%) 2 (1,7%) 2 (1,7%)
Không can thiệp 2 (1,7%) 47 (40,2%) 9 (7,7%) 8 (6,8%) Khí dung 8 (6,8%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) Rửa mũi 1 (0,9%) 70 (59,8%) 108 (92,3%) 109 (93,2%)
Hầu hết các bệnh nhân đã được can thiệp trước mổ với các phương pháp giảm đau (97,4%), giảm nghẹt mũi (90,6%) và sử dụng khí dung, rửa mũi để chuẩn bị cho phẫu thuật (93,2%).
Bảng 3.28 Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Trước mổ Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Chế độ ăn Tự túc 48 (41,0%) 8 (6,8%) 8 (6,8%) 9 (7,7%)
Số lượng Ăn hết 108 (92,3%) 67 (57,3%) 87 (74,4%) 103 (88,0%) Ăn không hết 9 (7,7%) 50 (42,7%) 30 (25,6%) 14 (12,0%)
Tất cả bệnh nhân đều được đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật để đảm bảo chuẩn bị tốt nhất cho quá trình hồi phục Có đến 92,3% bệnh nhân ăn hết suất, thể hiện khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt Về chế độ ăn, 41% chọn ăn tự túc, trong khi 59% còn lại theo chế độ ăn của bệnh viện, phù hợp với từng nhu cầu và điều kiện của người bệnh để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng, hỗ trợ quá trình hậu phẫu.
Bảng 3.29 Hướng dẫn, trợ giúp vệ sinh mũi
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Trước mổ Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện
Không xì mũi, ngoáy mũi
Hầu hết bệnh nhân đều được hướng dẫn và hỗ trợ về vệ sinh mũi đúng cách Trong đó, việc rửa mũi 3-4 lần mỗi ngày chiếm tỷ lệ cao 95,7%, giúp loại bỏ dịch và bụi bẩn hiệu quả Ngoài ra, bệnh nhân được khuyến cáo không xì mũi hoặc ngoáy mũi để tránh làm tổn thương niêm mạc và gây tổn thương cho mũi, đạt tỷ lệ thực hiện 89,7%.
Bảng 3.30 Hướng dẫn, giáo dục sức khỏe
Hướng dẫn, giáo dục sức khỏe
NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Trước mổ Sau mổ 24h Ngày thứ 3 sau mổ Ra viện
HD tác dụng của thuốc
HD chế độ lao động, nghỉ ngơi
HD chế độ ăn Không 21 (17,9%) 6 (5,1%) 10 (8,5%) 14 (12,0%)
HD về tuân thủ điều trị
Đa số người bệnh đã được điều dưỡng hướng dẫn và giáo dục về nhiều lĩnh vực quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Cụ thể, 87,2% bệnh nhân đã được hướng dẫn về tác dụng của thuốc, giúp nâng cao hiểu biết và tuân thủ điều trị hiệu quả Ngoài ra, 85,5% người bệnh được hướng dẫn về chế độ lao động và nghỉ ngơi phù hợp để đảm bảo quá trình hồi phục 82,1% bệnh nhân nhận được hướng dẫn về chế độ ăn uống hợp lý, góp phần tăng cường sức khỏe tổng thể Đồng thời, 84,6% người bệnh được giáo dục về việc tuân thủ phác đồ điều trị, đảm bảo kết quả điều trị thành công Cuối cùng, 80,3% người bệnh đã được hướng dẫn về khám lại định kỳ, giúp phát hiện sớm các vấn đề phát sinh và duy trì sức khỏe lâu dài.
Bảng 3.31 Đánh giá sự hài lòng về tinh thần phục vụ của nhân viên y tế
Sự hài lòng của NB NB mổ nội soi UTY (n = 117)
Nhận xét: tỷ lệ hài lòng của người bệnh chiếm 61,5%; rất hài lòng là 22,2%, bình thường là 13,7% và không hài lòng là 2,6%
Biểu đồ 3.5 Kết quả chăm sóc NB UTY (n = 117)
Nhận xét: Kết quả chăm sóc tốt chiếm 81,2%; chăm sóc chưa tốt chiếm 18,8%
3.4.2 Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc người bệnh mổ nội soi UTY Bảng 3.32 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của người bệnh với KQCS (n = 117) Đặc điểm chung Kết quả chăm sóc OR
Khu vực sống Thành thị 10 (15,9%) 53 (84,1%) 0,66
Nông thôn 12 (22,2%) 42 (77,8%) Trình độ học vấn
Người từ 60 tuổi trở lên có khả năng chăm sóc chưa tốt cao gấp 3,36 lần so với những người dưới 60 tuổi, với sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê xác định (p < 0,05) Bên cạnh đó, những người có trình độ học vấn từ THPT trở xuống có khả năng chăm sóc chưa tốt cao gấp 4,22 lần so với các người có trình độ học vấn trên THPT, và sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê rõ ràng (p < 0,05), cho thấy yếu tố tuổi tác và trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng trong chất lượng chăm sóc.
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa Bảo hiểm y tế với KQCS (n = 117)
Kết quả chăm sóc OR
Nhận xét: chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về BHYT với KQCS người bệnh u tuyến yên
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa Bệnh lý kèm theo với KQCS (n = 117)
Kết quả chăm sóc OR
Nhận xét: những người tăng huyết áp có khả năng kết quả chăm sóc chưa tốt cao gấp
3,18 lần những người không bị tăng huyết áp, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Người mắc đái tháo đường có nguy cơ kết quả chăm sóc sức khỏe kém cao gấp 6,69 lần so với những người không mắc bệnh, cho thấy mức độ ảnh hưởng rõ rệt của đái tháo đường đến chất lượng chăm sóc y tế Sự khác biệt này đã được xác nhận là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện quản lý và chăm sóc cho bệnh nhân đái tháo đường.
Bảng 3.35 Mối liên quan giữa chẩn đoán với KQCS (n = 117)
Chẩn đoán Kết quả chăm sóc OR
Nhận xét cho thấy, những người bị UTY tái phát có khả năng gặp phải kết quả chăm sóc không tốt cao hơn gấp 3,31 lần so với những người mắc UTY lần đầu, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý và kiểm soát bệnh lý để giảm nguy cơ tái phát Sự khác biệt này đạt mức ý nghĩa thống kê với p < 0,05, nhấn mạnh rằng các yếu tố liên quan đến tái phát UTY cần được chú trọng trong chiến lược chăm sóc bệnh nhân Việc đánh giá chính xác và tối ưu hóa các biện pháp can thiệp có thể giảm tỷ lệ tái phát, nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng chăm sóc y tế.
Bảng 3.36 Mối liên quan giữa hướng dẫn, GDSK với KQCS (n = 117)
Hướng dẫn, giáo dục sức khỏe Kết quả chăm sóc OR
HD tác dụng của thuốc
HD chế độ lao động, nghỉ ngơi
HD chế độ ăn Không 8 (38,1%) 13 (61,9%) 3,60
HD về tuân thủ điều trị
Những người không được hướng dẫn về tác dụng của thuốc có khả năng chăm sóc sức khỏe chưa tốt cao gấp 5,08 lần so với những người được hướng dẫn đầy đủ Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê với mức độ p < 0,05, cho thấy tầm quan trọng của việc hướng dẫn đúng cách sử dụng thuốc trong nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.
Những người không được hướng dẫn chế độ ăn có khả năng gặp phải kết quả chăm sóc kém gấp 3,60 lần so với những người nhận được hướng dẫn chế độ ăn phù hợp Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê đáng kể với p < 0,05, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hướng dẫn dinh dưỡng đúng cách trong quá trình điều trị và chăm sóc.
Những người không được hướng dẫn về tuân thủ điều trị có khả năng gặp phải kết quả chăm sóc chưa tốt cao gấp 4,86 lần so với những người đã được hướng dẫn Sự khác biệt này đạt mức ý nghĩa thống kê rõ ràng với p < 0,05, cho thấy tầm quan trọng của việc hướng dẫn bệnh nhân trong quá trình điều trị để cải thiện kết quả chăm sóc sức khỏe.
Bảng 3.37 Mối liên quan giữa sự hài lòng của người bệnh với KQCS (n = 117)
Sự hài lòng của NB
Kết quả chăm sóc OR
Những người chưa hài lòng về điều trị có khả năng gặp phải kết quả chăm sóc kém hơn, gấp 4,36 lần so với những người hài lòng Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng với giá trị p < 0,05, cho thấy mức độ hài lòng trong điều trị ảnh hưởng đáng kể đến kết quả chăm sóc sức khỏe.
BÀN LUẬN
Đánh giá tình trạng mũi miệng
Trong tiền sử bệnh, có 7,7% bệnh nhân từng mắc viêm mũi xoang và 18,8% đã thực hiện can thiệp phẫu thuật vùng mũi, tuy nhiên trước phẫu thuật, tất cả đều đã được điều trị ổn định và có tình trạng mũi bình thường, sẵn sàng cho phẫu thuật Đáng lưu ý, nhóm bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm hoặc từng phẫu thuật trước đó có nguy cơ cao gặp các biến chứng nhiễm trùng sau mổ, đòi hỏi chú ý đặc biệt trong quá trình điều trị và phẫu thuật.
Trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật và những ngày đầu sau mổ, các biểu hiện thường gặp gồm ngạt mũi chiếm tỷ lệ 20,5% và chảy dịch mũi chiếm 17,1%, do niêm mạc phù nề và tiết dịch viêm sau phẫu thuật Tình trạng này dần cải thiện theo thời gian, chỉ còn 6,8% bệnh nhân bị ngạt mũi và 4,3% bệnh nhân xuất hiện chảy dịch mũi sau khi ra viện So sánh với nghiên cứu của Trần Thị Thu Hằng [3], tỷ lệ bệnh nhân ngạt mũi và chảy dịch mũi thấp hơn, lần lượt là 4,76% và 1,19%.
Ngạt mũi và chảy dịch sau phẫu thuật là hiện tượng bình thường, tuy nhiên người bệnh cần được hướng dẫn vệ sinh mũi miệng đúng cách và theo dõi để sớm phát hiện các biến chứng như nhiễm trùng, viêm mũi xoang gây ngạt mũi hoặc chảy dịch viêm kéo dài, đồng thời phân biệt rõ giữa dịch viêm và dịch não tủy Cần chú ý đến các vấn đề về khó thở do phì đại mô hầu và thanh quản, liên quan đến tăng tiết GH, vì theo nghiên cứu của Nemergut và cộng sự, bệnh hô hấp là nguyên nhân gây đột tử phổ biến thứ hai sau bệnh tim mạch nếu không được điều trị kịp thời Mặc dù triệu chứng dày sụn dây thanh có thể giảm sau phẫu thuật, rối loạn nhịp thở nhất là về đêm vẫn có thể tồn tại, do đó cần đánh giá nhịp thở, theo dõi những đối tượng nguy cơ cao ngưng thở và hướng dẫn người nhà phát hiện sớm dấu hiệu ngưng thở ban đêm Nghiên cứu cũng cho thấy, các phương pháp phẫu thuật qua nội soi như mổ bằng kính hiển vi có thể giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng thở do các biến dạng trong cấu trúc mũi như vẹo, lệch vách ngăn, xơ dính, gây tắc nghẽn, với tỷ lệ ngạt mũi sau mổ chỉ khoảng 30-40% Trong nghiên cứu của chúng tôi, phẫu thuật nội soi qua xoang bướm đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ ngạt mũi sau mổ, mang lại kết quả khả quan hơn.
Các biến chứng sau mổ liên quan đến vùng mũi phổ biến nhất là phù nề, nhiễm trùng và viêm vùng mũi xoang, chiếm tỷ lệ 8,5%, đa số được điều trị bằng kháng sinh kéo dài và chăm sóc vệ sinh mũi hàng ngày Các trường hợp chảy máu đều được phát hiện sớm và cầm máu kịp thời, giúp tránh xảy ra mất máu nhiều cần truyền máu Mất ngửi sau phẫu thuật chiếm 7,7%, chủ yếu do tổn thương niêm mạc khứu giác trong quá trình mổ và thường không hồi phục sau phẫu thuật.
Sau một tháng sau mổ, vẫn có 4 người bệnh gặp phải hiện tượng ngạt mũi thường xuyên do viêm nhiễm tái phát vì vệ sinh mũi chưa đúng cách, gây triệu chứng ngạt mũi và chảy dịch Ngoài ra, có một bệnh nhân gặp hiện tượng chảy dịch mũi do vệ sinh không đúng quy trình Vì vậy, khi người bệnh ra viện, cần hướng dẫn kỹ lưỡng cách vệ sinh mũi đúng cách để ngăn ngừa tái phát và đảm bảo hiệu quả hồi phục.
Kết quả đánh giá tình trạng tuyến yên trước và sau mổ
4.4.1 Đánh giá tình trạng tuyến yên trước phẫu thuật
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 76,9% bệnh nhân mắc u tuyến yên có dấu hiệu giảm thị lực Các nghiên cứu trước đó cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mờ mắt dao động từ 44% đến 92,9%, trong đó Nguyễn Thanh Xuân và cộng sự ghi nhận tới 87,5% ở các khối u lớn [21], Lý Ngọc Liên là 92,9% [13], Kurosaki và cộng sự là 84,4% [40], cao hơn so với kết quả của chúng tôi Ngược lại, các nghiên cứu của Nguyễn Phong, Dehdashti và Shou có tỷ lệ rối loạn thị giác thấp hơn, lần lượt là 44%, 40% và 67% [15], [27], [48] Rối loạn thị lực trong u tuyến yên thường xuất phát từ khối u phát triển lên trên, gây chèn ép vào đường thị giác phía trước như giao thoa thị giác và dây thần kinh II Bán manh thái dương là biểu hiện sớm nhất, và khi u tiếp tục chèn ép, sẽ dẫn đến giảm thị lực, phù gai thị, teo gai và mù mắt Rối loạn thị giác có thể do tổn thương cơ học chèn ép hoặc thiếu máu gây ra [35].
Nhóm triệu chứng suy tuyến yên gặp ở 12,8% bệnh nhân trong nghiên cứu, trong đó có 18,2% bệnh nhân có suy tuyến yên trước mổ theo nghiên cứu của Trần Thiện Khiêm Tỷ lệ suy tuyến yên cao hơn trong nhóm u tuyến yên không tiết chế, với các nghiên cứu của Kurosaki và cộng sự ghi nhận tỷ lệ này là 18,8%, còn Paluzzi và cộng sự báo cáo là 25,65% Một số trường hợp chảy máu trong u tuyến yên có thể gây ra suy tuyến yên cấp tính, với các triệu chứng như đau đầu dữ dội, nhìn mờ nhanh, và các dấu hiệu suy tuyến yên xuất hiện nhanh chóng Suy tuyến yên do chảy máu trong u tuyến yên là cấp cứu ngoại khoa thần kinh cần xử lý nhanh chóng, đúng phương pháp và kịp thời để tránh biến chứng nặng.
4.4.1.2 Triệu chứng cận lâm sàng Đặc điểm sinh hóa máu
Kết quả sinh hóa máu cho thấy có tới 30,8% bệnh nhân mắc rối loạn nồng độ cortisol, trong đó 17,1% có mức cortisol thấp và 13,7% cao Ngoài ra, tỷ lệ glucose máu cao chiếm 20,5%, phản ánh vấn đề kiểm soát đường huyết Rối loạn điện giải cũng phổ biến, với giảm natri xảy ra ở 11,1% và giảm kali ở 6,0% các bệnh nhân.
Cortisol được sản xuất và tiết ra bởi tuyến thượng thận, hoạt động dựa trên cơ chế điều hòa bởi vùng dưới đồi trong não và tuyến yên Khi nồng độ cortisol trong máu thấp, vùng dưới đồi sẽ giải phóng hormone corticotropin releasing hormone (CRH), kích thích tuyến yên tiết ra hormone kích thích vỏ thượng thận (ACTH), từ đó thúc đẩy tuyến thượng thận sản xuất và phóng thích cortisol Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chính xác giữa vùng dưới đồi, tuyến yên và tuyến thượng thận để duy trì mức cortisol phù hợp Khi nồng độ cortisol cao bất thường, các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện gọi là hội chứng Cushing, thường do khối u tuyến yên tăng sản xuất ACTH Ngược lại, nồng độ cortisol thấp có thể phản ánh tuyến yên hoạt động kém hoặc bị khối u tuyến yên gây ức chế sản xuất ACTH, làm gián đoạn quá trình điều hòa cortisol trong cơ thể.
U tuyến yên tiết ACTH hoặc tăng sản tuyến yên (bệnh Cushing) gây ra các rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng, bao gồm rối loạn dung nạp glucose dẫn đến đái tháo đường type II, tăng huyết áp, phù nề và giảm Kali máu Những thay đổi này thể hiện rõ đặc điểm biến đổi hormone, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và quá trình trao đổi chất của cơ thể.
Nghiên cứu đã đánh giá sự thay đổi nồng độ các hormone trong cơ thể người bệnh thông qua xét nghiệm máu, phát hiện rằng 45,1% người bệnh có bất thường về prolactin, trong đó 33,3% cao và 12,8% thấp Ngoài ra, có 29,1% người bệnh có mức FSH tăng và 14,5% giảm, cùng với 37,6% người bệnh có thay đổi về LH, trong đó 31,6% tăng và 6% giảm Các hormone khác như T3, T4, FT3 và FT4 cũng có sự biến đổi với tỷ lệ thấp hơn, lần lượt là 28,8%; 20,5%; 26,5% và 26,5%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ tăng của Prolactin thấp hơn so với một số nghiên cứu khác, chẳng hạn như nghiên cứu của Phạm Thị Thu Huyền và cộng sự với tỷ lệ 71,1% và nghiên cứu của Moritini với tỷ lệ 69,3%, đều ghi nhận nồng độ Prolactin vượt trên 2000 mUl/L.
Nồng độ các chất và hormone trong máu thay đổi tùy thuộc vào loại u tuyến yên U tuyến yên xuất phát từ tế bào tiết prolactin gây tăng nồng độ prolactin máu, có thể tăng nhiều lần, hàng trăm hoặc hàng nghìn lần so với bình thường Ví dụ, chúng tôi đã điều trị nhiều bệnh nhân có nồng độ prolactin lên đến hơn 900.000 đơn vị, so với mức bình thường chỉ khoảng 200-500 đơn vị Ngoài ra, u tuyến yên còn xuất phát từ tế bào tuyến yên tiết nội tiết tố tăng trưởng, ảnh hưởng đáng kể đến quá trình nội tiết trong cơ thể.
GH làm tăng nồng độ nội tiết tố này trong máu và làm người bệnh phát triển bất thường Nồng độ GH tăng cao trong máu[4]
Nhóm u tuyến yên không tăng tiết xuất phát từ các tế bào tuyến yên không tiết nội tiết tố, dẫn đến mức nội tiết tố trong máu không tăng mà còn có thể giảm Khi khối u tuyến yên phát triển lớn, nó có thể gây chèn ép các tế bào lành, gây rối loạn hoặc giảm tiết nội tiết tố Ngoài ra, khối u lớn còn có thể gây áp lực lên các cấu trúc não lân cận, dẫn đến hội chứng chèn ép giống như các u trong sọ khác.
4.4.2 Đánh giá tình trạng tuyến yên sau phẫu thuật
Sau phẫu thuật, đa số người bệnh đã cải thiện thị lực rõ rệt Cụ thể, 74,4% bệnh nhân thấy cải thiện trong 24 giờ đầu tiên sau mổ, 78,6% cải thiện trong vòng 3 ngày đầu sau phẫu thuật, và tỷ lệ này tăng lên lên đến 82,1% khi ra viện Những kết quả này cho thấy phương pháp phẫu thuật đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao thị lực cho người bệnh nhanh chóng sau quá trình điều trị.
Trong vòng 1 tháng sau điều trị, có đến 91,5% bệnh nhân đã hồi phục thị lực Tuy nhiên, sau lần khám lại thứ nhất, vẫn còn 10 bệnh nhân không có sự phục hồi thị lực; trong số này, 6 người gặp biến chứng giảm thị lực sau mổ do khối u tuyến yên lớn gây chèn ép kéo dài, dẫn đến tổn thương không thể phục hồi của thần kinh thị giác Những bệnh nhân có tổn thương nặng trước mổ, như mất thị lực nghiêm trọng, khả năng hồi phục sau mổ rất hạn chế Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trước đó, chẳng hạn như nghiên cứu của Dehdashti với tỷ lệ hồi phục thị lực đạt 89%, và nghiên cứu của Paluzzi với tỷ lệ hồi phục lên tới 80,2%, cho thấy khả năng phục hồi thần kinh thị giác sau điều trị rất cao.
Sau phẫu thuật, cần lưu ý các triệu chứng giảm thị lực có thể là dấu hiệu biến chứng chảy máu sau mổ hoặc khối máu tụ lớn gây chèn ép giao thoa thị giác Bệnh nhân có thể trải qua tình trạng mờ mắt hơn trước, đòi hỏi việc theo dõi thị lực đúng cách của nhân viên y tế để phát hiện biến chứng kịp thời Việc xử lý sớm các vấn đề về thị lực sau mổ giúp tránh tổn thương không hồi phục và bảo vệ sức khỏe thị giác của người bệnh.
Trong vòng 24 giờ sau mổ, có khoảng 10,3% bệnh nhân mắc hội chứng suy tuyến yên, tỷ lệ này giảm còn 9,4% vào ngày thứ 3 và còn 8,5% tại thời điểm ra viện Sau 1 tháng, tỷ lệ phục hồi hoàn toàn lên tới 95,7%, đồng thời chỉ còn 5 bệnh nhân còn biểu hiện hội chứng suy tuyến yên lâm sàng.
Các xét nghiệm bất thường thường gặp ở bệnh nhân bao gồm rối loạn điện giải với tỷ lệ cao, trong đó natri thấp chiếm 8,5%, natri cao 0,9%, kali thấp 6,8%, cortisol thấp 12,8%, cortisol cao 10,3%, FT3 thấp 37,6%, FT4 thấp 26,5%, và TSH thấp 25,6% So sánh với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Xuân, kết quả về prolactin sau mổ của chúng tôi cho thấy tỷ lệ người bệnh có prolactin cao hơn, trong khi theo tác giả, chỉ có 42% bệnh nhân có prolactin bình thường sau phẫu thuật Điều trị u tuyến yên tăng tiết prolactin không chỉ dựa vào phẫu thuật mà còn cần sự phối hợp của điều trị nội khoa và theo dõi chặt chẽ, có chỉ định hợp lý để đạt kết quả tối ưu.
Các rối loạn hormon và điện giải ở bệnh nhân thường tiến triển và có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như rối loạn nội tiết và suy tuyến yên, chiếm tỷ lệ lần lượt là 12,0% và 26,5% Trong nghiên cứu của chúng tôi, có trường hợp người bệnh đi tiểu từ 8-9 lít/24 giờ, nước tiểu nhạt màu, nguy cơ rối loạn điện giải nặng nếu không được điều trị kịp thời Khoảng một phần ba bệnh nhân có đái tháo nhạt tạm thời sau mổ, trong đó một số trường hợp thiếu hụt nội tiết tố tuyến yên cần điều trị bổ sung kéo dài Các nghiên cứu của các tác giả khác cũng cho thấy tỷ lệ suy tuyến yên ở bệnh nhân sau mổ có đái tháo nhạt dao động khoảng 10,5%, phù hợp với kết quả của chúng tôi.
Kết quả chăm sóc người bệnh, can thiệp điều dưỡng
4.5.1 Hoạt động chăm sóc người bệnh
Hoạt động tiếp nhận người bệnh
Các hoạt động tiếp nhận ban đầu bao gồm ghi chép các thông số người bệnh, treo biển theo dõi, nhận định toàn trạng, kiểm tra hệ thống dây dẫn lưu và ven truyền Đánh giá hoạt động chăm sóc trước mổ, trong 24 giờ đầu sau mổ, 3 ngày sau mổ và trước khi ra viện cho thấy, tỷ lệ đo dấu hiệu sinh tồn đúng quy định tăng dần từ 82,1% trước mổ đến 88,9% vào ngày ra viện, phản ánh nỗ lực cải thiện công tác theo dõi bệnh nhân Theo quy định, bệnh nhân trước mổ ổn định được theo dõi ít nhất 2 lần/ngày, trong khi sau mổ, nhất là trong 24 giờ đầu, theo dõi có thể tiến hành 1-3 giờ/lần để phát hiện sớm các dấu hiệu chảy máu hoặc nhiễm khuẩn, đặc biệt đối với những bệnh nhân nặng hoặc còn thở oxi Tuy nhiên, tỷ lệ theo dõi dấu hiệu sinh tồn còn thấp khoảng 80%, nên chúng tôi sẽ cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động này trong tương lai Trong quá trình đánh giá toàn trạng, chúng tôi kiểm tra tri giác, các dấu hiệu bất thường như thiếu máu, suy nhược hoặc chèn ép thần kinh bằng thang đo Glasgow, đánh giá theo giờ và phân theo mức độ nặng của người bệnh Nhận định toàn trạng trước và sau mổ giúp phát hiện sớm các dấu hiệu thiếu máu, thay đổi tri giác hoặc chảy máu nội sọ, từ đó điều dưỡng có thể theo dõi sát và xử lý kịp thời, hạn chế các biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.
Kiểm tra ven truyền là hoạt động quan trọng trong chăm sóc điều dưỡng để đảm bảo an toàn cho người bệnh Trước phẫu thuật, tỷ lệ kiểm tra ven truyền đạt 86,3%, trong khi sau 24 giờ đầu sau mổ, do người bệnh cần truyền nhiều loại dịch và thuốc tiêm qua tĩnh mạch, tỷ lệ này tăng lên đạt 93,2%, nhằm phòng ngừa các tình trạng hỏng hoặc phồng ven Điều dưỡng thường xuyên đánh giá ven truyền để đảm bảo chất lượng, đặc biệt trong trường hợp người bệnh có nguy cơ chảy máu hoặc gặp các cấp cứu liên quan đến suy hô hấp hoặc tuần hoàn, giúp hoạt động cấp cứu diễn ra thuận lợi hơn Trong thời kỳ sau mổ, khi người bệnh ổn định và khả năng dinh dưỡng tốt hơn, tỷ lệ truyền dịch giảm xuống, và việc kiểm tra ven truyền còn đạt trên 80%, do không còn cần thiết duy trì đeo ven truyền chung, chỉ cần tiêm kháng sinh theo giờ phù hợp trong ngày.
Việc kiểm tra và đánh giá nước tiểu trước và sau phẫu thuật là rất quan trọng đối với bệnh nhân u tuyến yên vì liên quan đến biến chứng đái tháo nhạt hoặc bí tiểu Trước mổ, tỷ lệ kiểm tra nước tiểu chỉ đạt 16,2%, nhưng sau mổ tăng lên 98,3% vào ngày đầu và ngày thứ 3 sau phẫu thuật, và đạt 94% vào ngày xuất viện Nguyên nhân tỷ lệ theo dõi nước tiểu trước mổ còn thấp là do phần lớn bệnh nhân chưa xuất hiện biến chứng đái tháo nhạt và chưa cần đặt thông tiểu do còn chủ động trong kiểm soát tiểu tiện Tuy nhiên, sau phẫu thuật, phần lớn bệnh nhân phải đặt sonde tiểu, và có thể gặp biến chứng đái tháo nhạt, thường xảy ra trong giai đoạn hậu phẫu với tỷ lệ từ 16-38 bệnh nhân, nhưng thường khỏi hoàn toàn trong vòng 10 ngày Tỷ lệ theo dõi và đánh giá nước tiểu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Tiến, trong đó chỉ có 87,5% điều dưỡng thực hiện đúng trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật.
Trong quá trình chăm sóc người bệnh, hoạt động hướng dẫn tư thế trước mổ chỉ đạt tỷ lệ 75,2%, do đa số người bệnh tự chủ đi lại trước phẫu thuật Sau mổ, việc hướng dẫn tư thế cho người bệnh là rất cần thiết, với trên 90% người bệnh được điều dưỡng hướng dẫn đúng tư thế nằm đầu cao 30 độ, thẳng trục, giúp dễ thở và giảm các triệu chứng khó chịu như đau hay chóng mặt sau phẫu thuật Hoạt động này đã đạt kết quả tốt hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Tiến, thể hiện vai trò quan trọng của hướng dẫn tư thế trong quá trình chăm sóc hậu phẫu.
Hướng dẫn cách thở trước và sau mổ giúp người bệnh thở hiệu quả, giảm nguy cơ khó thở, thở mạnh qua mũi hoặc ho, hắt xì gây chảy máu xoang mũi Trước mổ, tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng kỹ thuật thở đạt 81,2%, tăng lên 97,5% vào ngày thứ nhất và ngày thứ 3 sau mổ, và đạt 98,3% khi người bệnh xuất viện, phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Tiến [16] Sau mổ, do người bệnh chủ yếu thở bằng miệng khi đặt merocel, tỷ lệ khô miệng khoảng 40%, gây khó chịu, và điều dưỡng hướng dẫn cách thở bằng miệng, sử dụng gạc ấm có nước muối và uống nước để giảm khô miệng và nâng cao sự thoải mái cho người bệnh.
Hoạt động chăm sóc giảm đau
Trong nghiên cứu của chúng tôi về hoạt động chăm sóc giảm đau, phương pháp giảm đau được áp dụng bằng cả thuốc và không dùng thuốc, nhằm nâng cao hiệu quả và sự thoải mái cho bệnh nhân Trước phẫu thuật, có tới 84,6% bệnh nhân có cảm giác đau và được giảm đau, trong đó 35,9% sử dụng liệu pháp tâm lý như động viên, trấn tĩnh hoặc thư giãn tinh thần để giảm đau; chỉ 6,8% sử dụng giảm đau bằng thuốc riêng biệt, còn 54,7% kết hợp cả hai phương pháp Sau mổ, do cảm giác đau tăng lên, các phương pháp giảm đau bằng thuốc và động viên tinh thần được sử dụng phổ biến hơn, đạt tới 98,3% vào các ngày thứ nhất và thứ 3 sau phẫu thuật, và vẫn duy trì cao là 97,4% vào ngày ra viện Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tiến đã chỉ ra rằng, việc kết hợp các phương pháp giảm đau giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát đau cho bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật và hậu phẫu.
95,8% người bệnh có đau sau mổ trong đó có 45,8% người bệnh dùng thuốc giảm đau
2 lần/ngày và 54,2% người bệnh dùng thuốc giảm đau 3 lần/ngày [16]
Tuyến yên có nồng độ opioid nội sinh cao nhất trong cơ thể, điều này ảnh hưởng đến việc kiểm soát đau sau mổ Trong trường hợp bệnh nhân đau, dùng thuốc giảm đau không opioid như paracetamol tiêm tĩnh mạch có thể giảm lượng opioid nội sinh và kiểm soát cơn đau hiệu quả Tuy nhiên, cần thận trọng với những bệnh nhân có tiền sử ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), vì thuốc giảm đau không opioid có thể ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của họ.
Hoạt động rửa vệ sinh mũi
Trước mổ, có tới 95,7% người bệnh nhận được sự hỗ trợ của điều dưỡng trong việc rửa mũi 3-4 lần mỗi ngày, giúp duy trì vệ sinh khoang mũi họng và ngăn ngừa nhiễm khuẩn xoang nguy hiểm có thể lan lên nội sọ gây viêm màng não sau phẫu thuật Đồng thời, 98,3% người bệnh được áp dụng các phương pháp khí dung và rửa mũi trước mổ để đảm bảo sạch sẽ cho đường hô hấp Sau phẫu thuật, tỷ lệ chăm sóc vệ sinh khoang mũi đạt 100%, trong đó mọi người bệnh đều được nhỏ mũi và rửa mũi định kỳ, giúp duy trì vệ sinh tối ưu và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn sau mổ.
Sau phẫu thuật nội soi u tuyến yên qua xoang bướm, bệnh nhân thường được đặt mét hoặc sonde Foley để cầm máu, giúp kiểm soát chảy máu hiệu quả Thời gian trung bình để rút Merocel là khoảng 2-3 ngày sau mổ, tuy nhiên đối với các trường hợp có nguy cơ chảy máu cao, Merocel có thể được giữ lại đến ngày thứ 4 hoặc thứ 5 Chính vì vậy, trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật, phần lớn bệnh nhân (đến 95,7%) thường hạn chế việc rửa mũi để tránh gây tổn thương hoặc chảy máu trở lại.
Sau rút mét, có tới 99,1% người bệnh thực hiện rửa mũi vào ngày thứ 3, và 98,3% rửa mũi vào ngày ra viện, cho thấy việc rửa mũi bằng nước muối sinh lý được tuân thủ cao trong quá trình điều trị Tỷ lệ người bệnh được rửa mũi bằng nước muối sinh lý trong nghiên cứu của chúng tôi vượt xa so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Tiến, với mức chênh lệch là 8,3%, khẳng định tính hiệu quả và ý thức chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người bệnh được khí dung sau mổ rất thấp và không có ai thực hiện phương pháp này Mục đích chính của khí dung là giúp làm ẩm đường mũi, tuy nhiên phần lớn bệnh nhân sử dụng phương pháp nhỏ nước muối sinh lý để làm sạch và giữ ẩm mũi, nên không cần áp dụng thêm biện pháp khí dung sau mổ.
Hoạt động chăm sóc dinh dưỡng
Trước phẫu thuật, 100% bệnh nhân đều được đánh giá tình trạng dinh dưỡng và chỉ số BMI để đảm bảo đủ điều kiện phẫu thuật Trong 24 tiếng đầu sau mổ, phần lớn bệnh nhân chỉ uống sữa, dẫn đến tỷ lệ đánh giá dinh dưỡng đạt khoảng 94% Đến ngày thứ 3 sau mổ, khi bệnh nhân bắt đầu ăn thức ăn thô, điều dưỡng tiến hành đánh giá khả năng nuốt và tiêu hóa thức ăn của người bệnh chính xác hơn, nâng tỷ lệ này gần như đạt 100%.
Trước phẫu thuật, người bệnh có khả năng tự chuẩn bị và ăn theo khẩu phần cá nhân, phù hợp với nhu cầu hàng ngày Sau mổ, chế độ ăn cần được điều chỉnh phù hợp với tình trạng sức khỏe và hướng dẫn của bệnh viện Hơn 90% người bệnh lựa chọn theo kế hoạch dinh dưỡng do bệnh viện đề xuất để đảm bảo quá trình hồi phục thuận lợi.
Trước phẫu thuật, có tới 92,3% bệnh nhân ăn hết khẩu phần ăn của mình, nhưng sau 24 giờ hậu phẫu chỉ còn 57,3%, nguyên nhân chủ yếu do người bệnh còn mệt mỏi, đau nhiều và nhu động ruột yếu, khiến họ chưa muốn ăn, do đó trong 24 giờ đầu chủ yếu là uống sữa và truyền dịch Sau ngày thứ 3, tình trạng tiêu hóa được cải thiện, đau giảm, nhu động ruột hoạt động tốt hơn và thể trạng được nâng cao, giúp tỷ lệ người bệnh ăn hết xuất đạt 74,4%, và tăng lên đến 88% vào ngày xuất viện, cho thấy tiến bộ rõ rệt trong phục hồi sau phẫu thuật.
Hướng dẫn, hỗ trợ vệ sinh mũi
Hướng dẫn vệ sinh cho người bệnh như vệ sinh mũi, vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể và thay quần áo được thực hiện thường xuyên trong khoa bệnh của chúng tôi, nhằm đảm bảo vệ sinh và phòng chống nhiễm khuẩn Trước mổ, tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn vệ sinh răng miệng đạt 98,3%, và sau mổ, tỷ lệ này tăng dần đến 95,7% vào ngày thứ nhất, 100% vào ngày thứ 3 và ngày ra viện, đảm bảo quá trình hồi phục an toàn Hoạt động hướng dẫn rửa mũi và tư vấn không xì mũi, ngoáy mũi đạt tỷ lệ khá cao, trước mổ là 95,7% và 89,7%, sau mổ gần như đạt 100%, nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm trùng Việc vệ sinh răng, miệng, mũi giúp phòng ngừa nhiễm khuẩn, biến chứng viêm màng não và giảm thiểu nguy cơ viêm đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm phổi bội nhiễm cho người bệnh.
Hoạt động hướng dẫn, giáo dục sức khỏe
Các yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc
Các yếu tố đặc điểm cá nhân liên quan đến kết quả chăm sóc
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi càng cao, khả năng chăm sóc sức khỏe kém đi rõ rệt, đặc biệt là từ 60 tuổi trở lên có nguy cơ chăm sóc chưa tốt cao gấp 3,36 lần so với người dưới 60 tuổi, với ý nghĩa thống kê p = 0,01 Ngoài ra, người cao tuổi có nguy cơ mắc các bệnh lý nền như tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh tim mạch ngày càng cao Thêm vào đó, tuổi cao còn tăng nguy cơ gặp phải các thương tật thứ cấp sau phẫu thuật như viêm đường tiết niệu hoặc viêm phổi do ứ đọng đờm dãi, gây ảnh hưởng đến quá trình hồi phục.
Đối tượng cao tuổi cần nhận được hướng dẫn GDSK để nâng cao khả năng chăm sóc vệ sinh thân thể, đồng thời hướng dẫn cách ho và thở hiệu quả nhằm long đờm, tránh ứ đọng đờm trong phổi Việc này giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh hô hấp, đồng thời hạn chế áp lực lên xoang mũi để tránh chảy máu thứ phát.
Trình độ học vấn thấp correlates with poorer health outcomes, with những người có trình độ từ trung học phổ thông trở xuống có khả năng kết quả chăm sóc chưa tốt cao gấp 4,22 lần so với những người có trình độ trên trung học phổ thông, theo nghiên cứu có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Điều này phản ánh khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc và sự hiểu biết về bệnh của người bệnh Những người dưới trung học phổ thông thường làm nông nghiệp, ít khi đi khám định kỳ, bỏ qua các dấu hiệu như nhức đầu hay rối loạn kinh nguyệt, dẫn đến thực trạng khám bệnh khi bệnh đã nặng hoặc khối u đã lớn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả điều trị và chăm sóc sức khỏe.
Bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường có liên quan đến kết quả chăm sóc sức khỏe, trong đó người mắc tăng huyết áp có khả năng kết quả chưa tốt cao gấp 3,18 lần so với người không bị tăng huyết áp (p = 0,019), và người đái tháo đường có khả năng kết quả chưa tốt cao gấp 6,69 lần so với người không mắc đái tháo đường (p = 0,003) Những bệnh lý này có thể tồn tại từ trước khi phát hiện u tuyến yên hoặc là hậu quả do u tuyến yên gây ra Vì vậy, trong quá trình phẫu thuật và hồi sức, việc duy trì huyết áp ở mức bình thường và hạ huyết áp phù hợp là điều cần thiết để đảm bảo an toàn cho người bệnh.
Các nghiên cứu cho thấy, những người mắc u tuyến yên tái phát có khả năng kết quả chăm sóc không tốt cao gấp 3,31 lần so với những người mắc u lần đầu, điều này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Người bệnh từng bị u tuyến yên lần đầu có thể còn gặp phải các rối loạn nội tiết chưa phục hồi, và khi bệnh tái phát, các rối loạn này có thể trở nên nặng hơn Do đó, sau phẫu thuật, cần có phác đồ điều trị gồm xạ trị tuyến yên để ngăn ngừa tái phát và hạn chế các rối loạn nội tiết, người bệnh cần tuân thủ chế độ dùng thuốc hàng ngày, tái khám định kỳ hoặc khi có các dấu hiệu bất thường.
Các hoạt động hướng dẫn, GDSK liên quan đến KQCS
Hướng dẫn GDSK về tác dụng của thuốc, hướng dẫn chế độ ăn và tư vấn tuân thủ dùng thuốc có liên quan đến KQCS Bảng 3.24 cho thấy:
Những người không được hướng dẫn về tác dụng của thuốc có nguy cơ gặp kết quả chăm sóc kém cao gấp 5,08 lần so với những người được hướng dẫn rõ ràng Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê quan trọng với giá trị p = 0,003, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cung cấp hướng dẫn đầy đủ về tác dụng của thuốc để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Những người không nhận được hướng dẫn chế độ ăn có khả năng gặp kết quả chăm sóc kém cao gấp 3,60 lần so với những người đã được hướng dẫn chế độ ăn Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p=0,012, cho thấy hướng dẫn chế độ ăn đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả chăm sóc.
Những người không được hướng dẫn về tuân thủ điều trị có khả năng gặp kết quả chăm sóc chưa tốt cao gấp 4,86 lần so với những người nhận hướng dẫn đầy đủ Sự khác biệt này đạt mức ý nghĩa thống kê cao, với giá trị p = 0,002, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hướng dẫn bệnh nhân trong quá trình điều trị để cải thiện kết quả chăm sóc sức khỏe.
Sau phẫu thuật u tuyến yên, người bệnh có nguy cơ gặp phải suy tuyến yên, gây rối loạn nội tiết và đái tháo nhạt Điều trị bằng thuốc điều hòa nội tiết và thuốc chống bài niệu là cần thiết để kiểm soát các triệu chứng này Điều dưỡng đóng vai trò hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc đúng liều, đúng giờ, cũng như theo dõi các tác dụng phụ của thuốc để đảm bảo hiệu quả điều trị Việc tuân thủ chế độ dùng thuốc không chỉ ảnh hưởng đến thành quả trong thời gian nằm viện mà còn quan trọng sau khi người bệnh ra viện, góp phần nâng cao kết quả điều trị và chăm sóc toàn diện.
Sự hài lòng liên quan đến KQCS
Nghiên cứu cho thấy những người không hài lòng về điều trị có khả năng kết quả chăm sóc kém hơn, gấp 4,36 lần so với những người hài lòng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Khi bệnh nhân hài lòng về các dịch vụ chăm sóc như thủ thuật điều dưỡng, giá dịch vụ, cơ sở vật chất và tư vấn GDSK của nhân viên y tế, họ sẽ hợp tác tốt hơn với điều dưỡng trong quá trình chăm sóc Điều này giúp bệnh nhân cảm thấy yên tâm, tuân thủ các hướng dẫn của điều dưỡng và đạt kết quả chăm sóc tốt hơn.
Bàn luận về phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về kết quả chăm sóc người bệnh u tuyến yên sau mổ nội soi qua xoang bướm là một công trình mới mang tính đột phá trong lĩnh vực y học, cung cấp bằng chứng khoa học có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc theo quy trình Kết quả nghiên cứu này góp phần cải tiến quy trình chăm sóc trước và sau phẫu thuật u tuyến yên qua đường xoang bướm, giúp tối ưu hóa quá trình hồi phục và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân Đây là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi u tuyến yên.
Hạn chế của nghiên cứu là cỡ mẫu chỉ gồm 117 người bệnh, chưa đủ để đại diện cho một quần thể lớn Để nâng cao tính toàn diện và độ chính xác của kết quả, chúng tôi dự kiến sẽ mở rộng quy mô nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn trong các dự án tương lai.
Nghiên cứu mới chỉ tập trung đánh giá kết quả chăm sóc trong thời gian nằm viện và tình trạng người bệnh sau 1 tháng xuất viện, chưa thực hiện các đánh giá dài hạn như sau 3 hoặc 6 tháng để theo dõi chức năng và mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh Việc theo dõi lâu dài sau khi người bệnh ra viện là cần thiết để cung cấp cái nhìn toàn diện về tiến triển sức khỏe và đảm bảo hiệu quả điều trị bền vững Các đánh giá định kỳ sau xuất viện giúp người bệnh duy trì hiệu quả chăm sóc và nâng cao chất lượng cuộc sống lâu dài.