TỔNG QUAN
Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Suy hô hấp (SHH) là tình trạng giảm khả năng trao đổi khí của hệ hô hấp, dẫn đến giảm oxy trong máu (hypoxia) và tăng khí CO₂ trong máu (hypercapnia) Đây là một tình trạng nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng hô hấp của cơ thể SHH có thể gây ra các triệu chứng như khó thở, mệt mỏi và giảm tuổi thọ nếu không được xử lý kịp thời Điều trị suy hô hấp nhằm cải thiện khả năng thông khí và duy trì mức oxy phù hợp để đảm bảo sức khỏe toàn diện.
Hội chứng này có nhiều nguyên nhân, bao gồm các bệnh lý tại hệ hô hấp và các cơ quan khác Trong đó, bệnh màng trong (BMT) là nguyên nhân hàng đầu do thiếu hụt quá trình tổng hợp Surfactant, ảnh hưởng đến chức năng phổi.
Suy hô hấp là vấn đề phổ biến ở trẻ sơ sinh trong những ngày đầu đời, với khoảng 10% trẻ cần trợ giúp để bắt đầu thở, trong đó 1% cần hồi sức tích cực theo Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ Nguy cơ mắc suy hô hấp tăng cao ở trẻ sinh non, đặc biệt trẻ dưới 29 tuần tuổi có nguy cơ lên đến 60% và liên quan đến biến chứng BMT Các nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy BMT chiếm 6,8 - 14,1% trong số trẻ đẻ non, đặc biệt đối với trẻ sinh từ 29-30 tuần, chiếm tới 32% Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ khác bao gồm gia đình có trẻ mắc Suy Hô Hấp trước, sinh mổ khi chưa có chuyển dạ, mẹ đái tháo đường, trẻ bị ngạt, viêm ối hoặc màng ối Các yếu tố trước sinh như tuổi mẹ cao hoặc thấp, đa thai, sản giật cũng làm tăng nguy cơ Trong quá trình sinh, những yếu tố như nước ối có phân su, suy thai, chuyển dạ kéo dài và nước ối có phân su được phát hiện trong 80,3% trường hợp so với 40,4% ở nhóm kiểm soát, góp phần làm tăng nguy cơ suy hô hấp ở trẻ sơ sinh.
Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ sơ sinh non tháng mắc bệnh SHH cấp vẫn còn cao, và BMT là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Nhi và cộng sự tại Bệnh viện Trung ương Huế cho thấy tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh non tháng là 67,4%, trong đó tử vong do SHH cấp chiếm 12,5% Ngoài ra, nghiên cứu của Phạm Văn Dương và cộng sự tại Hải Phòng chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong do BMT ở trẻ em tử vong trước 24 giờ là 8,24%.
Đặc điểm sinh lý hệ hô hấp ở trẻ sơ sinh
Hệ hô hấp của trẻ sơ sinh có đặc điểm nổi bật là chưa phát triển hoàn thiện, với khả năng hít thở chủ yếu qua đường mũi Khi thở bằng mũi, các cơ hô hấp hoạt động mạnh hơn, giúp lồng ngực và phổi mở rộng hơn so với thở bằng miệng Không khí đi qua mũi được sưởi ấm nhờ các mạch máu và tuyến tiết nhầy, góp phần bảo vệ đường hô hấp của trẻ sơ sinh một cách hiệu quả.
Ngay sau khi sinh, vòng tuần hoàn rau thai ngừng hoạt động và trẻ bắt đầu thở bằng phổi Trong giai đoạn sơ sinh, trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh khiến nhịp thở dễ bị rối loạn, có thể nhanh, chậm, nông hoặc sâu Tần số thở của trẻ giảm dần theo tuổi, và kiểu thở chủ yếu ở trẻ sơ sinh là thở bụng, do hoạt động của cơ hoành.
Lượng O2 hấp thu ở trẻ sơ sinh là 10ml/phút/1kg cân nặng và CO2 được bài tiết ra là 8ml, trong khi trẻ lớn hấp thu khoảng 4ml O2 mỗi phút Để đáp ứng nhu cầu oxy cao này, hệ hô hấp của trẻ có các cơ chế thích nghi như thở nhanh khi thở nông và tăng cường sự trao đổi khí giữa phế nang và máu nhờ vào chênh lệch phân áp O2 và CO2 Những cơ chế này giúp trẻ nhỏ tối ưu hoá quá trình oxy hoá và thông khí, đảm bảo sự phát triển toàn diện của hệ hô hấp.
Áp lực O2 và CO2 tại phế nang thay đổi theo độ tuổi, với trẻ sơ sinh và trẻ bú mẹ có áp lực O2 là 120 mmHg và CO2 là 21 mmHg Tuy nhiên, sự cân bằng này không ổn định và dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như độ ẩm, nhiệt độ, và nồng độ CO2, giải thích tại sao trẻ em dễ bị rối loạn hô hấp.
Cơ chế điều hòa hô hấp ở trẻ em tuân theo quy luật sinh lý như người lớn, với trung tâm hô hấp nằm ở hành tủy điều khiển các cử động hô hấp tự động và nhịp nhàng Tuy nhiên, trong những tháng đầu đời, vỏ não và trung tâm hô hấp của trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn chỉnh, dễ dẫn đến rối loạn nhịp thở Trẻ sinh non đặc biệt nhấn mạnh về sự chưa trưởng thành của hệ cơ quan, trong đó hệ hô hấp kém thích nghi với môi trường bên ngoài tử cung Trung tâm hô hấp của trẻ non tháng còn chưa hoàn thiện, do đó bất kỳ tình trạng thiếu oxy máu nào hoặc nồng độ CO₂ máu tăng cao đều có thể ức chế trung tâm hô hấp, gây rối loạn nhịp thở, thở rên, thở không đều.
Cheyne - Stock, thời gian ngừng thở dài (7- 10 giây) Tình trạng này có thể kéo dài 2-3 tuần sau sinh hoặc lâu hơn tùy mức độ non tháng[2], [3]
Phổi của trẻ đẻ non chưa trưởng thành về cấu trúc và chức năng, khiến chúng dễ chấn thương do áp lực, thể tích khi thở máy hoặc tổn thương từ quá trình viêm Tổ chức liên kết phát triển mạnh hơn và tổ chức đàn hồi ít hơn trong phổi của trẻ non tháng gây khó khăn trong việc giãn nở phế nang, làm tăng khoảng cách khuếch tán khí và giảm hiệu quả trao đổi khí Thể tích khí trong phổi của trẻ non tháng thấp, chỉ khoảng 20-40 ml/kg so với trẻ đủ tháng là 50 ml/kg và người lớn là 80 ml/kg Lồng ngực của trẻ non tháng hẹp, xương sườn mềm dễ biến dạng, cộng với cơ liên sườn chưa phát triển khiến khả năng giãn nở của lồng ngực kém, hạn chế khả năng di động của ngực và ảnh hưởng đến quá trình thở rõ ràng hơn.
Nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Các nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể xuất phát riêng lẻ hoặc phối hợp lẫn nhau, tùy thuộc vào nguyên nhân cụ thể và mức độ nặng nhẹ của các triệu chứng Các thể lâm sàng khác nhau phản ánh đa dạng nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của bệnh, đòi hỏi sự chẩn đoán kỹ lưỡng để xác định đúng nguyên nhân và hướng điều trị phù hợp.
1.3.1 Do nguyên nhân hô hấp
- Chướng ngại vật ( tắc mũi do đờm, nhày)
- Hẹp lỗ mũi sau, phù niêm mạc mũi
- Phì đại lưỡi bẩm sinh
Thiểu sản xương hàm dưới
Lưỡi to, mất hãm lưỡi
Mềm sụn thanh quản, màng nắp thanh môn
Hẹp thanh quản do phù nề
- Bệnh tại khí phế quản:
- Bất sản phổi, thiểu sản phổi
Phổi chưa trưởng thành thường gặp ở trẻ sinh non, đặc trưng bởi tế bào phế nang hình trụ và nhiều tổ chức liên kết quanh phế nang làm giảm khả năng trao đổi khí Mao mạch phế nang còn thưa thớt, thành mạch dày gây cản trở quá trình trao đổi khí giữa phế nang và mao mạch Ngoài ra, trung tâm hô hấp của trẻ chưa phát triển đầy đủ cùng các cơ hô hấp kém phát triển khiến trẻ thở nông, yếu và không đều, càng gắng sức thì càng dễ tím tái.
Hội chứng hít nước ối phân su chiếm gần 9-25% ở trẻ sơ sinh sống, trong đó khoảng 5-10% trẻ sinh ra có nước ối nhuốm phân su sẽ bị hội chứng hít phân su (MAS), và gần 50% trong số này cần thở máy Theo các nghiên cứu tại Mỹ, tỷ lệ trẻ sinh non dưới 34 tuần bị hít phân su dao động từ 8-25%, còn theo nghiên cứu của Saeed Zaman năm 2013, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị hít phân su chiếm 17,9% Trẻ bị suy thai trong tử cung thường có các động tác thở sớm trước sinh và hít phải nước ối, dẫn đến tình trạng ngạt tím, da, móng tay dính phân su, có thể thấy trong dịch dạ dày do trẻ nuốt vào.
Bệnh màng trong (BMT) là một nguyên nhân phổ biến gây bệnh lý tại phổi ở trẻ sơ sinh, chiếm tỷ lệ đáng kể trong các trường hợp bệnh phổi sơ sinh Bệnh này chiếm khoảng 0,5 - 1% trẻ sơ sinh sống tại Pháp, với tỷ lệ thay đổi theo tuổi thai, đạt đến 80% ở trẻ dưới 28 tuần tuổi và giảm còn 5% ở trẻ trên 32 tuần tuổi Vì vậy, chẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả bệnh màng trong đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe sơ sinh.
Tại các nước châu Á như Ấn Độ, tỷ lệ trẻ sơ sinh non tháng mắc BMT chiếm 6,8 - 14,1%, trong đó các trẻ có tuổi thai 29-30 tuần chiếm tới 32% Ở Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Văn Dương và cộng sự tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ tử vong do BMT là 8,24%, phản ánh tầm quan trọng của việc phòng ngừa và chăm sóc trẻ sinh non để giảm thiểu tỷ lệ tử vong.
Hội chứng chậm hấp thu dịch phổi, còn gọi là Hội chứng thở nhanh thoáng qua hoặc Wet Lungs, thường gặp ở trẻ sơ sinh có tiền sử mổ đẻ, sinh quá nhanh hoặc mẹ dùng thuốc ức chế β, đặc biệt trong các trường hợp mổ cấp cứu như vỡ tử cung hoặc tai nạn Bệnh chiếm khoảng 1-2% trẻ sinh đủ tháng, cao hơn ở nhóm trẻ có mẹ mổ lấy thai, lên đến 9% Đây là tình trạng tự khỏi mà không để lại di chứng, với tỷ lệ mắc từ 33-50% trong số các trẻ có biểu hiện suy hô hấp Trẻ sơ sinh mắc hội chứng này do khả năng tái hấp thu dịch phổi giảm sút, gây ra thở nhanh rõ rệt ngay sau sinh, nhưng các triệu chứng thường cải thiện sau 24 giờ Ngoài ra, xuất huyết phổi cũng là một biến chứng có thể gặp trong quá trình này.
Nhiễm trùng phổi ở trẻ có thể xảy ra trước, trong hoặc sau sinh, thường do nhiễm trùng bào thai hoặc nhiễm khuẩn toàn thân, khiến bệnh nặng và đi kèm với các vấn đề về nhiễm khuẩn máu Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây hội chứng suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh Mặc dù tỉ lệ nhiễm trùng phổi đang giảm dần theo các năm theo thống kê của Alok Kumar, tỷ lệ này vẫn còn cao, chiếm khoảng 17% các trường hợp.
- Các vi khuẩn gây bệnh thường gặp: Liên cầu nhóm B, vi khuẩn Gram (-) có sẵn ở bộ phận sinh dục của người mẹ
- Tràn khí màng phổi, trung thất
1.3.1.5 Bệnh do bất thường của lồng ngực:
Bệnh Porak Durant (bệnh tạo xương bất toàn )
1.3.1.6 Do bất thường cơ hô hấp:
- Nhược cơ tiên phát hoặc thứ phát: do tổn thương thần kinh cơ, giảm tiết Acetylcholin
Bệnh có tính chất gia đình, di truyền
Thiểu năng tế bào vận động của não gây giảm trương lực cơ toàn bộ
1.3.2 Do nguyên nhân tim mạch
- Thông vách liên nhĩ, liên thất lớn
- Chuyển hoặc lệch gốc các động mạch lớn
- Fallot 4, đặc biệt có thiểu năng thất trái
- Trẻ luôn xanh tím kéo dài, tím môi và đầu chi
- Mức độ xanh tím tuỳ thuộc vào Shunt của tim và kiểu dị hình
- Khi nhịp thở ổn định, thở O2 100% không đỡ tím hoặc đỡ tí mít
- Có thể nghe tiếng tim, t iếng thổi bất thường, các dấu hiệu suy tim
1.3.2.3 Chẩn đoán: dựa vào X quang, điện tim, siêu âm tim
1.3.3 Do nguyên nhân thần kinh
- Do trẻ bị bệnh não bẩm sinh
- Xuất huyết não – màng não
- Ảnh hưởng thuốc gây mê, an thần dùng cho mẹ trước đẻ
1.3.4 Do nguyên nhân chuyển hoá
Rối loạn điện giải: hạ Ca++ máu, tăng hoặc giảm Na+, K+
Tăng hoặc giảm đường máu
- Có thể là các rối loạn tiên phát hoặc thứ phát dẫn tới thiếu O2 nặng
- Thiếu máu do huyết tán (bất đồng nhóm máu mẹ - con), xuất huyết
Bảng 1.1 Một số nguyên nhân gây suy hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh[19]
Bệnh lý Tuổi thai Lâm sàng/Cận lâm sàng
Tiền sử sản khoa X quang
Non tháng gặp nhiều hơn đủ tháng
Suy hô hấp sớm sau sinh
Lưới hạt, khí phế quản đồ
Hít phân su Già/ đủ tháng Lồng ngực căng, nhuộm phân xu da, móng, cuống rốn
Xẹp xen kẽ ứ khí từng vùng
Viêm phổi Mọi tuổi Sốt/ hạ thân nhiệt vàng da sớm Công thức máu: Bạch cầu tăng hoặc giảm
Mờ dạng đốm/ Khí phế quản đồ
Tràn khí màng phổi Đủ tháng gặp nhiều hơn non tháng
Lồng ngực căng 1 bên, bụng chướng
Có hồi sức hô hấp tuần hoàn
Rất có giá trị chẩn đoán
Thở nhanh thoáng qua Đủ tháng gặp nhiều hơn non tháng
Thở nhanh, ít gây SHH nặng
Tăng đậm mạch máu phổi, rãnh liên thùy Cơn ngừng thở
Non tháng Cơn ngừng thở kéo dài trên 20 giây
Phổi sáng bình thường Trào ngược dạ dày thực quản
Non tháng gặp nhiều hơn đủ tháng
Tím từng cơn sau bú, ọc sữa
Siêu âm bụng phát hiện 3 lần trào ngược trong vòng 5 phút, là dấu hiệu quan trọng cần theo dõi Bệnh tim bẩm sinh có thể gặp ở mọi lứa tuổi và thường gây các triệu chứng như suy hô hấp, hiếm khi xuất hiện dưới 4 giờ sau sinh nếu không có triệu chứng rút lõm lồng ngực hoặc thở rít, đặc biệt khi thở ra Việc đánh giá chính xác các biểu hiện lâm sàng và hình ảnh siêu âm giúp chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời các vấn đề về tim mạch và tiêu hóa ở trẻ sơ sinh.
Bóng tim to Thay đổi tuần hoàn phổi
1.3.6 Một số bệnh lý của người mẹ
Nghiên cứu của Nguyễn Thành Nam và cộng sự tại Bệnh viện Bạch Mai (2013-2015) cho thấy các bệnh lý của người mẹ trong quá trình mang thai hoặc chuyển dạ có nguy cơ gây ảnh hưởng đến suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, đặc biệt khi mẹ mắc các bệnh nội khoa nặng như bệnh tim, nhiễm độc thai nghén, tiền sản giật, hoặc hội chứng HELLP Các bệnh liên quan đến bệnh màng trong và ngạt cũng xuất hiện nhiều hơn ở nhóm mẹ có bệnh lý so với nhóm không mắc bệnh, với tỷ lệ 10/15 bệnh nhân và 18/22 bệnh nhân tương ứng.
Đặc điểm lâm sàng trẻ suy hô hấp sơ sinh
1.4.1 Triệu chứng suy hô hấp
Màu sắc da tím tái, đặc biệt là tím quanh môi, đầu chi hoặc toàn thân, do PaO2 trong máu động mạch giảm dưới 60mmHg, là triệu chứng lâm sàng phổ biến, gặp ở 94,6% các trường hợp theo nghiên cứu của Hứa Thu Hằng tại khoa Nhi bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên Triệu chứng tím có thể xuất hiện muộn, do đó không nên chờ đợi đến khi có dấu hiệu tím mới chỉ định cho trẻ thở oxy; cần có chỉ định sớm hơn để tránh tình trạng giảm PaO2 xuống dưới 50mmHg, dễ gây thiếu oxy tế bào não, dẫn đến di chứng thần kinh và tinh thần lâu dài hoặc tử vong.
Khó thở là triệu chứng chính của hội chứng suy hô hấp cấp, bao gồm bỏ bú, thở nhanh ≥ 60 lần/phút hoặc khó thở chậm dưới 30 lần/phút, cơn ngưng thở dài do tắc nghẽn đường thở hoặc suy kiệt sau thời gian thở nhanh Rối loạn nhịp thở cũng là biểu hiện đặc trưng, đặc biệt khi trẻ bị BMT làm giảm diện tích trao đổi khí do phế nang bị xẹp, gây thiếu oxy và tăng CO2 máu, kích thích trung tâm hô hấp tăng nhịp thở Tuy nhiên, ở trẻ đẻ non trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh, khả năng điều hòa nhịp thở còn hạn chế, dẫn đến phản ứng tăng nhịp thở ngắn hạn rồi nhanh chóng ngưng thở Nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc cho thấy có tới 49,9% trẻ thở nhanh, 29,4% trẻ thở chậm kèm cơn ngưng thở, và thở rên gặp ở 87,9% các trường hợp, phản ánh mức độ nghiêm trọng của các dạng rối loạn hô hấp ở trẻ sơ sinh.
Rút lõm lồng ngực mạnh là triệu chứng phổ biến trong hội chứng suy hô hấp, gặp ở khoảng 80,4% bệnh nhân theo nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Một số trẻ thờ nhanh, nông, khiến dấu hiệu này khó phát hiện trên lâm sàng Đánh giá mức độ suy hô hấp là rất cần thiết để xác định tình trạng và hướng điều trị phù hợp.
- Đánh giá mức độ suy hô hấp dựa vào các chỉ số selverman, chỉ số apgar
Bảng đánh giá mức độ suy hô hấp dựa vào chỉ số Selverman Điểm, Chỉ số 0 1 2
Di động ngực bụng Cùng chiều Ngực 5 điểm: suy hô hấp nặng
Bảng đánh giá chỉ số Apgar
Nhịp tim Không có < 100 lần/phút >100 lần/phút
Hô hấp Không thở Thở yếu, khóc yếu Khóc to
Trương lực cơ Giảm nặng Giảm nhẹ Bình thường
Phản xạ Không cử động Ít cử động Cử động tốt
Màu da Tím tái toàn thân hoặc trắng
Tím đầu chi, quanh môi Hồng hào toàn thân
Tổng điểm: < 4 điểm: ngạt nặng
1.4.2 Biểu hiện ở các cơ quan khác
Bệnh lý tim mạch bao gồm rối loạn nhịp tim, thường xảy ra khi nhịp tim nhanh trên 160 chu kỳ/phút hoặc chậm dưới 100 chu kỳ/phút Trẻ em có thể gặp nguy cơ ngừng tim nếu mức PaO2 giảm xuống dưới 30mmHg, đe dọa đến tính mạng.
Trẻ có dấu hiệu thiếu oxy não như vật vã, bỏ bú, thở rên, giảm trương lực cơ, mất các phản xạ, li bì, co giật và hôn mê, cần được can thiệp y tế ngay để tránh những biến chứng nguy hiểm đến hệ thần kinh.
- Thận: Các biểu hiện của suy thận cấp, thiểu niệu hoặc vô niệu
1.4.3 Triệu chứng của các nguyên nhân gây SHH
- Lồng ngực mất cân đối trong tràn khí màng phổi một bên, thoát vị cơ hoành
- Rung thanh tăng trong tràn khí màng phổi
- Gõ đục trong tràn dịch màng phổi
- Tiếng thổi ở tim, sờ động mạch bẹn,…
Điều trị trẻ sơ sinh suy hô hấp
1.5.1.1 Điều trị cấp cứu trẻ sơ sinh suy hô hấp
Tư thế bệnh nhân phù hợp là nằm đầu thấp hơn ngực, nghiêng về một bên giúp đờm dãi dễ dàng thoát ra ngoài và tránh gập cổ, đảm bảo đường thở thẳng Việc điều chỉnh tư thế này nhằm ngăn ngừa xẹp phổi và tích tụ đờm ứ đọng, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị về hô hấp.
- Hút thông đường thở: Trước khi cho thở oxy cần hút đờm dãi ở mũi, họng để đảm bảo thông đường thở
Thở oxy cần thực hiện theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt khi trẻ xuất hiện tím tái hoặc PaO2 < 70 mmHg Mục tiêu của hỗ trợ hô hấp là duy trì PaO2 trên 70 mmHg, PaCO2 dưới 60 mmHg và pH trên 7.25 để điều chỉnh cân bằng kiềm toan, đảm bảo trẻ hô hấp hiệu quả và ổn định sinh lý.
- Tiến hành thực hiện theo y lệnh
- Đảm bảo thông khí tốt là phương pháp giúp giải quyết một phần tình trạng nhiễm toan cho trẻ
- Bù dung dịch kiềm: Natribicacbonat 14‰
- Nếu không có xét nghiệm gì, cho 1-2 mEq/kg tiêm tĩnh mạch rốn
- Nếu có kết quả xét nghiệm: PaO 2 giảm, PaCO 2 tăng và pH máu giảm dưới 7,2 Cho theo công thức:
Số mEq cần bù = BE x P x 0,3 Trong đó, P là cân nặng trẻ (kg)
BE: lượng kiềm dư (dựa vào khí máu)
Toan máu là hậu quả của sốc giảm thể tích, ban đầu xuất phát từ toan hô hấp, sau đó chuyển sang toan chuyển hoá và có thể dẫn đến toan hỗn hợp mất bù nếu không được điều trị kịp thời.
Để đảm bảo sức khỏe cho trẻ, việc giữ ấm đúng cách rất quan trọng, đặc biệt là các vùng dễ bị nhiễm lạnh như lòng bàn chân, bàn tay, thóp và ngực Giữ nhiệt cho bé giúp phòng tránh cảm lạnh, bảo vệ hệ miễn dịch và duy trì thân nhiệt ổn định, đảm bảo sự phát triển an toàn và khỏe mạnh của trẻ yêu.
Đầu trẻ sơ sinh đóng vai trò chính trong việc điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, tạo ra khoảng 40% thân nhiệt nhưng cũng giải phóng đến 85% nhiệt lượng Vì vậy, việc đội mũ và sử dụng băng quấn thóp là rất cần thiết để giữ ấm cho trẻ, đặc biệt là trẻ sinh non Đồng thời, không nên quấn quá nhiều tã hoặc đắp quá nhiều chăn để tránh gây tình trạng quá nóng cho bé.
- Bơm sữa qua sonde dạ dày: số lượng tùy theo ngày tuổi và sự chấp nhận của trẻ
Trong quá trình điều trị, có thể cung cấp dịch qua đường tĩnh mạch để đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng, với tổng lượng dịch tính theo cân nặng và tuổi của trẻ nhằm tránh quá tải dịch Lượng dịch trung bình cần truyền là 80ml/kg/ngày glucose 10%, tăng dần đến 150ml/kg/ngày vào ngày thứ 5, nhưng phải điều chỉnh phù hợp để tránh gây quá tải, suy tim Đảm bảo đường huyết trong giới hạn bình thường là yếu tố quan trọng Đồng thời, bù điện giải dựa trên kết quả điện giải đồ để duy trì cân bằng điện giải hợp lý cho trẻ.
Vitamin K đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa xuất huyết não và màng não, đặc biệt trong trường hợp thiếu máu hoặc viêm ruột hoại tử cần thiết truyền máu để điều trị Việc phát hiện sớm còn ống động mạch là rất quan trọng để can thiệp kịp thời, thường bằng thuốc như Ibuprofen, Indomethacin hoặc Acetaminophen để điều trị và đóng ống động mạch hiệu quả.
Chăm sóc và theo dõi phát hiện các biến chứng ở bệnh nhi cho đến khi trẻ tự thở được (hoặc tử vong)
Tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra, có các phương pháp điều trị phù hợp để xử lý chứng SHH ở trẻ sơ sinh Phương pháp điều trị chủ yếu tập trung vào việc xác định và giảm thiểu nguyên nhân gây bệnh, đặc biệt ở trẻ đẻ non Các phương pháp thường được sử dụng trong điều trị chứng SHH ở trẻ sơ sinh bao gồm các biện pháp hỗ trợ hô hấp, truyền thuốc nhằm điều chỉnh lượng khí trong phổi và can thiệp y tế cần thiết để bảo vệ sức khỏe và sự phát triển của trẻ Việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp giúp cải thiện tình trạng của trẻ nhanh chóng và giảm thiểu các rủi ro liên quan.
1.5.2.1 Áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) Áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) là một phương pháp hỗ trợ cho trẻ bị suy hô hấp còn khả năng tự thở bằng cách duy trì một áp lực dương liên tục trong suốt chu kỳ thở
Hiện nay, phương pháp CPAP ngày càng được sử dụng rộng rãi trong điều trị suy hô hấp sơ sinh, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị Nghiên cứu của Colin J Morley và cộng sự tại Pháp năm 2016 trên 307 trẻ sơ sinh đủ tháng tuổi từ 25 đến 28 tuần cho thấy tỷ lệ thành công của phương pháp này đạt 58,1%, trong khi tỷ lệ tử vong là 33,9% và có 9% trẻ gặp biến chứng tràn khí màng phổi.
Nguyên lý hoạt động của hệ thống hô hấp dựa trên sự thay đổi áp suất khí quyển và đường thở Khi tự thở, áp suất đường thở giảm xuống dưới áp suất khí quyển trong thì hít vào, giúp khí vào phổi dễ dàng hơn Trong quá trình thở ra, áp suất đường thở trở nên cao hơn so với áp suất khí quyển, đẩy khí ra ngoài, và cuối quá trình thở ra, áp suất trở về mức 0 Đường biểu diễn áp suất hô hấp thường nằm ngang ở mức 0, thể hiện sự cân bằng tạm thời trong quá trình thở.
Khi thở bằng máy CPAP ở mức áp lực 5 cmH2O, hệ thống tạo ra áp lực dương liên tục trên đường thở trong cả quá trình hít vào và thở ra Áp lực cuối thì thở ra duy trì ở mức 5 cmH2O, giúp giữ mở đường thở hiệu quả Đường biểu diễn áp suất đường thở được nâng lên hơn 5 cmH2O so với trục hoành, thể hiện rõ mức áp lực đã đặt trong quá trình điều trị.
Hệ thống CPAP gồm một nguồn khí ấm và ẩm liên tục, giúp duy trì dòng khí ổn định trong suốt quá trình thở của bệnh nhân Một dụng cụ tạo PEEP được đặt ở cuối đường thở để tạo ra áp lực dương giúp giữ mở đường thở và cải thiện trao đổi khí Hệ thống này được kết nối với bệnh nhân qua các phương tiện như nội khí quản, sonde mũi, cannula mũi hoặc mặt nạ (mask), tùy thuộc vào từng loại hình CPAP.
Việc có các biện pháp tiến hành và cai CPAP phù hợp đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị, ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng Phương pháp giảm dần áp lực của CPAP đã chứng minh hiệu quả hơn so với cai thở từng lúc, còn gọi là “tập” cho trẻ ngưng CPAP Lý luận cho thấy, cai máy từng lúc có thể gây ra tình trạng căng phổi quá mức xen kẽ với xẹp phế nang, nguyên nhân liên quan đến bệnh võng mạc ở trẻ sinh non.
Bệnh màng trong (BMT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non Surfactant đóng vai trò then chốt trong việc điều trị BMT, giúp duy trì sự thông khí và giảm nguy cơ tổn thương phổi Liệu pháp thay thế surfactant được sử dụng ngay sau sinh để cung cấp lợi ích nhanh chóng, giúp giảm tỷ lệ tử vong do hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh xuống khoảng một nửa.
[14] Tuy nhiên, loại surfactant lý tưởng có lợi nhất cho những bệnh nhân này vẫn chưa được xác định chắc chắn [34]
Quy trình phụ bác sĩ bơm surfactant:
Một số học thuyết Điều dưỡng ứng dụng trong nghiên cứu
cơ sở y tế càng sớm càng tốt để được theo dõi và dùng thuốc giúp trưởng thành phổi nếu cần
Giải thích cho bố mẹ biết tình trạng của bệnh
Hướng dẫn cho bố mẹ biết về triệu chứng và các biến chứng của bệnh
Thở máy là phương pháp hỗ trợ hô hấp quan trọng giúp bệnh nhân suy hô hấp duy trì sự thông khí bằng máy thở, đảm bảo tối ưu hóa trao đổi oxy và CO2 trong cơ thể Mục tiêu chính của thở máy là cải thiện oxygen hóa máu, giảm công thở và đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa máy thở với bệnh nhi Phương pháp này giúp thông khí phế nang, nâng cao chức năng hô hấp và hỗ trợ quá trình điều trị bệnh lý hô hấp nghiêm trọng.
1.6 Một số học thuyết Điều dƣỡng ứng dụng trong nghiên cứu
Môi trường đóng vai trò quan trọng như một phương tiện chăm sóc sức khỏe toàn diện Điều dưỡng cần hiểu rõ tất cả các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến bệnh tật để tận dụng tối đa tác động tích cực trong quá trình chăm sóc Việc nhận biết và điều chỉnh môi trường xung quanh giúp nâng cao hiệu quả điều trị và thúc đẩy quá trình hồi phục của bệnh nhân.
Môi trường: Sự thông khí trong lành, ánh sáng, sức nóng, sự sạch sẽ, yên tĩnh, vệ sinh cá nhân để lồng ghép vào ĐD và điều trị
Học thuyết này vẫn còn phù hợp trong thực tiễn, đặc biệt trong việc kiểm soát nguồn lây nhiễm và giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn Quản lý chặt chẽ các nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn là yếu tố then chốt để đảm bảo vệ sinh và sạch sẽ trong môi trường, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Gồm 5 mức độ , điều dưỡng nhận định tình trạng thực tế của trẻ sơ sinh
Người bệnh có 14 nhu cầu cơ bản bao gồm: duy trì hô hấp bình thường, ăn uống đầy đủ, chăm sóc vệ sinh bài tiết, ngủ nghỉ hợp lý, vận động và giữ đúng tư thế, mặc quần áo phù hợp, duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định, vệ sinh cá nhân, tránh nguy hiểm và đảm bảo an toàn Ngoài ra, họ cần có khả năng giao tiếp tốt, được tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự chăm sóc bản thân, tham gia công việc, vui chơi giải trí, và học tập để bổ sung kiến thức cần thiết Đặc biệt, đối với trẻ sơ sinh, các nhu cầu cơ bản gồm có hô hấp bình thường, ăn uống đầy đủ, duy trì thân nhiệt, vệ sinh cơ thể và tránh nguy hiểm, trong đó chăm sóc hô hấp đóng vai trò quan trọng để đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ.
1.6.4 Theo học thuyết Betty Newmans (1995)
Chăm sóc toàn diện cho con người là yếu tố cốt lõi trong công tác điều dưỡng, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và đánh giá hệ thống khách hàng Người điều dưỡng chịu trách nhiệm xác định các nhu cầu chăm sóc liên quan đến sức khỏe của từng cá nhân, đồng thời thực hiện các hành động phòng ngừa cấp I, II và III để đảm bảo sức khỏe lâu dài cho bệnh nhân Quản lý hệ thống khách hàng hiệu quả không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc mà còn thúc đẩy sự hài lòng và an toàn cho người bệnh trong toàn bộ quá trình điều trị.
Phòng ngừa cấp I (ban đầu) là bước quan trọng ngay khi phát hiện có nguy cơ bệnh tật, nhằm can thiệp kịp thời để ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh Việc nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo giúp hành động nhanh chóng và hiệu quả hơn trong việc bảo vệ sức khỏe Điều này đóng vai trò then chốt trong chiến lược phòng ngừa bệnh tật toàn diện, giảm thiểu tác động tiêu cực và nỗ lực duy trì lối sống lành mạnh.
Phòng ngừa cấp II là bước quan trọng khi người bệnh xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu cho thấy có bệnh Việc xây dựng kế hoạch điều trị sớm giúp ngăn chặn bệnh trở nên nặng hơn và giảm thiểu biến chứng Điều trị kịp thời giúp bảo vệ sức khỏe và nâng cao khả năng phục hồi của bệnh nhân.
Phòng ngừa cấp III là bước quan trọng để kiểm soát bệnh rõ ràng, đòi hỏi tích cực điều trị nhằm tránh tình trạng tái phát và để lại di chứng Việc giáo dục người bệnh về cách phòng ngừa hiệu quả đóng vai trò then chốt trong quá trình này Hỗ trợ người bệnh hiểu rõ các biện pháp phòng ngừa giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh trở lại và duy trì sức khỏe lâu dài.
Chính vì vậy khi chăm sóc và theo dõi trẻ cần theo sát sớm phát hiện diễn biến và xử trí kịp thời
Khi chăm sóc trẻ sơ sinh bị suy hô hấp, việc thực hiện các nguyên tắc và quy trình chăm sóc phù hợp và chính xác là rất quan trọng Dựa trên các học thuyết và quy trình chăm sóc trẻ sơ sinh, chúng ta cần áp dụng phương pháp đúng để đảm bảo hỗ trợ hô hấp hiệu quả cho bé Điều này giúp giảm thiểu các biến chứng và thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh chóng cho trẻ sơ sinh suy hô hấp.
Quy trình chăm sóc của điều dưỡng đối với trẻ suy hô hấp sơ sinh
1.7.1 Áp dụng quy trình ĐD trong CSNB suy hô hấp
1.7.1.1 Nhận định tình trạng người bệnh:
• Tri giác: tỉnh, lơ mơ, lừ đừ, khóc to, hôn mê
• Hô hấp: tình trạng thông khí, tính chất thở, tình trạng khó thở, dấu hiệu thiếu oxy, nghe phổi, tình trạng đàm nhớt NB tự thở
• Tuần hoàn: huyết áp, mạch, da, niêm mạc, dấu hiệu thiếu nước, tình trạng choáng, áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP)
• Thần kinh: tri giác, đồng tử, cảm giác, vận động
• Tiết niệu: tiêu tiểu có tự chủ? số lượng, màu sắc, tính chất
• Thân nhiệt: bình thường, tăng hoặc hạ thân nhiệt
• Tiêu hóa: tình trạng bụng, lượng sữa tiêu, bú được hoặc nuôi ăn tĩnh mạch
• Da, niêm mạc: hồng vừa, nhạt
• Rốn: tươi, khô, nhiễm trùng
• Cân nặng, tuổi thai: nhẹ cân hay thiếu tháng
• Nguy cơ biến chứng: có nguy cơ nặng hay nhẹ, nhiễm trùng
• Khó thở do suy hô hấp
• Nguy cơ ngưng tim ngừng thở do bệnh nặng
• Thiếu nước và điện giải liên quan đến suy hô hấp
• Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng
• Nguy cơ hạ thân nhiệt
• Vệ sinh thân thể và rốn còn hạn chế do bệnh nặng
• Gia đình người bệnh thiếu kiến thức về bệnh
• Nguy cơ tai biến do nhiễm khuẩn
1.7.1.3 Lập kế hoạch chă sóc
• Theo dõi tri giác: Theo dõi 30 phút/ lần hoặc 15 phút/lần với bệnh nhi nặng
• Theo dõi: mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở, SpO2, nước tiểu theo y lệnh (có thể 15 phút/ lần với bệnh nhi nặng )
• Chăm sóc hô hấp: cho người bệnh thở oxy, CPAP, thở máy, theo dõi nhịp thở,
SPO 2 , hút đờm dãi thông thoáng đường hô hấp
• Chăm sóc tuần hoàn: theo dõi mạch, huyết áp, nhịp tim hàng giờ hoặc theo y lệnh
• Chăm sóc theo dõi các biến chứng: như tắc nghẽn hô hấp, ngưng tuần hoàn, phù mạch, hoại tử, loét,
• Theo dõi tình trạng bụng, lượng sữa tiêu
• Thực hiện các y lệnh về thuốc kháng sinh, bù nước và điện giải, dịch nuôi dưỡng
1.7.1.4 Thực hiện kế hoạch chă sóc
Thực hiện các hoạt động CSBN theo kế hoạch đã đề ra để theo dõi tình trạng bệnh nhân nhi, đặc biệt là những trẻ có nguy cơ suy hô hấp nặng hơn hoặc chưa thông thoáng đường thở Đội ngũ điều dưỡng cần khẩn trương thực hiện chính xác, hiệu quả và kịp thời các y lệnh ngoài kế hoạch nếu có, nhằm đảm bảo chăm sóc bệnh nhân an toàn và nâng cao hiệu quả điều trị.
• Đánh giá chăm sóc bệnh nhi sau khi thực hiện các biện pháp chăm sóc
Chăm sóc bệnh nhi suy hô hấp đạt được các kết quả mong muốn như: bệnh nhi hết sốt, mạch, nhiệt độ, huyết áp trở lại ổn định Việc thực hiện đúng các y lệnh về thuốc và dịch truyền đảm bảo an toàn, giúp hạn chế biến chứng nhiễm khuẩn, loét, tắc mạch, hoại tử Bệnh nhi có tổng trạng tốt, không có biến chứng, và được chuyển khoa hoặc xuất viện an toàn.
1.7.2.1 Chă sóc dự phòng hạ thân nhiệt
• Nằm lồng ấp với nhiệt độ thích hợp
• Nằm giường wamer điều chỉnh nhiệt độ thích hợp
• Cung cấp đủ năng lượng: sữa, dịch truyền
• Thay tã, áo khi ướt
• Mục tiêu duy trì thân nhiệt ở mức 36,5 – 37,5 o C
1.7.2.2 Quy t ình chă sóc v theo dõi thở oxy
• Giữ thông thoáng đường thở:
+ Tư thế làm thẳng đường thở: kê gối dưới vai
+ Thay đổi tư thế, vỗ rung phổi để tránh ứ đọng đờm dãi, xẹp phổi
+ Hút đờm dãi đều đặn, ống hút phải đảm bảo vô trùng
+ Kiểm tra nguồn oxy, lưu lượng oxy, bình làm ẩm
• Để đánh giá hiệu quả của liệu pháp O 2 , cần theo dõi:
+ Màu sắc da, di động ngực lồng ngực
+ Cơn ngưng thở giảm dần về tần số, độ dài
+ Mắc monitoring theo dõi trẻ Nhịp tim, huyết áp, nhịp thở, SpO 2
+ Vách mũi hồng hào, không loét
+ Đo PaO 2 , PaCO 2 , pH trong máu
+ Đảm bảo độ bão hoà O2 trong khoảng 85-95% để tránh biến chứng ngộ độc O 2
• Nếu sau 30 phút thở O 2 , trẻ hết tím tái, hồng trở lại chứng tỏ PaO 2 đã trở về bình thường tiến hành giảm dần nồng độ O 2 trong khí thở vào
• Nếu sau thời gian đó, trẻ vẫn tím tái, mạch vẫn nhanh nhỏ, chứng tỏ liệu pháp
O 2 không có tác dụng, cần tìm và giải quyết các nguyên nhân gây cản trở, thường là suy tim, toan máu hoặc tổn thương phổi quá nặng
• Nếu thở O 2 kéo dài > 24h phải theo dõi nồng độ O 2 trong khí thở vào và PaO 2 vì có thể gây ngộ độc O 2 nếu PaO 2 >150mmHg kéo dài trên 24 giờ
• Xơ teo võng mạc ở trẻ đẻ non
Chăm sóc chất lượng cao khi sử dụng thiết bị thở CPAP đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình điều trị Thành công của liệu trình phụ thuộc vào việc duy trì tư thế nằm tối ưu của trẻ, giữ thông đường hô hấp trên và tránh mất áp lực dương của đường thở Việc tránh mất áp lực dương đặc biệt quan trọng khi sử dụng ống thông mũi, vì việc há miệng thường gây giảm áp lực trong đường thở Các điểm mấu chốt trong việc chăm sóc trẻ thở CPAP đã được trình bày rõ ràng trong bảng 1.3 để đảm bảo hiệu quả điều trị cao nhất.
Bảng 1.2 Các điểm chính trong chăm sóc trẻ thở CPAP
• Nên dùng ống thông mũi lớn nhất, vừa vị trí mà không cần đỡ ở mũi
• Xem lại cách cố định khi thấy miếng che mũi áp quá chặt vào mũi hoặc khó giữ được áp lực CPAP
• Thay thông mũi phù hợp với lỗ mũi của trẻ
1.7.2.4 Theo dõi v chă sóc ệnh nhân thở máy
+ Đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn
+ Không nhiễm khuẩn do thở máy
+ Cố định ống nội khí quản đúng vị trí
• Phòng ngừa nhiễm khuẩn thở máy:
+ Hút đàm khi tăng tiết
+ Tuân thủ các biện pháp cơ bản phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện
+ Khử khuẩn máy thở, thay dây máy thở đúng qui trình
+ Vô khuẩn khi hút đờm, thủ thuật
+ Kiểm tra vị trí ống nội khí quản
- Trẻ thở CPAP hoàn toàn tùy thuộc vào sự thông đường mũi
- Tìm tư thế nằm tối ưu cho trẻ
- Dùng núm vú cho ngậm để giới hạn sự mất áp suất qua miệng mở
- Tránh hút qua mũi, dùng nước muối sinh lý cho nhỏ mũi sau đó hút qua hầu họng
- Dùng khí ẩm vừa phải
- Tránh dùng lực quá mức khi cố định ống thông mũi
- Miếng che mũi không nên được kéo áp chặt vào mũi, tốt hơn nên đặt ở dưới mũi
+ Cai máy thở kịp thời, sớm thở không xâm lấn
+ Vật lý trị liệu hô hấp, xoay trở mỗi 2h
1.7.2.5 Chă sóc t ẻ có đường truyền tĩnh ạch
+ Đảm bảo đường truyền tĩnh mạch thông suốt, liên tục
+ Rút ngắn thời gian nuôi ăn tĩnh mạch
+ Hạn chế pha dịch tại khoa phòng
+ Thủ thuật xâm lấn phải đảm bảo vô trùng: chích ven, chăm sóc Catherter, thay dịch truyền, truyền thuốc…
+ Truyền dịch đúng loại và đúng tốc độ
+ Theo dõi sát đường ven, Catherter… phát hiện kịp thời, phòng tránh hư ven, thoát mạch có thể gây hoại tử, viêm mô tế bào
1.7.2.6 Chă sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh ị suy hô hấp
• Sữa mẹ vẫn là thức ăn hoàn hảo nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhất là đối với trẻ sinh nhẹ cân và trẻ có bệnh lý
Trẻ sinh non có khả năng bú, nuốt và thở chưa hoàn thiện, do đó sau khi bú mẹ cần được bổ sung bằng ống tiêm nhỏ giọt hoặc đổ thìa để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng và hỗ trợ sự phát triển của trẻ.
Trẻ sơ sinh dưới 34 tuần tuổi thường cần được nuôi dưỡng bằng ống sonde dạ dày để đảm bảo cung cấp dinh dưỡng an toàn, trong khi trẻ trên 34 tuần có thể bú mẹ trực tiếp Đối với những trẻ có suy hô hấp, việc cho ăn qua đường tiêu hóa là ưu tiên hàng đầu nhằm ngăn ngừa sặc và tránh gây biến chứng nặng thêm cho tình trạng của trẻ.
+ Ăn sữa tiêu, không sặc sữa
+ Không viêm ruột, viêm ruột hoại tử
+ Không tím tái, ngưng thở, trào ngược khi ăn sữa
• Chăm sóc dinh dưỡng qua đường tiêu hóa bao gồm:
+ Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất
+ Cho bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, 8 hoặc 12 lần/ngày
+ Khởi đầu 10 – 20 ml/kg/ngày, mục đích kích thích nhu động ruột, có thể tiếp tục 3 – 5 ngày không thay đổi thể tích
+ Khi trẻ đã dung nạp, tăng dần lượng sữa 10 – 20 ml/kg/ngày
Theo dõi các dấu hiệu bất dung nạp sữa như chướng bụng, ứ sữa, sữa dư trước mỗi lần ăn và nôn ói để đánh giá phản ứng của trẻ Khi trẻ đã dung nạp được từ 90 đến 100ml/kg mỗi lần ăn, cần bổ sung dinh dưỡng bằng sữa 24cal/30ml để đảm bảo sự phát triển tốt nhất Việc kiểm soát và điều chỉnh liều lượng sữa phù hợp giúp hạn chế các vấn đề tiêu hóa và hỗ trợ quá trình tăng trưởng của trẻ ổn định.
Khi trẻ đã tiêu thụ sữa tốt, nên chuyển dần sang chế độ dinh dưỡng bổ sung với lượng 30ml chứa 30cal để đảm bảo cung cấp đủ năng lượng Trường hợp trẻ không thể bú, có thể cho ăn bằng muỗng hoặc nhỏ giọt bằng bơm tiêm 1ml nhằm hỗ trợ việc cung cấp dinh dưỡng một cách an toàn và hiệu quả Nếu trẻ không nuốt được, việc sử dụng sonde dạ dày là cần thiết để đảm bảo trẻ nhận đủ chất dinh dưỡng, đồng thời cần thăm dò dịch dạ dày trước khi bắt đầu cho ăn để tránh các biến chứng không mong muốn.
Lượng sữa ứ lại cần được xử lý phù hợp để tránh các vấn đề sức khỏe Nếu lượng sữa ứ lại chiếm ít hơn 30% mỗi lần cho bú, mẹ nên giảm lượng sữa phù hợp để cân đối Trong trường hợp lượng sữa ứ lại từ 30% đến 50%, mẹ nên nhịn một lần để giảm tình trạng tích tụ sữa Nếu lượng sữa ứ lại vượt quá 50% hoặc dịch sữa có màu vàng, xanh, nâu đỏ, cần liên hệ ngay với bác sĩ để được hướng dẫn và cân nhắc việc nhịn ăn, tạm thời ngừng cho sữa mẹ để đảm bảo sức khỏe cho bé và mẹ.
+ Có thể dùng sữa non tháng, sữa công thức thay thế nếu không có
1.7.2.7 Chă sóc vệ sinh thân thể, chă sóc ốn
+ Trẻ sạch sẽ thoải mái
+ Thân nhiệt ổn định sau tắm
+ Thay tã bỉm khi bẩn, ướt, lau sạch bằng gạc ướt, khăn ướt
+ Tắm cho trẻ trong phòng kín tránh gió lùa, ủ ấm ngay sau tắm
+ Do thân nhiệt không ổn định, có thể không tắm cho đến khi trẻ được 37 tuần tuổi hiệu chỉnh Nhưng phải thường xuyên vệ sinh thân thể trẻ
+ Chăm sóc rốn 1lần/ngày sau khi tắm hoặc khi bẩn
1.7.2.8 Chă sóc ệnh nhi t ước v s u ơ su f ct nt:
Khi trẻ được đưa đến cơ sở y tế, đánh giá ngay các dấu hiệu nguy hiểm để đưa ra kế hoạch chăm sóc ngay:
• Đặt trẻ lên một mặt phẳng ấm, có đèn sưởi (bàn hồi sức)
• Hồi sức ngay bằng bóp bóng qua mặt na nếu trẻ:
+ Ngừng thở hoàn toàn ngay cả khi có kích thích, thở ngáp hoặc nhịp thở < 20 lần/phút
+ Có biểu hiện xuất huyết hoặc sốc
• Đánh giá trẻ đã ổn định
+ Cân trẻ, đo nhiệt độ
+ Nhịp thở, nhịp tim, dấu hiệu gắng sức,…
• Đánh giá trẻ có suy hô hấp
+ Đặt ống thông dạ dày
+ Cho bệnh nhi thở oxy
+ Phụ giúp bác sỹ bơm surfactant nếu có chỉ định
Phòng ngừa suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
• Bà mẹ: Giảm tỉ lệ đẻ non, đánh giá chính xác tuổi thai, đánh giá mức độ trưởng thành của thai
Để tránh ngạt bào thai, cần nhận biết các sản phụ có nguy cơ đẻ khó và theo dõi nhịp tim thai để phát hiện suy thai sớm Việc phát hiện và điều trị kịp thời các nguyên nhân gây xuất huyết trong tam cá nguyệt thứ 3 của thai kỳ là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé Ngoài ra, không nên sử dụng thuốc an thần khi chuyển dạ để hạn chế các biến chứng không mong muốn.
Dự phòng corticoid trước sinh là biện pháp quan trọng cho các bà mẹ mang thai từ 24-34 tuần có nguy cơ sinh non, với việc sử dụng 2 liều Betamethasone 12mg tiêm bắp cách nhau 24 tiếng hoặc 4 liều Betamethasone 6mg tiêm mỗi 12 giờ để thúc đẩy sự trưởng thành của phổi thai nhi Corticoid còn được chỉ định cho sản phụ bị vỡ ối non trước 32 tuần nhằm giúp trì hoãn chuyển dạ ít nhất 24 giờ sau khi bắt đầu điều trị Trong các trường hợp cấp bách, một đợt điều trị corticoid có thể được xem xét cho những bà mẹ đã điều trị 2 tuần trước đó, thai kỳ dưới 33 tuần, và có nguy cơ sinh non trong vòng 7 ngày để tối ưu hóa kết quả cho cả mẹ và bé.
• Đối với trẻ: tiêm vitamin K để phòng xuất huyết, tiêm vitamin E Theo dõi sát trong 24 giờ đầu.
Một số yếu tố liên quan và kết quả chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp
Trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân gặp nhiều khó khăn trong quá trình chăm sóc do các hệ cơ quan chưa phát triển hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ thần kinh và trung tâm điều hòa nhiệt độ chưa hoàn thiện, gây khó khăn trong việc duy trì thân nhiệt cho trẻ Ngoài ra, hệ thống tiêu hóa chưa hoàn chỉnh khiến việc nuôi dưỡng và cung cấp dinh dưỡng phù hợp cho trẻ non tháng trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt và các biện pháp hỗ trợ y tế chuyên sâu.
Trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các thủ thuật y tế trên cơ thể, đặc biệt là kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và catheter ngoại vi, do thành mạch nhỏ, dễ vỡ Điều này khiến quá trình chăm sóc trẻ qua đường tĩnh mạch trở nên khó khăn, yêu cầu đội ngũ nhân viên y tế cần có kỹ năng và kinh nghiệm cao để đảm bảo an toàn cho trẻ.
Các bệnh lý của mẹ trong thời kỳ mang thai hoặc chuyển dạ có ảnh hưởng rõ rệt đến nguy cơ suy hô hấp ở trẻ sơ sinh Cụ thể, mẹ mắc các bệnh nội khoa khi mang thai làm tăng nguy cơ con bị suy hô hấp lên đến 3,486 lần Trong quá trình chuyển dạ, các bệnh tim nặng, tiền sản giật, sản giật và hội chứng HELLP đều làm tăng đáng kể nguy cơ suy hô hấp ở trẻ sau sinh, với các giá trị p lần lượt là 0,041 và dưới 0,001, cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê cao.
1.10 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới
Năm 1999, Yusuf và cộng sự đã đánh giá hồ sơ và kết quả của trẻ sơ sinh bị Hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) nhập viện tại Bệnh viện Đại học AgaKhan ở Karachi, Pakistan Tỷ lệ tử vong chung của trẻ sơ sinh mắc ARDS là 41% (81/200), trong đó cao nhất lên đến 70% ở trẻ sinh non cân nặng dưới 1000g (P = 0.003) Các yếu tố nguy cơ đáng chú ý gồm giá trị AaDO₂ nhập viện > 400 (P = 0.001), phát triển suy thận cấp (RR 2,6; 95% CI 1,3-5,2), và tràn khí màng phổi (RR 3,7; 95% CI 1,8-7,7).
Nghiên cứu của Alok Kumar và cộng sự năm 1996 trên 4.050 trẻ sơ sinh cho thấy tỷ lệ SHH nhập viện là 6,7%, trong đó trẻ đẻ non chiếm tỷ lệ cao nhất với 30,0%, còn trẻ già tháng là 20,9% Tỷ lệ SHH ở trẻ dưới 26 tuần tuổi thai là 100%, trong khi đó, ở nhóm 32 tuần tuổi thai là 57,14%, và chỉ còn 3,70% ở nhóm 36 tuần tuổi Tỷ lệ tử vong do SHH lên tới 43,61%, cho thấy mức độ nguy hiểm của bệnh này đối với trẻ sơ sinh.
Năm 2015, Maryam Saboute và cộng sự công bố nghiên cứu tại khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Akbarabadi (Tehran, Iran) về các trẻ non tháng nhập viện vào mùa xuân năm 2011 Nghiên cứu trên 74 trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi, được chia thành ba nhóm: cực kỳ non tháng ( 5 điểm
Chỉ số Apgar: có 3 giá trị:
• Do nguyên nhân hô hấp
• Một số bệnh lý của mẹ
2.6.2 Thu thập số liệu mục tiêu 2
Thu thập các biện pháp chăm sóc theo hồ sơ bệnh án:
+ Suy hô hấp nhẹ: thở oxy, chăm sóc dinh dưỡng, sữa mẹ, ủ ấm bằng nằm lồng ấp hoặc giường wamer
Suy hô hấp nặng là tình trạng cần được can thiệp kịp thời bằng các phương pháp như thở CPAP hoặc thở máy để hỗ trợ hô hấp Các công đoạn chăm sóc bao gồm hút dịch đường thở, đặt sonde dạ dày để đảm bảo dinh dưỡng và loại bỏ dịch tích tụ, cũng như chăm sóc trước và sau quá trình bơm surfactant nhằm cải thiện chức năng phổi Ngoài ra, việc bù nước và điện giải, kết hợp sử dụng lồng ấp hoặc giường wamer giúp duy trì nhiệt độ và ổn định tình trạng của trẻ trong quá trình điều trị.
Thu thập kết quả chăm sóc:
+ Đảm bảo công tác kiểm soát nhiễm khuẩn
Kết quả chăm sóc chung: tốt, khá
Trẻ được đánh giá là chăm sóc tốt là tuân thủ đầy đủ và an toàn các biện pháp chăm sóc như:
+ Thực hiện các quy trình điều dưỡng đúng kỹ thuật
+ Trẻ cai máy thở, cai CPAP, đảm bảo thông khí tốt trẻ ngưng thở oxy sớm và tự thở + Đảm bảo các yêu cầu thân nhiệt
+ Tiêu hóa tốt, trẻ tự bú
+ Đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn
+ Đường truyền thông suốt, không bị thoát mạch
+ Đảm bảo công tác vệ sinh thân thể
+ Không sốt, không nhiễm trùng, không để lại di chứng, trẻ được chuyển khoa hoặc xuất viện
Trẻ được đánh giá chưa nhận được chăm sóc tốt hoặc chỉ chăm sóc ở mức khá, đồng thời thực hiện các biện pháp chăm sóc chưa đầy đủ hoặc gặp phải tai biến trong quá trình chăm sóc Điều này cho thấy cần nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho trẻ nhỏ.
+ Thực hiện quy trình kỹ thuật chưa đạt
+ Chưa đảm bảo các nhu cầu chăm sóc như dinh dưỡng, nhiệt độ, hô hấp
+ Chưa theo dõi sát dấu chứng sinh tồn
+ Chưa đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn
+ Chưa đảm bảo thông khí, vẫn thở oxy, thở CPAP, thở máy
+ Trẻ không tiêu hóa tốt: sữa không tiêu, viêm ruột
+ Trẻ sốt, dấu hiệu nhiễm trùng, trẻ tử vong hoặc nặng xin về, chuyển tuyến trên + Thời gian điều trị kéo dài trên 7 ngày
+ Kết quả chăm sóc và điều trị: khỏi, chuyển tuyến, nặng xin về
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị, như sau:
Khỏi bệnh: Bệnh nhân được cho xuất viện hoặc chuyển khoa
Khi bệnh nhân có tình trạng nặng hơn, đặc biệt với các tiêu chuẩn của rối loạn chức năng đa cơ quan, cần chuyển lên tuyến trên để đảm bảo điều trị kịp thời và phù hợp Việc chuyển hướng điều trị khi vượt quá khả năng của bệnh viện chuyên khoa Sản Nhi Sóc Trăng là cần thiết để đảm bảo an toàn và sức khỏe của bệnh nhân.
Bệnh nặng xin về: khi tình trạng bệnh nhân nặng hơn và người nhà không chấp nhận việc tiếp tục điều trị, đồng ý cam đoan xin về nhà
Tử vong bao gồm các bệnh nhân đã tử vong tại bệnh viện cũng như những bệnh nhân nặng đã xin về nhà và sau khi được xác nhận qua điện thoại trong vòng 24 giờ, đã tử vong tại nhà.
Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc:
+ Mức độ suy hô hấp
Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc và điều trị bao gồm tuổi thai, cân nặng và mức độ suy hô hấp được đánh giá qua điểm Silverman Nếu giá trị P < 0,05, điều này cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm Việc phân tích những yếu tố này giúp xác định chính xác các yếu tố dự đoán và hướng điều trị phù hợp, nâng cao chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân.
Các biến số nghiên cứu
Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Biến số Định nghĩa biến Phân loại biến
Giới tính Nam hoặc Nữ Nhị phân Phát vấn
Tuổi thai được xác định dựa vào kỳ kinh cuối cùng, góp phần quan trọng trong việc đánh giá quá trình phát triển của thai nhi Cân nặng của bé khi sinh, đo bằng gram, là yếu tố đa biến ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ sơ sinh Phương thức sinh, bao gồm hình thức sinh em bé, cũng được xem xét để đảm bảo lựa chọn phương pháp phù hợp cho mẹ và bé, giúp giảm thiểu các rủi ro và tối ưu hóa kết quả sinh nở.
Ngày tuổi Tính theo giờ, ngày Đa biến Phát vấn
Thời gian chuyển dạ kéo dài
Tính từ khi có dấu hiệu chuyển dạ đến khi bắt đầu rặn đẻ: < 6h hoặc >
Thời gian tính từ khi bắt đầu rặn đẻ đến khi sinh em bé
Nhị phân Phát vấn, bệnh án
Là tình trạng bệnh lý bánh rau: rau bong non, rau tiền đạo (Có hoặc không )
Là tình trạng bệnh lý của mẹ khi mang thai và sinh con: Tiểu đường, cao huyết áp, sốt (Có hoặc không )
Nhị phân Phát vấn, bệnh án
Tình trạng nước ối Là tình trạng nước ối trong, đục/bẩn Nhị phân Phát vấn, bệnh án
Là những biểu hiện của trẻ ghi nhận khi vào viện Đa biến Bệnh án
Nguyên nhây suy hô hấp
Là nguyên nhân gây suy hô hấp cho trẻ Đa biến Bệnh án
Mức độ suy hô hấp Được đánh giá theo chỉ số Silvermen Đa biến Bệnh án
SpO 2 Độ bão hòa oxy qua mao mạch, được đo ở tay phải bệnh nhi và bằng monitoring
Tần số thở Được đo bằng số thở trong mỗi phút và chịu sự điều hòa và kiểm soát từ trung tâm hô hấp Đa biến Bệnh án
Tần số tim Được đo bằng số nhịp đập của tim trong một phút Đa biến Bệnh án
Phản xạ Là dấu hiệu cử động mạnh, yếu, khóc to Đa biến Phát vấn
Chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp
Thở oxy Là thở khí thở vào có nồng độ oxy cao hơn nồng độ oxy khí trời FiO 2 >21%
Hỗ trợ cho trẻ bị suy hô hấp còn khả năng tự thở bằng cách duy trì áp lực dương liên tục trong suốt chu kỳ thở là phương pháp hiệu quả để cải thiện chức năng hô hấp Phương pháp này giúp giữ mở đường thở và tăng cường trao đổi khí, từ đó hỗ trợ trẻ phục hồi tốt hơn Áp lực dương liên tục là kỹ thuật quan trọng trong chăm sóc trẻ suy hô hấp, giúp duy trì lượng oxy trong máu ổn định và giảm nguy cơ ngưng thở.
Thở máy Là thông khí nhân tạo, hoạt động hỗ trợ quá trình hô hấp cho bệnh nhân
Là liệu pháp được sử dụng điều trị bệnh màng trong
Kỹ thuật đặt ống thông qua đường hô hấp là phương pháp nhằm hút dịch, đờm dãi hoặc loại bỏ các chất gây tắc nghẽn làm tắc nghẽn đường thở của bệnh nhân Phương pháp này giúp khai thông đường hô hấp, nâng cao khả năng thở và đảm bảo tuần hoàn khí oxy hiệu quả cho người bệnh Việc thực hiện đúng kỹ thuật đặt ống thông đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc y tế, đặc biệt trong các tình huống cấp cứu và điều trị bệnh lý đường hô hấp.
Nhị phân Bệnh án Đặt sonde dạ dày Là kỹ thuật đưa ống thông qua đường miệng hoặc mũi vào dạ dày người bệnh
Cho trẻ nằm lồng ấp hoặc giường wamer
Là phương pháp ủ ấm cho trẻ bằng lồng ấp hoặc giường wamer
Cho trẻ ăn sonde Nuôi dưỡng là đưa thức ăn vào đường tiêu hóa qua sonde
Nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch
Nuôi dưỡng tĩnh mạch là đưa các chất dinh dưỡng vào cơ thể qua đường tĩnh mạch để nuôi sống cơ thể
Nhị phân Bệnh án Đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ Ăn sữa tiêu, không sặc, không viêm ruột, không hạ đường huyết
Nhị phân Bệnh án Đảm bảo thân nhiệt cho trẻ
Duy trì thân nhiệt của trẻ ở mức 36,5- 37,5 0 C
Nhị phân Bệnh án Đảm bảo công tác kiểm soát nhiễm khuẩn
Các thủ thuật xâm lấn như đặt nội khí quản, catheter tĩnh mạch trung tâm và ngoại vi cần tuân thủ các tiêu chuẩn vô trùng nghiêm ngặt để tránh nguy cơ nhiễm trùng và các biến chứng như hoại tử, viêm mô tế bào hoặc viêm ruột Việc đảm bảo vô trùng trong quá trình thực hiện các thủ thuật này là yếu tố then chốt giúp giảm thiểu các rủi ro và nâng cao an toàn cho bệnh nhân.
Nhị phân Bệnh án Đảm bảo vệ sinh Trẻ sạch sẽ thỏa mái, không hạ thân nhiệt, rốn rụng và khô
Kết quả đạt được trong công tác chăm sóc người bệnh phụ thuộc vào việc thực hiện đầy đủ các quy trình quan trọng như đảm bảo thông khí, duy trì thân nhiệt ổn định cho trẻ, cung cấp dinh dưỡng phù hợp, kiểm soát nhiễm khuẩn hiệu quả và giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ These integrated measures giúp nâng cao hiệu quả điều trị, đảm bảo sức khỏe và sự hồi phục nhanh chóng của trẻ.
Kết quả điều trị và chăm sóc
Là kết quả đạt được khi thực hiện các biện pháp điều trị và chăm sóc: xuất viện, chuyển viện, nặng xin về hoặc tử vong
Mối liên quan của kết quả chăm sóc
Là mối liên quan giữa tuổi thai, cân nặng, mức độ suy hô hấp và kết quả chăm sóc, điều trị Đa biến Bệnh án
Tất cả trẻ sơ sinh suy hô hấp điều trị tại Khoa HSTC & CĐ Nhi Bệnh viện Sản Nhi Sóc Trăng đều được khám lâm sàng kỹ lưỡng và xét nghiệm cận lâm sàng để xác định chính xác tình trạng bệnh Quá trình thu thập thông tin về mẹ của trẻ diễn ra qua phỏng vấn trực tiếp hoặc sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn nhằm đảm bảo đầy đủ dữ liệu Chỉ những trẻ đủ tiêu chuẩn chẩn đoán suy hô hấp mới được đưa vào nghiên cứu, giúp đảm bảo độ chính xác và tính toàn diện của phân tích.
- Hỏi bệnh sử, tiền sử: Tuổi thai, khai thác các yếu tố nguy cơ của mẹ, apgar lúc sinh và quá trình bệnh lý
- Khám lâm sàng: Nhiệt độ, cân nặng, tuổi thai, tình trạng ý thức, nhận định tình trạng suy hô hấp
Trong quy trình điều dưỡng cho trẻ sơ sinh bị suy hô hấp, việc khai thông đường thở đóng vai trò quan trọng Cần đặt trẻ ở tư thế nằm ngửa cổ để đảm bảo đường thở thông thoáng, kết hợp với việc hút dịch hầu họng để loại bỏ tắc nghẽn, giúp trẻ dễ thở hơn.
+ Đặt ống thông dạ dày để hút làm rỗng dạ dày
+ Điều hòa thân nhiệt: Trẻ được nằm ở bàn sưởi ấm hoặc giường wamer, nhiệt độ tùy theo cân nặng để duy trì thân nhiệt ổn định 36,5 – 37 0 C
+ Thiết lập đường truyền tĩnh mạch
+ Đo độ bảo hòa oxy trong máu: SpO2
+ Thở Oxy: Khi PaO2< 70 mmHg Thở oxy qua lều, mặt nạ hay ống thông mũi
(1 mũi hay 2 mũi) nếu trẻ tự thở được
+ Thông khí hỗ trợ (thở áp lực dương liên tục hay thở máy)
+ Bù dịch, điện giải, duy trì năng lượng
Thực hiện y lệnh điều trị nguyên nhân:
+ Dùng Surfactant (bệnh màng trong)
+ Điều trị ngoại khoa: Dị tật thoát vị cơ hoàng.
Kỹ thuật thu thập số liệu
Các chỉ số chung thu thập theo mẫu bệnh án
Khám lâm sàng và thực hiện thủ thuật được bác sĩ khoa Hồi Sức tích cực và chống độc trực tiếp tiến hành nhằm đảm bảo quá trình chăm sóc bệnh nhân diễn ra chính xác và an toàn Đánh giá lâm sàng cùng các dấu hiệu sinh tồn do điều dưỡng thực hiện giúp theo dõi tình trạng bệnh nhân liên tục, từ đó đưa ra các quyết định điều trị phù hợp Các bước này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chăm sóc và giảm thiểu rủi ro trong quá trình điều trị tại khoa Hồi Sức tích cực và chống độc.
Sai số và cách khắc phục
Việc thu thập thông tin chủ yếu dựa trên bệnh án đã được thiết kế sẵn và có độ dài tương đối, điều này có thể gây ra sai số do sự không đồng nhất giữa các điều tra viên và thái độ hợp tác của đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, độ chính xác của dữ liệu còn phụ thuộc vào thời điểm thực hiện nghiên cứu tại khoa Hồi sức cấp cứu.
Hướng dẫn cẩn thận và đầy đủ về cách điền thông tin cho điều tra viên và nói cho đối tượng hiểu về mục đích sử dụng thông tin
Các phiếu điều tra được nhóm nghiên cứu kiểm tra ngay sau khi hoàn thành thu thập dữ liệu để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin Những phiếu có thông tin chưa đầy đủ hoặc không hợp lý cần được yêu cầu bổ sung ngay lập tức nhằm đảm bảo chất lượng dữ liệu nghiên cứu Việc kiểm tra sau thu thập giúp đảm bảo kết quả nghiên cứu chính xác và tin cậy.
Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm phần mềm SPSS 22.0
- Các phân tích bao gồm:
+Thống kê mô tả: số lượng; tỉ lệ phần trăm; độ lệch chuẩn, mức ý nghĩa thống kê p60 lần/phút, thở chậm