I. CÂU HỎI TỰ LUẬN: 1) Anh (chị) hãy lý giải tại sao Việt Nam lại chọn mô hình NHTƯ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ.(không thuộc Quốc hội hay Bộ Tài chính). Trả lời: Cơ quan ngang bộ của Chính Phủ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước ở đây là lĩnh vực về điều chỉnh hoạt động của ngân hàng Trung Ương . Mô hình NHTW trực thuộc chính phủ là mô hình trong đó NHTW nằm trong nội các chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của chính phủ về nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ. Theo mô hình này, Ngân hàng trung ương là một bộ máy của Chính phủ, là một cơ quan chức năng của Chính phủ, chịu sự kiểm soát toàn diện của Chính phủ và thực hiện mọi chính sách thể chế của chính phủ. Sự đề xuất ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ xuất phát từ quan điểm cho rằng tiền tệ là một bộ phận của chính sách cai trị về tài chính, tiền tệ là phương tiện của chính quyền . Lí do Việt Nam lựa chọn mô hình NHTƯ cơ quan ngang bộ của Chính phủ mà không thuộc Quốc hội hay Bộ Tài chính là do : Thứ nhất vai trò chính của cơ quan Chính Phủ đó là quản lý mọi hoạt động trên các mặt của Nhà nước cũng như đời sống xã hội người dân thuộc toàn quốc gia trong đó có đề xuất, xây dựng chính sách vĩ mô, đề xuất định hướng phát triển kinh tế xã hội trình Quốc hội vì thế Chính Phủ sẽ quản lí tốt hơn vì hiểu được thời cục , tình hình đất nước hơn bất kì chủ thể nào mà sẽ ra các chính sách vực dậy nền kinh tế thông qua sự quản lí NHTW của mình. Thứ 2 , Vì Chính Phủ là 1 bộ máy hành chính, 1 cơ quan nhà nước đầy quyền lực do đó sẽ tạo được uy tín, độ tin cậy cao vào nhà nước của các cá nhân, tổ chức vào bộ máy nhà nước . Thứ 3 , Khi ngân hàng trung ương là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ thì giúp chính phủ nắm trong tay nguồn lực tài chính ổn định, tập trung của nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu mà chính phủ đặt ra.
Trang 1CHƯƠNG 2: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
I CÂU HỎI TỰ LUẬN:
1) Anh (chị) hãy lý giải tại sao Việt Nam lại chọn mô hình NHTƯ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ.(không thuộc Quốc hội hay Bộ Tài chính).
Trả lời:
Cơ quan ngang bộ của Chính Phủ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lýnhà nước về các ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước ở đây là lĩnh vực vềđiều chỉnh hoạt động của ngân hàng Trung Ương Mô hình NHTW trực thuộc chính phủ
là mô hình trong đó NHTW nằm trong nội các chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp củachính phủ về nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xâydựng và thực hiện chính sách tiền tệ Theo mô hình này, Ngân hàng trung ương là một bộmáy của Chính phủ, là một cơ quan chức năng của Chính phủ, chịu sự kiểm soát toàndiện của Chính phủ và thực hiện mọi chính sách thể chế của chính phủ Sự đề xuất ngânhàng trung ương trực thuộc chính phủ xuất phát từ quan điểm cho rằng tiền tệ là một bộphận của chính sách cai trị về tài chính, tiền tệ là phương tiện của chính quyền
Lí do Việt Nam lựa chọn mô hình NHTƯ cơ quan ngang bộ của Chính phủ mà khôngthuộc Quốc hội hay Bộ Tài chính là do :
- Thứ nhất vai trò chính của cơ quan Chính Phủ đó là quản lý mọi hoạt động trên các mặtcủa Nhà nước cũng như đời sống xã hội người dân thuộc toàn quốc gia trong đó có đềxuất, xây dựng chính sách vĩ mô, đề xuất định hướng phát triển kinh tế - xã hội trìnhQuốc hội vì thế Chính Phủ sẽ quản lí tốt hơn vì hiểu được thời cục , tình hình đất nướchơn bất kì chủ thể nào mà sẽ ra các chính sách vực dậy nền kinh tế thông qua sự quản líNHTW của mình
- Thứ 2 , Vì Chính Phủ là 1 bộ máy hành chính, 1 cơ quan nhà nước đầy quyền lực do đó
sẽ tạo được uy tín, độ tin cậy cao vào nhà nước của các cá nhân, tổ chức vào bộ máy nhànước
- Thứ 3 , Khi ngân hàng trung ương là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ thì giúp chínhphủ nắm trong tay nguồn lực tài chính ổn định, tập trung của nền kinh tế để thực hiện cácmục tiêu mà chính phủ đặt ra
- Thứ 4 , Chính phủ có thể lợi dụng chính sách tiền tệ để bù đắp bội chi ngân sách nhànước
Trang 2- Thứ 5 , Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ Chínhphủ nắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng và phối hợp 1 cách đồng bộ vàhiệu quả các công cụ đó, đặc biệt là chính sách tiền tệ Giúp chính phủ thống nhất, phốihợp đồng bộ các chính sách vĩ mô, trong đó có chính sách tiền tệ ngân hàng, nhằm đạtđược mục tiêu kinh tế, xã hội chung
2) Tại sao pháp luật ngân hàng Việt Nam lại quy định: “NHNNVN là một pháp nhân” Hãy chứng minh?
Trả lời:
CSPL: Khoản 2 Điều 2 Luật NHNNVN 2010, Điều 74 BLDS 2015
Theo quy định tại Điều 74 BLDS 2015: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi
có đủ các điều kiện sau đây:
a/ Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b/ Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c/ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d/ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”
Như vậy, NHNNVN là một pháp nhân vì:
- Thứ nhất, NHNNVN được thành lập một cách hợp pháp theo pháp luật
- Thứ hai, NHNNVN có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Được tổ chức thành hệ thống tập trungthống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh
ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diện trong nước, ngoàinước và các đơn vị trực thuộc
- Thứ ba, NHNNVN có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước Vốn pháp định củaNHNNVN do Chính phủ quyết định và nguồn vốn có thể cấp bổ sung khi cần thiết Vốnpháp định được hình thành từ các nguồn vốn hiện có và nguồn vốn được bổ sung
- Thứ tư, NHNNVN tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật
3) Tại sao ngoài việc quản lý tổ chức và hoạt động của các TCTD, NHNNVN còn quản lý việc vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp khác?
Trả lời:
Trang 3Ngân hàng Nhà nước và cơ quan quản lý hoạt động vay trả nợ nước ngoài đối với nhữngkhoản nợ của doanh nghiệp Tổ chức tín dụng hoạt động ngoại khóa điều hòa cán cânthanh toán quốc tế Ngân hàng Nhà nước xây dựng và áp dụng các biện pháp để đảm bảothực thi pháp quy định chính sách đối ngoại hối hoạt động xuất nhập khẩu vàng xác định
và bố trí tỷ giá ngoại hối tổ chức điều hòa thị trường hối đoái theo dõi quan hệ tín dụngvới các tổ chức quốc tế
4) Chứng minh NHNNVN là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trả lời:
Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Ngân hàng nhà nước Việt Nam được tổchức theo mô hình ngân hàng một cấp Theo mô hình này, Ngân hàng nhà nước ViệtNam vừa có chức năng ngân hàng trung ương, thực hiện các hoạt động kinh doanh vừa là
cơ quan của Chính phủ Kể từ sau cải cách hệ thống ngân hàng theo cơ chế kinh tế thịtrường, Ngân hàng nhà nước Việt Nam không còn thực hiện kinh doanh đối với nền kinh
tế mà thực hiện hai chức năng cơ bản là quản lí nhà nước về ngân hàng và chức năngngân hàng trung ương của đất nước Với chức năng của cơ quan quản lí nhà nước, Ngânhàng nhà nước Việt Nam thực hiện quản lí nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàngnhư: cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động đối với tổ chức tín dụng, cấp, thu hồigiấy phép hoạt động ngân hàng đối với các tổ chức khác; quản lí việc vay, trả nợ nướcngoài của doanh nghiệp Với chức năng là ngân hàng trung ương Ngân hàng nhà nướcthực hiện các hoạt động như phát hành tiền, điều hoà lưu thông tiền tệ, cung ứng các dịch
vụ ngân hàng cho các tổ chức tín dụng Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng nhà nướcViệt Nam là ổn định giá trị đồng tiền, kiểm chế lạm phát và đảm bảo an toàn hoạt độngngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa.Ngân hàng nhà nước Việt Nam có tư cách pháp nhân, có vốnpháp định, tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạtđộng nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chỉ nhánh Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trungương, các văn phòng đại điện ở trong nước, ở ngoài nước và các đơn vị trực thuộc
5) Trình bày cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, điều hành NHNNVN Hội đồng chính sách tiền
tệ quốc gia có phải là một bộ phận thuộc NHNN hay không? Chức năng của cơ quan này?
Trả lời:
Cơ cấu tổ chức: tập trung thống nhất theo ngành dọc NHNN được tổ chức thành hệthống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở
Trang 4chính, các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diệntrong nước, ngoài nước và các đơn vị trực thuộc
Cơ cấu lãnh đạo, điều hành NHNNVN: theo chế độ một thủ trưởng
Hội đồng chính sách tiền tệ quốc gia không phải là một bộ phận thuộc NHNN
Chức năng của cơ quan này: tư vấn cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việchoạch định và quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương, chính sách tài chính,tiền tệ thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (Điều 1 Quyếtđịnh 1079/QĐ-TTg thành lập Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia)
6) Có ý kiến cho rằng: Việc quy định thành lập chi nhánh NHNNVN ở mỗi tỉnh, thành phố như hiện nay là không cần thiết, làm cho bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả Anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay không? Giải thích?
Trả lời:
Việc thành lập chi nhánh ngân hàng nhà nước ở mỗi tỉnh thành là cần thiết vì: Thứ nhất,
vì là cơ quan nhà nước trực thuộc chính phủ do đó cần có chi nhánh ở các tỉnh thành đểthực hiện việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động ngân hàng tại địa phương nhưnhững cơ quan khác Thứ hai, vì mỗi địa phương đều có những kế hoạch riêng trong quátrình phát triển kinh tế, xã hội Do đó, chi nhánh NHNN ở địa phương cũng kịp thời thựchiện được các chức năng tham mưu, hỗ trợ UBND các tỉnh thành trong việc quản lý và sửdụng nguồn ngân sách nhà nước một cách phù hợp
7) Anh (chị) có nhận xét gì về vị trí pháp lý và vai trò của NHNNVN hiện nay? Có ý kiến cho rằng nên nâng cao hơn nữa vị thế và tính độc lập của NHNN trong bộ máy nhà nước ta hiện nay để NHNN có thể phát huy tích cực hiệu quả hoạt động của mình Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 2 Luật NHNNVN 2010 quy định: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sauđây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trungương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Như vậy, theo quy định này NHNNVN vừa có vị trí là một bộ trong cơ cấu tổ chức củaChính phủ, vừa có vị trí là ngân hàng trung ương
Trang 5- Với vị trí pháp lí là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, ngân hàng nhà nước là cơ quanngang bộ có chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng.
- Với vị trí pháp lí của ngân hàng trung ương, NHNNVN là ngân hàng phát hành tiền,ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.Theo nhóm em, về vị trí pháp lý và vai trò của NHNNVN hiện nay là phù hợp Bởi thểchế chính trị nước ta là tập trung quyền lực thống nhất và với giai đoạn hiện tại khi màViệt Nam ta vẫn là một nước đang phát triển thì cần thiết có sự tập quyền cao độ vàoChính phủ để từ đó chủ động hơn trong việc thực hiện các quyết sách về kinh tế của Nhànước
Việc nâng cao vị thế và tính độc lập của NHNNVN trong bộ máy nhà nước sẽ giúp Ngânhàng thực hiện hoạt động của mình một cách linh hoạt và hiệu quả hơn Tuy nhiên, việcnâng cao tính độc lập của NHNNVN không phải là không có nhược điểm, đặc biệt làtrong giai đoạn hiện tại khi mà nền kinh tế nước ta vẫn còn đang phát triển việc hoạchđịnh chính sách tiền tệ cần phải gắn liền với đời sống xã hội Do đó, theo nhóm hiện nayNHNNVN đang là cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ thì vẫn là một biện pháp an toàn
Lợi nhuận có được được nộp vào ngân sách nhà nước
9) Chính sách tiền tệ quốc gia là gì? Việc thực hiện chính sách tiền tệ này như thế nào? Bằng hiểu biết của mình, anh (chị) hãy cho ví dụ thực tiễn.
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật ngân hàng nhà nước năm 2010 quy định:
“1 Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quannhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện
Trang 6bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mụctiêu đề ra.”
Việc thực hiện chính sách tiền tệ đạt được nhiều thành tựu , song có rất nhiều thách thức
Ví dụ thực tiễn :
Giai đoạn 2015-2020, nền kinh tế Việt Nam có thế và lực thuận lợi nhờ kế thừa thành tựu
30 năm đổi mới khi những nỗ lực cải cách cơ cấu kinh tế bắt đầu đơm hoa, kết trái.Những dấu ấn kinh tế nổi bật đó có sự đóng góp hết sức tích cực, quan trọng của hệ thốngngân hàng - mạch máu của nền kinh tế Theo đó, hiệu lực, hiệu quả truyền dẫn của chínhsách tiền tệ ngày càng nâng cao Ngân hàng Nhà nước đã điều hành đồng bộ, linh hoạtcác công cụ chính sách tiền tệ để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần kiểm soátlạm phát theo mục tiêu và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; điều hành tín dụng antoàn, hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm soát tín dụng đối với cáclĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với lạm phát,kiên định điều hành giảm lãi suất trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, hỗ trợ tăng trưởngkinh tế, đảm bảo cân bằng lợi ích của người đi vay và người gửi tiền; ổn định tỷ giá, giữvững giá trị đồng Việt Nam; thị trường tiền tệ, ngoại hối và thị trường vàng ổn định,thông suốt.Bên cạnh đó, tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu có bước độtphá cơ bản trên cơ sở phát hiện và hoàn thiện những “nút thắt” trong khung pháp lý hiệnhành Đến cuối năm 2020, sự ổn định, an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng được giữvững, hầu hết tổ chức tín dụng đạt tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của pháp luật (khoảng11,65%); năng lực tài chính các tổ chức tín dụng được củng cố; chất lượng tín dụng đượccải thiện, tỷ lệ nợ xấu tiếp tục được duy trì dưới 3%; quy mô hệ thống tổ chức tín dụngtiếp tục tăng; năng lực quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng từng bước được nâng cao,tiệm cận với thông lệ quốc tế Đồng thời, hệ thống thanh toán được kiểm soát và vậnhành an toàn, việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt có nhiều tiến bộ vượt bậc.Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, đảm bảo an ninh, antoàn trong hoạt động thanh toán Các tổ chức tín dụng đã nghiên cứu, ứng dụng nhiềucông nghệ mới, hiện đại như thanh toán trên thiết bị di động, áp dụng xác thực vân tay,sinh trắc, sử dụng mã phản hồi nhanh Đồng thời, thanh toán ngân hàng được đẩy mạnhđối với các dịch vụ công, góp phần không nhỏ trong việc hạn chế sử dụng tiền mặt trongnền kinh tế
Năm 2020 là một năm đi vào lịch sử thế giới với những thách thức chưa từng có Dịchbệnh COVID-19 đã và đang lan rộng trên thế giới là một cú sốc lớn đối với hoạt động xãhội, kinh tế của toàn thế giới, gây ra nhiều khó khăn và hệ lụy cho các doanh nghiệp vàcác quốc gia Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà
Trang 7nước đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về tín dụng nhằm hỗ trợ tháo gỡ khókhăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.Cụ thể, Ngân hàng Nhànước yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát, đánh giá mức độ ảnh hưởng của dịch đối vớikhách hàng vay vốn, xây dựng chương trình, kịch bản hành động của ngân hàng bám sátvới thực tế để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng Đặc biệt, đã ban hành Thông tư01/2020/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 13/3/2020, tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tíndụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ, giúp người dân
và doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ để tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh; ban hànhChỉ thị 02/CT-Ngân hàng Nhà nước ngày 31/3/2020 chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăngcường triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch
Sự vào cuộc sớm, chủ động và quyết liệt của ngành ngân hàng đã đạt được những kết quảtích cực; tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu phục hồi khi cầu tín dụng bắt đầu tăng, đếnngày 31/12/2020, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 9,2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng12,13% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ năm 2019 tăng 13,65%) Tín dụng tiếp tục tậptrung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, nhu cầu vốn cho các dự
án trọng điểm được đáp ứng kịp thời Đặc biệt, tất cả các tổ chức tín dụng (kể cả công tytài chính, ngân hàng nước ngoài) đều vào cuộc mạnh mẽ, sử dụng nguồn nội lực tài chínhcủa mình thông qua việc tiết giảm chi phí, cắt giảm lương, giảm lợi nhuận, không chia cổtức để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng Đến nay, toàn ngành đã cơ cấu lại thờihạn trả nợ cho khoảng 270 nghìn khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 với dư nợgần 355 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho gần 590 nghìn khách hàng với dư nợtrên 1 triệu tỷ đồng, đặc biệt các tổ chức tín dụng đã cho vay mới lãi suất ưu đãi (thấphơn phổ biến từ 0,5 - 2,5% so với trước dịch) với doanh số lũy kế từ 23/1 đến nay đạt gần2,3 triệu tỷ đồng cho hơn 390 nghìn khách hàng
Đối với cho vay người sử dụng lao động để trả lương ngừng việc cho người lao động,Ngân hàng Chính sách xã hội đã thực hiện giải ngân với tổng dư nợ là 20,72 tỷ đồng cho
137 người sử dụng lao động, số lao động được hỗ trợ là 5.200 người Các giải phápngành ngân hàng triển khai trong thời gian qua, đặc biệt là giải pháp cơ cấu lại thời hạntrả nợ, miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ được thực hiện bằng chính nguồn lực của các
tổ chức tín dụng từ việc tiết kiệm triệt để chi phí hoạt động, giảm lợi nhuận kinh doanh,trên tinh thần chia sẻ khó khăn và đồng hành cùng với khách hàng vay vốn, đã phát huytác dụng giúp giảm áp lực cho doanh nghiệp trong trả nợ vay ngân hàng và tạo điều kiện
để doanh nghiệp tiếp tục vay mới khôi phục và ổn định sản xuất, kinh doanh
10) Tái cấp vốn là gì? Cách thức vận hành công cụ này thế nào ? Thực tế việc sử dụng công cụ này hiện nay ?
Trả lời:
Trang 8Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắnhạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 11Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010.
Cách thức vận hành tái cấp vốn :
Tái cấp vốn theo hình thức cho vay có đảm bảo bằng giấy tờ có giá:
Theo điều 2 Thông tư 17/2011/TT-NHNN quy định: Cho vay có bảo đảm bằng cầm cốgiấy tờ có giá là hình thức cho vay của NHNN Việt Nam đối với các tổ chức tín dụngtrên cơ sở cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng để đảm bảo nghĩa vụtrả nợ
Tái cấp vốn theo hình thức chiết khấu giấy tờ có giá:
Theo điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN: Chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ Ngânhàng Nhà nước mua ngắn hạn (mua với kỳ hạn dưới 1 năm) các giấy tờ có giá còn thờihạn thanh toán của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước khi đến hạn thanhtoán
Các hình thức tái cấp vốn khác :
Thực tế việc sử dụng công cụ này hiện nay ?
Theo khoản 2 điều 11 luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 thì có 3 hình thức tái cấp
vốn :
a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá
b) Chiết khấu giấy tờ có giá
c) Các hình thức tái cấp vốn khác
Tuy nhiên hiện nay , Ngân hàng nhà nước Việt Nam hầu như mới chỉ thực hiện được theohai hình thức đó là : Chiết khấu , tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
và cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và giấy tờ có giá
12) Khái niệm lãi suất ? Hiện nay NHNN sử dụng công cụ lãi suất để điều tiết nền kinh tế như thế nào ?
Trả lời:
Trang 9Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian (1tháng hoặc 1 năm) Đây là loại giá cả đặc biệt, được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụngchứ không phải trên cơ sở giá trị Giá trị sử dụng của khoản vốn vay là khả năng mang lạilợi nhuận cho người đi vay khi sử dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh hoặc mức độthoả mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó của người đi vay Khác với giá cả hàng hoá,lãi suất không được biểu diễn dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng tỷ lệ phần trăm Lãisuất (interest rate) cũng được xem là tỷ lệ sinh lời (rate of return) mà người chủ sở hữuthu được từ khoản vốn cho vay.
Hiện nay lãi suất được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng như công cụ để tác độnglên lượng tiền tệ trong lưu thông, đó không phải là lãi suất kinh doanh Ngân hàng Nhànước Việt Nam có thể ấn định mức lãi suất trần, lãi suất sàn hoặc lãi suất cơ bản tươngứng với từng loại hình tổ chức tín dụng, từng loại tiền gửi
13) Lãi suất cơ bản là gì ? Ý nghĩa của lãi suất cơ bản ? Có ý kiến cho rằng nên bỏ quy định về lãi suất cơ bản vì nó hạn chế quyền tự do kinh doanh của các TCTD Anh (chị) có suy nghĩ gì về vấn đề này ?
Trả lời:
- Lãi suất cơ bản là lãi suất do Thống đốc NHNN ban hành nhằm điều chỉnh một mức lãisuất sàn phù hợp và thống nhất trên phạm vi cả nước, qua đó các ngân hàng căn cứ vàolãi suất cơ bản để đưa ra mức lãi suất phù hợp cho hoạt động kinh doanh đối với loại hìnhvay vốn ngân hàng
- Ý nghĩa: Lãi suất cơ bản giúp các ngân hàng thương mại có thể đưa ra mức lãi suất phùhợp với hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng, bên cạnh đó nó còn là cơ sở để thamchiếu đối với các tranh chấp dân sự có liên quan đến hoạt động vay, mượn và thanh toántrong thương mại
- Theo ý kiến cá nhân thì việc NHNN ban hành lãi suất cơ bản là không nên bãi bỏ Mặc
dù việc quy định lãi suất cơ bản sẽ làm giảm sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng qua
đó không thể “kích cầu” đối với hoạt động tái cấp vốn Tuy nhiên có những nguyên nhânkhiến cho việc duy trì lãi suất cơ bản là cần thiết như: Thứ nhất, vì lãi suất cơ bản được
áp dụng trên phạm vi cả nước do đó sẽ được coi như là thước đo đối với các hoạt độngvay hoặc có tranh chấp đến các hoạt động vay và thanh toán Thứ hai, việc bãi bỏ quyđịnh về lãi suất cơ bản cũng kéo theo việc sửa đổi các luật, bộ luật khác vì đã có nhữngquy định căn cứ vào lãi suất cơ bản do nhà nước công bố Thứ ba, lãi suất cơ bản cũng là
Trang 10công cụ để NHNN có thể điều chỉnh và kiểm soát được các khoản tiền tái cấp vốn từ đó
ổn định được nền kinh tế vĩ mô
14) Dự trữ bắt buộc là gì ? Tại sao NHNN lại quy định các TCTD phải dự trữ bắt buộc ? Việc quy định dự trữ bắt buộc như thế nào ? Cách thức vận hành công cụ này ? Thực tế việc sử dụng công cụ này ?
Trả lời:
Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về
tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ đểđảm bảo tính thanh khoản Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữtrữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này Nếu thiếu hụt tiền mặtcác ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương đểđảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ươngnhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ
NHNN lại quy định các TCTD phải dự trữ bắt buộc
Là đảm bảo khả năng thanh toán toàn bộ các khoản nợ phát sinh, toàn bộ các khoản chitrả, chi tiêu và cho vay thường xuyên của ngân hàng Từ đó tránh tình trạng dự trữ quá íthoặc quá nhiều
Có thể thấy, duy trì tiền dự trữ bắt buộc là điều cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi chongười gửi tiền vào ngân hàng đồng thời bảo đảm cho NHNN có thể điều chỉnh được khảnăng tạo tiền của các NHTM nhằm thực thi chính sách tiền tệ của mình
Việc quy định dự trữ bắt buộc :
- Theo đó, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng như sau:
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng đối vớitừng loại hình TCTD và từng loại tiền gửi phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệquốc gia trong từng thời kỳ
(Trừ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tíndụng quy định với trường hợp dưới đây)
- Đối với TCTD cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn được hỗ trợ qua công cụ
dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam áp dụngtheo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước
Trang 11Tuy nhiên, sẽ có 03 trường hợp TCTD không cần dự trữ bắt buộc sau đây
- TCTD được kiểm soát đặc biệt: thời gian không thực hiện dự trữ là từ tháng tiếptheo tháng TCTD đó bị Ngân hàng Nhà nước quyết định đặt vào tình trạng kiểmsoát đặc biệt, đến hết tháng được chấm dứt kiểm soát đặc biệt;
- TCTD chưa khai trương hoạt động không thực hiện dự trữ bắt buộc cho đến hếttháng TCTD khai trương hoạt động
- TCTD được chấp thuận giải thể hoặc có quyết định mở thủ tục phá sản hoặc cóquyết định thu hồi Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền:
Thời gian không thực hiện dự trữ là từ tháng tiếp theo tháng TCTD được chấp thuận giảithể hoặc quyết định mở thủ tục phá sản, thu hồi Giấy phép có hiệu lực
HĐi: Số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc loại i tại tổ chức tín dụngtrong kỳ xác định dự trữ bắt buộc
Số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc tại tổ chức tín dụng trong kỳ xác định
dự trữ bắt buộc được tính bằng cách cộng các số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộccuối mỗi ngày tại toàn hệ thống của tổ chức tín dụng (bao gồm trụ sở chính, chi nhánh ởtrong nước và các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc ở trong nước của tổ chức tíndụng hoặc trụ sở của chi nhánh ngân hàng nước ngoài) trong kỳ chia cho tổng số ngàytrong kỳ xác định dự trữ bắt buộc
Thực tế việc sử dụng công cụ này
Trang 12Trong thời gian đầu, tuy pháp lệnh ngân hàng đã quy định như trên nhưng thực tế trongmột thời gian dài, tỷ lệ 10% được ổn định một cách cố định, mặc dù chính sách tín dụng
từ năm 1989 đến nay đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau theo chủ trương lúc thì thắtchặt, lúc thì nới lỏng (nhằm kiểm soát lạm phát) Nghĩa là việc thực hiện đưa tiền vào lưuthông điều khiển khối lượng tiền lưu thông luôn được thực hiện theo những dự kiến nhấtđịnh, bằng những công cụ khác nhau Nhưng công cụ dự trữ bắt buộc vẫn được thực hiệnvới một tỷ lệ cố định
Đầu năm 1994, Ngân hàng trung ương đã có quy định bổ sung : tỷ lệ dự trữ bắt buộc đốivới loại tiền gửi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gửi là 7% nhưng cũng là để thihành cho một thời gian dài Sự ổn định như vậy đã nói lên rằng, ở nước ta vào thời kỳnày mới bước đầu sử dụng công cụ này , nên chưa có khả năng điều khiển nó một cáchlinh hoạt theo tình hình tiền tệ luôn biến động trong lưu thông, nên chưa thực hiện đầy đủvai trò điều khiển khối lượng tiền lưu thông hạn chế bội số tín dụng của các NHTM nhưchức năng vốn có của công cụ này Đặc biệt ở năm 1991-1992 các ngân hàng quốc doanhngoài số vốn dự trữ tối thiểu theo luật định còn có một lượng vốn tiền gửi khá lớn taịNHTW Điều này trong một chừng mực nhất định đã vô hiệu hoá công cụ dự trữ bắt buộc
vì như vậy khi nâng cao hay hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì hầu như cũng chẳng ảnhhưởng gì đến khả năng thanh toán và khối lượng tín dụng cung ứng Mặt khác một số vấn
đề tồn tại về mặt nghiệp vụ và tổ chức thực hiện dự trữ bắt buộc đã giảm tính chất nhaỵcảm của công cụ
Tuy nhiên, thời gian qua NHNN cũng đã sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc nhằm mục tiêugóp phần điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và đã đạt được một số kết quảnhất định trong việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp Đến nay để chuẩn bị cho luật NHNN
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/1998, vấn đề cần đặt ra là phải nghiên cứu nội dungcủa luật NHNN nhằm đưa ra quy chế dự trữ bắt buộc phù hợp với mục tiêu điều hànhchính sách tiền tệ giai đoạn mới trong đó mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế cũng nhưkiểm soát lạm phát là quan trọng nhất Tuy nhiên, thời gian qua NHNN cũng đã sử dụngcông cụ dự trữ bắt buộc nhằm mục tiêu góp phần điều hành chính sách tiền tệ trong từngthời kỳ và đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc kiểm soát lạm phát ở mứcthấp Đến nay để chuẩn bị cho luật NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/1998, vấn
đề cần đặt ra là phải nghiên cứu nội dung của luật NHNN nhằm đưa ra quy chế dự trữ bắtbuộc phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn mới trong đó mục tiêu
ổn định và phát triển kinh tế cũng như kiểm soát lạm phát là quan trọng nhất
15) Hiểu thế nào là tỷ giá hối đoái ? Tỷ giá được hình thành như thế nào ? NHNN sử dụng công cụ tỷ giá như thế nào, nhằm mục đích gì ?
Trang 13Trả lời:
Hiểu thế nào là tỷ giá hối đoái ?
Tỉ giá hối đoái là giá cả đồng tiền của một quốc gia này được biểu thị thông qua đồng tiềncủa một quốc gia khác Hay nói cách khác, tỉ giá hối đoái là lượng đồng tiền của nướckhác mà một đơn vị tiền tệ của nước này có thể mua ở một thời điểm nhất định
Tỷ giá được hình thành như thế nào ?
Cơ chế hình thành của tỷ giá hối đoái:
- Chế độ bản vị vàng: Từ 1880 đến 1914 vàng là nền tảng cơ sở của tiền tệ Một quốc giacho rằng một đơn vị tiền tệ của mình bằng hàm lượng vàng chứa bên trong một đơn vị ấy
Vì thế các nước xuất khẩu vàng tự do để lấy tiền giấy và đổi tiền giấy tự do để lấy vàng
NHNN sử dụng công cụ tỷ giá như thế nào, nhằm mục đích gì ?
Theo Luật NHNN năm 2010, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng công cụ thựchiện CSTT quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc,nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.Mục đích NHNN đã sử dụng tỷ giá như một công cụ hữu hiệu để kiềm chế lạm phát
16) Theo anh(chị), tỷ giá hiện nay ở nước ta đã phản ánh đúng thực tế giá trị đồng tiền Việt Nam hay chưa ? Nếu chưa thì tại sao ?
Trả lời:
- Theo ý kiến nhóm tôi, tỷ giá đồng tiền của nước ta chưa phản ánh đúng thực tế đồngtiền Việt Nam Bởi vì, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, xu thế hội nhậptăng cao, ngày càng mở ra nhiều cơ hội hội nhập, với giá trị đồng tiền tăng lên sẽ có lợicho việc xuất khẩu tuy nhiên lại là thách thức trong vấn đề nhập khẩu và tiêu dùng trongnước
17) Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở (theo luật NHNNVN đã sửa đổi, bổ sung)? So sánh với khái niệm cũ(luật chưa sửa đổi) Rút ra nhận xét và lý giải tại sao quy định này lại được sửa đổi.
Trả lời: