CHƯƠNG 3: Địa vị pháp lý của tổ chức tín dụng Lý thuyết 1. Tại sao TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh? Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lí nhà nước của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và thuộc phạm vi áp dụng pháp luật ngân hàng (Cụ là Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010). Công ty tư nhân hoặc công ty hợp danh không phải loại hình chịu sự quản lý của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, đây được coi là dấu hiệu để xác định tổ chức tín dụng bởi vì, theo phân cấp quản lí nhà nước, các tổ chức kinh tế kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề khác chịu sự quản lí nhà nước của các cơ quan nhà nước khác. Đối với mô hình DNTN mình có thể hiểu là: DN này không phải pháp nhân, không có tài sản độc lập, tài sản của DN và tài sản của CSH không được tách bạch rõ ràng, CSH khi góp vốn thành lập DN không cần chuyển quyền sở hữu tài sản sang DN. Đối với hoạt động ngân hàng thì đây là hoạt động mang nhiều rủi ro, có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế cho nên vấn đề tài sản của DN đòi hỏi cần phải rõ ràng, minh bạch, rạch ròi với chủ DN. Do không tách bạch như thế nên chủ DN dễ tẩu tán tài sản khi DN gặp khó khăn, phá sản. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của người gửi tiền, hơn nữa việc phá sản trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng là không hề được chào đón, dễ dẫn tới sự đỗ vỡ dây chuyền. Thứ hai là DNTN có chế độ trách nhiệm vô hạn. Đối với Công ty hợp danh: chỉ biết là công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn. Mà trách nhiệm vô hạn này thì không biết nó ảnh hưởng ntn tới hoạt động của TCTD. Mình giải thích theo cơ cấu tổ chức và đại diện của Công ty. Công ty hợp danh thì có thành viên hợp danh (TCTD thì không có thành viên góp vốn), mỗi thành viên hợp danh là đại diện của công ty, tham gia vào các quan hệ pháp luật, đều có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành nghề DN đã đăng kí. Hoạt động ngân hàng đòi hỏi sự cẩn trọng tuyệt đối, chẳng hạn khi 1 DN đi vay thì TCTD phải thẩm định khoản vay, tài sản bảo đảm, mục đích sử dụng vốn vay....điều này đòi hỏi TCTD phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật nghiệp vụ chuyên nghiệp. Trong khi các thành viên hợp danh đôi khi không đủ năng lực để quyết định một mình và điều này thì rất không an toàn trong hoạt động tín dụng.
Trang 1CHƯƠNG 3: Địa vị pháp lý của tổ chức tín dụng
Đối với mô hình DNTN mình có thể hiểu là: DN này không phải pháp nhân, không có tài sản độc lập, tài sản của DN và tài sản của CSH không được tách bạch rõ ràng, CSH khi góp vốn thành lập DN không cần
chuyển quyền sở hữu tài sản sang DN Đối với hoạt động ngân hàng thì đây là hoạt động mang nhiều rủi ro, có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế cho nên vấn đề tài sản của DN đòi hỏi cần phải rõ ràng, minh bạch, rạch ròi với chủ DN Do không tách bạch như thế nên chủ DN dễ tẩu tán tài sản khi DN gặp khó khăn, phá sản Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của người gửi tiền, hơn nữa việc phá sản trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng là không hề được chào đón, dễ dẫn tới sự đỗ vỡ dây chuyền Thứ hai là DNTN có chế độ trách nhiệm vô hạn
Đối với Công ty hợp danh: chỉ biết là công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn Mà trách nhiệm vô hạn này thì không biết nó ảnh hưởng ntn tới hoạt động của TCTD Mình giải thích theo cơ cấu tổ chức và đại diện của Công ty Công ty hợp danh thì có thành viên hợp danh (TCTD thì không
có thành viên góp vốn), mỗi thành viên hợp danh là đại diện của công ty, tham gia vào các quan hệ pháp luật, đều có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành nghề DN đã đăng kí Hoạt động ngân hàng đòi hỏi sự cẩn trọng tuyệt đối, chẳng hạn khi 1 DN đi vay thì TCTD phải thẩm định khoản vay, tài sản bảo đảm, mục đích sử dụng vốn vay điều này đòi hỏi TCTD phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật nghiệp
vụ chuyên nghiệp Trong khi các thành viên hợp danh đôi khi không đủ năng lực để quyết định một mình và điều này thì rất không an toàn trong hoạt động tín dụng
Trang 22 So sánh TCTD là ngân hàng và TCTD phi ngân hàng?
CSPL: khoản 4 Điều 4Luật Các TCTD
Loại
hình
- Ngân hàng thương mại: loại
hình ngân hàng được thực hiện tất
nhân dân do các quỹ tín dụng
nhân dân và một số pháp nhân
- Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.
Nguồn
vốn
Các khoản tiền nhận gửi, các
khoản tiền vay, khoản tiền tự có
Vốn tự góp, các quỹ trợcấp, tiền thu được khi pháthành cổ phiếu trái khoán…
Trang 3động
Được nhận tiền gửi, đi vay các
khoản nhỏ và cho vay các khoản
lớn
Không được nhận tiền gửi
và phải đi vay các khoảnlớn và cho vay các khoảnnhỏ
Quản lý
của Nhà
nước
Chịu sự quản lý của Nhà nước và
ràng buộc về tiền gửi dự trữ, bảo
hiểm khoản vay… không được
tham gia vào thị trường chứng
khoán
Không bị ràng buộc nhiềunhư ngân hàng thươngmại, hoạt động chủ yếu làđầu tư cổ phiếu, thươngphiếu, bất động sản…Các
khoản
đầu tư
Tập trung chủ yếu vào lĩnh vực
thương mại và sản xuất vật chất
Chủ yếu đầu tư vào tàichính, cho vay tiêu dùng
và thế chấp
Mức độ
rủi ro
Mức độ rủi ro thấp do sự quản lý
nhà nước có ràng buộc về tiền gửi
dự trữ, bảo hiểm khoản vay
Không chịu sự chi phối,điều hành chặt chẽ củangân hàng trung ương vàcác khoản vay, tiền dự trữ,bảo hiểm và chủ yếu đầu
tư vào bất động sản, chứngkhoán nên chịu rủi ro cao
so với ngân hàng
3 Tại sao TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng?
Trả lời:
Các hoạt động của Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được quy định tạiĐiều 108 và Điều 112 Luật Các tổ chức tín dụng Theo đó, tổ chức tíndụng phi ngân hàng không nhận tiền gửi cá nhân và không làm dịch vụthanh toán qua tài khoản của khách hàng mà chỉ được nhận tiền gửi của
tổ chức và phải tuân thủ các quy định an toàn của ngân hàng bởi có thểdẫn đến các rủi ro sau:
Thứ nhất, các tổ chức này rất dễ bị tổn thương khi khách hàng yêu cầu
được thanh toán trước khi đến hạn rút tiền hoặc rút tiền trong một khoảngthời gian ngắn Điều này không chỉ dẫn tới rủi ro thanh khoản cho tổ chứctín dụng phi ngân hàng mà còn đe dọa đến an toàn hệ thống trong trườnghợp người gửi tiền mất niềm tin và rút tiền ồ ạt trong cả hệ thống tàichính
Trang 4Thứ hai, do các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không phải tuân thủ các
quy định an toàn chặt chẽ như của ngân hàng, các tổ chức này có thể phốihợp với các ngân hàng thương mại để “lách luật”, phá vỡ các quy định
Ví dụ, ngân hàng có thể cho vay các công ty tài chính và công ty tài chínhlại cho vay khách hàng mà ngân hàng không được phép cho vay trực tiếptheo các quy định về an toàn của ngành
4 So sánh biện pháp kiểm soát đặc biệt áp dụng đối với các TCTD và hoạt động của hội nghị chủ nợ trong pháp luật phá sản?
- Giống nhau: Đều là các biện pháp, hoạt động nhằm đảm bảo lợi ích của
các nhà đầu tư, chủ nợ doanh nghiệp hay những người gửi tiền tại TCTD.Đồng thời, cả hai còn giúp phục hồi tình trạng hoạt động của TCTD vàdoanh nghiệp khi lâm vào tình trạng suy yếu
kiểm soát trực tiếp củaNHNN khi rơi vào một trongcác trường hợp quy địnhtại khoản 1 Điều 145 LuậtCTCTD
Thảo luận thông qua phương
án hòa giải, giải pháp tổchức lại hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệphoặc kiến nghị về phương ánphân chia tài sản khi doanhnghiệp bị tuyên bố phá sản.Đối tượng
áp dụng
Các tổ chức tín dụng baogồm ngân hàng, tổ chức tíndụng phi ngân hàng, tổ chứctài chính vi mô và quỹ tíndụng nhân dân
Các doanh nghiệp bao gồm:DNTN, Cty TNHH, CTCP,Cty hợp doanh…
có nguy cơ mất khả năng
Khi có đơn yêu cầu mở thủtục phá sản, Tòa án ra quyếtđịnh mở thủ tục phá sản khixét thấy doanh nghiệp mấtkhả năng thanh toán, tức
Trang 5thanh toán theo quy địnhcủa NHNN;
- Số lỗ lũy kế của TCTD lớnhơn 50% giá trị của VĐL vàcác quỹ dự trữ ghi trong báocáo tài chính đã được kiểmtoán gần nhất;
- Không duy trì được trongthời gian 12 tháng liên tụchoặc tỷ lệ an toàn vốn thấphơn 4% trong thời gian 06tháng liên tục;
- Xếp hạng yếu kém trong 02năm liên tục theo quy địnhcủa NHN
không thực hiện nghĩa vụthanh toán khoản nợ trongthời hạn 03 tháng kể từ ngàyđến hạn thanh toán Lúc nàyThẩm phán sẽ triệu tập cácchủ nợ, tiến hành họp hộinghị chủ nợ
Mục đích - Củng cố lại TCTD,
hạn chế tới mức thấp nhất sự
đổ vỡ của TCTD, bảo vệquyền lợi người gửi tiền
- Áp dụng các phương pháp
cơ cấu lại (sáp nhập, hợpnhất, giải thể hoặc phá sản),bảo đảm an toàn cho hoạtđộng ngân hàng và hệ thốngTCTD
- Bảo đảm cho việcgiải quyết một cách bìnhđẳng lợi ích kinh tế củacác chủ nợ của doanhnghiệp
- Tạo cho doanh nghiệpthêm một cơ hội để có thểphục hồi hoạt động sản xuấtkinh doanh nếu còn khảnăng có thể phục hồi được
5 So sánh bảo hiểm tiền gửi và dự trữ bắt buộc tại NHNNVN?
Nội dung Bảo hiểm tiền gửi Dự trữ bắt buộc tại NHNNVN
Cơ sở pháp
lý
khoản 1, khoản 2 Điều 3 vàĐiều 6 Luật Bảo hiểm tiềngửi 2012
Điều 14 Luật Ngân hàng nhànước Việt Nam
Trang 6Khái niệm
Bảo hiểm tiền gửi là sự bảođảm hoàn trả tiền gửi chongười được bảo hiểm tiềngửi trong hạn mức trả tiềnbảo hiểm khi tổ chức thamgia bảo hiểm tiền gửi lâmvào tình trạng mất khả năngchi trả tiền gửi cho ngườigửi tiền hoặc phá sản
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà
tổ chức tín dụng phải gửi tạiNgân hàng NN để thực hiệnchính sách tiền tệ quốc gia
- Ngân hàng Nhà nước quyđịnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đốivới từng loại hình tổ chức tíndụng và từng loại tiền gửi tại
tổ chứctín dụng nhằm thựchiện chính sách tiền tệ quốcgia
- Ngân hàng Nhà nước quyđịnh việc trả lãi đối với tiềngửi dự trữ bắt buộc, tiền gửivượt dự trữ bắt buộc củatừng loại hình tổ chức tíndụng đối với từng loại tiềngửi
Đối tượng
tham gia
- Tổ chức tín dụng, chinhánh ngân hàng nướcngoài được nhận tiền gửicủacá nhân phải tham giabảo hiểm tiền gửi, trừtrường hợp quy định tạikhoản 2 Điều này
- Ngân hàng chính sáchkhông phải tham gia bảohiểm tiền gửi
Tổ chức tín dụng
Nhận định:
1 Mọi TCTD đều hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận
Trang 7Nhận định sai Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Luật các TCTD 2010 thì tổchức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạtđộng ngân hàng, bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổchức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Trong đó có ngân hàngchính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm thực hiện cácchính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước theo khoản 1 Điều 17 Luật cácTCTD 2010 Vì vậy không phải mọi TCTD đều hoạt động ngân hàng vìmục tiêu lợi nhuận.
CSPL: khoản 1 Điều 4 và khoản 1 Điều 17 Luật các TCTD2010
2 Tổ chức tín dụng nước ngoài muốn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam thì chỉ được thành lập dưới hình thức duy nhất là chi nhánh của ngân hàng nước ngoài
Nhận định sai TCTD nước ngoài muốn hoạt động ngân hàng tại VN cóthể được thành lập dưới hình thức: văn phòng đại diện, ngân hàng liêndoanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nướcngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nướcngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính100% vốn nước ngoài căn cứ theo khoản 8 Điều 4 Luật các TCTD 2010.Như vậy, TCTD nước ngoài muốn hoạt động ngân hàng tại Việt Namkhông chỉ được thành lập dưới hình thức chi nhánh của ngân hàng nướcngoài mà còn được hiện diện dưới hình thức văn phòng đại diện, ngânhàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài,
CSPL: khoản 8 Điều 4 Luật các TCTD 2010
3 Tổ chức tín dụng không được thành lập dưới hình thức hợp tác xã
Nhận định sai Căn cứ theo quy định tại Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng
2010 quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợptác xã Cho nên Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập dưới hình thứchợp tác xã là một trong hình thức tổ chức của tổ chức tín dụng
Hợp tác xã là một trong những hình thức tổ chức của tổ chức tín dụng Cũng như những loại hình tổ chức khác, việc thành lập tổ chức tín dụng
là hợp tác xã phải tuân thủ các quy định chung của pháp luật Cụ thể, Điều 74 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017 quy định
về việc thành lập tổ chức tín dụng là hợp tác xã
4 Cá nhân có thể nắm giữ 20% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 8Nhận định sai Theo quy định tại Điều 55 Luật các tổ chức tín dụng 2010
và Khoản 14 Điều 1 Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017 thì Tỷ lệ sở hữu cổ phần trong một tổ chức tín dụng được quy định một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Đối với ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng có thể có cổ phần ưu đãi (người sở hữu gọi là cổ đông ưu đãi), tổng giá trị mệnh giá của cổ phần ưu đãi cổ tức tối đa bằng 20% vốn điều lệ của ngân hàng Ngân hàng thương mại cổ phần phải có tối thiểu 100 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa Nhưng 1 cổ đông cá nhân chỉ được sở hữu tối đa 10% vốn điều lệ; cổ đông là tổ chức được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ
và cổ đông cùng những người có liên quan của cổ đông đó được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ của 1 ngân hàng
5 Chủ tịch HĐQT của TCTD này có thể tham gia điều hành TCTD khác.
Nhận định sai Căn cứ khoản 1 Điều 34 Luật Các TCTD 2010 sđbs
2017 thì Chủ tịch HĐQT của TCTD này không thể tham gia điều hànhTCTD khác trừ trường hợp Chủ tịch HĐQT của quỹ tín dụng nhân dân làthành viên HĐQT của ngân hàng hợp tác xã (Theo khoản 7 Điều 4 LuậtCác TCTD thì bản chất của ngân hàng hợp tác xã là điều hoà vốn, hỗ trợcho các thành viên của mình.)
“1 Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên của
tổ chức tín dụng không được đồng thời là người điều hành của tổ chức tín dụng đó và của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị của quỹ tín dụng nhân dân đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của ngân hàng hợp tác xã Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng không được đồng thời là người quản lý của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp tổ chức này là công ty con của tổ chức tín dụng đó hoặc là thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng đó.”
CSPL: khoản 1 Điều 34 Luật Các TCTD năm 2010 sđbs 2017
6 Kiểm soát đặc biệt áp dụng đối với TCTD bị mất khả năng thanh toán.
Nhận định sai Căn cứ theo khoản 1 Điều 146 Luật Các TCTD năm
2010: “1 Kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự
Trang 9kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán.” Theo đó, kiểm soát đặc biệt
được áp dụng đối với TCTD khi mà TCTD có nguy cơ mất khả năngthanh toán chứ không phải bị mất khả năng thanh toán
CSPL: khoản 1 Điều 146 Luật Các TCTD năm 2010 sđbs 2017
7 Ban kiểm soát đặc biệt là cơ quan có thẩm quyền quyết định gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng
Nhận định sai Căn cứ theo điểm d khoản 2 Điều 148 Luật Các tổ chứctín dụng quy định về quyền hạn của Ban kiểm soát đặc biệt, theo đó Bankiểm soát đặc biệt chỉ có quyền hạn Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước
về quyết định gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt, cho vayđặc biệt hoặc chấm dứt đối với tổ chức tín dụng Ban kiểm soát đặt biệtkhông có thẩm quyền quyết định gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểmsoát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng Do đó câu nhận định trên là sai
8 Ban kiểm soát đặc biệt được quyền quyết định cho TCTD vay khoản vay đặc biệt.
Nhận định sai CSPL: khoản 2 Điều 24 Luật NHNNVN 2010, khoản 6 Điều 146b Luật Các TCTD TCTD được đặt vào tình trạng kiểm soát đặt biệt có thể được Ngân hàng Nhà nước cho vay đặc biệt để phục hồi khả năng thanh toán (cho vay cứu cánh) theo quy định của Luật NHNN Do
đó, quyền quyết định cho TCTD vay khoản vay đặc biệt thuộc về ngân hàng Nhà nước Theo quy định tại khoản 6 Điều 146b Luật Các TCTD, Ban kiểm soát đặc biệt chỉ có quyền kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cho TCTD vay khoản vay đặc biệt Vì vậy, Ban kiểm soạt đặc biệt không có thẩm quyền cho TCTD vay khoản vay đặc biệt
9 Chỉ có Thống đốc NHNNVN mới có quyền ra quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
Nhận định sai Vì đối với tổ chức tín dụng là quỹ tín dụng nhân dân đặttrụ sở chính trên địa bàn thì Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánhtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là chủ thể có quyền ra quyết địnhđặt TCTD này vào tình trạng kiểm soát đặc biệt Do đó, không chỉ cóthống đốc NHNNVN mới có quyền ra quyết định đặt TCTD vào tìnhtrạng kiểm soát đặc biệt, mà còn có Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chinhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 10CSPL: Khoản 2 Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNNCăn cứ theo quyđịnh tại khoản 2 Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNN.
10 Mọi TCTD đều phải tham gia bảo hiểm tiền gửi
Nhận định sai Vì không chỉ TCTD nào cũng phải tham gia bảo hiểm tiềngửi, ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi
CSPL: khoản 2 Điều 6 Luật BHTG 2012
11 Người gửi tiền phải là chủ thể đóng phí bảo hiểm tiền gửi.
Nhận định Sai
CSPL: khoản 5 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 (sđ, bs bởi Điều 5
NĐ 68/2013/NĐ-CP) Căn cứ khoản 5 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi
2012 (sđ, bs bởi Điều 5 NĐ 68/2013/NĐ-CP), “Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để bảo hiểm cho tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.”
Vậy nên người gửi tiền không phải là chủ thể đóng phí bảo hiểm tiền gửi
mà là các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được quy định tại Điều 6Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 (sđ, bs bởi Điều 5 NĐ 68/2013/NĐ-CP)
12.Người gửi tiền là thành viên HĐQT thì không được bảo hiểm theo chế độ bảo hiểm tiền gửi.
Nhận định Sai
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 19 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
Theo khoản 2 Điều 19 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định về Tiền gửi
không được bảo hiểm: “Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó”.
Như vậy, người gửi tiền là thành viên HĐQT tại chính tổ chức tín dụngcủa cá nhân đó thì không được bảo hiểm theo chế độ bảo hiểm tiền gửi,nhưng là thành viên HĐQT của tổ chức tín dụng khác không phải ở tổchức tín dụng của cá nhân đó thì vẫn được bảo hiểm theo chế độ bảohiểm tiền gửi
13.Mọi loại tiền gửi của cá nhân đều được bảo hiểm tiền gửi.
Trang 11 Nhận định sai.
Cơ sở pháp lý: Điều 19 Luật bảo hiểm tiền gửi 2012
Không phải mọi loại tiền gửi của cá nhân đều được bảo hiểm tiền gửi.Bên cạnh đó, còn có các trường hợp tiền gửi không được bảo hiểmnhư sau:
Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là người sở hữu trên 5% vốnđiều lệ của chính tổ chức tín dụng đó;
Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là thành viên Hội đồng thànhviên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổnggiám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) của chính
tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của
cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giámđốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó;
Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểmtiền gửi phát hành
14.Bảo hiểm tiền gửi chỉ áp dụng cho TCTD có nhận tiền gửi.
áp dụng cho tổ chức tín dụng phi ngân hàng có nhận tiền gửi đối với
cá nhân, hiện nay chỉ nhận tiền gửi của tổ chức Như vậy, các tổ chứctín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiềngửi
15.Mọi TCTD đều được nhận tiền gửi không kì hạn của các cá nhân, hộ gia đình
Nhận định sai Vì HGĐ không phải là pháp nhân, cũng không phải là cánhân nên chỉ có TCTD là Ngân hàng thương mại mới được nhận tiền gửikhông kỳ hạn của các cá nhân, HGĐ Còn tổ chức tín dụng phi ngân hàng(công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phingân hàng khác) thì không được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn của cánhân, HGĐ
CSPL: khoản 1 Điều 98, khoản 4 Điều 4 Luật các TCTD 2010
16.Mọi TCTD đều được quyền kinh doanh ngoại tệ
Nhận định sai Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Các TCTD 2010:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.”
Trang 12 Khoản 1 Điều 2 Thông tư 02/2021/TT-NHNN quy định: “Tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối là các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối.”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 105 Luật Các TCTD 2010, Ngân hàngthương mại được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối chokhách hàng ở trong nước và ngoài nước sau khi được Ngân hàng Nhànước chấp thuận bằng văn bản
Căn cứ khoản 5 Điều 111 Luật Các TCTD 2010, công ty tài chínhđược phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định củaNgân hàng Nhà nước
Vì vậy, không phải mọi TCTD đều được phép kinh doanh ngoại tệ màchỉ có ngân hàng thương mại, công ty tài chính được phép kinh doanhngoại tệ theo quy định của pháp luật
CSPL: khoản 1 Điều 4; Điều 105, Điều 111 Luật Các TCTD 2010, sửađổi bổ sung 2017; khoản 1 Điều 2 Thông tư 02/2021/TT-NHNNhướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các TCTD
Hỏi theo anh/chị các hoạt động trên của ngân hàng Đại Tây Dương là đúng hay sai? Tại sao?
a Phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn 6 tháng với số tiền huy động lên đến 20 tỷ đồng
Đúng Căn cứ theo k2Đ98 Luật các TCTD 2010 sđbs 2017 Ngân hàngthương mại được phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, tráiphiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài và k1Đ3 TT01/2021/TT-NHNN thì Ngân hàng thương mại là đối tượng được pháthành giấy tờ có giá Vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần Đại TâyDương được quyền phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn
b Ký hợp đồng cho thuê tài chính với công ty vận tải Đại An để cho công ty Đại An thuê 10 xe vận tải 50 chỗ theo chỉ định của công ty Đại An trong thời hạn 10 năm
Sai Theo điểm b khoản 2 Điều 103 Luật các TCTD 2010 thì ngân hàngthương mại muốn cho thuê tài chính thì phải thành lập hoặc mua lại công
Trang 13ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh Như vậy,Ngân hàng thương mại Đại Tây Dương không được trực tiếp ký hợp đồngcho thuê tài chính với công ty vận tải Đại An mà phải thành lập hoặc mualại công ty con, công ty liên kết để thực hiện ký hợp đồng cho thuê tàichính Vì vậy, hoạt động trên của Ngân hàng là sai quy định pháp luật.
c Sử dụng 20 tỷ trong phần vốn huy động từ hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm để thành lập công ty An Tín nhằm kinh doanh trong lĩnh vực in ấn các loại giấy tờ
Sai Căn cứ theo k1Đ103 thì Ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốnđiều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại cáckhoản 2, 3, 4 và 6 Điều này Theo đó tại k4 quy định NHTM được gópvốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong cái lĩnh vực: Bảohiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán,phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán,thông tin tín dụng; hoặc các lĩnh vực khác không quy định tại điểm akhoản này Như vậy, NHTM chỉ được quyền sử dụng số vốn huy động đểgóp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp chứ không được thành lập công
ty nhằm kinh doanh trong lĩnh vực in ấn các loại giấy tờ nên hoạt độngcủa ngân hàng không phù hợp quy định pháp luật
d Thành lập trung tâm môi giới bất động sản để thực hiện hoạt động môi giới bất động sản
Sai Căn cứ Điều 132 Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì: “Tổ chức tín dụng không được kinh doanh bất động sản, trừ các trường hợp sau đây:
1 Mua, đầu tư, sở hữu bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng;
2 Cho thuê một phần trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết, thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng;
3 Nắm giữ bất động sản do việc xử lý nợ vay Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày quyết định xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản, tổ chức tín dụng phải bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này
để bảo đảm tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định và mục đích sử dụng tài sản
cố định quy định tại Điều 140 của Luật này.”
Theo đó, trường hợp thành lập trung tâm môi giới bất động sản để thực hiện hoạt động môi giới bđs không thuộc một trong các trường hợp tổ chức tín dụng được kinh doanh bất động sản Vì vậy, hoạt động trên của ngân hàng là không phù hợp pháp luật
Tình huống 2:
Ngân hàng thương mại cổ phần X được thành lập và hoạt động từ năm 1994, theo Giấy phép của NHNNVN, có trụ sở chính tại Quận 1,
Trang 14TP HCM Cuối năm 2010, để tăng tường khả năng cạnh tranh, Hội đồng quản trị của NHTMCP X đã thông qua các quyết định sau đây:
a Trích 60 tỷ đồng từ nguồn vốn huy động được thông qua việc phát hành trái phiếu trong quí III năm 2010 để thành lập Công
ty chứng khoán trực thuộc.
Phương án này của ngân hàng thương mại cổ phần X không phù hợp với quy định của pháp luật
CSPL: khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 103 Luật Các TCTD t
Trong trường hợp ngân hàng nhà thương mại cổ phần X muốn thực hiện các hoạt động kinh doanh: bảo lãnh phát hành chứng khoán, mô giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiếu thì ngân hàng thương mại X chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dữ trữ để thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết chứ không thể dùng nguồn vốnhuy động được thông qua việc phát hành trái phiếu Vì vậy, để thành lập công ty chứng khoán trực thuộc, ngân hàng thương mại cổ phần X phải dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để thành lập
b Trích 100 tỷ đồng từ nguồn vốn điều lệ và các quĩ dự trữ để thành lập Công ty cho thuê tài chính trực thuộc.
Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 103 Luật Các TCTD thì Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động cho thuê tài chính
Vì vậy, ngân hàng thương mại cổ phần X được phép trích 100 tỷ đồng từ nguồn vốn điều lệ và các quỹ dự trữ để thành lập Công ty cho thuê tài chính trực thuộc
c Triển khai hoạt động chiết khấu các công cụ chuyển nhượng (hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ) cho khách hàng.
Khoản 2,3 Điều 4 Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005
Vì vậy, hối phiếu đồi nợ và hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi cáccông cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán ( khoản 19 Điều 4 luật Các TCTD)