MÔN NGÂN HÀNG THẢO LUẬN CHƯƠNG 3 5 I CÂU HỎI TỰ LUẬN 1. Tại sao TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh? TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh vì: – Đối với hình thức doanh nghiệp tự nhân : Doanh nghiệp này không phải pháp nhân, không có tài sản độc lập, tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ sở hữu không được tách bạch rõ ràng, chủ sở hữu khi góp vốn thành lập doanh nghiệp không cần chuyển quyền sở hữu tài sản sang doanh nghiệp. Đối với hoạt động ngân hàng thì đây là hoạt động mang nhiều rủi ro, có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế cho nên vấn đề tài sản của doanh nghiệp đòi hỏi cần phải rõ ràng, minh bạch, rạch ròi với chủ doanh nghiệp. Do không tách bạch như thế nên chủ doanh nghiệp dễ tẩu tán tài sản khi doanh nghiệp gặp khó khăn, phá sản. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của người gửi tiền, hơn nữa việc phá sản trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng là không hề được chào đón, dễ dẫn tới sự đỗ vỡ dây chuyền. Thứ hai là Doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm vô hạn. – Đối với hình thức công ty hợp danh: Công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn. Công ty hợp danh thì có thành viên hợp danh, mỗi thành viên hợp danh là đại diện của công ty, tham gia vào các quan hệ pháp luật, đều có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành nghề doanh nghiệp đã đăng kí. Tổ chức tín dụng thì thực hiện các hoạt động đòi hỏi tính chính xác, cẩn trọng, mang tính rủi ro cao điều này đòi hỏi tổ chức tín dụng phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật mang tính chuyên môn nghiệp vụ cao. Trong khi các thành viên hợp danh đôi khi không đủ năng lực để quyết định một mình và điều này thì rất không an toàn trong hoạt động tín dụng. – Phạm vi hoạt động – Khả năng huy động vốn xoay vòng vốn trong nền kinh tế – Phát hành chứng khoán giấy tờ có giá 2. So sánh TCTD là ngân hàng và TCTD phi ngân hàng? Giống nhau: TCTD là ngân hàng và TCTD phi ngân hàng đều là các 1 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ. đều là các 1 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ. Khác nhau: Khái niệm +TCTD là ngân hàng : Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã (khoản 2 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sđ bsung bởi Luật số 172017QH14) +TCTD phi ngân hàng: Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác (khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sđ bsung bởi Luật số 172017QH14) Các hoạt động + TCTD là ngân hàng: Nhận tiền gửi Cấp tín dụng Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản + TCTD phi ngân hàng: Nhận tiền gửi Cấp tín dụng Loại hình: + TCTD là ngân hàng: Ngân hàng thương mại; Ngân hàng chính sách; Ngân hàng hợp tác xã + TCTD phi ngân hàng: Công ty tài chính Công ty cho thuê tài chính Tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. Về nguồn vốn: + TCTD là ngân hàng: Là các khoản tiền nhận gửi, các khoản tiền vay, khoản tiền tự có + TCTD phi ngân hàng: Là vốn tự góp, các quỹ trợ cấp, tiền thu được khi phát hành cổ phiếu trái khoản… Về vấn đề quản lý của Nhà nước: +TCTD là ngân hàng: Chịu sự quản lý của Nhà nước + TCTD phi ngân hàng: Không bị ràng buộc nhiều như ngân hàng 3. Tại sao TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng? Việc TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không nhân làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng vì: TCTD PNH được phép nhận tiền gửi chỉ từ tổ chức và cung cấp tín dụng nhưng không phải tuân thủ các quy định an toàn của ngân hàng, dẫn đến các rủi ro đối với hệ thống. Thứ nhất, các tổ chức này rất dễ bị tổn thương khi khách hàng yêu cầu được thanh toán trước khi đến hạn rút tiền hoặc rút tiền trong một khoảng thời gian ngắn. Mà nguồn tiền từ khách hàng là cá nhân đều không ổn định và lâu dài. Điều này không chỉ dẫn tới rủi ro thanh khoản cho TCTD PNH mà còn đe dọa đến an toàn hệ thống trong trường hợp người gửi tiền mất niềm tin và rút tiền ồ ạt trong cả hệ thống tài chính. Thứ hai, do các TCTD PNH không phải tuân thủ các quy định an toàn chặt chẽ như của ngân hàng, các tổ chức này có thể phối hợp với các NHTM để “lách luật”, phá vỡ các quy định. Ví dụ, ngân hàng có thể cho vay các công ty tài chính và công ty tài chính lại cho vay khách hàng mà ngân hàng không được phép cho vay trực tiếp theo các quy định về an toàn của ngành. Các TCTD PNH cung cấp tín dụng chủ yếu dựa trên nguồn vốn là các khoản vay ngắn hạn từ các NHTM. Các TCTD PNH với cơ cấu nguồn vốn như vậy rất dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi các TCTD PNH phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn này. Rủi ro sẽ càng gia tăng khi TCTD PNH tham gia vào các giao dịch tài chính phức tạp. Khi đó, rủi ro hệ thống thể hiện trên cả 2 phương diện: một là sự đổ vỡ của TCTD PNH, hai là mất vốn của NHTM. Vậy nên việc không làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng để đảm bảo an toàn giao dịch cho khách hàng là sự lựa chọn tốt nhất. – Đa dạng hình thức để các tổ chức được tham gia vào hoạt động ngân hàng vốn thấp bợt rủi ro hoạt động thu hẹp đảm bảo cho người gửi – Tạo sử đa dạng để thực hiện hoạt động vĩ mô của nhà nước đảm bảo xoay vòng vốn 4. So sánh biện pháp kiểm soát đặc biệt áp dụng đối với các TCTD và hoạt động của hội nghị chủ nợ trong pháp luật phá sản? Tiêu chí Kiểm soát đặc biệt Hoạt động của hội nghị chủ nợ Đối tượng Áp dụng với TCTD Áp dụng với các loại hình doanh nghiệp (cả TCTD), hợp tác xã Tính chất Sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước khi TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả thanh toán, lỗ lũy kế, tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu,…các trường hợp được quy định theo luật TCTD Một trong các thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được Tòa án tiến hành khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Mục đích Nhằm phục hồi khả năng thanh toán, chi trả của TCTD Đảm bảo lợi ích của các chủ nợ Tạo cho doanh nghiệp thêm một cơ hội để có thể phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh nếu còn khả năng có thể phục hồi được. Chủ thể CSPL Hệ quả trong trường hợp chấm dứt kiểm soát đặc biệt và ko thể cứu vãn được nữa thì có thủ tục phá sản giống như luật phá sản không? chương 8 luật phá sản của tổ chức tín dụng khác với phá sản của doanh nghiệp bình thường. Khoản vay đặc biệt thì khi phá sản phải hoàn trả khoản vay đặc biệt theo thứ tự phân chia tài sản, khoản vay đặc biệt này lấy từ ngân hàng nhà nước. Trong trình tự này vẫn phải thực hiện hội nghị chủ nợ, cho phá sản các tổ chức tín dụng là rất ít. 5. So sánh các hình thức cấp tín dụng của TCTD? (Minh) 1. Giống nhau: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. 2.Khác nhau: a.Cho vay: Khái niệm hoạt động cho vay “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” b.Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác Khái niệm hoạt động chiết khấu Chiết khấu là việc (a) mua có kỳ hạn hoặc (b) mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Đặc điểm: • Chủ thể Chủ thực hiện hoạt động chiết khấutái chiết khấu: TCTDChi nhánh ngân hàng nước ngoài Chủ thể xin chiết khấu Chủ thể hoàn trả • Về hình thức pháp lý: Hợp đồng chiết khấu • Đối tượng: các công cụ chuyển nhượnggiấy tờ có giá c.Bảo lãnh ngân hàng Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh, khi bên được bảo lãnh (a) không thực hiện hoặc (b) thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận. Đặc điểm Chủ thể Bên bảo lãnh: Ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính (trừ công ty tài chính chuyên ngành). Công ty cho thuê tài chính và các loại hình TCTD khác không được thực hiện hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh . • Về hình thức pháp lý: Thư bảo lãnh Hợp đồng bảo lãnh Hình thức cam kết khác • Bảo lãnh ngân hàng là loại hình bảo lãnh vô điều kiện • Tính không huỷ ngang trong cam kết bảo lãnh ngân hàng d.Cho thuê tài chính Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính Là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở HĐ cho thuê tài chính giữa Bên cho thuê tài chính (TCTD) và Bên thuê (khách hàng) Đặc điểm • Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn. • Chủ thể Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê. • Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê tài chính là máy móc, thiết bị hoặc tài sản khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. • Đối tượng: động sản Thời gian khấu hấu các thiết bị máy móc Sau khi hết hạn thì có 2 phương án xử lí: – Ngân hàng bán máy lại cho chính anh đi thuế tài chinh đó – Tiếp tục cho thuê nhưng giá rẻ Nếu trong quá trình thuê nhưng máy móc hư thì anh doanh nghiệp đi thuê phải tự chịu trách nhiệm. Hoặc bên kia giao nhầm máy móc thì daonhnghieepj đi thuê cũng phải tự xử lí. e. Hoạt động bao thanh toán Khái niệm hoạt động hoạt động bao thanh toán Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng, thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Đặc điểm • Hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam là loại hình bao thanh toán có bảo lưu quyền truy đòi. • Về hình thức pháp lý: Hợp đồng bao thanh toán. 6. Phân tích các điều kiện vay vốn? Theo anh (chị), dưới góc độ luật ngân hàng, khi thẩm định các điều kiện vay vốn thì cần lưu ý các điều kiện nào? Giải thích tại sao? Cơ sở pháp lý: Điều 7 Thông tư 392016TTNHNN quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây: Điều kiện 1: Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Đây là điều kiện tiên quyết để xác định chủ thể có đủ điều kiện, năng lực để tiến hành vay vốn hay không nhằm đảm bảo cho việc tiến hành cho vay được hợp pháp, hợp đồng không bị vô hiệu. Điều kiện 2: Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp. Việc xác định nhu cầu vay vốn giúp cho tổ chức tín dụng đưa ra những gói vay phù hợp cho khách hàng; đồng thời biết được nguồn vốn cho vay của mình sẽ được dùng vào việc gì, hợp pháp hay không. Vốn vay phải được thực hiện vào mục đích hợp pháp, đảm bảo tuân thủ pháp luật góp phần phát triển nền kinh tế Điều kiện 3: Có phương án sử dụng vốn khả thi. Khi cho vay vốn, tổ chức tín dụng cần biết khách hàng có kế hoạch sử dụng nó như thế nào. Bởi nếu nguồn vốn không được sử dụng hợp lý sẽ dẫn đến nhiều hệ quả, đặc biệt là tổ chức tín dụng không thể thu hồi vốn. Điều kiện 4: Có khả năng tài chính để trả nợ. Đây là điều kiện quan trọng trong việc xét cho vay. Bởi khách hàng là người có khả năng tài chính sẽ đảm bảo cho việc khoản nợ sẽ được thanh toán đúng thời hạn. Điều kiện 5: Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, thì khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh. Dưới góc độ pháp luật ngân hàng, tôi thấy rằng các điều kiện để được vay vốn đều cần được lưu ý, bởi mỗi điều kiện đều đóng một vài trò quan trọng trong việc xem xét cho vay hiệu quả. Trong đó, điều kiện thứ tư về xác định khả năng tài chính để trả nợ cần được lưu ý hơn cả. Tổ chức tín dụng cho khách hàng của mình vay vốn thì cũng cần chắc rằng khách hàng của mình có thể trả tiền (gốc và lãi). Nếu không có điều kiện này, sẽ xảy ra nhiều trường hợp bất lợi cho tổ chức tín dụng, cụ thể nhất là không thu hồi được vốn. Điều này sẽ ảnh hưởng ít nhiều đên hoạt động của tổ chức tín dụng, nhất là việc xoay vòng nguồn vốn; ảnh hưởng xấu hơn nữa có thể dẫn đến phá sản nếu cho vay với nguồn vốn lớn. Thế nên, việc lưu ý điều kiện thứ tư này là điều cần thiết và rất quan trọng. – mục đích vốn vay: Thẩm định mục đích theo pháp luật quy định, pl quy định các trường hợp ko đc vay vốn – phương án kinh doanh khả thi – Biện pháp bảo đảm: thẩm định tài sản 7. Tại sao đối tượng tại Điều 126 Luật Các TCTD là không được cấp tín dụng, trong khi đó, đối tượng tại Điều 127 Luật Các TCTD lại là hạn chế cấp tín dụng? Đối tượng tại Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng (vay vốn của chính tổ chức tín dụng mình) là bởi vì họ là những người quyết định việc cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, họ là người thân thiết với người có quyền quyết định cấp tín dụng của tổ chức tín dụng đó. Nếu cho phép cấp tín dụng với họ sẽ dẫn đến tình trạng lạm quyền, bởi lẽ họ là người đi vay lại là người có quyền quyết định cho vay, họ có thể tự cho mình hưởng những quyền ưu đãi nên vì thế luật cấm cấp tín dụng những đối tượng này. Trong khi đó, các quan hệ tín dụng rất cần sự minh bạch, lành mạnh bởi rủi ro liên quan đến nguồn vốn là rất cao. Còn các đối tượng tại Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng bị hạn chế cấp tín dụng (cấp tín dụng không có đảm bảo, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi) là bởi vì những đối tượng này là những người có khả năng lợi dụng quyền hạn, thế lực gây sức ép, ảnh hưởng đến quyết định của tổ chức tín dụng mà họ xin vay vốn. Quy định này nhằm hạn chế số vốn vay của đối tượng này, hạn chế những rủi ro trong quá trình cấp tín dụng tại sao ko góm nó vào các đối tượng cấm được cấp tín dụng(ko gộp 127 vào 126 luôn): quyền được tiếp cận vốn của công dân 8. Tại sao TCTD không được cấp tín dụng trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của TCTD? Việc Tổ chức Tín dụng cho khách hàng vay muachuyển nhượng cổ phiếu niêm yết hoặc cổ phiếu chưa niêm yết từ các cổ đông của các TCTD khác và thế chấp bằng chính cổ phiếu muachuyển nhượng này, Ngân hàng Nhà nước đã có Công văn số 8440NHNNTTGSNH ngày 12112013 hướng dẫn nội dung cho vay để góp vốn vào Tổ chức Tín dụng khác trên cơ sở nhận tài sản đảm bảo bằng cổ phiếu của chính Tổ chức Tín dụng nhận góp vốn như sau: Khoản 24, Điều 4 Luật các TCTD 2010 quy định “Góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng là việc tổ chức tín dụng góp vốn cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc cấp vốn, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng; góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức nêu trên” Khoản 6, Điều 126 Luật các Tổ chức Tín dụng 2010 quy định “Tổ chức tín dụng không được cho vay để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp” Về bản chất, việc khách hàng muachuyển nhượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường thứ cấp hoặc chưa niểm yết từ các cổ đông của các TCTD khác tuy không tham gia góp vốn trực tiếp cấu thành vốn điều lệ ban đầu, nhưng sau khi khách hàng muanhận chuyển nhượng cổ phiếu thì khách hàng trở thành cổ đông. Đồng thời, số tiền mua cổ phiếu, nhận chuyển nhượng cổ phiếu (tương ứng với mệnh giá cổ phiếu) trở thành nguồn vốn cấu thành vốn điều lệ của Tổ chức Tín dụng khác thay cho phần góp vốn của cổ đông bán, chuyển nhượng cổ phiếu cho khách hàng. Như vậy TCTD cấp tín dụng trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của TCTD là vi phạm Khoản 6, Điều 126 Luật các Tổ chức Tín dụng 2010
Trang 1MÔN NGÂN HÀNG THẢO LUẬN CHƯƠNG 3-5
I CÂU HỎI TỰ LUẬN
1 Tại sao TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh?
TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh vì:
– Đối với hình thức doanh nghiệp tự nhân : Doanh nghiệp này không phải pháp nhân, không có tài sản độc lập, tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ sở hữu không được tách bạch rõ ràng, chủ sở hữu khi góp vốn thành lập doanh nghiệp không cần chuyển quyền sở hữu tài sản sang doanh nghiệp Đối với hoạt động ngân hàng thì đây
là hoạt động mang nhiều rủi ro, có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế cho nên vấn đề tài sản của doanh nghiệp đòi hỏi cần phải rõ ràng, minh bạch, rạch ròi với chủ doanh nghiệp Do không tách bạch như thế nên chủ doanh nghiệp dễ tẩu tán tài sản khi doanh nghiệp gặp khó khăn, phá sản Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của người gửi tiền, hơn nữa việc phá sản trong
hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng là không hề được chào đón, dễ dẫn tới sự
đỗ vỡ dây chuyền Thứ hai là Doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm vô hạn – Đối với hình thức công ty hợp danh: Công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn Công ty hợp danh thì có thành viên hợp danh, mỗi thành viên hợp danh là đại diện của công
ty, tham gia vào các quan hệ pháp luật, đều có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành nghề doanh nghiệp đã đăng kí Tổ chức tín dụng thì thực hiện các hoạt động đòi hỏi tính chính xác, cẩn trọng, mang tính rủi ro cao điều này đòi hỏi tổ chức tín dụng phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật mang tính chuyên môn nghiệp vụ cao Trong khi các thành viên hợp danh đôi khi không đủ năng lực để quyết định một mình và điều này thì rất không an toàn trong hoạt động tín dụng – Phạm vi hoạt động
– Khả năng huy động vốn xoay vòng vốn trong nền kinh tế
– Phát hành chứng khoán giấy tờ có giá
2 So sánh TCTD là ngân hàng và TCTD phi ngân hàng?
* Giống nhau:
Trang 2-TCTD là ngân hàng và TCTD phi ngân hàng đều là các 1 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ đều là các 1 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ
*Khác nhau:
-Khái niệm
+TCTD là ngân hàng :" Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất
cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã" (khoản 2 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sđ bsung bởi Luật số 17/2017/QH14)
+TCTD phi ngân hàng: "Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác" (khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sđ bsung bởi Luật số 17/2017/QH14)
-Các hoạt động
+ TCTD là ngân hàng: Nhận tiền gửi
Cấp tín dụng
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
+ TCTD phi ngân hàng: Nhận tiền gửi
Cấp tín dụng
-Loại hình:
+ TCTD là ngân hàng: Ngân hàng thương mại;
Ngân hàng chính sách;
Ngân hàng hợp tác xã
+ TCTD phi ngân hàng: Công ty tài chính
Công ty cho thuê tài chính
Trang 3Tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác
-Về nguồn vốn:
+ TCTD là ngân hàng: Là các khoản tiền nhận gửi, các khoản tiền vay, khoản tiền tự có
+ TCTD phi ngân hàng: Là vốn tự góp, các quỹ trợ cấp, tiền thu được khi phát hành cổ phiếu trái khoản…
-Về vấn đề quản lý của Nhà nước:
+TCTD là ngân hàng: Chịu sự quản lý của Nhà nước
+ TCTD phi ngân hàng: Không bị ràng buộc nhiều như ngân hàng
3 Tại sao TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng?
Việc TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không nhân làm dịch
vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng vì:
- TCTD PNH được phép nhận tiền gửi chỉ từ tổ chức và cung cấp tín dụng nhưng không phải tuân thủ các quy định an toàn của ngân hàng, dẫn đến các rủi ro đối với hệ thống Thứ nhất, các tổ chức này rất dễ bị tổn thương khi khách hàng yêu cầu được thanh toán trước khi đến hạn rút tiền hoặc rút tiền trong một khoảng thời gian ngắn Mà nguồn tiền từ khách hàng là cá nhân đều không ổn định và lâu dài Điều này không chỉ dẫn tới rủi ro thanh khoản cho TCTD PNH mà còn đe dọa đến an toàn hệ thống trong trường hợp người gửi tiền mất niềm tin và rút tiền ồ ạt trong cả hệ thống tài chính Thứ hai, do các TCTD PNH không phải tuân thủ các quy định an toàn chặt chẽ như của ngân hàng, các tổ chức này có thể phối hợp với các NHTM để “lách luật”, phá vỡ các quy định Ví dụ, ngân hàng có thể cho vay các công ty tài chính và công ty tài chính lại cho vay khách hàng mà ngân hàng không được phép cho vay trực tiếp theo các quy định về an toàn của ngành
- Các TCTD PNH cung cấp tín dụng chủ yếu dựa trên nguồn vốn là các khoản vay ngắn hạn
từ các NHTM Các TCTD PNH với cơ cấu nguồn vốn như vậy rất dễ bị tổn thương, đặc biệt
là khi các TCTD PNH phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn này Rủi ro sẽ càng gia tăng khi TCTD PNH tham gia vào các giao dịch tài chính phức tạp Khi đó, rủi ro hệ thống thể hiện trên cả 2 phương diện: một là sự đổ vỡ của TCTD PNH, hai là mất vốn của NHTM Vậy nên việc không làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng để đảm bảo an toàn giao dịch cho khách hàng là sự lựa chọn tốt nhất
– Đa dạng hình thức để các tổ chức được tham gia vào hoạt động ngân hàng vốn thấp bợt rủi ro hoạt động thu hẹp đảm bảo cho người gửi
– Tạo sử đa dạng để thực hiện hoạt động vĩ mô của nhà nước đảm bảo xoay vòng vốn
Trang 44 So sánh biện pháp kiểm soát đặc biệt áp dụng đối với các TCTD và hoạt động của hội nghị chủ nợ trong pháp luật phá sản?
Tiêu chí Kiểm soát đặc biệt Hoạt động của hội nghị
chủ nợ
doanh nghiệp (cả TCTD), hợp tác xã
Tính chất Sự kiểm soát trực tiếp của
Nhà nước khi TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả/ thanh toán, lỗ lũy kế, tỉ
lệ an toàn vốn tối thiểu,…
các trường hợp được quy định theo luật TCTD
Một trong các thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được Tòa án tiến hành khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Mục đích Nhằm phục hồi khả năng
thanh toán, chi trả của TCTD
Đảm bảo lợi ích của các chủ nợ
Tạo cho doanh nghiệp thêm một cơ hội để có thể phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh nếu còn khả năng có thể phục hồi được
Chủ thể
CSPL
Hệ quả trong trường hợp chấm dứt kiểm soát đặc biệt và ko thể cứu vãn được nữa thì có thủ tục phá sản giống như luật phá sản không? chương 8 luật phá sản của tổ chức tín dụng khác với phá sản của doanh nghiệp bình thường Khoản vay đặc biệt thì khi phá sản phải hoàn trả khoản vay đặc biệt theo thứ tự phân chia tài sản, khoản vay đặc biệt này lấy từ ngân hàng nhà nước Trong trình tự này vẫn phải thực hiện hội nghị chủ nợ, cho phá sản các tổ chức tín dụng là rất ít
5 So sánh các hình thức cấp tín dụng của TCTD? (Minh)
1 Giống nhau:
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
2.Khác nhau:
a.Cho vay:
Trang 5-Khái niệm hoạt động cho vay
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
b.Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác
-Khái niệm hoạt động chiết khấu
Chiết khấu là việc (a) mua có kỳ hạn hoặc (b) mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán
-Đặc điểm:
• Chủ thể
Chủ thực hiện hoạt động chiết khấu/tái chiết khấu:
TCTD/Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Chủ thể xin chiết khấu
Chủ thể hoàn trả
• Về hình thức pháp lý: Hợp đồng chiết khấu
• Đối tượng: các công cụ chuyển nhượng/giấy tờ có giá
c.Bảo lãnh ngân hàng
-Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh, khi bên được bảo lãnh (a) không thực hiện hoặc (b) thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận
-Đặc điểm
Chủ thể
Bên bảo lãnh: Ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính (trừ công ty tài chính chuyên ngành) Công ty cho thuê tài chính và các loại hình TCTD khác không được thực hiện hoạt động bảo lãnh ngân hàng
Trang 6Bên được bảo lãnh
Bên nhận bảo lãnh
• Về hình thức pháp lý:
Thư bảo lãnh
Hợp đồng bảo lãnh
Hình thức cam kết khác
• Bảo lãnh ngân hàng là loại hình bảo lãnh vô điều kiện
• Tính không huỷ ngang trong cam kết bảo lãnh ngân hàng
d.Cho thuê tài chính
- Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính
Là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở HĐ cho thuê tài chính giữa Bên cho thuê tài chính (TCTD) và Bên thuê (khách hàng)
Đặc điểm
• Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn
• Chủ thể
Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo
yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài
sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê
• Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền
thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài
chính
Tài sản cho thuê tài chính là máy móc, thiết bị hoặc tài sản khác theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước
• Đối tượng: động sản
Thời gian khấu hấu các thiết bị máy móc
Sau khi hết hạn thì có 2 phương án xử lí:
– Ngân hàng bán máy lại cho chính anh đi thuế tài chinh đó
– Tiếp tục cho thuê nhưng giá rẻ
Trang 7Nếu trong quá trình thuê nhưng máy móc hư thì anh doanh nghiệp đi thuê phải tự chịu trách nhiệm Hoặc bên kia giao nhầm máy móc thì daonhnghieepj đi thuê cũng phải tự xử lí
e Hoạt động bao thanh toán
-Khái niệm hoạt động hoạt động bao thanh toán
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng, thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh
từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Đặc điểm
• Hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam là loại hình bao thanh toán có bảo lưu quyền truy đòi
• Về hình thức pháp lý: Hợp đồng bao thanh toán
6 Phân tích các điều kiện vay vốn? Theo anh (chị), dưới góc độ luật ngân hàng, khi thẩm định các điều kiện vay vốn thì cần lưu ý các điều kiện nào? Giải thích tại sao?
Cơ sở pháp lý: Điều 7 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng
Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây: Điều kiện 1: Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Đây là điều kiện tiên quyết để xác định chủ thể có đủ điều kiện, năng lực để tiến hành vay vốn hay không nhằm đảm bảo cho việc tiến hành cho vay được hợp pháp, hợp đồng không bị vô hiệu
Điều kiện 2: Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp Việc xác định nhu cầu vay vốn giúp cho tổ chức tín dụng đưa ra những gói vay phù hợp cho khách hàng; đồng thời biết được nguồn vốn cho vay của mình sẽ được dùng vào việc gì, hợp pháp hay không Vốn vay phải được thực hiện vào mục đích hợp pháp, đảm bảo tuân thủ pháp luật góp phần phát triển nền kinh tế
Điều kiện 3: Có phương án sử dụng vốn khả thi Khi cho vay vốn, tổ chức tín dụng cần biết khách hàng có kế hoạch sử dụng nó như thế nào Bởi nếu nguồn vốn không được sử dụng hợp lý sẽ dẫn đến nhiều hệ quả, đặc biệt là tổ chức tín dụng không thể thu hồi vốn
Điều kiện 4: Có khả năng tài chính để trả nợ Đây là điều kiện quan trọng trong việc xét cho vay Bởi khách hàng là người có khả năng tài chính sẽ đảm bảo cho việc khoản nợ sẽ được thanh toán đúng thời hạn
Trang 8Điều kiện 5: Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, thì khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh
Dưới góc độ pháp luật ngân hàng, tôi thấy rằng các điều kiện để được vay vốn đều cần được lưu ý, bởi mỗi điều kiện đều đóng một vài trò quan trọng trong việc xem xét cho vay hiệu quả Trong đó, điều kiện thứ tư về xác định khả năng tài chính để trả nợ cần được lưu ý hơn
cả Tổ chức tín dụng cho khách hàng của mình vay vốn thì cũng cần chắc rằng khách hàng của mình có thể trả tiền (gốc và lãi) Nếu không có điều kiện này, sẽ xảy ra nhiều trường hợp bất lợi cho tổ chức tín dụng, cụ thể nhất là không thu hồi được vốn Điều này sẽ ảnh hưởng ít nhiều đên hoạt động của tổ chức tín dụng, nhất là việc xoay vòng nguồn vốn; ảnh hưởng xấu hơn nữa có thể dẫn đến phá sản nếu cho vay với nguồn vốn lớn Thế nên, việc lưu ý điều kiện thứ tư này là điều cần thiết và rất quan trọng
– mục đích vốn vay: Thẩm định mục đích theo pháp luật quy định, pl quy định các trường hợp ko đc vay vốn
– phương án kinh doanh khả thi
– Biện pháp bảo đảm: thẩm định tài sản
7 Tại sao đối tượng tại Điều 126 Luật Các TCTD là không được cấp tín dụng, trong khi đó, đối tượng tại Điều 127 Luật Các TCTD lại là hạn chế cấp tín dụng?
Đối tượng tại Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng (vay vốn của chính tổ chức tín dụng mình) là bởi vì họ là những người quyết định việc cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, họ là người thân thiết với người có quyền quyết định cấp tín dụng của tổ chức tín dụng đó Nếu cho phép cấp tín dụng với họ sẽ dẫn đến tình trạng lạm quyền, bởi lẽ
họ là người đi vay lại là người có quyền quyết định cho vay, họ có thể tự cho mình hưởng những quyền ưu đãi nên vì thế luật cấm cấp tín dụng những đối tượng này Trong khi đó, các quan hệ tín dụng rất cần sự minh bạch, lành mạnh bởi rủi ro liên quan đến nguồn vốn là rất cao
Còn các đối tượng tại Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng bị hạn chế cấp tín dụng (cấp tín dụng không có đảm bảo, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi) là bởi vì những đối tượng này là những người có khả năng lợi dụng quyền hạn, thế lực gây sức ép, ảnh hưởng đến quyết định của tổ chức tín dụng mà họ xin vay vốn Quy định này nhằm hạn chế số vốn vay của đối tượng này, hạn chế những rủi ro trong quá trình cấp tín dụng
tại sao ko góm nó vào các đối tượng cấm được cấp tín dụng(ko gộp 127 vào 126 luôn): quyền được tiếp cận vốn của công dân
8 Tại sao TCTD không được cấp tín dụng trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của TCTD?
Việc Tổ chức Tín dụng cho khách hàng vay mua/chuyển nhượng cổ phiếu niêm yết hoặc cổ phiếu chưa niêm yết từ các cổ đông của các TCTD khác và thế chấp bằng chính cổ phiếu mua/chuyển nhượng này, Ngân hàng Nhà nước đã có Công văn số 8440/NHNN-TTGSNH ngày 12/11/2013 hướng dẫn nội dung cho vay để góp vốn vào Tổ chức Tín dụng khác trên
Trang 9cơ sở nhận tài sản đảm bảo bằng cổ phiếu của chính Tổ chức Tín dụng nhận góp vốn như sau:
- Khoản 24, Điều 4 Luật các TCTD 2010 quy định “Góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng là việc tổ chức tín dụng góp vốn cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc cấp vốn, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng; góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức nêu trên”
- Khoản 6, Điều 126 Luật các Tổ chức Tín dụng 2010 quy định “Tổ chức tín dụng không được cho vay để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp”
Về bản chất, việc khách hàng mua/chuyển nhượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường thứ cấp hoặc chưa niểm yết từ các cổ đông của các TCTD khác tuy không tham gia góp vốn trực tiếp cấu thành vốn điều lệ ban đầu, nhưng sau khi khách hàng mua/nhận chuyển nhượng cổ phiếu thì khách hàng trở thành cổ đông Đồng thời, số tiền mua cổ phiếu, nhận chuyển nhượng cổ phiếu (tương ứng với mệnh giá cổ phiếu) trở thành nguồn vốn cấu thành vốn điều lệ của Tổ chức Tín dụng khác thay cho phần góp vốn của cổ đông bán, chuyển nhượng cổ phiếu cho khách hàng
Như vậy TCTD cấp tín dụng trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của TCTD là vi phạm Khoản 6, Điều 126 Luật các Tổ chức Tín dụng 2010
II NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI
1 Mọi TCTD đều hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận
Nhận định: Sai
Vì chỉ có ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận (khoản 3, 4 điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010) còn các tổ chức tín dụng còn lại hoạt động ngân hàng không vì mục tiêu lợi nhuận:
- Ngân hàng chính sách hoạt động để thực hiện các chính sách của Nhà
- Ngân hàng hợp tác xã hoạt động để liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong
hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân (khoản 7 điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010)
- Tổ chức tài chính vi mô hoạt động để hỗ trợ các cá nhân có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ (khoản 5 điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010)
- Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động nhằm tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống (khoản 6 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng nhân dân 2010)
Trang 102 Tổ chức tín dụng nước ngoài muốn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam thì chỉ được thành lập dưới hình thức duy nhất là chi nhánh của ngân hàng nước ngoài
Nhận định: Sai
Vì theo khoản 8 điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 thì tổ chức tín dụng nước ngoài muốn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam thì được thành lập dưới các hình thức:
- Ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài (là loại hình ngân hàng thương mại)
- Công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài (là loại hình công ty tài chính)
- Công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài (là loại hình công ty cho thuê tài chính)
Vậy, tổ chức tín dụng nước ngoài muốn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam thì còn có thể được thành lập dưới các hình thức: ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài
- CSPL: Khoản 8 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng
3 Tổ chức tín dụng không được thành lập dưới hình thức hợp tác xã
Nhận định: Sai
Vì TCTD có thể được thành lập dưới hình thức hợp tác xã đó là:
Ngân hàng hợp tác xã quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017
Quỹ tín dụng nhân dân quy định tại khoản 6 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017
- CSPL: Khoản 5 Điều 6; khoản 2, khoản 6 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng
4 Cá nhân có thể nắm giữ 20% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại cổ phần
Nhận định: Sai