1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Buổi thảo luận thứ 2 luật sở hữu trí tuệ

13 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi Thảo Luận Thứ 2 Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Tác giả Lê Linh, Phan Thị Mỹ Hạnh
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Trọng Luận
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại buổi thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 95,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Phân tích mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả. Trả lời: Theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định như sau: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Như vậy, khi cá nhân sáng tác ra một tác phẩm và thể hiện tác phẩm dưới dạng hình thức nhất định. Thông qua quá trình lao động sáng tạo hoặc một tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền tác giả thì những tổ chức, cá nhân đó được xem là chủ thể của quyền tác giả. Theo khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định như sau: “Quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi là quyền liên quan) là quyền của cá nhân, tổ chức đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, tín hiệu vệ tinh, chương trình phát sóng mang chương trình được mã hóa”. Có thể được hiểu, những chủ thể được sở hữu quyền liên quan này khi họ thực hiện một cuộc biểu diễn, hoặc tổ chức một buổi ghi hình, ghi âm, buổi biểu diễn… Mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan: Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm của tác giả đó, trong khi quyền liên quan là quyền được trao cho một nhóm người vì vai trò quan trọng của họ đối với việc truyền bá, và làm phổ biến một số loại hình tác phẩm đến với công chúng. Ví dụ: Đối với một bài hát, quyền tác giả bảo hộ phần nhạc của nhạc sĩ, cũng như phần ca từ của người viết lời và quyền liên quan sẽ được áp dụng đối với: Phần biểu diễn của nhạc công, ca sỹ trình bày bài hát đó; Bản ghi âmghi hình bài hát đó của nhà sản xuất; Chương trình phát sóng của nhà sản xuất chương trình chứa bài hát đó. Để có được quyền liên quan, các chủ thể như: người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình… phải biểu diễn, thể hiện, phát sóng, tổ chức dựa trên tác phẩm gốc của chủ sở hữu quyền tác giả. Tức là người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, người phát sóng có vai trò trung gian, truyền đạt, thông tin, nội dung, giá trị của tác phẩm gốc đến với công chúng. Đó chính là lý do tại sao quyền trung gian này được gọi tên là: quyền liên quan đến quyền tác giả. Như vậy, mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan được hiểu như sau: Một tác phẩm được khi ra đời, được thể hiện dưới hình thức nhất định, được công bố nhưng chưa chắc được cộng đồng đón nhận, tiếp thu hết thông tin, giá trị mà tác phẩm đó mang lại. Thông qua các chủ thể trung gian của quyền liên quan, tác phẩm đó có thể đi vào lòng người hơn, được công chúng đánh giá cao hơn bởi khả năng truyền đạt hấp dẫn và kỹ xảo của người biểu diễn, cũng như tổ chức phát sóng, ghi âm, ghi hình…

Trang 1

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Khoa Luật Quốc tế

Lớp Quốc tế 44.1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ

Bộ môn: Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Giảng viên: Th.s Nguyễn Trọng Luận

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16, tháng 03, năm 2022

Trang 2

PHẦN A A.1 Lý thuyết:

1 Phân tích mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả.

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định như sau: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Như vậy, khi cá nhân sáng tác ra một tác phẩm và thể hiện tác phẩm dưới dạng hình thức nhất định Thông qua quá trình lao động sáng tạo hoặc một tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền tác giả thì những tổ chức, cá nhân đó được xem là chủ thể của quyền tác giả

Theo khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định như sau: “Quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi là quyền liên quan) là quyền của cá nhân, tổ chức đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, tín hiệu vệ tinh, chương trình phát sóng mang chương trình được mã hóa” Có thể được hiểu, những chủ thể được sở hữu quyền liên quan này khi họ thực hiện một cuộc biểu diễn, hoặc tổ chức một buổi ghi hình, ghi âm, buổi biểu diễn…

Mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan:

Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm của tác giả đó, trong khi quyền liên quan là quyền được trao cho một nhóm người vì vai trò quan trọng của họ đối với việc truyền bá, và làm phổ biến một số loại hình tác phẩm đến với công chúng

Ví dụ: Đối với một bài hát, quyền tác giả bảo hộ phần nhạc của nhạc sĩ, cũng như phần ca từ của người viết lời và quyền liên quan sẽ được áp dụng đối với: Phần biểu diễn của nhạc công, ca sỹ trình bày bài hát đó; Bản ghi âm/ghi hình bài hát đó của nhà sản xuất; Chương trình phát sóng của nhà sản xuất chương trình chứa bài hát đó

Để có được quyền liên quan, các chủ thể như: người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình… phải biểu diễn, thể hiện, phát sóng, tổ chức dựa trên tác phẩm gốc của chủ sở hữu quyền tác giả Tức là người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, người phát sóng có vai trò trung gian, truyền đạt, thông tin, nội dung, giá trị của tác phẩm gốc đến với công chúng Đó chính là lý do tại sao quyền trung gian này được gọi tên là: quyền liên quan đến quyền tác giả

Như vậy, mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan được hiểu như sau: Một tác phẩm được khi ra đời, được thể hiện dưới hình thức nhất định, được công bố nhưng chưa chắc được cộng đồng đón nhận, tiếp thu hết thông tin, giá trị mà tác phẩm đó mang lại Thông qua các chủ thể trung gian của quyền liên quan, tác phẩm đó có thể đi vào lòng người hơn, được công chúng đánh giá cao hơn bởi khả năng truyền đạt hấp dẫn và kỹ xảo của người biểu diễn, cũng như tổ chức phát sóng, ghi

âm, ghi hình…

2 Cho ví dụ để chứng minh rằng chủ sở hữu quyền tác giả có thể đồng thời là tác giả, cũng có thể không đồng thời là tác giả.

Trả lời:

Trang 3

A là người sáng tác ra bộ truyện B Nếu A là sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra bộ truyện thì trong trường hợp này quyền sở hữu quyền tác giả có đồng thời là tác giả Nếu A là người được nhà sản xuất C thuê để sáng tác ra bộ truyện thì chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả, khi đó chủ sở hữu quyền tác giả là nhà sản xuất C và tác giả là A

A.2 Bài tập:

1 Nghiên cứu tranh chấp quyền tác giả trong vụ việc Truyện tranh Thần Đồng Đất Việt (thông qua các phương tiện thông tin đại chúng) và đánh giá các vấn đề pháp lý sau (trên cơ

sở các thông tin này):

Tóm tắt vụ việc:

Năm 2001, họa sĩ Lê Linh bắt đầu làm việc tại Công ty Phan Thị và được giao thực hiện bộ truyện tranh TĐĐV từ năm 2002 - 2005, bộ truyện Thần đồng đất Việt được tung ra thị trường bởi tác giả Lê Linh và Công ty Phan Thị Theo đó, tác giả Lê Linh đã cùng với bà Phan Thị Mỹ Hạnh (Giám đốc Công ty Phan Thị) đứng tên đăng ký quyền tác giả Từ tháng 5.2002, Cục Bản quyền cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả, ghi nhận quyền tác giả thuộc về đồng tác giả là ông Lê Linh và

bà Phan Thị Mỹ Hạnh, quyền tài sản (các quyền khai thác, sử dụng tác phẩm…) thuộc về Công ty Phan Thị Tranh chấp quyền tác giả xảy ra khi đến tập 78, Lê Linh chấm dứt cộng tác với Phan Thị nhưng sau đó Phan Thị vẫn thuê họa sĩ làm tiếp và xuất bản từ tập 79 trở đi mà không có sự đồng ý của Lê Phía họa sĩ Lê Linh cho rằng mình là tác giả nên có quyền bảo vệ sự toàn vẹn đối với tác phẩm, không ai có quyền sáng tác các tập tiếp theo dựa trên các nhân vật trong truyện của mình, họa

sĩ Lê Linh đã dừng vẽ và đưa vụ việc nhờ tới pháp luật để giải quyết.Tháng 4.2007, họa sĩ Lê Linh

đã chính thức khởi kiện Công ty Phan Thị lên Tòa án Kinh tế TP.HCM.Năm 2008, Lê Linh nhiều lần thay đổi yêu cầu khởi kiện, rồi cuối cùng rút đơn tại TAND TP.HCM và sau đó chuyển đơn khởi kiện trở lại TAND Q.1.Năm 2017, Lê Linh yêu cầu tòa án trưng cầu giám định của Trung tâm giám định quyền tác giả.Từ 18.5 – 11.10.2018, TAND Q.1 triệu tập 4 lần nhưng không đủ mặt hai bên.Ngày 28.12.2018, TAND Q.1 đưa vụ án ra xét xử nhưng hoãn vì bị đơn vắng mặt.Ngày 24.1.2019, phiên tòa sơ thẩm diễn ra; ngày 18.2, TAND Q.1 tuyên án sơ thẩm.Ngày 16.7.2019, TAND TP.HCM mở phiên phúc thẩm theo kháng cáo của bị đơn; sáng 3.9, TAND TP.HCM tuyên y

án sơ thẩm

a) Theo Luật SHTT, truyện tranh Thần Đồng Đất Việt có được bảo hộ quyền tác giả không? Trả lời:

Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 LSHTT, tác phẩm chính là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào Căn cứ theo quy định tại Điều 14 LSHTT thì các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

c) Tác phẩm báo chí;

Trang 4

d) Tác phẩm âm nhạc;

đ) Tác phẩm sân khấu;

e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

h) Tác phẩm nhiếp ảnh;

i) Tác phẩm kiến trúc;

k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu

Tại khoản 1 Điều 6 LSHTT quy định về căn cứ xác lập quyền tác giả như sau: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công

bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.” Từ quy định trên, ta thấy có hai căn cứ để phát sinh quyền tác giả:

- Phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo

- Được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định

Từ các quy định của Luật SHTT nêu trên, “Thần đồng đất Việt”, tác phẩm là hình ảnh các nhân vật trong truyện (Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng), là cốt truyện (tác phẩm viết) và truyện (tác phẩm truyện tranh được thể hiện dưới dạng chữ viết và hình ảnh) được thể hiện bằng hình ảnh được vẽ ra

và câu truyện được sáng tác bởi tác giả, không phải hình ảnh hay câu truyện mới chỉ xuất hiện trong tưởng tượng, trong tâm trí tác giả mà chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nào đó

Và truyện tranh Thần đồng đất Việt được bảo hộ quyền tác giả theo quy định Luật SHTT

b) Ai là chủ sở hữu bộ truyện tranh này?

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 25 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 28/2/2018 quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan thì chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm:

“1 Tổ chức, cá nhân Việt Nam

2 Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam

3 Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam

4 Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế

mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Trong trường hợp này “Thần đồng đất Việt”, tác giả không đồng thời là chủ sở hữu Cụ thể hơn, tác giả (ông Lê Linh) sáng tạo dựa trên Hợp đồng lao động với chủ sở hữu (Phan Thị).”

Trang 5

Tác giả trong tác phẩm “Thần đồng đất Việt”, theo như Phan Thị đăng ký quyền tác giả với Cục bản quyền là đồng tác giả (tập thể tác giả), cụ thể là Phan Thị Mỹ Hạnh cùng là đồng tác giả với Lê Linh

Chủ sở hữu trong đăng ký quyền tác giả của tác phẩm Thần đồng đất Việt là Phan Thị

c) Ai là tác giả bộ truyện tranh này?

Trả lời:

Tại khoản 1 Điều 6 LSHTT quy định về căn cứ xác lập quyền tác giả như sau: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công

bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.” Từ quy định trên, ta thấy có hai căn cứ để phát sinh quyền tác giả:

- Phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo

- Được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định

Trong vụ việc này, về phía luật sư bên Phan Thị cho rằng “bà Phan Thị Mỹ Hạnh đã hình dung

ra nhân vật trong đầu, trong tưởng tượng, trong thế giới tinh thần của bà Phan Thị Mỹ Hạnh” và ông

Lê Linh là người thể hiện các hình dung đó và do đó bà Phan Thị Mỹ Hạnh là đồng tác giả với ông

Lê Linh Tuy nhiên, bà Phan Thị Mỹ Hạnh không thể chứng minh được các tưởng tượng trong đầu

bà là có thật bằng cách nào và có giống với những gì ông Lê Linh thể hiện ra hay không Do đó, bà Hạnh cho rằng mình với ông Lê Linh là đồng tác giả truyện tranh “Thần đồng đất Việt” là hoàn toàn không có căn cứ và không phù hợp Cho nên, ông Lê Linh chính là tác giả duy nhất của các tác phẩm này, sáng tạo và được trả nhuận bút từ Phan Thị, là có căn cứ và lập luận rất rõ ràng

d) Công ty Phan Thị có quyền gì đối với bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt?

Trả lời:

- Công ty Phan Thị được quyền làm tác phẩm phái sinh (là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn theo quy định tại khoản 8 Điều 4 LSHTT) nhưng không được sửa chữa tác phẩm gốc đối với bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt Vì:

+ Ông Lê Phong Linh là tác giả của bộ truyện này nên có quyền nhân thân là được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất

kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả theo quy định tại khoản 4 Điều

19 (LSHTT)

+ Và công ty Phan Thị được làm tác phẩm phái sinh nhưng phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là ông Lê Phong Linh Nếu thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 25 LSHTT thì không phải xin phép

e) Việc công ty Phan Thị cho xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi có phù hợp với quy định pháp luật không?

Trả lời:

Trang 6

- Việc công ty Phan Thị cho xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi là trái với quy định của pháp luật Vì:

+ Vụ việc này đã được Tòa án xét xử là buộc công ty Phan Thị chấm dứt xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi, cũng như không được sử dụng hình tượng 04 nhân vật của chủ sở hữu quyền tác giả là ông Lê Phong Linh bao gồm: Trạng Tí, Sửu Ẹo, Dần Béo, Cả Mẹo để xuất bản các tập tiếp theo Và cũng chưa có sự cho phép của tác giả là ông Lê Linh, trừ trường hợp được quy định tại Điều 25 (LSHTT)

+ Việc xuất bản này còn xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả được quy định tại khoản 4 Điều 19 (LSHTT) làm ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của tác phẩm, danh dự và uy tín của tác giả

2 ghiên cứu Bản án số 213/2014/DS-ST của Tòa án nhân dân quận Tân Bình ngày 14/8/2014

và trả lời các câu hỏi sau:

a) Ai là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”? Tác phẩm này có được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao?

Trả lời:

Ông Nguyễn Văn Lộc là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”

Tác phẩm này được bảo hộ quyền tác giả Bởi tác phẩm này đã được Cục bản quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký bản quyền số 169/2013/QTG ngày 07/01/2013 và ông Lộc có kèm theo bản photo hình ảnh đăng ký bản quyền chứng minh điều này

b) Từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” có được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao?

Trả lời:

Từng “cụm hình ảnh trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” không được bảo hộ quyền tác giả

Về nguồn gốc, các cụm hình ảnh được thể hiện trong tác phẩm của ông Nguyễn Văn Lộc là những hình ảnh đã được lưu truyền trong văn hóa dân gian từ lâu đời (hình ảnh múa lân, ông địa, liễn chúc tết, ông đồ viết chữ ) các tác giả chỉ thay đổi một số đường nét và sắp xếp theo một bố cục và hình thức thể hiện để tạo nên tác phẩm riêng của mình Do đó, quyền tác giả của các hình ảnh riêng rẽ đã được lưu truyền lâu đời trong văn hóa dân gian không thể xác định là của ai Quyền tác giả đối với tác phẩm ở đây được xác định chính là bố cục sắp xếp, hình thức thể hiện trong một tổng thể thống nhất không thể tách rời ra theo từng bộ phận để xác định quyền tác giả

Mặt khác, ông Lộc đã gộp chung cả 05 cụm hình vào trong một tác phẩm để đăng ký quyền tác giả Bởi lẽ, theo trình tự đăng ký quyền tác giả nếu muốn bảo hộ cho từng cụm hình ảnh thì ông phải lập từng hồ sơ tương ứng với từng cụm hình ảnh (ở đây là 05 cụm hình ảnh tương ứng với 05 hồ sơ)

để đăng ký quyền tác giả Điều này sẽ mất nhiều thời gian nên ông đã gộp chung cả 05 cụm hình vào trong một tác phẩm để đăng ký quyền tác giả

Từ đó, có thể nhận thấy, quyền tác giả của ông Lộc đối với từng cụm hình

Trang 7

riêng rẽ chưa được xác lập Theo đó từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” sẽ không được bảo hộ quyền tác giả

c) Hành vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn không? Nêu cơ sở pháp lý.

Trả lời:

Hành vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn

Bởi lẽ:

Thứ nhất, khi xét các chứng cứ cung cấp, tác phẩm của ông Lộc và hình ảnh trang trí tại showroom của Công ty Mặt Trời Mọc có bố cục và hình thức thể hiện là khác nhau, những hình ảnh này do ông chụp bằng điện thoại và không có gì chứng minh là các bức tranh được trang trí tại cửa hàng trưng bày 18 Cộng Hòa, phường 4, Tân Bình đúng với nguyên bản là các bức tranh của ông Thứ hai, quyền tác giả đối với tác phẩm ở đây được xác định chính là bố cục sắp xếp, hình thức thể hiện trong một tổng thể thống nhất không thể tách rời ra theo từng bộ phận để xác định quyền tác giả Công ty Đăng Viễn không sử dụng tác phẩm của ông Lộc để trang trí tại showroom của công ty Mặt Trời Mọc, mà công ty Đăng Viễn sưu tầm, mua lại các hình ảnh riêng rẽ tại các websites (vectordep.vn, nguyenthehien.com) từ đó thiết kế, sắp xếp, bố cục hình thành hình thức thể hiện không khí Tết dân gian cho tác phẩm trang trí của mình Mặt khác, quyền tác giả của ông Nguyễn Văn Lộc đối với từng cụm hình riêng rẽ chưa được xác lập Do vậy, việc các sử dụng biểu tượng văn hóa dân gian được lưu truyền lâu đời của bị đơn mặc dù có nét tương đồng với nguyên đơn nhưng cách sắp xếp, bố trí khác nhau thì sẽ tạo ra một chỉnh thể khác nhau, mang thông điệp và nội dung cụ thể khác nhau

Thứ ba, bị đơn có kí Hợp đồng số 241212/DV-MTM ngày 24/12/2012 thuế Công ty TNHH dịch

vụ quảng cáo Đăng Viễn thi công, lắp đặt, trang trí tại cửa hàng trưng bày 18 Cộng Hòa, phường 4, Tân Bình, Công ty TNHH dịch vụ quảng cáo Đăng Viễn đã hoàn thành và hai bên đã nhiệm thu, thanh lý ngày 05/12/2012 ; trước ngày ông Lộc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền số 169/2013/QTG ngày 07/01/2013, có kèm theo hình ảnh đăng ký bản quyền

Từ những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị đơn không thuộc bất kỳ trường hợp nào được quy định tại Điều 28, Luật Sở hữu trí tuệ về Hành vi xâm phạm quyền tác giả Do vậy, bị đơn không xâm phạm quyền tác giả của nguyên đơn

d) Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có những điểm khác biệt nào so với các loại hình tác phẩm khác?

Trả lời: Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là loại tác phẩm có các đặc điểm đặc biệt so với

các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học khác Do đó, việc bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian cũng sẽ có những điểm khác biệt so với loại hình tác phẩm khác như sau:

Trang 8

PHẦN B Đọc, nghiên cứu Bản án số 5 “Tác phẩm phái sinh” Chương 2 (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:

Tiêu chí Tác phẩm văn học, nghệ thuật

dân gian.

Tác phẩm khác

Điều kiện bảo hộ - Tác phẩm được bảo hộ mang

tính sáng tạo tập thể

- Không bắt buộc thể hiện dưới hình thức nhất định Chẳng hạn:

Điệu múa, điệu hát, làn điệu âm nhạc, truyện, thơ

- Tác phẩm được bảo hộ mang tính sáng tạo cá nhân/tập thể

- Phải được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định

Nội dung bảo hộ Bảo hộ quyền nhân thân và quyền

tài sản (Điều 19, 20 Luật SHTT 2005)

Chỉ bảo hộ quyền nhân thân (khoản 2 Điều 23 Luật SHTT 2005), đó là quyền được người sử dụng dẫn chiếu xuất xứ (Khoản 2 Điều 19 Luật SHTT 2005)

Chủ sở hữu

quyền tác giả

Cá nhân, nhóm tập thể trực tiếp sáng tạo hoặc cá nhân, tổ chức sở hữu tác phẩm (Điều 13 Luật SHTT 2005)

Toàn thể cộng đồng Tuy nhiên, những thực thể và cá thể sau có thể được xem

là chủ sở hữu để bảo tồn và phát huy giá trị của tác phẩm đó (khai thác lợi ích từ tác phẩm):

- Cộng đồng công xã (chủ sở hữu công xã/làng của họ)

- Những người được cộng đồng công nhận là người hàng đầu trong việc nắm giữ và thực hành, truyền dạy vốn văn học nghệ thuật dân gian của cộng đồng

- Người sưu tầm, nghiên cứu

Thời gian bảo hộ Có thời hạn cụ thể (Điều 27 Luật

SHTT 2005)

Pháp luật không quy định

Trang 9

1 Theo quy định của pháp luật SHTT, tác phẩm phái sinh là gì? Đặc điểm của tác phẩm phái sinh?

Trả lời:

- Căn cứ theo khoản 8 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ thì tác phẩm tái sinh được hiểu là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn

Ví dụ:

+ Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch: Cuốn sách nổi tiếng của tác giả Dale Carnegie – “HOW

TO WIN FRIENDS & INFLUENCE PEOPLE” được Công ty First News dịch sang tiếng Việt thành “Đắc nhân tâm”

+ Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được cải biên: Bộ phim hoạt hình “Người đẹp và quái vật” đã được cải biên từ tác phẩm gốc cùng tên là “Gabrielle- Suzanne Barbot de Villeneuve” của tác giả Jeanne Marie Leprince Beaumont

- Đặc điểm của tác phẩm phái sinh:

+ Thứ nhất, tác phẩm phái sinh chỉ được hình thành trên cơ sở một hoặc những tác phẩm đã tồn tại

+ Thứ hai, tác phẩm phái sinh mang dấu ấn riêng của tác giả

+ Thứ ba, tác phẩm phái sinh có thể khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần so với tác phẩm gốc

+ Thứ tư, về dấu ấn của tác phẩm gốc trong tác phẩm phái sinh, mặc dù tác phẩm phái sinh phải đảm bảo tính nguyên gốc như vừa phân tích, nhưng dấu ấn của tác phẩm gốc phải được thể hiện trong tác phẩm phái sinh, có nghĩa là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua nội dung của tác phẩm gốc

2 Với hướng lập luận của Tòa án, hành vi của Hãng phim truyện I và đạo diễn Lộc có xâm phạm quyền tác giả của ông Ánh không? Đoạn nào trong bản án thể hiện điều này?

Trả lời:

Với hướng lập luận của Tòa án, hành vi của Hãng phim truyện I và đạo diễn Lộc không có xâm phạm quyền tác giả của ông Ánh

Đoạn trong bản án đã thể hiện điều này:

“Như vậy, khi làm phim truyện I (mà người được giao nhiệm vụ làm đạo diễn là ông Phạm Lộc)

có sữ chữa, bổ sung kịch bản như đánh giá của ông Ánh Do đó, Hãng phim truyện I và ông Phạm Lộc không vượt quá quyền đã xác định tại Điều 4 của hợp số 174/PT1 – HĐ ngày 11/8/1997” và các quy định của pháp luật về quyền tác giả Án sơ thẩm đã bác yêu cầu của Ánh là có cơ sở, đúng pháp luật.”

3 Pháp luật nước ngoài có quy định nào về việc bảo hộ tác phẩm phái sinh?

Trang 10

Trả lời:

- Pháp luật Hòa Kỳ:

+ Về định nghĩa: Luật Quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã định nghĩa về tác phẩm phái sinh tại Điều 101 Luật Quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ như sau: "Tác phẩm phái sinh" là tác phẩm được hình thành trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có như là các tác phẩm dịch, các tác phẩm được phổ nhạc, được chuyển thể thành kịch, được tiểu thuyết hóa, được điện ảnh hoá, âm nhạc hoá, mỹ nghệ hoá, tóm tắt, tóm lược, hoặc bất kỳ hình thức nào khác mà trong đó tác phẩm có thể được cải biên, chuyển thể hoặc bổ sung Một tác phẩm bao hàm các bản thảo đã được biên tập lại, các lời bình chú, phân tích hoặc các sửa chữa khác một về tổng thể là một tác phẩm nguyên thuỷ độc đáo hoàn chỉnh của tác giả là "tác phẩm phái sinh"

Như vậy, điều kiện để có một tác phẩm phái sinh là trước hết phải tồn tại “một hoặc nhiều tác phẩm”, thuật ngữ “một hoặc nhiều tác phẩm” vừa nêu có thể thuộc một loại hình hay nhiều loại hình tác phẩm, bởi vậy không loại trừ trường hợp, một tác phẩm phái sinh được hình thành từ một tác phẩm văn học và một tác phẩm kịch

+ Về vấn đề bảo hộ tác phẩm phái sinh, Pháp luật Hoa Kỳ Điều 103 Luật Quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định:

“(a) Đối tượng bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 102 bao gồm cả các tác phẩm biên soạn và tác phẩm phái sinh, nhưng việc bảo hộ đối với một tác phẩm dựa trên sự khai thác các tư liệu đã có mà đối với chúng quyền tác giả đang tồn tại sẽ không được mở rộng đến bất kỳ phần nào của tác phẩm đó nếu trong tác phẩm này các tư liệu đã được sử dụng bất hợp pháp

(b) Quyền tác giả đối với các tác phẩm biên soạn hoặc tác phẩm phái sinh chỉ mở rộng đến các phần đóng góp của tác giả của tác phẩm đó như là một phần độc lập với các tư liệu đã được khai thác trong tác phẩm đó, và không ảnh hưởng tới bất kỳ một quyền độc quyền nào đối với các tư liệu

đã có Quyền tác giả đối với các tác phẩm này là độc lập, không bị ảnh hưởng hoặc chi phối về phạm vi, thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu, hoặc sự tồn tại của nó với bất kỳ sự bảo hộ quyền tác giả nào đối với các tư liệu đã có.”

- Pháp luật Nhật Bản:

Luật quyền tác giả Nhật Bản cũng có đưa ra định nghĩa về tác phẩm phái sinh tại Điều 2 Luật Quyền tác giả Nhật Bản như sau: “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm biên dịch, hòa âm phối khí, hoặc cải biên, viết thành kịch, điện ảnh hóa, hoặc là một sáng tác chuyển thể từ một tác phẩm đã có.” Ta thấy, nhìn chung khái niệm về tác phẩm phái sinh trong pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia về cơ bản không quá khác biệt

Luật quyền tác giả của Nhật Bản có sử dụng thuật ngữ tác phẩm phái sinh, trong đó có quy định

rõ việc bảo hộ tác phẩm phái sinh không làm phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm đã tồn tại Điều 11 Luật Quyền tác giả Nhật Bản quy định “Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh của Luật này không gây ảnh hưởng đến quyền tác giả của tác phẩm gốc.”

Về quyền tác giả bản gốc đối với khai thác tác phẩm phái sinh, pháp luật Nhật Bản tại Điều 28 Luật Quyền tác giả Nhật Bản quy định “tác giả bản gốc của tác phẩm phái sinh có quyền giống như

Ngày đăng: 28/07/2023, 12:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w