1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BT THẢO LUẬN HÌNH SỰ CỤM 2

30 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thảo Luận Hình Sự Cụm 2
Tác giả Nhóm 3
Người hướng dẫn Phạm Thị Yến
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài Thảo Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 140,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS là mức hình phạt do tòa án quyết định đối với người phạm tội. SAI. Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này. Nói cách khác, căn cứ phân loại tội phạm phải dựa trên khung hình phạt (do Điều luật quy định), còn mức hình phạt do Tòa án áp dụng là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, không phải căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS. Câu 2: Những tội phạm mà người thực hiện bị Tòa án tuyên phạt từ 3 năm từ trở xuống đều là tội phạm ít nghiêm trọng. SAI.Tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng là căn cứ vào khung hình phạt đó chứ không căn cứ vào mức hình phạt trong bản án mà tòa án tuyên. Giả sử người đó phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo Khoản 1 Điều 13 (khung hình phạt là từ 1 đến 5 năm tù). Tòa tuyên phạt 3 năm tù. Thì đây là trường hợp tội pham nghiêm trọng (vì mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản là 5 năm tù, đối chiếu khoản 3 Điều 8 thì đó thuộc loại tội nghiêm trọng dù hình phạt mà tòa án tuyên chỉ là 3 năm tù). Còn nếu Tòa tuyên người này 2 năm tù, phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 135 (khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù) => thì trường hợp này là tội phạm rất nhiêm trọng (vì mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản 2 là 10 năm tù, đối chiếu k3 Điều 8 thì trường hợp này thuộc loại tội rất nghiêm trọng) Câu 3: Mọi tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do bộ luật hình sự quy định là phạt tiền thì đều là tội phạm ít nghiêm trọng. ĐÚNG. Khoản 1 Điều 9 “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm”.

Trang 1

g TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THẢO LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG

GIẢNG VIÊN: Phạm Thị Yến

Trang 2

I PHẦN TRẮC NGHIỆM:

Nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?

Câu 1: Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS là mức hình phạt do tòa

án quyết định đối với người phạm tội

SAI Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này Nói cách khác,căn cứ phân loại tội phạm phải dựa trên khung hình phạt (do Điều luật quy định), còn mức hình phạt do Tòa án áp dụng là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, không phải căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS

Câu 2: Những tội phạm mà người thực hiện bị Tòa án tuyên phạt từ 3 năm từ trở

xuống đều là tội phạm ít nghiêm trọng

SAI.Tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng là căn cứ vào khung hình phạt đó chứ không căn cứ vào mức hình phạt trong bản án mà tòa án tuyên Giả sử người đó phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo Khoản 1 Điều 13 (khung hình phạt là từ 1 đến 5 năm tù) Tòa tuyên phạt 3 năm tù Thì đây là trường hợp tội pham nghiêm trọng (vì mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản là 5 năm tù, đối chiếu khoản 3 Điều 8 thì đó thuộc loại tội nghiêm trọng dù hình phạt mà tòa án tuyên chỉ là 3 năm tù)

Còn nếu Tòa tuyên người này 2 năm tù, phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 135 (khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù) => thì trường hợp này là tội phạm rất nhiêm trọng (vì mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản 2 là 10 năm

tù, đối chiếu k3 Điều 8 thì trường hợp này thuộc loại tội rất nghiêm trọng)

Câu 3: Mọi tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do bộ luật hình sự quy

định là phạt tiền thì đều là tội phạm ít nghiêm trọng

ĐÚNG Khoản 1 Điều 9 “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do

Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm”

Câu 4: Trong một tội danh luôn có cả ba loại cấu thành tội phạm, cấu thành cơ bản

cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ

Trang 3

SAI Mỗi tội danh có CTTP cơ bản (dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệttội này với tội khác) và có thể có một hoặc nhiều cấu thành tang nặng hoặc giảm nhẹ.

Trong một tội danh không bắt buộc có đủ 3 loạii CTTP Ví dụ: Điều 173 quy định

về tội trộm cắp tài sản Theo đó, Khoản 1 là CTTP cơ bản, Khoản 2 và Khoản 3 là CTTP tăng nặng, Khoản 5 là hình phạt bổ sung Điều luật này không quy định về CTTP giảm nhẹ

Vd: Điều 108: Tội phản bội Tổ quốc chỉ có cấu thành giảm nhẹ

Câu 5: trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ không có dấu hiệu định tội.

Sai Dấu hiệu định tội là dấu hiệu dùng để mô tả tội phạm cụ thể trong luật và cho phép phân biệt tội này với tội khác

CTTP giảm nhẹ là CTTP bao gồm dấu hiệu định tội vfa những dấu hiệu khác phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm đi đáng kể (dấu hiệu định khung giảm nhẹ)

Vd: Khoản 3 Điều 108 “Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến

Câu 7: Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội mà luật hình sự có nhiệm vụ

điều chỉnh

SAI Vì khách thể của tội phạm là quan hệ của xã hội được luật hình sự bảo vệ và

bị tội phạm xâm hại

Câu 8: Mỗi tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp

SAI Tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp khi hành vi phạm tội xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội mà việc xem xét sự gây thiệt hại đối với bất cứ một quan hệ

xã hội nào cũng không thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi

đó và nhiều khách thể đó luôn bị xâm hại ở mọi trường hợp phạm tội

Câu 9: Mọi tội phạm, suy cho cùng, đều là xâm phạm đến khách thể chung.

Trang 4

ĐÚNG Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ khỏi

xự xâm phạm của tội phạm Bất kể tội phạm nào khi được thực hiện đều đã xâm phạm đến các mối quan hệ đó Vì vậy, suy cho cùng đều xâm phạm đến một kháchthể chung là các quan hệ xã hội được pháp luật Hình sự bảo vệ

Câu 10: Một tội phạm nếu trên thực tế đã làm cho đối tượng tác động của tội phạm

tốt hơn so với tình trạng ban đầu thì không bị coi là gây thiệt hại cho xã hội

SAI Đối tượng tác động của tội phạm còn có thể là con người và hoạt động bình thường của con người

Câu 11: Mọi hành vi phạm tội đều gây thiệt hại cho đối tượng tác động của tội

Câu 12: Đối tượng tác động của tội phạm là đối tượng điều chỉnh của luật hình sự.

SAI Vì đối tượng tác động của tội phạm là những phần trong khách thể của tội phạm mà khi tác động đến nó người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể Đối tượng tác động của tội phạm bao gồm các dạng sau đây:

• Con người đối với tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự

• Các vật thể như tài sản, phương tiện thuộc quyền sở hữu hợp pháp của con người

• Sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

Còn đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm

Câu 13: Đối tượng tác động của tội phạm luôn là đối tượng vật chất cụ thể.

SAI Vì khách thể chung của tội phạm là thống nhất đối với tất cả các tội phạm, các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là những quan hệ hữu cơ, luôn có sự

Trang 5

tương tác, tác động lẫn nhau, tác động lên quan hệ này cũng sẽ tác động đến quan

hệ kia, do đó mỗi hành vi phạm tội, khi xâm phạm đến bất kỳ quan hệ xã hội nào đều trực tiếp hoặc gian tiếp xâm phạm đến khác thể chung

C âu 15: Phương tiện phạm tội của Tội đua xe trái phép ( Điều 266 BLHS) là xe ô

tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ

ĐÚNG Căn cứ theo Điều 266 BLHS 2015 quy định phương tiện phạm tội của Tội đua xe trái phép là xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ

Câu 16: Mọi xử sự của con người gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã

hội được coi là hành vi khách quan của tội phạm

SAI.Vì: Để một hành vi được xem là hành vi khách quan của tội phạm thì phải hội

tụ đủ các điều kiện sau:

Hành vi khách quan là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan mà mặt thực tế của nó được ý thức kiểm soát và và sự diều khiển của ý chí

• Hành vi khách quan của tội phạm phải có tính nguy hiểm cho xã hội tức phảigây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội do Luật Hình sự bảo vệ

• Hành vi khách quan của tội phạm phải là hoạt động có ý thức và ý chí của con người

• Hành vi khách quan của tội phạm phải là hành vi trái pháp Luật Hình sự tức những hành vi bị Luật Hình sự cấm và quy định hành vi đó là tội phạm

Câu 17: Tội liên tục là trường hợp phạm tội nhiều lần.

SAI.Vì: Mặc dù khách thể, đối tượng tác động của tội liên tục và phạm tội nhiều lần cùng xâm phạm một khách thể

• Phạm tội liên tục là tội phạm mà hành vi khách quan có tính liên tục, bao gồm nhiều hành vi cùng loại xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, cùng xâm hại một quan hệ xã hội và đều bị chi phối bởi một ý định phạm tội cụ thể thống nhất

Có hành vi cấu thành tội phạm, có hành vi không cấu thành tội phạm Bản chất của

Trang 6

phạm tội liên tục là đặc điểm của hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản

- Phạm vi: Phạm tội liên tục chỉ tồn tại trong một số tội danh

• Phạm tội nhiều lần là trường hợp người phạm tội thực hiện một tội phạm màtrước đó chủ thể đã phạm tội đó ít nhất một lần và chưa bị Tòa án xét xử Bản chất của phạm tội nhiều lần là tình tiết định khung tăng nặng trong một số tội danh hoặctình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự

- Phạm vi: Bất kỳ tội phạm nào người phạm tội đều có thể phạm tội nhiều lần nếu hành vi phạm tội đó chưa bị phát hiện hoặc bị phát hiện rồi nhưng người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị bắt giữ và họ tiếp tục có hành vi phạm tội tương tự

Câu 18: Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu luôn được quy định trong cấu thành tội

phạm cơ bản

SAI Vì hậu quả của tội phạm là thệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xãhội là khách thể bảo vệ của Luật Hình sự Thiệt hại gây ra cho khách thể thể hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội làkhách thể của tội phạm Trong cấu thành tội phạm cơ bản chỉ có dấu hiệu định tội – dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác

Câu 19: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội là

dấu hiệu định tội đối với tội phạm có cấu thành hình thức

SAI Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc phải có để cấu thành tội phạm đối với tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất

Câu 20: Người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được

quy định trong BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Nhận định đúng Theo điều 21 BLHS, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội trong khi đang mắc bệnh tâm thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Câu 21: Người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội

phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Nhận định đúng Theo khoản 2 điều 12 BLHS, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưngchưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình suwh về tội phạm rất nghiêm trọng, tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng

Câu 22: Người 15 tuổi thực hiện hành vi được quy định tại Khoản 2 Điều 128

BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Trang 7

ĐÚNG Vì Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâmngười từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạttài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Theo quyđịnh tại Khoản 2 Điều 12 BLHS 2015.

Câu 23: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với người bị hại.

SAI Vì lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hộicủa mình và hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc

vô ý

Câu 24: Xử sự của một người được coi là không có lỗi nếu gây thiệt hại cho xã hội

trong trường hợp không có tự do ý chí

ĐÚNG.Vì nếu rơi vào 8 trường hợp dưới đây thì hành vi làm chết người sẽ đượcloại trừ Trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS hiện hành:

1 Phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

2 Sự kiện bất ngờ

3 Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

4 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

5 Phòng vệ chính đáng

6 Tình thế cấp thiết

7 Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và côngnghệ

8 Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Câu 25: Nhận thức được hậu quả cho xã hội tất yếu xảy ra là nội dung của lỗi cố ý

gián tiếp

Trả lời: Nhận định sai Tất yếu xảy ra là nội dung của cố ý trực tiếp

Vì theo khoản 2 điều 10 BLHS quy định “Người khi thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậuquả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức đểmặc cho hậu quả xảy ra”

Trang 8

Dấu hiệu pháp lý về tội cố ý gián tiếp:

Về mặt lý trí đối với hậu quả: thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra

Về mặt ý chí không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra nhưng có ýthức để mặc cho hậu quả phát sinh

Câu 26: Người bị cưỡng bức thân thể thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về

xử sự gây thiệt hại cho xã hội đucợ quy định trong BLHS

Đúng Cưỡng bức về thân thể là trường hợp một người bị bạo lực vật chất tác động (bị trói, bị giam giữ, bị bịt miệng) khiến họ không hành động được theo ý muốn của mình mặc dù họ biết nếu làm như vậy sẽ gây thiệt hại đến người khác, người bị cưỡng bức về thân thể không phải chịu trách nhiệm hình sự vì họ không

có lỗi

Câu 27: Người bị cưỡng bức về tinh thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

về sử xự gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong BLHS:

SAI.Cưỡng bức về tinh thần là trường hợp một người bị đe dọa uy hiếp gây thiệthại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc những lợi ích khác

Người bị cưỡng bức vì sợ bị thiệt hại nên đã hành động hoặc không hành động gâyhậu quả nguy hiểm cho xã hội Nếu người bị cưỡng bức hoàn toàn bị tê liệt về ýchí, không còn cách nào khác, buộc phải hành động theo ý muốn của kẻ cưỡng bứcthì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Tuy nhiên, dù là bị đe dọa hay cưỡng bức về tinh thần để phạm tội thì chủ thể thựchiện hành vi phạm tôi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Như trong luật đã quyđịnh, bị đe dọa hay cưỡng bức chỉ được xem là một yếu tố để giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự

Theo Điều 25 BLHS 2015 quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự:

“1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy

tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc ngườiphạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

2 Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tựthú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm,

Trang 9

cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể đượcmiễn trách nhiệm hình sự.

3 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá.”

Rõ ràng trường hợp bị cưỡng bức về tinh thần dẫn đến việc phạm tội không thuộctrường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật

Từ những căn cứ pháp lí và giải thích trên có thể thấy rằng người bị cưỡng bức vềtinh không được miễn trách nhiệm hình sự mà việc bị cưỡng bức đó chỉ được coi làmột tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Câu 28: Tuổi chịu TNHS là tiền đề để xác định lỗi của người thực hiện hành vi

nguy hiểm cho xã hội

ĐÚNG Năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của con người không thể có ngay từ khi sinh ra mà được hình thành từng bước, tích lũy theo thời gian Do đó phải đạt độ tuổi nhất định con người mới có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, khi đó mới bị coi là có lỗi Vì vậy tuổi chịu TNHS là tiền

đề để xác định lỗi của chủ thể

Câu 29: Trong mọi trường hợp sai lầm về pháp luật, người thực hiện hành vi

không phải chịu trách nhiệm hình sự

SAI Vì người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trườnghợp người thực hiện hành vi lầm tưởng rằng hành vi mà họ thực hiện, luật hình sự quy định là tội phạm nhưng thực tế luật không quy định là tội phạm, trường hợp này không có trách nhiệm hình sự, luật không quy định hành vi nào đó là tội phạm thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

II PHẦN BÀI TẬP

Bài tập 1:

A trộm cắp tài sản của B trị giá 70 triệu đồng Hành vi của A cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Khoản 2 Điều 173 BLHS và bị tòa án tuyên phạt 2 năm tù giam Anh (chị) hãy xác định:

1.Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà A thực hiện là tội gì? Tại sao?

2 Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm ( CTTP) vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?

Trang 10

3 Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?

2 Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội

ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

3 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù"

Trong trường hợp này, do A phạm tội thuộc khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, bịTòa án tuyên phạt 02 năm tù giam tuy nhiên mức cao nhất của khung hình phạt theo khoản 2 là 7 năm tù, do đó loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội phạm nghiêm trọng

Câu 2: Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm ( CTTP) vật chất

hay CTTP hình thức? Tại sao?

Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức

Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm có duy nhất một yếu tố bắt buộc về mặt khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi nguy hiểm cho xã hội được hiểu là hành vi gây thiệt hại cho xã hội hoặc tạo ra khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Tội trộm cắp tài sản chưa cần phải gây ra hậu quả mà chỉ cần có hành vi là đã đủ để cấu thành tội phạm Do đó ở trong trường hợp này, tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức

Câu 3: Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng

hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?

Trang 11

Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản.

Căn cứ vào Điều 51, 52 của BLHS năm 2015 quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi của A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 173 BLHS năm

2015 tức là tội trộm cắp tài sản (tài sản trị giá 70 triệu đồng), không có bất cứ tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ nào nên hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp cấu thành tội phạm cơ bản

Bài tập 2:

A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông X Tội phạm và hình phạt về hành

vi phạm tội này được quy định tại Điều 174 BLHS

Anh (chị) hãy xác định:

1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của A thuộc loại tội phạm nào và tại sao nếu hành vi phạm tội đó thuộc trường hợp quy định tại:

Câu 1: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm

tội, hành vi phạm tội của A thuộc loại tội phạm nào và tại sao nếu hành vi phạm tội

đó thuộc trường hợp quy định tại:

a Khoản 1 Điều 174 BLHS: tội phạm ít nghiêm trọng Vì tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn

Trang 12

b Khoản 2 Điều 174 BLHS: tội phạm nghiêm trọng Vì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn.

c Khoản 3 Điều 174 BLHS: tội phạm rất nghiêm trọng Vì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn

d Khoản 4 Điều 174 BLHS: tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Vì tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn

Câu 2: Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được CTTP

phản ánh tội phạm thuộc loại CTTP nào và tại sao nếu hành vi phạm tội đó thuộc trường hợp quy định tại:

a Khoản 1 Điều 174 BLHS: CTTP cơ bản Vì, có dấu hiệu mô tả các trường hợp phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

b Khoản 2 Điều 174 BLHS: CTTP tăng nặng Vì bao gồm các dấu hiệu khác phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên đáng kể của hành vi lừa đảo chiếm đoạttài sản

c Khoản 3 Điều 174 BLHS:

- Điểm b CTTP tăng nặng Vì, quy định những dấu hiệu có mức độ nguy hiểm cho

xã hội tăng lên đáng kể

- Điểm a, c là CTTP cơ bản Vì mô tả các trường hợp phạm tội khác nhau của mức phạt từ 7 đến 15 năm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phân biệt với các tội khác

d Khoản 4 Điều 174 BLHS:

- Điểm b khoản 4 có CTTP tăng nặng Vì quy định những dấu hiệu phản ánh mức

độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên đáng kể

- Điểm a, c khoản 4 quy định CTTP cơ bản Vì chúng mô tả các trường hợp phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân và phân biệt với các tội phạm khác

Câu 3: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm có CTTP vật chất hay CTTP

hình thức? Tại sao?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm có CTTP vật chất Vì:

- Về hành vi: Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng…

- Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)

Bài tập 3:

Trang 13

Dựa vào cấu trúc của mặt khách quan và quy định của BLHS về tội phạm cụ thể, hãy xác định các tội phạm sau đây thuộc loại CTTP nào:

1 Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 132 BLHS)

2 Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS)

3 Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS)

4 Tội đua xe trái phép (Điều 266 BLHS)

Câu 1: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính

mạng (Điều 132 BLHS)

- Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở chổ người phạm tội trực tiếp thấy người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Người phạm tội có điều kiện cứu giúp Điều kiện của người cứu giúp được đánh giá qua nhiều cơ sở khác nhau như năng lực chủ quan, điều kiện khách quan cụ thể Tội phạm được thực hiện bằng không hành động Không cứu giúp là trường hợp người phạm tội thấy người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, có điều kiện cứu giúp nhưng đã

bỏ mặc, lờ đi nên nạn nhân bị chết Ví dụ, người biết bơi, người lái đò khi thấy người sắp chết đuối kêu cứu nhưng bỏ mặc Tình trạng nguy hiểm đến tính mạng làngười đang gặp rủi ro hoặc gặp tai nạn, đang bị đe dọa trực tiếp đến sự sống, nếu không kịp thời cứu chữa thì sẽ bị chết Tình trạng nguy hiểm đến tính mạng có thể

do khách quan đưa lại, do chính nạn nhân gây ra hoặc do người khác vô ý gây ra Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm, đồng thời xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi không cứu giúp và hậu quả chết người

Câu 2: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS)

- Mặt khách quan, đây là hành vi giao cấu có sự đồng ý, chấp nhận của nạn nhân mặc dù người phạm tội không có bất kỳ thủ đoạn nào để ép buộc, khống chế nạn nhân Để thực hiện được mục đích giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác trong tội này, người thực hiện tội phạm có thể đạt được mục đích thông qua nhiều trường hợp, nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng chung nhất là không có việc sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, lợi dụng tình trạng không chống cự được của nạn nhân như ở các tội hiếp dâm, cưỡng dâm Hành vi của tội

Trang 14

này phải được thực hiện một cách đồng thuận, mà nhiều trường hợp chính người thực hiện hành vi phạm tội Trường hợp chủ thể dùng tiền hoặc tài sản trao đổi lấy việc giao cấu thuận tình với nạn nhân thì không cấu thành tội này Việc trừng trị hành vi giao cấu thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi bằng luật hình sự của Nhà nước ta cũng chủ yếu nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường về mặt tình dục đối với người chưa đủ 16 tuổi Hành vi phạm tội trên về nguyên tắc đã xâm phạm tình dục cũng như sự phát triển của người từ 13 đến dưới 16 tuổi Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dụckhác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là tội cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác với nạn nhân là người từ 13 đến dưới 16 tuổi thì đã cấu thành tội phạm này Mục đích cuối cùng là thỏa mãn nhu cầu tình dục dù có thuận theo ý muốn đối với nạn nhân nhưng không phù hợp với lứa tuổi và sự non nớt về nhận thức của nạn nhân nên cầu phải bị xử lý hình sự.

Câu 3: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS).

- Mặt khách quan: + Hành vi dùng vũ lực: Là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, dùng sức mạnh vật chất tác động vào cơ thể của nạn nhân là con người (như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém,…) để chiếm đoạt tài sản Hành vi này có thểkhiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc tử vong, nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể

+ Hành vi đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc: Là hành vi dùng lời nói hoặc hànhđộng nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì hành động vũ lực sẽ đượcthực hiện ngay (như dí dao vào cổ đe dọa người bị giao nộp tài sản nếu không sẽ bịđâm)

Lưu ý: Đe dọa dùng vũ lực là chưa dùng vũ lực, nếu người phạm tội vừa đe dọa, vừa sử dụng vũ lực với người bị hại thì vẫn bị coi là dùng vũ lực

+ Hành vi làm người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được: Là hành vi không dùng vũ lực, không đe dọa sử dụng vũ lực nhưng làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được ( như đánh thuốc mê người

bị hại, khiến người bị hại không thể chống cự được và sau đó cướp tài sản)

Câu 4:Tội đua xe trái phép (Điều 266 BLHS).

- Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi đua xe Người đua xe trái phép

có thể thực hiện một trong các hành vi như: chuẩn bị phương tiện (xe đua) và những điều kiện cần thiết cho cuộc đua, đến nơi tập trung đua, điều khiển xe tham

Trang 15

gia cuộc đua Trong các hành vi trên thì hành vi điều khiển xe tham gia cuộc đua làhành vi quan trọng nhất, nó là điểm bắt đầu và cũng là điểm kết thúc cho một quá trình thực hiện việc đua xe trái phép Tội phạm hoàn thành từ khi người phạm tội bắt đầu điều khiển xe tham gia cuộc đua Nếu người phạm tội đã chuẩn bị phương tiện và những điều kiện cần thiết đang trên đường đến điểm tập trung đua xe bị phát hiện và bị bắt giữ thì chưa cấu thành tội đua xe trái phép mà tùy trường hợp người phạm tội sẽ bị xử phạt hành chính hoặc trên đường đến nơi tập trung người phạm tội cũng lạng lách (đánh võng) trên đường thì có thể bị xử lý vì hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Tuy nhiên, nếu trên đường đến nơi tập trung đua, những người tham gia cuộc đua lại thực hiện mộtcuộc đua “mi ni” thì hành vi của những người bị coi là hành vi đua xe trái phép, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác thì họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đua xe trái phép.

Cũng coi là có hành vi đua xe trái phép nếu lúc đầu người phạm tội chưa có ý định tham gia cuộc đua nhưng khi đoàn đua đi qua đã tự nguyện tham gia vào cuộc đua trên đường đua Loại hành vi này thường xảy ra ở nhiều cuộc đua trong thời gian vừa qua và cũng là đặc điểm của các cuộc đua xe trái phép ở nước ta

Người tham gia đua xe trái phép có thể được tổ chức từ trước, nhưng cũng có thể không được tổ chức mà cuộc đua có thể được hình thành trong quá trình tham gia giao thông giữa những người điều khiển xe

Chỉ người điều khiển xe tham gia cuộc đua mới là người thực hiện hành vi đua xe, còn người ngồi sau xe đua (nếu có) chỉ là người cổ vũ, họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đua xe trái phép mà tùy trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng

Bài tập 4

A mời hai người bạn là B và C đi nhậu tại quán của ông Y hết 2.300.000 đồng A chỉ có một triệu đồng và chủ quán đồng ý cho trả số tiền còn lại vào ngày sau B thấy vậy sợ chủ quán không tin nên tháo chiếc đồng hồ đeo tay trị giá 6 triệu đồng đưa cho chủ quán để làm tin A cảm thấy bị xúc phạm nên liền rút một trai lựu đạn (không có thuốc nổ bên trong) đặt mạnh trên bàn và la lên “Đứa nào dám không tin?” Hành động của A làm cho thực khách hoảng sợ và bỏ chạy Kết quả quán bị thiệt hại hơn 10 triệu đồng do không thể thanh toán được với khác hàng đã bỏ chạy

Ngày đăng: 28/07/2023, 13:11

w