1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CHƯƠNG I LUẬT NGÂN HÀNG và THẢO LUẬN PHẦN TÌNH HUỐNG

18 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 71,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOMai TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Môn LUẬT NGÂN HÀNG Nhóm 4 Lớp TM42A2 BÀI TẬP THẢO LUẬN CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG Danh Tình huống 1: Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tây Dương được ngân hàng cấp phép thành lập và hoạt động năm 2005. Tới đầu năm 2013, Ngân hàng có vốn điều lệ là 5.000 tỷ đồng. Trong năm 2013, Ngân hàng Đại Tây Dương có một số hoạt động sau: Tình huống 2: Năm 1999, công ty TNHH Một Thành Viên Tài Chính Prudential Việt Nam (“Prudential”) chính thức được thành lập và hoạt động theo đúng quy định pháp luật hiện hành, với số vốn đầu tư 15 triệu USD. Trong năm 2018, Prudential đã tiến hành một số hoạt động như sau:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Danh sách thành viên:

Nguyễn Thị Bích Hồng 1753801011066

Nguyễn Mai Lan Hương 1753801011069

Lê Thị Bích Loan 1753801011107 Nguyễn Thị Thu Mai 1753801011113

ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Mai

Môn: LUẬT NGÂN HÀNG

Nhóm: 4

BÀI TẬP THẢO LUẬN CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG VÀ

PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG

Ngày 05 /03 /2020

Trang 2

LỚP TM42A2 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 3 năm 2020

BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM

Thành phần: Thành viên nhóm 4

1 Nguyễn Thị Bích Hồng 1753801011066

2 Nguyễn Mai Lan Hương 1753801011069

3 Huỳnh Ngọc Loan 1753801011106

4 Lê Thị Bích Loan 1753801011107

5 Nguyễn Thị Thu Mai 1753801011113

6 Nguyễn Văn Minh 1753801011115

7 Nguyễn Thị Mỹ Mỹ 1753801011121

Nội dung làm việc: Thảo luận bài thảo luận chương I của môn Luật Ngân

hàng

Hạn chót nộp bài: 23g59 thứ ba ngày 03/3/2020

Các thành viên nộp bài cho bạn Bích Hồng qua email hoặc tin nhắn trên Group Facebook và bạn Bích Hồng tổng hợp Ngày 04/3/2020 bạn Bích Hồng sẽ gửi bài hoàn chỉnh lên Group cho các bạn đọc trước 20h00 ngày 04/3/2020 thảo luận nhóm để các bạn trình bày ý kiến và nêu thắc mắc về phần bài làm của nhóm Ngày 05/3/2020 Nhóm trưởng gửi bài hoàn chỉnh lần cuối lên Group cho các bạn

1 Nguyễn Thị Bích Hồng Câu 5 Tự luận

2 Nguyễn Mai Lan Hương Câu 6 Tự luận

3 Huỳnh Ngọc Loan Câu 6 Tự luận, Câu 2 Nhận định

4 Lê Thị Bích Loan Câu 3 Nhận định

5 Nguyễn Thị Thu Mai Câu 5 Nhận định

6 Nguyễn Văn Minh Tình huống 4

7 Nguyễn Thị Mỹ Mỹ Tình huống 4

Trang 3

Đánh giá kết quả làm việc

Họ tên Tham gia

nhiệt tình

Chất lượng bài Nộp bài Ghi chú Ký tên

Nguyễn Thị Bích Hồng A A Đúng hạn Đã ký

Nguyễn Mai Lan Hương A A Đúng hạn Đã ký

Huỳnh Ngọc Loan A A Đúng hạn Đã ký

Lê Thị Bích Loan A A Đúng hạn Đã ký

Nguyễn Thị Thu Mai A A Đúng hạn Đã ký

Nguyễn Văn Minh A A Đúng hạn Đã ký

Nguyễn Thị Mỹ Mỹ A A Đúng hạn Đã ký

Nhóm trưởng

(Đã ký)

Nguyễn Thị Bích Hồng

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG

CÂU HỎI TỰ LUẬN

4. So sánh sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác

Phân biệt hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác

Khái niệm Hoạt động Ngân hàng là hoạt

động kinh doanh tiền tệ và dịch

vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi,

và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch

vụ thanh toán

Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất Hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh như công ty, doanh nghiệp nhưng cũng có thể là hoạt động

tự thân của các cá nhân

Đối tượng Tiền tệ hoặc là dịch vụ Ngân

Nội dung Bao gồm các hoạt động tín

dụng như nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng có dịch vụ thanh toán nhằm thực hiện các hoạt động nghiệp vụ để sinh lợi nhuận và ổn định lưu thông tiền

tệ trong thị trường

Các hoạt động gồm mua bán, trao đổi hàng hóa, các hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch

vụ nhằm mục đích sinh lợi nhuận là chủ yếu

Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức hoạt động ngân

hàng rất chặt chẽ, được quy định theo luật Ngân hàng và những người trong ngành cần

có chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo bài bản

Có thể có hoặc không tổ chức theo một bộ máy, các mô hình kinh doanh thì rất đa dạng có thể là hộ kinh doanh, thành lập các công ty, doanh nghiệp

Chủ thể thực Hoạt động ngân hàng phải là Không bắt buộc phải là ngân

Trang 5

hiện các ngân hàng, hoặc các tổ

chức tín dụng, được nhà nước cho phép hoạt động

hàng hoặc các tổ chức tín dụng,

có thể là các chủ thể thực hiện khác như các nhân, công ty, hộ gia đình

5. Có quan điểm cho rằng: “Khái niệm hoạt động ngân hàng hiện nay còn quá

hẹp, gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh của mình thì phải xin phép NHNN” Anh (chị) có nhận xét gì về ý

kiến này.

Theo khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung bởi Luật

số 17/2017/QH14

“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”.

Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

“Vị trí và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2 Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.

3 Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.

Và theo khoản 9 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước VN

“Điều 4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước

9 Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng”

Bởi vậy các tổ chức tín dụng khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh của mình thì phải xin phép NHNN Có quy định như vậy bởi Nhà nước ta muốn có một quy chế quản lý chặt chẽ về phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu các chính sách liên

Trang 6

quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam như: phát hành tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất, quản lý dự trữ ngoại tệ, soạn thảo các dự thảo luật về kinh doanh ngân hàng và các tổ chức tín dụng, xem xét việc thành lập các ngân hàng và tổ chức tín dụng, quản lý các ngân hàng thương mại nhà nước mà cơ quan chiụ trách nhiệm là Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ø Nhận xét gì về ý kiến này

Thứ nhất, hoạt động ngân hàng không dễ để định nghĩa một cách chính

xác

Các học giả có uy tín trên thế giới đều có chung quan điểm, định nghĩa hoạt động ngân hàng là một việc khó khăn Do xã hội ngày càng phát triễn, hoạt động ngân hàng ngày một đa dạng để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế Chính vì vậy, nước mình cũng như nhiều nước trên giới không khái niệm bằng cách miêu tả nó mà liệt kê các hoạt động được coi là hoạt động ngân hàng

“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

Thứ hai, hoạt động ngân hàng có những đặc trưng mà hoạt động kinh doanh thông thường không có

Những đặc trưng này không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới:

+ Có bản chất dịch vụ kinh doanh liên quan trực tiếp đến tiền tệ Tiền tệ được hiểu là

tiền Việt Nam, ngoại tệ và các hình thức khác Hoạt động ngân hàng chịu nhiều ảnh hưởng từ chính sách tiền tệ của quốc gia phát hành đồng tiền

+ Tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cao Chẳng hạn khả năng rút tiền hàng loạt từ người

gửi tiền vì pháp luật cho phép họ rút tiền bất cứ lúc nào, trong khi các tổ chức tín dụng không được đòi nợ mà không có lý do chính đáng, ngoài ra còn tỉ giá, lãi suất,…

+Đòi hỏi tính chuyên môn nghiệp vụ cao để hạn chế rủi ro, nâng cao khả năng giám

sát của bản thân các tổ chức tín dụng cũng như cơ quan quản lý nhà nước

Trang 7

+ Có tính hợp tác và tính quốc tế Hoạt động ngân hàng có tính dây chuyền để đáp

ứng nhu cầu thanh toán, chuyển khoản, các ngân hàng hợp tác để tìm kiếm lợi nhuận,

Thứ ba, tổ chức tín dụng muốn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam phải được cấp phép và chỉ được tiến hành các hoạt động ghi nhận trong giấy phép do NHNN cấp Điều này không phải gây khó khăn mà để đảm bảo Nhà nước quản lý

hiệu quả

Thứ tư, hoạt động kinh doanh ngân hàng là một hoạt động kinh doanh và là

cơ quan được Chính phủ giao cho nhiệm vụ cấp giấy phép hoạt động cho các tổ chức tín dụng (TCTD) Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia Hiệp định

Thương mại Việt - Mỹ và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì khác biệt trong việc cho phép hoạt động của các TCTD trong nước và TCTD nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dần dần mất đi, tạo ra một sân chơi bình đẳng Vì vậy, các điều kiện được thành lập và mở rộng hoạt động TCTD tại Việt Nam mà NHNN đưa ra đòi hỏi phải được mở rộng minh bạch, rõ ràng và không có sự phân biệt đối xử Cụ thể là,

tổ chức hoặc cá nhân nào đáp ứng được điều kiện mà NHNN đã đưa ra thì được cấp phép thành lập TCTD; trong quá trình hoạt động nếu vi phạm các quy định thì NHNN

có thể xem xét và áp dụng các chế tài cần thiết trong đó có việc rút giấy phép hoạt động

Thứ năm, quản lý hoạt động của các TCTD còn đòi hỏi NHNN ban hành khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các TCTD Bảo đảm tính thanh

khoản của hệ thống thông qua việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ; thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng NHNN còn phối hợp với các đơn vị khác (như là Bảo hiểm tiền gửi, Bộ Tài chính ) trong việc xử lý các tình huống TCTD gặp khó khăn và có nguy cơ phá sản, ảnh hưởng đến quyền lợi người gửi tiền và có thể dẫn đến biến động xã hội

Do đó, quan điểm trên là chưa chính xác, hoạt động ngân hàng phức tạp, khó

định nghĩa Nếu định nghĩa theo kiểu bản chất có thể dẫn đến tình trạng lách luật, các

tổ chức tín dụng chỉ cần kinh doanh trừ những điều pháp luật cấm, Nhà nước không thể quản lý Bên cạnh đó, liên quan tiền tệ sẽ ảnh hưởng nền kinh tế nên nhất thiết các

tổ chức tín dụng phải xin phép để hoạt động kinh doanh

Qua đây ta có thể thấy để bắt kịp thời đại và xu hướng kinh kế của thế giới Việt Nam ta cần mở rộng khái niệm hoạt động ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh của mình thì không nhất thiết phải xin phép NHNN nếu đáp ứng được các điều kiện mở rộng kinh doanh, do Chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam đưa ra

Trang 8

CÂU NHẬN ĐỊNH

1. Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng, trong đó các ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh.

Nhận định: Sai

Hệ thống ngân hàng hai cấp, các ngân hàng không thể vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh Trong đó, Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò là Ngân hàng Trung ương và cơ quan quản lý nhà nước Chỉ Ngân hàng Trung ương mới có chức năng phát hành tiền còn các ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động kinh doanh

2. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện.

Nhận định: Đúng

Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính rủi ro cao, có thể đến từ người gửi khi người thanh toán dịch vụ đặt ra ra để điều kiện để đảm bảo hoạt động của ngân hàng

Ví dụ: Điều kiện về vốn, người lãnh đạo điều hành,

CSPL: Luật các tổ chức tín dụng Điều 20

3. Nguồn của luật ngân hàng là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành.

Nhận định: Sai

Nguồn của Luật ngân hàng gồm: Hiến pháp, luật, bộ luật, điều ước quốc tế, các văn bản dưới luật, tập quán quốc tế, thông lệ quốc tế Vậy nên nguồn của luật ngân hàng không chỉ là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành mà còn còn

có các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và thông lệ quốc tế

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG

Công ty A (được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc) muốn cung cấp một dịch vụ thanh toán tiêu dùng ưu việt bằng cách mở tài khoản cho toàn thể nhân viên của Công ty A, sau đó Công ty A sẽ cấp cho mỗi nhân viên 1 thẻ thanh toán Với thẻ thanh toán này, người lao động được quyền mua hàng hóa, dịch vụ ở bất

cứ nơi đâu có liên kết với Công ty A với số tiền thanh toán vượt gấp 3 lần lương

Trang 9

cơ bản hằng tháng của chủ tài khoản Giá trị thanh toán vượt đó được tính theo lãi suất cơ bản do NHNNVN công bố.

Mục đích của Công ty A là không mong muốn thành lập ngân hàng ở Việt Nam vì những điều kiện pháp lý (như: vốn, người điều hành…) Hơn nữa, A không có ý định tham gia vào toàn bộ các hoạt động như một ngân hàng tại Việt Nam.

Hỏi:

Nếu là luật sư tư vấn cho Công ty A, anh (chị) sẽ tư vấn cho khách hàng của mình như thế nào?

Trả lời:

Chúng tôi xin phép được tư vấn cho Công ty A như sau:

Công ty A là công ty được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc nên mang quốc tịch Hàn Quốc theo theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015

Công ty A có phải tổ chức tín dụng?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng 2010: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.”

Hoạt động mà công ty A định thực hiện: cung cấp dịch vụ thanh toán bằng cách

mở tài khoản thanh toán cho toàn bộ nhân viên công ty, sau đó Công ty sẽ cấp cho nhân viên thẻ thanh toán và được thanh toán gấp 3 lần lương cơ bản của chủ tài khoản Căn cứ theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng 2010, thì hoạt động ngân hàng có nghĩa là:

“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

Theo đó cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy

Trang 10

nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng

thông qua tài khoản của khách hàng (khoản 15 Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng 2010)

Hoạt động của Công ty A là cung ứng dịch vụ thanh toán cho toàn thể nhân viên công

ty, có nghĩa là công ty A đã thực hiện việc cung ứng thường xuyên nghiệp vụ cung ứng dịch vụ thành toán qua tài khoản Điều đó cho thấy hoạt động của Công ty A là hoạt động ngân hàng

Do Công ty A không muốn thành lập ngân hàng tại Việt Nam cũng như tham gia vào toàn bộ hoạt động như một ngân hàng tại Việt Nam nên xem xét quy định của pháp luật, Công ty A có thể sẽ không thực hiện được hoạt động trên Bởi lẽ, hoạt động

mà Công ty muốn thực hiện chỉ có thể thực hiện bằng hình thức là ngân hàng, các hình thức khác của tổ chức tín dụng đều không được thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Điểm lưu ý ở đây là khi công ty có ý định cho phép thanh toán vượt gấp 3 lần lương cơ bản hằng tháng của chủ tài khoản, điều này có hợp lý hay không?

Theo như ý định của công ty, thẻ thanh toán này là thẻ ghi nợ Thẻ ghi nợ là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu

có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ (Thông tư số 19/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng) Từ quy định, ý định của

công ty là hợp lý

Trang 11

THẢO LUẬN MÔN LUẬT NGÂN HÀNG PHẦN TÌNH HUỐNG

Tình huống 1: Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tây Dương được ngân hàng cấp phép thành lập và hoạt động năm 2005 Tới đầu năm 2013, Ngân hàng có vốn điều lệ là 5.000 tỷ đồng Trong năm 2013, Ngân hàng Đại Tây Dương có một số hoạt động sau:

a. Phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn 6 tháng với số tiền huy động lên đến 20 tỷ đồng.

Đây là hoạt động đúng vì Luật cho phép Ngân hàng thương mại được phát hành chứng chỉ tiền gửi Đây là hình thức nhằm huy động vốn của ngân hàng theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thoả thuận Chứng chỉ tiền gửi là một loại giấy tờ có giá có kỳ hạn ngắn hạn hoặc dài hạn

CSPL: Khoản 13 Điều 4, Khoản 2 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010

b. Ký hợp đồng cho thuê tài chính với công ty vận tải Đại An để cho công ty Đại An thuê 10 xe vận tải 50 chỗ theo chỉ định của công ty Đại An trong thời hạn 10 năm.

Đây là hoạt động sai vì Ngân hàng thương mại không được phép trực tiếp cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính, mà muốn làm được điều đó thì ngân hàng Đại Tây Dương phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết thì mới có thể thực hiện ký hợp đồng cho thuê tài chính với công ty vận tải Đại An

CSPL: khoản 2 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng 2010

c. Sử dụng 20 tỷ trong phần vốn huy động từ hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm để thành lập công ty An Tín nhằm kinh doanh trong lĩnh vực in ấn các loại giấy tờ.

Hoạt động này của ngân hàng Đại Dương là sai

Vì theo khoản 1 Điều 103 Luật Các Tổ Chức tín dụng 2010 sửa đổi, bổ sung

năm 2017 thì “ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ

để góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 6 Điều này”.

Mà tại khoản 3 lại quy định “ Ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác

tài sản, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng”.

Ngày đăng: 23/09/2022, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w