1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luật ngân hàng chương 3

32 207 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật Ngân Hàng Chương 3
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Luật Ngân Hàng
Thể loại Bài luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 57,39 KB
File đính kèm LUẬT NGÂN HÀNG CHƯƠNG 3.rar (657 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 3 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1 Tại sao TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh theo nhóm em, TCTD không tồn tại dưới hình.

Trang 1

CHƯƠNG 3

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1 Tại sao TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh

theo nhóm em, TCTD không tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, vì bản chất doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, đồng thời cũng là loại hình doanh nghiệp mà chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình mà ngân hàng

là nơi có rất nhiều giao dịch liên quan tới tiền, và số tiền có thể coi là khổng lồ, nếu gặp sự cố hay rủi ro thì khó có thể đảm bảo được việc khắc phục

TCTD không tồn tại dứoi hình thức công ty hợp danh, vì công ty hợp danh tuy có tư cách pháp nhân, nhưng thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, đồng thời công ty hợp danh cũng không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào

=> vì vậy, TCTD không tồn tại được dứoi 2 hình thức trên

2 So sánh TCTD là ngân hàng và TCTD phi ngân hàng?

TCTD là ngân hàng TCTD phi ngân hàng

Khái niệm Ngân hàng là loại hình tổ chức

tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật

CTCTD Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.

(Khoản 2 Điều 4 Luật CTCTD 2010)

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín

dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.(Khoản 4 Điều 4 Luật CTCTD 2010)

Trang 2

Phạm vi

hoạt động Được phép thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng. Được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng nhưng

không được nhận tiền gửi của

cá nhân và không được cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

tiền gửi Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài được nhận tiền

gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi trừ Ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi

CCPL: Điều 6 Luật bảo hiểm tiềngửi 2012

Không tham bảo hiểm tiền gửi

Hạn mức

cấp tín

dụng

Cấp độ 1 Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô; tổng mức dư

nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có

CCPL: Khoản 1 Điều 128 LCTCTD 2010

Cấp độ 1 Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng; tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng

và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

CCPL: khoản 2 Điều 128 LCTCTD 2010

3 Tại sao TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng?

Căn cứ theo khoản 4, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng

Trang 3

nhưng không được nhận tiền gửi của cá nhân và không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, để hạn chế rủi ro và khả năng chịu trách nhiệm khi có rủi ro xảy ra.Vì

TCTD là doanh nghiệp, mục tiêu hàng đầu là vì lợi nhuận, đối tượng kinh doanh là tiền và các dịch vụ liên quan đến tiền

Thứ hai, có quy định như vậy nhằm đa dạng hóa loại hình kinh doanh của ngân hàng,

khuyến khích kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội bởi vì mỗi loại hình ngân hàng khác nhau sẽ có những điều kiện cụ thể riêng biệt Quy định này tạo cơ hội để mọi chủ thể đều được quyền kinh doanh hoạt động phi ngân hàng khi đáp ứng các điều kiện theo pháp luật Nếu pháp luật chỉ quy định một loại hình là ngân hàng thì bắt buộc vốn pháp định (chứng minh khả năng chịu trách nhiệm khi có rủi ro xảy ra) của ngân hàng là rất lớn vì ngân hàng được phép thực hiện tất cả các hoạt động nên yêu cầu nó phải có khả năng tài chính cao, từ đó dẫn đến việc khó có nhiều tổ chức tíndụng được thành lập

Thứ ba, một trong những mục đích của tổ chức tín dụng là giúp Nhà nước xoay vòng

vốn trong nền kinh tế từ đó phục vụ nền kinh tế, giúp ổn định giá trị đồng tiền, tăng trưởng nền kinh tế, phục vụ mục đích vĩ mô của nền kinh tế Vì vậy, nếu chỉ quy định một loại hình là ngân hàng thì rất hạn chế vì không phải chủ thể nào cũng đủ điều kiện để thành lập ngân hàng, quy định này khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật.Thứ tư, khi TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân mặc dù tiền gửi của cá nhân chiếm phần lớn trong lợi nhuận của các TCTD, tức TCTD phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của cá nhân Điều này đồng nghĩa TCTD phi ngân hàng cũng không được mở tài khoản cho cá nhân (không cung ứng dịch vụ qua tài khoản)

4 So sánh biện pháp kiểm soát đặc biệt áp dụng đối với các TCTD và hoạt động của hội nghị chủ nợ trong pháp luật phá sản?

Kiểm soát đặc biệt áp dụng đối với các TCTD Hoạt động của hội nghị chủ nợ trong pháp luật phá sản Khái

niệm Biện pháp kiểm soát đặc

biệt áp dụng đối với các TCTD là việc đặt một tổ chức tín dụng dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Mục 1

Chương VIII của Luật này Và tại khoản 1 Điều

145 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 sđ, bs 2017 có

Cuộc họp của các chủ nợ do Thẩm phán triệu tập và chủ trì để thảo luận và quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết yêu cầu tuyên

bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Trang 4

quy định về các trường hợp đặt tổ chức tín dụng vào kiểm soát đặc biệt.

“a) Mất, có nguy cơ mất khả

năng chi trả hoặc mất, có nguy

cơ mất khả năng thanh toán theo

quy định của Ngân hàng Nhà

nước;

b) Số lỗ lũy kế của tổ chức tín

dụng lớn hơn 50% giá trị của vốn

điều lệ và các quỹ dự trữ ghi

trong báo cáo tài chính đã được

kiểm toán gần nhất;

c) Không duy trì được tỷ lệ an

toàn vốn quy định tại điểm b

khoản 1 Điều 130 của Luật này

trong thời gian 12 tháng liên tục

hoặc tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn

4% trong thời gian 06 tháng liên

tục;

d) Xếp hạng yếu kém trong 02

năm liên tục theo quy định của

Ngân hàng Nhà nước.

Thứ nhất, khoản nợ đến

hạn mà doanh nghiệp không thanh toán được là khoản nợ không có đảm bảo và khoản nợ có đảm bảo một phần Như vậy, nếu khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thanh toán được là khoản nợ có đảm bảo thì đây không được coi là dấu hiệu của việc doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

– Thứ hai, mất khả năng

thanh toán không có nghĩa

là doanh nghiệp không còn tài sản để trả nợ mà mặc dù doanh nghiệp còn tài sản để trả nợ nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho chủ nợ không có đảm bảo và chủ nợ có đảm bảo một phần.

Trang 5

– Thứ ba, pháp luật hiện

hành không quy định một mức khoản nợ cụ thể nào để xác định là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán Do đó, không thể căn cứ vào khoản nợ ít hay nhiều để xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán mà căn cứ vào thời điểm trả nợ đã được các bên thỏa thuận trước đó Cụ thể

là trong thời hạn 03 tháng

kể từ ngày đến hạn thanh toán.

– Thứ tư, khoản nợ được

coi là mất khả năng thanh toán là khoản nợ mà chủ doanh nghiệp tạo ra từ hoạt động kinh doanh hợp pháp của mình.

Như vậy, doanh nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán khi doanh nghiệp đó không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đến hạn (khoản nợ không có

Trang 6

bảo đảm và khoản nợ có bảo đảm một phần) trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán Chỉ khi doanh nghiệp có đầy đủ các dấu hiệu này thì Tòa án mới ra quyết định

mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Hình

thức Có hai hình thức (căn cứ vào thông tư 11/2019/TT-NHNN quy

định về kiểm soát đặc biệt đối

xa, kiểm tra tại chỗ của Ban kiểm soát đặc biệt đối với hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát

đặc biệt Nếu mức giám sát này có nguy cơ về

mất vốn hay là hệ quả

xấu ảnh hưởng đến khả

năng chi trả hoặc khả

năng thanh toán của ngân hàng thì sẽ chuyển sang kiểm soát toàn diện.

Chịu sự kiểm tra, giám sát của Thẩm phán, quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản

lý, thanh lý tài sản:

- thay đổi người đại diện theo pháp luật của DN, HTX: khoản

2 Điều 16, khoản 2 Điều 47 LPS.

- Giám sát các giao dịch bị cấm: Điều 48 LPS.

- Quyết định cho/không cho phép DN, HTX thực hiện các giao dịch bị hạn chế: Điều

49 LPS.

Trang 7

- Kiểm soát toàn diện là việc đặt tổ chức tín dụng dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước thông qua hoạt động chỉ đạo, kiểm soát trực tiếp tại chỗ của Ban kiểm soát đặc biệt đối với hoạt động hằng ngày của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.

Hoạt

động cụ

thể

Ban kiểm soát đặc biệt sẽ đánh

giá được các vấn đề rủi ro tiềm

ẩn trong ngân hàng khi ngân

hàng trước đây đã có các hành

động như là đầu tư hoặc là các

hoạt động huy động vốn vi phạm

có ba hình thức chủ nợ, gồm: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ

có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm

về kiểm soát đặc biệt đối với tổ

Thời hạn Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ là 20 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm kê tài sản trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc sau việc lập danh sách chủ nợ hoặc kể từ ngày kết thúc việc lập danh sách chủ nợ trong trường

Trang 8

chức tín dụng và Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh) xem xét, quyết định các nội dung sau đây đối với tổ chức tín dụng là quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở chính trên địa bàn theo quy định tại khoản

2 Điều 6 Thông tư NHNN.

11/2019/TT-hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc trước việc lập danh sách chủ nợ, trừ trường hợp không phải tổ chức Hội nghị chủ nợ theo quy định tại Điều 105 của Luật này.

Mục đích -Nhằm hỗ trợ về mặt kỹ thuật

những nhân sự tốt của ngân hàng

khác thông thường từ những

ngân hàng quy mô tài sản cũng

như là thời gian ở trên thị trường

lâu sẽ tham gia vào công việc

điều hành của ngân hàng.

-Hỗ trợ thanh khoản

Một là nhằm bảo đảm cho việc giải quyết một cách bình đẳng lợi ích kinh tế của các chủ nợ của doanh

nghiệp.

– Hai là tạo cho doanh nghiệp thêm một cơ hội để

có thể phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh nếu còn khả năng có thể phục hồi được.

- Sáp nhập vào ngân hàng lớn hơn.

- Trở thành ngân hàng 0 đồng và bị Ngân hàng nhà nước mua lại.

+ Đình chỉ thủ tục phá sản: doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán;

+ Tiến hành thủ tục phục

Trang 9

+ Tuyên bố phá sản dựa trên một trong các căn cứ:

● Hội nghị chủ nợ không thành công sau

02 lần triệu tập;

● Khi có nghị quyết của Hội nghị chủ nợ;

● Có nghị quyết cho phép áp dụng thủ tục phục hồi nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không thể phục hồi.

5 So sánh bảo hiểm tiền gửi và dự trữ bắt buộc tại NHNNVN?

Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được

bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản

(khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012)

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ

chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chínhsách tiền tệ quốc gia (Điều 14 Luật Ngân hàng NNVN)

Cơ sở pháp lý Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam

Nội dung Là loại hình bảo hiểm phi thương mại.

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì

BHTG sẽ có trách nhiệm thay tổ

Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng

Trang 10

chức tín dụng hay tổ chức khác có hoạt động ngân hàng trả các khoảntiền gửi được bảo hiểm của cá nhân gửi ở tổ chức tín dụng hay ở

tổ chức khác có hoạt động ngân hàng tham gia BHTG

loại tiền gửi tại tổ chứctín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Ngân hàng Nhà nước quy định việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của từng loại hình tổ chức tín dụng đối với từng loại tiền gửi

Đối tượng

tham gia

1 Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi củacá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

2 Ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi

(Điều 6 Luật BHTG 2012)

Tổ chức tín dụng

NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI

1 Mọi TCTD đều hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.

Ngân hàng chinh sách k vi mục tiêu lợi nhuận

Nhận định: SAI

CSPL: Khoản 1 Điều 17 LCTCTD 2010

Vì: Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Trong đó thì ngân hàng chính sách (thuộc nhóm ngân hàng) là do Chính phủ thành lập ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế -

xã hội của Nhà nước Vì vậy, nhận định trên là SAI

2 Tổ chức tín dụng nước ngoài muốn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam thì chỉ được thành lập dưới hình thức duy nhất là chi nhánh của ngân hàng nước ngoài.

Trang 11

Nhận định: SAI.

CSPL: Khoản 8 Điều 4 Luật CTCTD 2010

Vì: Ngoài hình thức là chi nhánh thì tổ chức tín dụng nước ngoài nếu muốn hoạt động tại Việt Nam thì theo Khoản 8 Điều 4 Luật CTCTD 2010 thì tổ chức tín dụng nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài.

3 Tổ chức tín dụng không được thành lập dưới hình thức hợp tác xã.

- sai

- - vì theo K1 Điều 4 Luật tổ chứcc tín dụng 2010, thì tổ chức tín dụng bao gồm

cả quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng, mà theo K6 Điều 4, thì Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập theo hình thức hợp tác xã, nên tổ chức tín dụng cũng

có thể thành lập dứoi hình thức hợp tác xã

4 Cá nhân có thể nắm giữ 20% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại cổ phần.

Nhận định: SAI

CSPL: Khoản 1 Điều 55 Luật CTCTD 2010

Vì: căn cứ theo Khoản 1 Điều 55 Luật CTCTD 2010 quy định về tỷ lệ sở hữu

cổ phần như sau: “1 Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng” Do đó, cho thấy rằng cá nhân không thể nắm giữ 20% vốn điều lệ của ngân hàng TMCP.

5 Chủ tịch HĐQT của TCTD này có thể tham gia điều hành TCTD khác.

- ĐÚNG

vì theo Điều 34 LCTCTD 2010, mặc dù CT HĐQT của tổ chức tín dụng không được đồng thời là người điều hành của tổ chức tín dụng đó và của tổ chức tín dụng khác, nhưng trừ trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị của quỹ tín dụng nhân dân đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của ngân hàng hợp tác xã Chia 2 TH

Trang 12

6 Kiểm soát đặc biệt áp dụng đối với TCTD bị mất khả năng thanh toán.

Sai.

Vì theo điểm a khoản 1 Điều 145 Luật Các Tổ chức tín dụng 2017 có quy định:

“Mất, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc mất, có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.

Như vậy, kiểm soát đặc biệt còn được áp dụng đối với TCTD khi mất, có nguy

cơ mất khả năng chi trả.

 Đung, các TH bị kiểm soát đặc biệt nhiều hơn

7 Ban kiểm soát đặc biệt là cơ quan có thẩm quyền quyết định gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng.

Sai.

Vì theo điểm a khoản 2 Điều 145a Luật Các Tổ chức tín dụng 2017 thì ngân hàng nhà nước sẽ quy định các nội dung: “Hình thức kiểm soát đặc biệt, thời hạn kiểm soát đặc biệt, gia hạn thời hạn kiểm soát đặc biệt, chấm dứt kiểm soát đặc biệt, công bố thông tin về việc kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng”.

Như vậy, Ban kiểm soát đặc biệt chỉ có thẩm quyền kiến nghị ngân hàng nhà nước gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt theo quy định tại khoản 6 Điều 146b Luật Các tổ chức tín dụng 2017 còn thẩm quyền quyết định

về gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng

là của Ngân hàng nhà nước

Trang 13

Như vậy, ban kiểm soát đặc biệt chỉ có quyền kiến nghị NHNN về cho vay đặc biệt còn thẩm quyền cho vay đặc biệt vẫn thuộc về ngân hàng nhà nước theo quy định tại khoản 6 Điều 146a Luật Các tổ chức tín dụng 2017.

9 Chỉ có Thống đốc NHNNVN mới có quyền ra quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

Sai

Vì thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định các nội dung sau đây đối với tổ chức tín dụng không phải là quỹ tín dụng nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNN về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng và Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh) xem xét, quyết định các nội dung sau đây đối với tổ chức tín dụng là quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở chính trên địa bàn theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNN.

Như vậy, giám đốc Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng có thẩm quyền xem xét, quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng là quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở chính trên địa bàn.

2 Tổ chức tài chính vi mô phải tham gia bảo hiểm tiền gửi đối với tiền gửi của cá nhân bao gồm cả tiền gửi tự nguyện của khách hàng tài chính vi mô, trừ tiền gửi tiết kiệm bắt buộc theo quy định của tổ chức tài chính vi mô.

Trang 14

3 Ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi”.

Như vậy, các tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân bằng đồng Việt Nam.

Tổ chức TD phi ngân hàng k đc nhận tiền của cá nhân

11 Người gửi tiền phải là chủ thể đóng phí bảo hiểm tiền gửi

Nhận định SAI

CSPL: Điều 6 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 (sửa đổi, bổ sung bởi Điều 5 NĐ

68/2013/NĐ-CP)

Căn cứ theo Điều 6 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 (sửa đổi, bổ sung bởi Điều 5

NĐ68/2013/NĐ-CP): “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quyđịnh tại Điều 4 của Nghị định này phải tham gia bảo hiểm tiền gửi và niêm yết côngkhai bản sao Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở chính, chi nhánh vàcác điểm giao dịch có nhận tiền gửi của cá nhân.”

Theo đó, khi người gửi tiền là cá nhân thì cá nhân đó không phải đóng phí bảo

hiểmtiền gửi mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân phảiđóng phí bảo hiểm tiền gửi, trừ trường hợp là Ngân hàng chính sách thì không

phảiđóng phí bảo hiểm tiền gửi

TCTD nhận tiền gửi của cá nhân thì phải đóng

12 Người gửi tiền là thành viên HĐQT thì không được bảo hiểm theo chế độ bảo hiểm tiền gửi

Sai.

Vì căn cứ theo khoản 2 Điều 19 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 (sđ, bs năm 2019) quy định khi cá nhân là thành viên HĐQT, gửi tiền tại TCTD của cá nhân đó là thành viên HĐQT thì tiền gửi không được bảo hiểm Do đó, nếu cá nhân gửi tiền tại TCTD khác, không phải là TCTD mà cá nhân là thành viên HĐQT thì vẫn được bảo hiểm tiền gửi theo chế độ bảo hiểm tiền gửi

13 Mọi loại tiền gửi của cá nhân đều được bảo hiểm tiền gửi

Trang 15

Như vậy, không phải mọi loại tiền gửi của cá nhân đều được bảo hiểm tiền gửi.

14 Bảo hiểm tiền gửi chỉ áp dụng cho TCTD có nhận tiền gửi

Sai.

Vì theo khoản 3 Điều 4 Luật Bảo hiểm năm 2012 (sđ, bs năm 2019) quy định ngoài TCTD thì bảo hiểm tiền gửi còn được áp dụng cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo LCTCTD 2010 (sđ, bs năm 2017).

 Nhận tiền gửi của cá nhân bằng đồng VN

15 Mọi TCTD đều được nhận tiền gửi không kỳ hạn của các cá nhân, hộ gia đình

hộ gia đình Còn tổ chức tín dụng phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính

và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác) thì không được phép nhận tiền gửi không kỳ hạncủa cá nhân, hộ gia đình

 Vì

16 Mọi TCTD đều được quyền kinh doanh ngoại tệ

Trang 16

Nhận định SAI.

CSPL: điểm a Khoản 1 Điều 105, khoản 4 Điều 116 và khoản 5 Điều 111 Luật Các TCTD

2010, sđbs 2017;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 105 Luật Các TCTD 2010: “ngân hàng thương mại

được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối cho khách hàng ở trong nước và

ngoài nước sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.”

Căn cứ vào khoản 4 Điều 116 Luật TCTD: “Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và

ủy thác cho thuê tài chính theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.”

Căn cứ khoản 5 Điều 111 Luật Các TCTD 2010, công ty tài chính được phép: “kinh

doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.”

Vì vậy, không phải mọi TCTD đều được phép kinh doanh ngoại tệ mà chỉ có ngân

hàng thương mại, công ty tài chính được phép kinh doanh ngoại tệ theo quy định

của pháp luật

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG

Phần 1: Hoạt động của ngân hàng thương mại

Tình huống 1

Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tây Dương được ngân hàng cấp phép thành lập và hoạt động năm 2005 Tới đầu năm 2013, Ngân hàng có vốn điều lệ là 5.000 tỷ đồng Trong năm

2013, Ngân hàng Đại Tây Dương có một số hoạt động sau:

● Phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn 6 tháng với số tiền huy động lên đến 20 tỷ đồng

● Ký hợp đồng cho thuê tài chính với công ty vận tải Đại An để cho công ty Đại An thuê 10 xe vận tải 50 chỗ theo chỉ định của công ty Đại An trong thời hạn 10 năm

● Sử dụng 20 tỷ trong phần vốn huy động từ hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm để thành lập công ty An Tín nhằm kinh doanh trong lĩnh vực in ấn các loại giấy tờ

● Thành lập ttrung tâm môi giới bất động sản để thực hiện hoạt động mội giới bất động sản

Hỏi:

Theo anh (chị) các hoạt động trên của ngân hàng Đại Tây Dương là đúng hay sai? Tại sao?

Ngày đăng: 03/02/2023, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w