1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Luật biển so sánh thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật biển so sánh thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật biển
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 24,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH THỀM LỤC ĐỊA VÀ VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ ÔN THI LUẬT BIỂN VIỆT NAM VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ Điều 55 Công ước 1982: Vùng đặc quyền về kinh tế là là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh. Điều 15 Luật biển 2012: Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở. Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 1251977: “Vùng đặc quyền kinh tế nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.”

Trang 1

VÙNG ĐẶC QUYỀN

Khái niệm Điều 55 Công ước

1982: Vùng đặc quyền về

kinh tế là là một vùng nằm

ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý quy định trong phần này, theo

đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.

Điều 15 Luật biển

2012: Vùng đặc quyền

kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển

có chiều rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở

Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam

ngày 12/5/1977: “Vùng

đặc quyền kinh tế nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng

200 hải lí kể từ đường cơ

sở dùng để tính chiều rộng

Khoản 1, Điều 76 Công

ước 1982: “Thềm lục địa

của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần đất kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”

Điều 17 Luật biển

2012: Thềm lục địa là vùng

đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa

Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam

quy định: “Thềm lục địa

của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam

Trang 2

lãnh hải Việt Nam.” cho đến bờ ngoài của rìa

lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường

cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó.”

Nhận xét: Như vậy, vùng

đặc quyền kinh tế là một vùng biển:

− Nằm ngoài và tiếp liền

với lãnh hải

− Có chiều rộng không

quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

Vùng đặc quyền kinh tế

bao gồm cả vùng tiếp giáp lãnh hải

Nhận xét: Như vậy thềm

lục địa của quốc gia ven biển là:

− Phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ của quốc gia

− Nếu bờ ngoài của rìa lục địa hẹp ( khoảng cách gần hơn) Có chiều rộng là 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

− Nếu bờ ngoài của thềm lục địa kéo dài thì chiều rộng lãnh hải tối đa là 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải hoặc 100 hải lý tính từ đường đằng sâu 2.500 m

Cơ sở phát sinh

Phạm vi

quyền

Quyền của quốc gia ven biển

1 Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển

CSPL: điểm a khoản 1

Điều 56 Công ước 1982;

điểm a khoản 1 Điều 16 Luật biển Việt Nam

Theo quy định tại Công ước 1982 quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm

dò, khai thác, bảo tồn và

Quyền của quốc gia ven biển

1 Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển CSPL: Điều 77 Công

ước 1982; Điều 18 Luật biển Việt Nam

Theo đó, trong vùng thềm lục địa quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền sau đây:

“1 Quốc gia ven biển

Trang 3

quản lý các tài nguyên

thiên nhiên sinh vật hoặc

không sinh vật, của vùng

nước bên trên đáy biển,

của đáy biển và lòng đất

dưới đáy biển, cũng như

về những hoạt động khác

nhằm thăm dò và khai thác

vùng này vì mục đích kinh

tế, như việc sản xuất năng

lượng từ nước, hải lưu và

gió

Theo quy định tại điểm

a, khoản 1 Điều 16 Luật

biển Việt Nam, Nhà nước

thực hiện quyền chủ quyền

về việc thăm dò, khai thác,

quản lý và bảo tồn tài

nguyên thuộc vùng nước

bên trên đáy biển, đáy biển

và lòng đất dưới đáy biển;

về các hoạt động khác

nhằm thăm dò, khai thác

vùng này vì mục đích kinh

tế

Theo các quy định cụ

thể của Công ước 1982,

đối với các loại tài nguyên

không sinh vật, Công ước

không đưa ra một hạn chế

nào đối với quốc gia ven

biển Đối với quyền chủ

quyền của quốc gia ven

biển về tài nguyên sinh vật

được thực hiện thông qua

các quyền sau đây:

− Quyền thăm dò, khai

thác, bảo tồn và quản lý

các tài nguyên thiên nhiên

sinh của vùng nước bên

trên đáy biển, của đáy biển

và lòng đất dưới đáy biển

trong vùng đặc quyền kinh

tế (điểm a khoản 1 Điều

56)

− Quyền ấn định khối

thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình

2 Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của các quốc gia đó

3 Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào ”

Như vậy, có thể kết luận rằng, đây là các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa của mình chứ không phải là chủ quyền Các quyền chủ quyền mà quốc gia ven biển có được trên thềm lục địa của mình xuất phát từ chủ quyền trên lãnh thổ đất liền Bởi lẽ, thềm lục địa chính là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền Mặt khác, các quyền chủ quyền này mang tính “đặc quyền”, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai thác tài nguyên sinh vật, vi sinh vật trên thềm lục địa của mình thì không ai có quyền tiến hành các hoạt

Trang 4

lượng đánh bắt có thể chấp

nhận đối với tài nguyên

sinh vật (khoản 1 Điều

61);

− Thi hành các biện pháp

thích hợp để bảo tồn và

quản lý tài nguyên sinh vật

(khoản 2 Điều 61);

− Xác định khả năng đánh

bắt của mình để ấn định số

dư của khối lượng cho

phép đánh bắt (khoản 2,

Điều 62);

− Cho phép các quốc gia

không có biển và bất lợi về

địa lý khai thác cá dư

trong vùng đặc quyền kinh

tế của mình (khoản 3 Điều

62);

− Quy định các biện pháp

nhằm bảo tồn nguồn lợi

thủy sản (khoản 4 Điều

62)

2 Quyền tài phán của

quốc gia ven biển

CSPL: điểm b, điểm c

khoản 1 Điều 56 Công ước

1982

Các quyền tài phán

trong các lĩnh trên đây của

quốc gia ven biển trong

vùng đặc quyền kinh tế

được cụ thể như sau:

− Thứ nhất, Quyền tài

phán về việc lắp đặt và sử

dụng các công trình thiết

bị nhân tạo (khoản 1 Điều

60 Công ước 1982)

Trong vùng đặc quyền

kinh tế, quốc gia ven biển

có đặc quyền tiến hành xây

dựng, cho phép và quy

định việc xây dựng, khai

động đó Và cuối cùng, các quyền này tồn tại đương nhiên và ngay từ đầu đó là quyền không thể chuyển nhượng và không thể mất hiệu lực đối với quốc gia ven biển Các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào việc thực hiện nó hiệu quả hay không Nó tồn tại không cần một tuyên bố đơn phương nào Điều này khác với vùng đặc quyền kinh tế, bắt buộc phải có một tuyên bố đơn phương

từ quốc gia ven biển

2 Quyền tài phán của quốc gia ven biển

Theo quy định của Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển, quyền tài phán về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Cụ thể:

− Một là, quyền tiến hành đặt và cho phép đặt các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình thềm lục địa

Trang 5

thác và sử dụng:

a Các đảo nhân tạo;

b Các thiết bị và công trình dùng cho các mục đích được trù định ở Điều

56 hoặc các mục đích kinh tế khác;

c Các thiết bị và công trình có thể gây trở ngại cho việc thực hiện các quyền của quốc gia ven biển trong vùng

Quốc gia ven biển có quyền tài phán đặc biệt đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trình

đó, kể cả về mặt các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế, an ninh và nhập

cư (khoản 2 Điều 60) Mặt khác, quốc gia ven biển, nếu cần, có thể lập ra xung quanh các đảo nhân tạo, các thiết bị hoặc các công trình đó những khu vực an toàn với kích thước hợp lý; trong các khu vực

đó, quốc gia ven biển có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm an toàn hàng hải, cũng như an toàn của các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trình đó (khoản 4 Điều 60) Ngoài ra, theo quy định của Công ước 1982, các quốc gia không được xây dựng những đảo nhân tạo, thiết bị hoặc công trình, không được thiết lập các khu vực an toàn xung quanh các đảo, thiết bị, công trình đó khi có nguy

cơ gây trở ngại cho việc sử dụng các đường hàng hải

đã được thừa nhận là thiết

Trang 6

yếu cho hàng hải quốc tế.

Các đảo nhân tạo, các thiết

bị và các công trình không

được hưởng quy chế của

các đảo Chúng không có

lãnh hải riêng và sự có mặt

của chúng không có tác

động gì đối với việc hoạch

định ranh giới lãnh hải,

vùng đặc quyền kinh tế

hoặc thềm lục địa (khoản

7, khoản 8 Điều 60)

− Thứ hai, Quyền tài

phán về nghiên cứu khoa

học về biển

Theo Điều 246 Công

ước 1982 về việc nghiên

cứu khoa học biển trong

vùng đặc quyền kinh tế và

ở trên thềm lục địa quy

định: “Trong việc thi hành

quyền tài phán của mình,

các quốc gia ven biển có

quyền quy định, cho phép

và tiến hành các công tác

nghiên cứu khoa học biển

trong vùng đặc quyền kinh

tế và trên thềm lục địa của

mình theo đúng các quy

định tương ứng của Công

ước và được tiến hành với

sự thỏa thuận của quốc

gia ven biển.”

Tuy nhiên, quốc gia

ven biển có thể tùy ý mình

không cho phép thực hiện

một dự án nghiên cứu

khoa học biển do một quốc

gia khác hay một tổ chức

quốc tế có thẩm quyền đề

nghị tiến hành ở vùng đặc

quyền kinh tế hay trên

thềm lục địa của mình

trong các trường hợp sau:

+ Nếu dự án có ảnh

− Hai là, quyền tài phán

về nghiên cứu khoa học biển Quốc gia ven biển có quyền quy định, cho phép

và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển trên thềm lục địa theo đúng các quy định của Công ước trên cơ sở thỏa thuận với quốc gia ven biển.

Thực hiện quyền tài phán này, cũng như ở vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tùy ý mình không cho phép thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển trên thềm lục địa của mình:

+ Nếu dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật;

+ Nếu dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa, sử dụng chất nổ hay đưa chất độc hại vào trong môi trường biển; + Nếu dự án dự kiến việc xây dựng, khai thác hay sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị công trình nhân tạo; + Nếu những thông tin được thông báo về tính chất và mục tiêu của dự án theo

Trang 7

hưởng trực tiếp đến việc

thăm dò, khai thác tài

nguyên thiên nhiên, sinh

vật và không sinh vật;

+ Nếu dự án có dự kiến

công việc khoan trong

thềm lục địa, sử dụng chất

nổ hay đưa chất độc hại

vào trong môi trường biển;

+ Nếu dự án dự kiến

việc xây dựng, khai thác

hay sử dụng các đảo nhân

tạo, thiết bị công trình

nhân tạo;

+ Nếu những thông tin

được thông báo về tính

chất và mục tiêu của dự án

theo Điều 248 không đúng

hoặc nếu quốc gia hay tổ

chức quốc tế có thẩm

quyền, tác giả của dự án

không làm tròn những

nghĩa vụ đã cam kết với

quốc gia ven biển

Căn cứ với các quy định

trên, có thể khẳng định

rằng, nếu không có sự thỏa

thuận với quốc gia ven

biển thì các quốc gia khác

cũng như các tổ chức quốc

tế không thể tiến hành

công tác nghiên cứu khoa

học trong vùng đặc quyền

kinh tế cũng như trên thềm

lục địa của quốc gia ven

biển

− Thứ ba, Quyền tài phán

về bảo vệ và giữ gìn môi

trường biển

Về lĩnh vực bảo vệ mội

trường biển, Công ước

1982 dành cho quốc gia

ven biển các quyền bảo vệ

vùng đặc quyền kinh tế

trước các loại ô nhiễm từ

Điều 248 không đúng hoặc nếu quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền, tác giả của dự án không làm tròn những nghĩa vụ đã cam kết với quốc gia ven biển

− Ba là, quyền tài phán về việc khoan ở thềm lục địa Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và điều chỉnh việc khoan ở thềm lục địa với bất kỳ mục đích nào (Điều 81).

− Bốn là, quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ và giữ gìn môi trường biển.

Trang 8

đất liền (Điều 207), ô nhiễm từ các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán của quốc gia gây ra (Điều 208), ô nhiễm do nhận chìm (khoản 5, Điều 210),

ô nhiễm từ tàu (Điều 211) Mọi việc nhận chìm trong lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế hay trên thềm lục địa không thể được tiến hành nếu không được sự đồng ý rõ ràng của quốc gia ven biển Quốc gia ven biển có quyền cho phép, quy định và kiểm soát sự nhận chìm này và có quyền thông qua các luật và quy định nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do tàu thuyền gây ra trong vùng đặc quyền kinh tế của mình (khoản 5, Điều 211)

Đặc biệt, Điều 220 Công ước 1982 quy định:

− Quốc gia có cảng có thể khởi tố về bất kỳ vi phạm nào đối với các luật và quy định mà mình đã thông qua theo đúng Công ước hay theo đúng các quy tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự

ô nhiễm do tàu thuyền gây

ra, nếu vụ vi phạm đã xảy

ra trong lãnh hải hay trong vùng đặc quyền kinh tế của mình (khoản 1 Điều

220 Công ước 1982.);

− Khi một quốc gia có lý

do xác đáng cho rằng một con tàu đi trong vùng đặc

Trang 9

quyền kinh tế hay trong

lãnh hải của mình đã vi

phạm các quy tắc và quy

phạm quốc tế đó và đem

lại hiệu lực cho chúng,

quốc gia này có thể yêu

cầu con tàu cung cấp các

thông tin liên quan đến lý

lịch và cảng đăng ký của

tàu, cảng cuối cùng và

cảng sắp ghé vào của tàu

và các thông tin thích hợp

cần thiết khác để xác định

có phải một vụ vi phạm đã

xảy ra hay không (khoản 3

Điều 220 Công ước

1982.);

− Ngoài ra, Công ước

1982 cũng quy định, khi

thực hiện các quyền và

nghĩa vụ của mình theo

Công ước 1982, quốc gia

phải tính đến các quyền và

nghĩa vụ của các quốc gia

khác và hành động phù

hợp với Công ước (khoản

2, Điều 56)

Nghĩa vụ của quốc gia

ven biển

Quốc gia ven biển có

nghĩa vụ thi hành các biện

pháp thích hợp về bảo tồn

và quản lý nhằm làm cho

việc duy trì các nguồn lợi

sinh vật trong vùng đặc

quyền kinh tế của mình

khỏi bị ảnh hưởng do khai

thác quá mức Khi đồng ý

cho các quốc gia khác vào

hoạt động trong vùng đặc

quyền kinh tế của mình,

quốc gia ven biển tính đến

tất cả các yếu tố thích đáng

như: tầm quan trọng của

Nghĩa vụ của quốc gia ven biển

Bên cạnh việc được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán nói trên, quốc gia ven biển phải thực hiện một số nghĩa vụ sau đây:

− Nếu quốc gia ven biển

có thềm lục địa rộng hơn

200 hải lý tính từ đường cơ

sở phải xác định rõ tọa độ, thông báo các thông tin về các ranh giới ngoài của thềm lục địa cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa

− Quốc gia ven biển phải

có nghĩa vụ đóng góp bằng tiền hoặc hiện vật về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của thềm lục địa nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của

Trang 10

các tài nguyên sinh vật thuộc khu vực đối với nền kinh tế và các lợi ích quốc gia khác của nước mình;

khả năng tham gia của các quốc gia không có biển và

các quốc gia bất lợi về địa lý; sự cần thiết phải giảm bớt đến mức tối thiểu những rối loạn kinh tế

trong các quốc gia nào có những công dân thường đánh bắt hải sản ở trong khu vực hoặc đã có đóng góp nhiều vào công tác tìm kiếm và thống kê các đàn, loài cá

lãnh hải (khoản 1, Điều 82)

− Khi thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, quốc gia ven biển không được: + Làm ảnh hưởng đến chế độ pháp lý của vùng nước phía bên trên hay vùng trời bên trên của vùng nước này (nếu thềm lục địa rộng 200 hải lý thì vùng nước bên trên thềm lục địa là vùng đặc quyền kinh tế; nếu thềm lục địa rộng hơn

200 hải lý thì bên trên thềm địa bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và một phần biển cả);

+ Không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận

Nhận xét:

Giống nhau:

− Các quốc gia ven biển đều không có quyền chủ thể mà chỉ có các quyền mang tính chất chủ quyền đối với việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình

− Các quốc gia ven biển đều có quyền tài phán trên cả hai vùng về việc:

+ Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình: Công

ước 1982 đã đồng nhất hóa các điểm liên quan giữa các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trong vùng đặc quyền kinh tế tại Điều 60 với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa ở Điều 80 Sự đồng nhất này là cần thiết, bởi vì mối liên hệ không thể tách rời giữa vùng đặc quyền kinh tế với thềm lục địa

+ Nghiên cứu khoa học về biển

+ Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển

Quốc gia ven biển có quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ và giữ gìn môi trường biển ở thềm lục địa tương tự như trong vùng đặc quyền kinh tế nhằm ngăn ngừa, hạn chế, chế ngự ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy

Ngày đăng: 19/07/2023, 15:42

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w