ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
- Bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi đang sinh sống tại Bình Định (sinh con từ 01/6/2020 đến 01/6/2021), bà mẹ đang chăm sóc con nhỏ
Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm trẻ em từ 6 đến 24 tháng tuổi đang sinh sống tại hai xã, cùng với bà mẹ của các trẻ này, người trực tiếp chăm sóc cho trẻ.
Trẻ em có dị tật bẩm sinh như gù vẹo cột sống, sứt môi, tim bẩm sinh, bệnh Down, bại não, hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng, cũng như những trẻ đang trong tình trạng bệnh lý không thể cân đo được như gãy xương hay nằm viện, sẽ không được khảo sát nếu không có mặt tại nhà trong thời điểm điều tra.
Bà mẹ của trẻ mắc các bệnh như: câm, điếc, bị bệnh tâm thần, không có khả năng trả lời
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
Bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi, bao gồm cả những mẹ của trẻ được chọn và đã hoàn thành câu hỏi định lượng, sẽ được phân chia thành hai nhóm: nhóm các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng và nhóm các bà mẹ có con không bị suy dinh dưỡng.
- Hội phụ nữ xã, y tế thôn, chuyên trách dinh dưỡng của xã là những người đại diện cho các ban ngành, đoàn thể tại địa bàn nghiên cứu
- Lãnh đạo địa phương, Lãnh đạo Trạm Y tế xã.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 8/2021 đến tháng 8/2022 Địa điểm: thực hiện tại 02 xã Canh Vinh, Canh Liên, huyện Vân Canh, tỉnh
Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em từ 6 đến 24 tháng tuổi và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ SDD trong nhóm tuổi này.
Nghiên cứu định tính nhằm giải thích được các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD của trẻ 6-24 tháng tuổi (mục tiêu 2).
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ n d p
+ n: Số trẻ cần điều tra trong độ tuổi từ 6-24 tháng
+ p: tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ từ 6-24 tháng tuổi tại Đắk Nông
+ Z ( 1 2 ) = 1,96 là mức ước lượng khoảng tin cậy dùng trong nghiên cứu (với mức ý nghĩa thống kê α=0,05)
+ d: sai số cho phép, chọn d=0,05
+ Theo số liệu thống kê tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ từ 6-24 tháng tuổi trong nghiên cứu của Phạm Thị Chung tại huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông năm 2021
- Thay p1, p2, p3 vào công thức ta có được cỡ mẫu lần lượt là: n1 = 1230, n2
= 275; n3= 139 Vậy cỡ mẫu lớn nhất của trẻ 6-24 tháng tuổi để cân đo tại 02 xã là
275 trẻ, ước lượng 10% từ chối phỏng vấn và làm tròn số ta tính được cỡ mẫu là
303 trẻ và tương ứng với 303 bà mẹ hiện đang chăm sóc cho trẻ này
Huyện Vân Canh bao gồm 6 xã và 1 thị trấn, trong đó 6/7 xã có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Chúng tôi đã chọn 2 xã để nghiên cứu: xã Canh Vinh với đông người Kinh và xã Canh Liên, một xã vùng cao chủ yếu có đồng bào dân tộc thiểu số Theo số liệu từ 2 xã Canh Vinh và Canh Liên, tổng số trẻ từ 6 tuổi trở lên được ghi nhận.
24 tháng tuổi tại 02 xã là 351 trẻ, vì vậy học viên tiến hành chọn toàn bộ 351 trẻ 6-
24 tháng và mẹ hiện đang chăm sóc trẻ này
Chọn mẫu có chủ đích, gồm 10 cuộc phỏng vấn sâu (PVS)/10 người và 04 buổi thảo luận nhóm (TLN) với 24 người tham gia:
Bảng 2.1 Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
STT Đối tượng PVS và TLN Số cuộc
1 Đại diện lãnh đạo địa phương 2 xã (mỗi xã 1 người) 02
2 Lãnh đạo 2 TYT (mỗi xã 01 người) 02
3 Đại diện Hội phụ nữ 2 xã (mỗi xã 1 người) 02
4 Đại diện y tế thôn 2 xã (mỗi xã 1 người) 02
5 Cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng 2 xã
6 Bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng (mỗi xã chọn 6 người, tổng là 12 người) 02
7 Bà mẹ có con không bị suy dinh dưỡng (mỗi xã chọn 6 người, tổng là 12 người) 02
Phỏng vấn sâu cần chọn đối tượng có chủ đích, bao gồm lãnh đạo địa phương, lãnh đạo trạm y tế, phụ nữ xã, y tế thôn và cán bộ chuyên trách dinh dưỡng Đặc biệt, nên tập trung vào các thôn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao để thu thập thông tin chính xác và hữu ích.
Thảo luận nhóm sẽ được tổ chức với 4 buổi, tập trung vào hai đối tượng chính: nhóm bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng (SDD) và nhóm bà mẹ có con không bị suy dinh dưỡng.
Chọn những bà mẹ dân tộc hiểu và nói tiếng Việt rõ ràng để thuận tiện cho việc đi lại Mỗi xã tổ chức 2 buổi tập huấn, trong đó có 1 buổi với sự tham gia của 6 bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng, bao gồm 3 bà mẹ có từ 1-2 con và 3 bà mẹ có từ 3 con trở lên.
6 bà mẹ có con không bị SDD tham gia bao gồm: 3 bà mẹ có từ 1-2 con và 3 bà mẹ có từ 3 con trở lên)
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Đối với phương pháp nghiên cứu định lượng
2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu
- Cân và đo: Sử dụng cân Nhơn Hòa, mặt cân có lòng máng có độ chính xác
Sử dụng thước đo gỗ có độ chính xác 0,1 cm để đo chiều dài nằm của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi Cân và thước đo này thuộc chương trình phòng chống suy dinh dưỡng quốc gia Tham khảo phiếu cân đo nhân trắc cho trẻ trong độ tuổi 6-24 tháng (Phụ lục 1).
- Phiếu phỏng vấn bà mẹ của trẻ (Phụ lục 2)
2.5.1.2 Tiến hành thu thập số liệu
Sau khi xác định đối tượng nghiên cứu, cần lập danh sách cụ thể các trẻ em và bà mẹ cần điều tra theo từng thôn của hai xã Danh sách này sẽ làm căn cứ để gửi giấy mời tham gia nghiên cứu và lập kế hoạch điều tra Cán bộ Trạm Y tế xã hoặc cộng tác viên dinh dưỡng sẽ thông báo trực tiếp đến các bà mẹ được chọn, gửi giấy mời và tiến hành thu thập số liệu.
Điều tra viên thuộc Khoa Dinh dưỡng và y tế xã được chia thành hai nhóm để tiến hành điều tra tại hai xã theo hình thức cuốn chiếu từng thôn Giám sát viên, bao gồm học viên và cán bộ Khoa Dinh dưỡng, có nhiệm vụ quan sát kỹ thuật cân, đo và phỏng vấn đối tượng Cuối mỗi ngày, nhóm điều tra họp để nộp bộ câu hỏi và báo cáo tình hình với giám sát viên, người sẽ kiểm tra phiếu và yêu cầu nhóm hoàn thiện thông tin hoặc quay lại gặp đối tượng nếu cần bổ sung.
Trước khi thu thập số liệu, điều tra viên và giám sát viên được đào tạo kỹ lưỡng về kỹ thuật cân, đo, nội dung bộ câu hỏi, cũng như phương pháp thu thập thông tin phỏng vấn và cách tiếp cận đối tượng.
- Tiến hành thu thập thông tin tại địa bàn theo kế hoạch:
+ Cân đo nhân trắc trẻ 6-24 tháng
Vào ngày tiêm chủng, việc cân và đo trẻ sẽ được thực hiện tại trạm y tế xã Nếu bà mẹ không thể đưa trẻ đến, nhân viên y tế sẽ đến nhà để thực hiện cân đo Dữ liệu cân đo sẽ được ghi vào phiếu nhân trắc và gửi lại cho nghiên cứu viên.
Để chuẩn bị cho việc cân trẻ, cần đặt cân trên mặt đất phẳng và điều chỉnh kim đồng hồ về vị trí 0 trước khi tiến hành Hàng ngày, cần kiểm tra độ chính xác của cân ít nhất hai lần bằng cách sử dụng quả cân chuẩn hoặc can nước tương đương.
Để thực hành cân trẻ, hãy tiến hành vào buổi sáng Trước khi cân, cần bỏ bớt áo khoác, mũ, giày và dép Kết quả cân nên được đọc và ghi lại theo đơn vị kilogam, với một số lẻ sau dấu phẩy (ví dụ: 68).
Chiều dài trẻ được đo bằng cách sử dụng một thước đo nằm ngang trên mặt phẳng, cần có hai người tham gia: một người thực hiện đo và một người hỗ trợ Trẻ được đặt nằm ngửa, người hỗ trợ giữ đầu trẻ để mắt nhìn thẳng lên trên, trong khi mảnh gỗ chỉ số 0 của thước được đặt sát đỉnh đầu trẻ Người đo giữ chân trẻ thẳng bằng một tay đặt vào gối hoặc cổ chân, tay còn lại đưa mảnh gỗ chặn chạm vào mặt bàn chân Kết quả được đọc theo đơn vị centimet với một số lẻ, và người trợ giúp ghi ngay kết quả vào phiếu để xác nhận độ chính xác.
Để thu thập thông tin cần thiết về trẻ em, bà mẹ và điều kiện kinh tế gia đình, ĐTV tiến hành phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn, nhằm thu thập thông tin về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ.
Địa điểm phỏng vấn các bà mẹ tại TYT được thiết kế riêng biệt, nhằm đảm bảo không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài Các bà mẹ sẽ được mời vào phỏng vấn theo thứ tự sau khi đã hoàn tất việc cân và đo trẻ.
+ Cộng tác viên là người thông thạo tiếng Kinh, tiếng Ba Na để đảm bảo đối tượng nghiên cứu hiểu rõ nội dung và đồng ý tham gia điều tra
Người phỏng vấn bắt đầu bằng việc tự giới thiệu và giải thích mục đích cũng như ý nghĩa của cuộc điều tra, sau đó hỏi ý kiến của các bà mẹ về việc chấp thuận tham gia nghiên cứu.
Bước 2: Ghi thông tin ngày vào phiếu điều tra để tránh nhầm lẫn
Bước 3: Kiểm tra lại toàn bộ thông tin để tránh bỏ sót câu hỏi sau khi đã hoàn thành phần phỏng vấn
Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu bao gồm các yếu tố như tuổi, giới tính, cân nặng khi sinh, thứ tự sinh, tình trạng bệnh tật, dân tộc, nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và số lượng con cái.
+ Các yếu tố thuộc về trẻ: cân nặng sơ sinh, bệnh tật, thứ tự con, bú sữa mẹ, ăn dặm…
Các yếu tố liên quan đến bà mẹ bao gồm tuổi tác, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số lượng con hiện có, chế độ dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai, cách chăm sóc trẻ khi ốm, và thói quen vệ sinh cá nhân.
+ Các yếu tố thuộc về gia đình: Kinh tế gia đình, nguồn nước ăn uống, hố xí hợp vệ sinh, phong tục tập quán
+ Các yếu tố dịch vụ y tế: Tiêm chủng, tiếp cận thông tin hướng dẫn cách nuôi con
* Biến phụ thuộc: Tình trạng SDD của trẻ 6-24 tháng tuổi (cân nặng, chiều cao, chỉ số z score)
2.6.2 Chủ đề trong nghiên cứu định tính
Gồm các chủ đề sau:
* Chủ đề 1: Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ thuộc về bà mẹ, gia đình trẻ:
- Thực hành chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ khi mang thai
- Thực hành chăm sóc khi trẻ ốm
- Niềm tin, quan niệm về dân tộc, văn hóa, phong tục tập quán
- Điều kiện kinh tế gia đình
Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em liên quan đến dịch vụ y tế bao gồm khả năng tiếp cận thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe dinh dưỡng cho các bà mẹ Việc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác giúp các bà mẹ hiểu rõ hơn về dinh dưỡng, từ đó cải thiện chế độ ăn uống cho trẻ Sự hỗ trợ từ các chương trình giáo dục sức khỏe cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi dinh dưỡng của gia đình.
Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá
- Tuổi của trẻ theo tháng (1)
+ 6 tháng tuổi: Kể từ ngày trẻ được tròn 6 tháng đến trước ngày trẻ tròn 7 tháng (từ 6 tháng đến 29 ngày)
+ 12 tháng tuổi: Kể từ ngày trẻ được tròn 12 tháng đến 12 tháng 29 ngày + 24 tháng tuổi: Kể từ ngày trẻ được tròn 24 tháng đến 24 tháng 29 ngày
- Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, trẻ bị tiêu chảy: khi trẻ đi ngoài từ 3 lần trở lên, phân lỏng và nhiều nước hơn bình thường
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, theo Tổ chức Y tế Thế giới, là một nhóm bệnh đa dạng ảnh hưởng đến đường hô hấp, từ mũi đến phổi Các triệu chứng của NKHHCT có thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, thường bắt đầu bằng ho, sốt hoặc không sốt Trẻ em có thể gặp phải các dấu hiệu như thở khò khè, thở nhanh, thở rít, rút lõm lồng ngực, bú kém hoặc bỏ bú, và có thể xuất hiện tình trạng tím tái hoặc li bì.
- Bú sớm sau sinh: trẻ sơ sinh được cho bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh
NCBSMHT trong 6 tháng đầu là phương pháp cho trẻ chỉ sử dụng sữa mẹ mà không bổ sung bất kỳ thức ăn hay đồ uống nào khác, kể cả nước Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết, trẻ có thể được uống bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
- Cai sữa đúng thời gian quy định là việc thực hiện cai sữa khi trẻ được 18-24 tháng tuổi
Ăn bổ sung là việc cho trẻ ăn thêm thức ăn ngoài sữa mẹ, và thời điểm thích hợp để bắt đầu là khi trẻ được 6 tháng tuổi (180 ngày sau sinh).
- Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới khám thai đúng và đủ khi trong
1 thai kỳ: là khám thai ít nhất 4 lần, trong cả 3 giai đoạn của thời kỳ mang thai (3 tháng đầu: 1 lần, 3 tháng giữa: 1 lần, 3 tháng cuối: 2 lần)
- Trẻ tiêm chủng đầy đủ: khi trẻ được tiêm đủ số mũi theo độ tuổi tại thời điểm điều tra
- Chỉ tiêu đánh giá tình trạng SDD của trẻ: Trẻ bị SDD nhẹ cân, thấp còi, gầy còm khi các chỉ số tương ứng CN/T, CC/T, CN/CC