ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Trẻ em từ 6 đến 24 tháng tuổi tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông đang được chăm sóc bởi các bà mẹ, cán bộ Trạm Y tế xã và cộng tác viên y tế thôn bản.
- Trẻ em 6-24 tháng tuổi hiện đang sinh sống tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi, đang sinh sống tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Cán bộ Trạm Y tế, Y tế thôn đồng ý tham gia vào phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
- Trẻ bị các dị tật bẩm sinh: tim bẩm sinh, hở hàm ếch, bại não, trẻ đang bị bệnh nặng
- Những bà mẹ có vấn đề về sức khỏe không trả lời đƣợc phỏng vấn (câm, điếc, mắc bệnh tâm thần kinh hoặc bệnh rối loạn trí nhớ).
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc tiến hành từ tháng 02/2020 đến tháng 09/2020
Tại các xã của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính Phương pháp định tính, bao gồm phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN), được sử dụng để hỗ trợ và bổ sung cho dữ liệu định lượng.
Cỡ mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lƣợng: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho ƣớc tính một tỷ lệ trong quần thể
Z: giá trị thu đƣợc từ bảng Z ứng với giá trị α đƣợc chọn: Z = 1,96 p = 0,324 (tỷ lệ SDD thấp còi trẻ em tỉnh Đắk Nông năm 2017) e: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu đƣợc từ mẫu (p) và tỷ lệ quần thể (P), chọn e = 0,06 de: hiệu số thiết kế Chọn de = 2
Vậy, cỡ mẫu cần nghiên cứu đƣợc tính toán và làm tròn là nF0
Chọn mẫu theo phương pháp mẫu nhiều giai đoạn (multistage sampling)
Trong giai đoạn 1, chúng tôi sẽ lập danh sách 63 thôn/buôn thuộc 7 xã/thị trấn của huyện Đắk Glong Tiếp theo, 10 thôn/buôn sẽ được chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn.
Trong giai đoạn 2 của nghiên cứu, chúng tôi đã lập danh sách tất cả trẻ em từ 6 đến 24 tháng tuổi tại 10 thôn/buôn được chọn từ giai đoạn 1 Từ danh sách này, 460 trẻ em trong độ tuổi 6-24 tháng đã được chọn theo khoảng cách mẫu Thời điểm lấy danh sách diễn ra vào ngày uống vitamin A, cụ thể là từ 1 đến 2 tháng 12 năm 2019, dựa trên thông tin do trạm Y tế xã cung cấp.
Trong một nghiên cứu với tổng số 1.000 trẻ em tại 10 thôn, hệ số k được tính là k00/460 (2,1), với k = 2 Để chọn mẫu, một số ngẫu nhiên i được chọn trong khoảng từ 1 đến k, xác định số thứ tự của đối tượng đầu tiên đủ điều kiện tham gia Các đối tượng tiếp theo sẽ có số thứ tự lần lượt là i + 1k, i + 2k, i + 3k, và tiếp tục cho đến khi đủ số trẻ cho nghiên cứu.
Thực tế tôi chúng tôi chọn đƣợc 432 trẻ tham gia nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu định tính để tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi, sử dụng hai phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu.
* Phỏng vấn sâu: Chúng tôi đã phỏng vấn sâu 5 trạm Trưởng Trạm Y tế xã và 5 cán bộ y tế thôn
* Thảo luận nhóm: Thực hiện 2 buổi thảo luận nhóm (7 bà mẹ/buổi, bao gồm
7 bà mẹ có con không bị suy dinh dƣỡng thấp còi và 7 bà mẹ có con bị suy dinh dƣỡng thấp còi).
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Đối với nghiên cứu định lượng
* Công cụ thu thập thông tin
- Cân Nhơn Hòa do chương trình phòng chống SDD quốc gia cung cấp, độ chính xác là 100 gram
- Sử dụng thước gỗ của chương trình phòng chống SDD quốc gia cung cấp, độ chính xác là 0,1 cm để đo chiều dài nằm của trẻ < 24 tháng tuổi
* Nhân lực tham gia thu thập thông tin
Giám sát viên (GSV) là học viên có nhiệm vụ tham gia giám sát trong quá trình thu thập số liệu, với việc ngẫu nhiên kiểm tra 20% số phiếu trong quá trình này.
- Phỏng vấn sâu (PVS): Chọn 5 ĐTV bao gồm học viên và 4 cán bộ của hệ dự phòng thuộc Trung tâm Y tế huyện Đắk Glong
Mỗi xã sẽ chỉ định một người dẫn đường am hiểu địa bàn và thông thạo tiếng dân tộc thiểu số, nhằm hỗ trợ phiên dịch cho các bà mẹ không biết tiếng Kinh.
* Thử nghiệm bộ công cụ
Trước khi tiến hành điều tra chính thức, chúng tôi đã thực hiện một cuộc điều tra thử trên 10% số phiếu (40 phiếu) với đối tượng là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi Qua quá trình này, chúng tôi nhận thấy một số câu hỏi chưa phù hợp với thực tế, do đó đã tiến hành điều chỉnh Nội dung điều chỉnh được ghi rõ trong phụ lục 1, mục “III Tình trạng bú sữa mẹ” Chúng tôi đã loại bỏ phần câu hỏi trùng lặp với mục “C Đánh giá thực hành chăm sóc dinh dưỡng của trẻ” và một số câu hỏi không phù hợp trước khi thu thập dữ liệu Các phiếu thử nghiệm sẽ không được tính vào cỡ mẫu vì không thuộc đối tượng trong danh sách chọn mẫu.
Các điều tra viên đã được đào tạo chuyên sâu về mục tiêu, nội dung và kỹ thuật thu thập thông tin qua phỏng vấn, cách điền bộ câu hỏi, cũng như phương pháp tiếp cận đối tượng.
* Tiến hành thu thập thông tin
Cân đo nhân trắc cho trẻ từ 6-24 tháng tuổi là một hoạt động quan trọng Để tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả thu thập thông tin, nhóm điều tra đã kết hợp việc đo lường với chương trình cho trẻ uống Vitamin A.
Nhóm ĐTV gồm 3 người sẽ thực hiện cân đo trẻ và phỏng vấn các bà mẹ đưa con đến uống Vitamin A, theo danh sách đã được lập từ trước.
Nếu bà mẹ không cho trẻ uống Vitamin A, nhóm sẽ lập danh sách và hẹn các bà mẹ đến tận nhà để thực hiện việc cân đo và phỏng vấn.
- Đo cận nặng của trẻ (5):
Chuẩn bị cân, chọn mặt phẳng để cố định cân
Kiểm tra cân trước và trong khi sử dụng, điều chỉnh cân về vị trí số 00 kg
Thực hành cân: Khi cân trẻ cởi bỏ khăn mũ, giày dép, áo khoác Đọc ghi kết quả với đơn vị là kg và lẻ sau một dấu phẩy
Để đo chiều cao của trẻ, trước tiên cần đặt thước trên mặt phẳng nằm ngang và tháo bỏ giày dép, áo khoác hoặc các vật dụng có thể ảnh hưởng đến kết quả Sau đó, đặt trẻ lên ván của thước đo, đảm bảo mắt trẻ hướng vuông góc với mặt thước Người trợ giúp cần giữ tay duỗi tự do, áp vào hai tai để trẻ nhìn thẳng, đồng thời đầu phải chạm vào đế thước Một tay của người trợ giúp nên đặt vào gối hoặc cổ chân để giữ cho chân trẻ thẳng, trong khi tay còn lại đưa thanh chạm vào chân trẻ để có kết quả chính xác.
Khi thực hiện đo chiều cao, hãy giữ cơ thể thẳng đứng và áp sát vào thanh chặn trên mặt thước Đọc kết quả với một số lẻ và sau đó giúp trẻ ngồi dậy Người trợ giúp cần ghi lại kết quả vào phiếu.
Học viên kiểm tra lại kết quả, nhắc nhở ĐTV bổ sung thông tin thiếu sót
Để thu thập thông tin về đặc điểm của trẻ và bà mẹ, cũng như điều kiện kinh tế hộ gia đình, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các bà mẹ Các điều tra viên, là cán bộ y tế của Trung tâm Y tế Đắk Glong và các Trạm Y tế xã, đã thực hiện phỏng vấn để thu thập thông tin về kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ.
Người phỏng vấn bắt đầu bằng việc tự giới thiệu và giải thích mục đích cũng như ý nghĩa của cuộc điều tra Sau đó, họ sẽ hỏi ý kiến của bà mẹ về việc chấp thuận tham gia nghiên cứu.
+ Bước 2 : Ghi thông tin ngay vào phiếu điều tra khi điều tra sang mỗi phần để tránh nhằm lẫn
+ Bước 3 : Kiểm tra toàn bộ thông tin để tránh bỏ sót câu hỏi sau khi đã hoàn tất phần phỏng vấn
Bước 4: Đáp ứng các câu hỏi của bà mẹ khi có yêu cầu hoặc tư vấn về những hạn chế trong việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ.
+ Bước 5: Cảm ơn sự hợp tác của bà mẹ khi kết thúc phỏng vấn
Sau khi phỏng vấn, học viên đã chủ động lựa chọn các bà mẹ có kết quả sơ bộ để tiến hành nghiên cứu định tính.
2.5.2 Đối với nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu viên gồm 5 người, trong đó một điều tra viên giới thiệu về nghiên cứu và nội dung phỏng vấn, trong khi các điều tra viên khác ghi âm và ghi chép Trước khi phỏng vấn, nghiên cứu viên chính liên hệ với đối tượng để giới thiệu các điều tra viên và nhận sự đồng ý tham gia Quá trình này đảm bảo tính riêng tư và bảo mật thông tin cho đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu viên chính sẽ liên hệ với trạm Y tế để xin sự đồng ý và sắp xếp thời gian, địa điểm cho các cuộc thảo luận nhóm Mỗi nhóm thảo luận sẽ có hai điều tra viên, trong đó một người giới thiệu về nghiên cứu và nội dung thảo luận, trong khi người còn lại ghi chép lại toàn bộ nội dung cuộc thảo luận.
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Các biến số định lượng
- Thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu: Tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con hiện có, kinh tế hộ gia đình
Mục tiêu 1: Biến chiều cao, cân nặng và các đặc điểm chung của trẻ Mục tiêu 2:
Các yếu tố thuộc về trẻ: cân nặng lúc sinh, tuổi, giới, bú sữa mẹ, ăn dăm…
Các yếu tố thuộc về gia đình: số con trong gia đình, Kinh tế hộ gia đình, kiến thức nuôi dƣỡng, chăm sóc trẻ…
Các yếu tố thuộc về môi trường và dịch vụ y tế: công tác giáo dục truyền thông, an ninh thực phẩm hộ gia đình, phong tục tập quán…
* Biến phụ thuộc: Tình trạng SDD thấp còi trẻ em 6-24 tháng tuổi
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá về kiến thức và thực hành
Phương pháp cho điểm được sử dụng để đánh giá kiến thức và thực hành của bà mẹ Mỗi câu hỏi sẽ có điểm số riêng, và bà mẹ chỉ nhận điểm khi trả lời đúng Điểm số được phân bố theo trọng số, như đã nêu trong Phụ lục 2 và Phụ lục 3 Đối với điểm kiến thức, bà mẹ sẽ được phân loại dựa trên khả năng hiểu biết về phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ từ 0-59 tháng tuổi, với các mức độ đạt và không đạt.
+ NCBSM đạt: ≥ 50% số điểm kiến thức NCBSM (tổng số điểm là 4,5 điểm Đạt là ≥2,25 điểm)
+ Ăn bổ sung đạt: ≥ 50% số điểm kiến thức ăn bổ sung (tổng số điểm là 3 điểm Đạt là ≥1,5 điểm)
+ Chăm sóc trẻ đạt: ≥ 50% số điểm kiến thức về chăm sóc trẻ (tổng số điểm là 8,5 điểm Đạt là ≥ 4,25 điểm)
Để đạt yêu cầu, thí sinh cần có kiến thức chung tối thiểu là 50% tổng số điểm, tương đương với 8 điểm trên tổng số 16 điểm Điểm thực hành sẽ được đánh giá dựa trên các mức độ đạt và không đạt, bao gồm các nội dung như NCBSM, ăn bổ sung, chăm sóc trẻ, và thực hành chung, với cách tính tương tự như phần kiến thức.
+ NCBSM đạt: ≥ 50% số điểm thực hành NCBSM (tổng số điểm là 5,5 điểm Đạt là ≥ 2,75 điểm)
+ Ăn bổ sung đạt: ≥ 50% số điểm thực hành ăn bổ sung (tổng số điểm là 5,5 điểm Đạt là ≥ 2,75 điểm)
+ Chăm sóc trẻ đạt: ≥ 50% số điểm thực hành về chăm sóc trẻ (tổng số điểm là 8 điểm Đạt là ≥ 4 điểm)
+ Thực hành chung đạt: ≥ 50% tổng số điểm tối đa của thực hành (tổng số điểm là 19 điểm Đạt là ≥9,5 điểm) Định nghĩa giàu nghèo
Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 -
Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống
Hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống
Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ hơn 700.000 đồng/người/tháng đến 1.000.000 đồng/người/tháng
Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ hơn 900.000 đồng/người/tháng đến 1.300.000 đồng/người/tháng
2.8 Phân tích, xử lý số liệu
Các phiếu phỏng vấn được thu thập để đảm bảo tính hợp lệ và thực hiện việc chỉnh sửa, bổ sung thông tin sai hoặc thiếu ngay tại địa bàn điều tra Đồng thời, cần kiểm tra các số liệu trước và sau khi nhập vào máy tính.
* Đối với thông tin định lƣợng
Số liệu sau khi thu thập đƣợc làm sạch về tính logic, tính nhất quán và sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập số liệu từ phiếu điều tra
Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 cho phân tích số liệu, bao gồm thống kê mô tả và phân tích đơn biến Kiểm định t độc lập được áp dụng để so sánh giá trị trung bình của các chỉ số, trong khi test 2 và Fisher exact test được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ theo các mức ý nghĩa Ngoài ra, tính toán OR và p giúp xác định các yếu tố liên quan.
* Đối với thông tin định tính
Thông tin định tính được thu thập từ ghi chép trong phiếu phỏng vấn, biên bản thảo luận nhóm và băng ghi âm của các cuộc phỏng vấn sâu Những dữ liệu này sẽ được gỡ để phân tích và phân loại thành các nhóm chủ đề nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích.
Kết quả được trình bày dưới dạng văn bản với các trích dẫn trực tiếp từ ý kiến và quan điểm của những người được phỏng vấn để minh họa Thông tin định tính được phân tích và so sánh với số liệu định lượng.
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo Quyết định số 204/2020/YTCC-HD3, ngày
Nghiên cứu này được thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ từ Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Đắk Glong, chính quyền địa phương và Trạm Y tế xã, cùng với sự tham gia tích cực của các điều tra viên, cộng tác viên và cán bộ nghiên cứu.
Nghiên cứu chỉ tiến hành trên cơ sở tự nguyện tham gia, không làm tổn hại tinh thần, thể chất của các đối tƣợng tham gia nghiên cứu
Bà mẹ, cán bộ y tế thôn và cán bộ trạm y tế phụ trách dinh dưỡng xã đã được chọn vào mẫu nghiên cứu, và họ đã được thông báo cũng như giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cuối cùng được phản hồi cho địa phương tham gia nghiên cứu
Đạo đức nghiên cứu
3.1 Một số thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm cá nhân của bố mẹ (nC2) Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi của bà Từ 18 - 25 tuổi 161 37,3 mẹ Trên 25 tuổi 269 62,2
Nghề nghiệp mẹ Kinh doanh/buôn bán 63 14,6
Trình độ học vấn Tiểu học 85 19,7
Trung học cơ sở 213 49,3 của mẹ
Số con hiện có Con thứ 2 trở lên 304 70,4
Tình trạng uống Có 46 9,3 rƣợu hoặc hút
Đa số bà mẹ trên 25 tuổi (62,3%) chủ yếu làm nông (76,2%) Trình độ học vấn của các bà mẹ chủ yếu là tiểu học trở xuống (23,6%) và THCS (49,3%) Hơn 70% gia đình có từ 2 con trở lên, trong khi chỉ có 9,3% bà mẹ có thói quen hút thuốc lá hoặc uống rượu bia.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm cá nhân của bố mẹ (nC2) Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi của bà Từ 18 - 25 tuổi 161 37,3 mẹ Trên 25 tuổi 269 62,2
Nghề nghiệp mẹ Kinh doanh/buôn bán 63 14,6
Trình độ học vấn Tiểu học 85 19,7
Trung học cơ sở 213 49,3 của mẹ
Số con hiện có Con thứ 2 trở lên 304 70,4
Tình trạng uống Có 46 9,3 rƣợu hoặc hút
Đa số bà mẹ trên 25 tuổi (62,3%) chủ yếu làm nông (76,2%) Trình độ học vấn của các bà mẹ chủ yếu là tiểu học trở xuống (23,6%) và THCS (49,3%) Hơn 70% gia đình có từ 2 con trở lên, trong khi chỉ có 9,3% bà mẹ có thói quen hút thuốc lá hoặc uống rượu bia.
Kết quả từ PVS cho thấy rằng người dân có trình độ học vấn thấp vẫn tồn tại tình trạng mù chữ và không biết tiếng Kinh, dẫn đến bất đồng ngôn ngữ, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả công tác truyền thông.
Chúng tôi tổ chức các buổi truyền thông nhằm nâng cao nhận thức tích cực cho người dân Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa hiểu rõ nội dung, một phần do trình độ học vấn thấp và một số bà con không biết tiếng Kinh Điều này gây khó khăn cho công tác truyền thông của chúng tôi Để khắc phục, chúng tôi đã mời thêm phiên dịch tham gia trong các buổi truyền thông.
Bảng 3.2 Đặc điểm gia đình, môi trường xã hội, dịch vụ y tế (nC2) Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ
Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần 5-10 km 74 17,1 nhất
Khó khăn trong tiếp Khó khăn 82 19,0 cận dịch vụ y tế
Cơ sở y tế thường BV tỉnh 31 7,2 đến nhất BV tƣ nhân 4 0,9
Mức độ hài lòng về Hài lòng
HUPH Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ
(%) dịch vụ y tế không Không hài lòng lắm 17 3,9
Từ Công tác viên DD 173 40,0
Các nguồn thông tin Bạn bè, người thân 152 35,2 chăm sóc dinh Loa phát thanh xã/phường
122 28,2 dƣỡng trong 6 tháng qua mà chị đƣợc biết Ti vi 173 40,0
Có đủ các loại thức ăn mà gia đình
Tình trạng của gia Có đủ nhƣng không các loại thức
117 27,0 đình trong 12 tháng ăn mà gia đình muốn ăn qua Thỉnh thoảng không có đủ để ăn 78 18,1
Gần 52% hộ gia đình trong nghiên cứu thuộc diện nghèo, với tỷ lệ tiếp cận dịch vụ y tế chỉ đạt 19% do khoảng cách từ nhà đến trạm y tế xã vượt quá 5km Mặc dù vậy, 79% phụ huynh cho biết họ sẽ chọn trạm y tế là điểm đến đầu tiên khi gặp vấn đề sức khỏe, và mức độ hài lòng về các lần khám bệnh đạt trên 95% Về nguồn thông tin chăm sóc dinh dưỡng trong 6 tháng qua, 67,6% người được hỏi cho biết họ nhận thông tin trực tiếp từ cán bộ y tế Khi được hỏi về mức độ đầy đủ của thức ăn, 53% cho biết gia đình họ có đủ thức ăn mong muốn, nhưng 27% không đủ và khoảng 20% vẫn thiếu thức ăn hàng ngày.
Bảng 3.3 Tỷ lệ kiến thức, thực hành về chăm sóc dinh dƣỡng của bà mẹ(nC2)
Nội dung Tần số Tỷ lệ %
Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy chỉ có 37,5% bà mẹ có kiến thức đạt về chăm sóc trẻ Hơn một nửa (58,8%) bà mẹ thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ đạt yêu cầu, tuy nhiên vẫn còn 41,2% bà mẹ không đạt trong thực hành này.
Bảng 3.4 Đặc điểm cá nhân của trẻ (nC2) Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Con thứ mấy Con thứ 2 143 33,1
Tình trạng mắc bệnh Có 128 29,6 từ lúc sinh đến nay Không 304 70,4
HUPH Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Trong nghiên cứu này, 41% trẻ đã cai sữa mẹ, với 75,5% trẻ trong độ tuổi từ 12-24 tháng và 53% là trẻ nam Gần 1/3 (31,7%) trẻ là con thứ 3 trở lên, trong khi 29,6% có bệnh lúc mới sinh Dân tộc Kinh chiếm 33,1%, và tại thời điểm phỏng vấn, 59% trẻ vẫn còn bú mẹ.
3.2 Tình trạng suy dinh dƣỡng thấp còi ở trẻ em từ 6-24 tháng tuổi
SDD thấp còi Không SDD
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi (nC2)
Bết quả biểu đồ 3.1 cho thấy có 92/432 trẻ bị SDD thấp còi chiếm tỷ lệ 21,3%, 340/432 (chiếm 78,7%) trẻ không bị SDD thấp còi
Bảng 3.5 Phân bố tình trạng dinh dƣỡng của trẻ theo tuổi, giới tính, thứ tự sinh và tiền sử mắc bệnh (nC2)
Biến số SDD thấp còi Không SDD n % n % p
Bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi ở hai nhóm tuổi dưới 12 tháng và từ 12-24 tháng không có sự khác biệt đáng kể (21,7% so với 21,2%) Tỷ lệ này cao hơn ở trẻ nam (25,3%) so với trẻ nữ (16,7%) với p