1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em từ 6 24 tháng tuổi tại huyện bác ái, tỉnh ninh thuận năm 2018

114 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em từ 6 24 tháng tuổi tại huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận năm 2018
Tác giả Huỳnh Thị Bích Phượng
Người hướng dẫn TS. Viên Quang Mai
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố thuộc về cá nhân trẻ và tình trạng suy dinh dưỡng .... Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố thuộc về cá nhân mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng ....

Trang 1

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM TỪ 6 - 24 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM TỪ 6 - 24 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

Trong quá trình hoàn thành luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình quý báu thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè

Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, các thầy, cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng, Trường trung cấp Y tế tỉnh Ninh Thuận đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Viên Quang Mai

- Viện Trưởng viện Pasteur Nha Trang và Thạc sĩ Đỗ Thị Hạnh Trang - Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Cao học Y tế Công cộng khóa 20 Tây Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Y tế huyện Bác Ái, Trạm Y tế xã Phước Tiến, Phước Trung và Phước Chính đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập số liệu tại địa phương Chân thành cảm ơn các cộng tác viên y tế thôn bản và các hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu đã nhiệt tình và dành thời gian tham gia nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Với những nổ lực và cố gắng của bản thân thì luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc

Trân trọng cảm ơn! HUPH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN I MỤC LỤC II DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC BẢNG VI DANH MỤC BIỂU ĐỒ VII DANH MỤC BIỂU ĐỒ VII TÓM TẮT LUẬN VĂN VIII

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Định nghĩa và phân loại SDD 4

1.1.2 Một số phương pháp đánh giá TTDD của trẻ em dưới 5 tuổi 4

1.1.3 Giải pháp và hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng ở Việt Nam 9

1.1.4 Các chỉ số về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 10

1.1.5 Các chỉ số về chăm sóc khi mang thai 12

1.1.6 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng ở trẻ 15

1.2 Một số nghiên cứu yếu tố liên quan thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em 20

1.2.1 Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố thuộc về cá nhân trẻ và tình trạng suy dinh dưỡng 20

1.2.2 Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố thuộc về cá nhân mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng 21

1.2.3 Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố khác và tình trạng suy dinh dưỡng… 23

Khung lý thuyết 24

1.3 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 26

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.3 Thiết kế nghiên cứu 27

2.4 Cỡ mẫu 27

HUPH

Trang 5

trong 9 xã 28

2.6 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu 28

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 30

2.9 Các thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 31

2.10 Đạo đức nghiên cứu: 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đặc điểm thông tin đối tượng nghiên cứu và thực trạng suy dinh dưỡng trẻ 6-24 tháng tuổi 33

3.1.1 Đặc điểm cá nhân trẻ 33

3.1.2 Đặc điểm cá nhân bà mẹ 34

3.1.3 Thực trạng Suy dinh dưỡng 39

3.2 Mối liên quan với SDD nhẹ cân của trẻ 40

3.2.1 Mối liên quan đặc điểm cá nhân trẻ 40

3.2.2 Mối liên quan đặc điểm cá nhân mẹ 41

3.2.3 Mối liên quan yếu tố khác 43

3.3 Mối liên quan với SDD thấp còi của trẻ 46

3.3.1 Mối liên quan đặc điểm cá nhân trẻ 46

3.3.2 Mối liên quan với đặc điểm cá nhân mẹ 47

3.3.3 Mối liên quan yếu tố khác 49

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 53

4.1 Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em 6-24 tháng tuổi huyện Bác Ái 54

4.1.1 Liên quan với yếu tố cá nhân trẻ 54

4.1.2 Liên quan yếu tố cá nhân bà mẹ: 55

4.1.3 Liên quan yếu tố khác 56

4.2 Một số yếu tố liên quan thấp còi 57

4.2.1 Liên quan yếu tố cá nhân trẻ 57

4.2.2 Liên quan đến yếu tố cá nhân bà mẹ 57

4.2.3 Liên quan yếu tố khác 58

4.3 Hạn chế của đề tài 59

KẾT LUẬN 60

HUPH

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 66

PHỤ LỤC 1: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN BÀ MẸ (có con từ 6 -24 tháng tuổi)… 66

PHỤ LỤC 2: Đánh giá thực trạng vệ sinh hộ gia đình 73

PHỤ LỤC 3: Định nghĩa biến 74

PHỤ LỤC 4: Bảng chấm điểm kiến thức, thực hành của bà mẹ 82

PHỤ LỤC 5: Bảng chấm điểm đánh giá thực trạng vệ sinh nhà ở 84

PHỤ LỤC 6: Kỹ thuật đo nhân trắc dinh dưỡng 85

PHỤ LỤC 7: Kế hoạch thực hiện nghiên cứu 89

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ABS Ăn bổ sung

CC/T Chiều cao/tuổi

CN/ T Cân nặng/tuổi

CN/CC Cân nặng/chiều cao

CNVC Công nhân viên chức

SDD Suy dinh dưỡng

TC-BP Thừa cân béo phì

THCN Trung học chuyên nghiệp

WHO HUPHTổ chức Y tế thế giới (World Health Oganization)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Bảng 1 1 Đánh giá tình trạng SDD trẻ em theo GOMEZ 6

Bảng 1 2 Đánh giá tình trạng SDD trẻ em theo Waterlow 6

Bảng 1 3 Ngưỡng phân loại mức độ SDD theo WHO 8

Bảng 1 4 Tỷ lệ trẻ SDD dưới 5 tuổi theo khu vực 19

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bảng 2 1 Chọn mẫu nghiên cứu theo tỷ lệ phân bố dân cưError! Bookmark not defined Bảng 2 2 Phân loại SDD theo WHO – 2016 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 3 1 Đặc điểm cá nhân trẻ 33

Bảng 3 2 Đặc điểm cá nhân mẹ 34

Bảng 3 3 Thực trạng kiến thức chăm sóc trẻ 6-24 tháng tuổi của bà mẹ 36

Bảng 3 4 Thực trạng chăm sóc khi mang thai của bà mẹ 37

Bảng 3 5 Thực trạng thực hành chăm sóc trẻ 6-24 tháng tuổi của bà mẹ 38

Bảng 3 6 Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ 6-24 tháng tuổi 40

Bảng 3 7 Mối liên quan đặc điểm trẻ với suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 40

Bảng 3 8 Mối liên quan đặc điểm chung cá nhân của mẹ cới suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 42

Bảng 3 9 Mối liên quan yếu tố niềm tin và quan điểm của bà mẹ và suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 43

Bảng 3 10 Mối liên quan giữa yếu tố vệ sinh và SDD nhẹ cân của trẻ 45

Bảng 3 11 Mối liên quan đặc điểm cá nhân trẻ và suy dinh dưỡng thể thấp còi 46

Bảng 3 12 Mối liên quan đặc điểm cá nhân mẹ và suy dinh dưỡng thấp còi 48

Bảng 3 13 Mối liên quan yếu tố niềm tin và quan điểm của bà mẹ với suy dinh dưỡng thấp còi 50

Bảng 3 14 Mối liên quan yếu tố vệ sinh và nguy cơ mắc SDD thấp còi ở trẻ 51

HUPH

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Hình 1 1 Diễn biến SDD trẻ em <5 tuổi giai đoạn 2008 – 2015 Error! Bookmark not defined

Hình 1 2 Tỷ lệ trẻ từng mắc bệnh nhiễm khuẩn 34 Hình 1 3 Thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi theo phân loại 39

HUPH

Trang 10

Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các nước đang phát triển SDD sẽ ảnh hưởng đến phát triển cả thể lực và trí lực của trẻ

và làm giảm năng suất lao động khi trưởng thành, tăng chi phí Y tế cho các bệnh có liên quan đến dinh dưỡng Huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận có tỷ lệ hộ nghèo cao và chủ yếu là người dân tộc Raglai đang sinh sống (>90%) Tỷ lệ SDD ở trẻ em còn cao ở cả ba thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm rất được quan tâm hiện nay, Tuy vậy việc xác định tỷ lệ trẻ em SDD từ 6-24 tháng tuổi thì ít có nghiên cứu trong khi đây

là giai đoạn trẻ dễ mắc SDD do chăm sóc thời kỳ mang thai của bà mẹ chưa tốt, thay đổi từ chế độ bú sữa thành có ăn bổ sung, việc phát hiện sớm tình trạng SDD trẻ giai đoạn này cũng dễ khắc phục và ít tốn kém hơn khi trẻ lớn Với mục tiêu mô

tả thực trạng SDD của trẻ 6-24 tháng tuổi và tìm hiểu những yếu tố liên quan ảnh hưởng đến tình trạng đó Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 265 trẻ 6-24 tháng tuổi được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2018 huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận

Áp dụng kỹ thuật đo nhân trắc dinh dưỡng và phần mềm WHO Anthro, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ SDD các thể ở trẻ em khá cao: SDD thể nhẹ cân(CN/T) là 33,2%, thấp còi (CC/T) 42,7%, gầy còm (CN/CC) là 15,1% Trong đó SDD thể nhẹ cân cao nhất ở nhóm tuổi từ 12 đến 24 tháng (39,3%), SDD thể thấp còi (58,3%) và SDD thể gầy còm (20%) Các mối liên quan được xác định nhờ phiếu phỏng vấn bà

mẹ sau đó sử dụng phần mền nhập liệu Epidata 8.0; xử lý bằng phần mền SPSS 16.0, KTC 95%, kiểm định khi bình phương xác định độ mạnh sự kết hợp Các yếu

tố liên quan chỉ phân tích ở hai thể nhẹ cân và thấp còi cho thấy ngoài những mối liên quan chung với p<0,05: trẻ lớn tuổi, tiền sử mắc bệnh nhiễm khuẩn, kinh tế gia đình nghèo Sử dụng vật chứa nước (P<0,01) còn có những mối liên quan khác nhau Cụ thể: thể SDD nhẹ cân còn tìm thấy mối liên quan với tình trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn của trẻ (1,8(1,0-2,24); P<0,05) Ở thể SDD thấp còi thì lại tìm thấy mối liên quan với kiến thức chung (1,9(1,1 - 3,5); P<0,05) và thực hành chung của

bà mẹ (1,8(1,0 - 3,0); P<0,05) Trong nghiên cứu này không đánh giá mối liên quan với SDD gầy còm do bệnh là cấp tính, những nguyên nhân gây bệnh là cấp tính như trẻ sau một cơn bệnh nặng hay dinh dưỡng trẻ không tốt trong khoảng thời gian

HUPH

Trang 11

mà có thể được cân nhắc trong giáo dục sức khỏe cho bà mẹ về dấu hiệu nhận biết thể này

Từ kết quả trên cho thấy cần nâng cao kiến thức, thực hành chăm sóc thai (CST) cho đối tượng bà mẹ; tổ chức các buổi tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng để nâng cao kiến thức CST cho các bà mẹ việc cung cấp kiến thức cần trọng tâm và nhấn mạnh

về ý nghĩa thực hành hơn Triển khai những can thiệp đặc thù như chăm sóc dinh dưỡng sớm trước và trong thời kỳ mang thai Chính quyền địa phương cần có chính sách, vận động hỗ trợ trong công tác cung cấp nước sạch, xây dựng nhà tiêu HVS cho người dân để cải thiện TTDD của trẻ kiểm tra công tác vệ sinh nhà ở, môi trường, nước uống và sinh hoạt thường xuyên hơn đặc biệt trong mùa hạn hán

HUPH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy dinh dưỡng trẻ em vẫn còn là một vấn đề y tế công cộng hàng đầu ở các nước đang phát triển, là một trong những gánh nặng lớn về chi phí y tế cũng như ảnh hưởng dài hạn đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia [18] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng trẻ từ khi sinh đến 2 tuổi là giai đoạn cửa sổ quan trọng để trẻ có thể phát triển và tăng trưởng tối ưu cả về thể chất và hành vi và cũng

là thời điểm dễ xuất hiện sự suy giảm về tăng trưởng, thiếu các vi chất quan trọng, tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn Suy dinh dưỡng trong những năm đầu đời ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bình thường của trẻ, Nhiều nghiên cứu đã xác định rõ mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng khi còn nhỏ đến sự phát triển thể chất, tinh thần, khả năng lao động và nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, huyết áp, ung thư sau này [3] Đánh giá thực trạng thiếu dinh dưỡng trẻ

em tại cộng đồng và tìm hiểu những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng đặc biệt là những năm đầu đời của khi trẻ bắt đầu ăn dặm (1.000 ngày đầu tiên trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ) là giai đoạn quan trọng nhất đối với các can thiệp chống suy dinh dưỡng thể thấp còi [9] Vì vậy, nuôi dưỡng chăm sóc trẻ giai đoạn này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe, sự sống còn của trẻ [17] Năm 2011 ước tính có hơn 26% (165 triệu) trẻ em bị suy dinh dưỡng trên toàn cầu, 80% số trẻ em suy dinh dưỡng là ở các nước đang phát triển, đặc biệt là suy dinh dưỡng thấp còi Suy dinh dưỡng góp phần vào nguyên nhân gây ra 3,5 triệu tử vong ở trẻ em, 35% gánh nặng bệnh tật ở trẻ em dưới 5 tuổi và 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [19]

Ở nước ta trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế phát triển và chương trình quốc gia Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em được thực hiện rộng khắp với hiệu quả nhất định nhưng tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới và còn có sự khác biệt khá lớn giữa các vùng, miền [16] Mặc dù trong khoảng bảy năm trở lại đây, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở Việt Nam chỉ giảm trung bình khoảng 1,15% mỗi năm nhưng phân bố không đều giữ các vùng miền và dân tộc[1] [17] [8] Huyện miền núi Bác Ái tỉnh Ninh Thuận

có đồng bào dân tộc Raglai chiếm hơn 95% trong tổng số 28.500 dân Điều kiện tự nhiên không thuận lợi, kinh tế phát triển chậm nên Bác Ái là địa phương duy nhất của tỉnh Ninh Thuận được thụ hưởng chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền

HUPH

Trang 13

lệ suy dinh dưỡng còn cao, kiến thức thực hành của bà mẹ trong chăm sóc trẻ còn còn nhiều hạn chế Còn nhiều bất cập trong chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ do hủ tục, tập quán[7] [8] Theo thống kê Báo cáo hoạt động dinh dưỡng tại cộng đồng huyện Bác Ái năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo còn 46.5%; tỷ lệ suy dinh dưỡng nhóm trẻ dưới 5 tuổi là 26.76%; tỷ lệ suy dinh dưỡng nhóm trẻ < 2 tuổi ở mức 15.94% Tuy nhiên con số này chưa phản ánh được thực trạng suy dinh dưỡng cho chỉ dựa trên số trẻ được mẹ đưa đến khám, theo dõi cân nặng tại trạm y tế Trên thực tế có một bộ phận trẻ không được theo dõi và cập nhật tình trạng dinh dưỡng do các khó khăn về địa hình, khoảng cách đến cơ sở y tế

Chính vì vậy để hiểu rõ thực trạng suy dinh dưỡng và những yếu tố liên quan,

tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ em từ 6-24 tháng tuổi tại huyện Bác Ái năm 2018”

HUPH

Trang 15

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Định nghĩa và phân loại SDD

Tình trạng dinh dưỡng:

Tình trạng dinh dưỡng(TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và

hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể TTDD tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về dinh dưỡng[15]

Phân loại suy dinh dưỡng

SDD là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế độ ăn của trẻ không đảm

bảo đủ nhu cầu protein và năng lượng, thiếu vi chất dinh dưỡng kèm theo là các bệnh nhiễm khuẩn

Phân loại SDD: dựa trên cân nặng, chiều cao của trẻ và so sánh với Chuẩn

tăng trưởng của WHO năm 2016, người ta chia SDD thành 3 thể:

- SDD thể nhẹ cân: cân nặng thấp hơn so với mức tiêu chuẩn của trẻ cùng tuổi và giới (sử dụng điểm ngưỡng cân nặng theo tuổi dưới-2SD)

- SDD thể thấp còi: là giảm mức độ tăng trưởng của cơ thể, biểu hiện của SDD mạn tính, có thể bắt đầu sớm từ SDD sớm từ bào thai do mẹ bị thiếu dinh dưỡng Được xác định khi chiều cao thấp hơn với mức tiêu của trẻ cùng tuổi và giới dưới - 2SD

- SDD thể gầy còm: là hiện tượng cơ và mỡ cơ thể bị teo đi, được coi là SDD cấp tính vì thường biểu hiện trong thời gian ngắn Được xác định khi cân nặng theo chiều cao dưới-2SD

1.1.2 Một số phương pháp đánh giá TTDD của trẻ em dưới 5 tuổi

a) Phân loại dựa vào phần trăm so với trung vị[15]

Để tính toán theo cách này người ta coi giá trị trung vị là 100% rồi tính giá trị đo được trên đối tượng đạt bao nhiêu phần trăm so với trung vị

HUPH

Trang 16

b) Phân loại theo Gomez

Năm 1956, Gomez – một thầy thuốc Mexico, đã dựa vào cân nặng theo tuổi để xếp loại mức độ suy dinh dưỡng trẻ em trong bệnh viện như sau:

- Trên 90% so với quần thể đối chứng Harvard: Bình thường

- Từ 90% - 75%: Suy dinh dưỡng độ I

- Từ 75% - 60%: Suy dinh dưỡng độ II

- Dưới 60%: Suy dinh dưỡng độ III

Cách phân loại của Gomez không phân biệt giữa Marasmus và Kwashionkor cũng như giữa SDD cấp hay mạn bởi vì cách phân loại này không để ý đến chiều cao

c) Phân loại theo Wellcome (1970)

Là phân loại dựa trên CN/T , có xét tới triệu chứng phù

Chia làm 3 loại:

+ SDD nhẹ: CN/T còn từ 70% đến 80% (Từ -2SD đến -3SD)

+ SDD vừa: CN/T còn từ 60% đến 70% (Từ -3SD đến -4SD)

+ SDD nặng: gồm 3 thể Marasmus, Kwashiorkor, thể phối hợp K-M

- Thể Marasmus CN/T < 60% Mất toàn bộ lớp mỡ dưới da, thường kèm theo giảm trương lực cơ, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, thiếu vitamin, biếng ăn, quấy khóc

- Thể Kwashiorkor Phù dinh dưỡng, kèm theo mảng sắc tố, chấm sắc tố, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, thiếu vitamin

- Thể phối hợp K - M Có phù dinh dưỡng, cơ thể gầy đét, thiếu máu, vitamin, rối loạn tiêu hóa

Cách phân loại này cũng sử dụng chỉ số cân nặng theo tuổi so với trung vị

của quần thể Harvard nhưng chú ý thêm trẻ có phù hay không

HUPH

Trang 17

Bảng 1 1 Đánh giá tình trạng SDD trẻ em theo GOMEZ

≥ 80 % chuẩn 90 % chuẩn ≥ 70 % chuẩn Trẻ bình thường 71-80 % chuẩn 86-90% chuẩn 71-80 % chuẩn Trẻ SDD nhẹ

61- 70 % chuẩn 81- 85% chuẩn 61-80% chuẩn Trẻ SDD vừa

60 % chuẩn 80 % chuẩn 60 % chuẩn Trẻ SDD nặng

d) Phân loại theo Waterlow (1972)

Cách phân loại này dựa trên cả chiều cao/ tuổi và cân nặng/ tuổi so với trung vị của quần thể Harvard [15]

Bảng 1 2 Đánh giá tình trạng SDD trẻ em theo Waterlow

Chiều cao

theo tuổi

Cân nặng theo chiều cao

≥ 90% Bình thường Thiếu dinh dưỡng thể gầy còm

(thiếu dinh dưỡng cấp)

< 90% Thiếu dinh dưỡng thể còi cọc

(thiếu dinh dưỡng trường diễn)

Thiếu dinh dưỡng nặng kéo dài (thể phối hợp)

Cách phân loại này giúp cho việc phân biệt đứa trẻ nào còm, đứa trẻ nào còi hoặc phối hợp cả hai thể vừa còm vừa còi

e) Phân loại dựa vào độ lệch chuẩn hoặc Z- score [15] [18]

Nhân trắc học, điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống, khám lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng, xét nghiệm sinh hóa (máu, nước tiểu…), các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng, điều tra tình trạng bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng bệnh tật và dinh dưỡng, đánh giá các yếu tố sinh thái lên quan đến TTDD và sức khỏe

Phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng: Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các

kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá TTDD Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất

HUPH

Trang 18

quan trọng Có thể chia ra các nhóm kích thước nhân trắc sau đây: Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng; các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều dài nằm, chiều cao đứng; cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt như lớp mỡ dưới da và cơ…

Ưu điểm của phương pháp nhân trắc học: đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn; các phương pháp chính xác khi áp dụng kỹ thuật chuẩn; trang thiết bị không đắt tiền, dễ mang vác vận chuyển; có thể xác định được mức độ SDD; Có thể khai thác và đánh giá được các dấu hiệu về TTDD trong quá khứ;

Có thể dùng để đánh giá sự biến đổi TTDD của nhiều thế hệ kế tiếp nhau như trên; các test sàng lọc nhằm xác định các cá thể có nguy SDD cao

Đánh giá:

Hiện nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị: coi thiếu dinh dưỡng khi cân nặng theo tuổi dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) So với Chuẩn tăng trưởng của WHO 2016, Các chỉ số sử dụng đánh giá TTDD:

*Cân nặng theo tuổi: đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất Điểm

ngưỡng là dưới -2SD được coi là SDD thể thiếu cân

Suy dinh dưỡng vừa (độ 1)

Suy dinh dưỡng nặng (độ 2)

Suy dinh dưỡng rất nặng (độ3)

BìnhThường

Thừa cân

Dưới -2SD đến ≥-3SD Dưới -3SD đến ≥ -4SD Dưới -4SD

-2SD đến +2SD Trên +2SD

*Chiều cao theo tuổi: chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng

giới của quần thể tham chiếu của WHO Thang phân loại dựa trên độ lệch chuẩn như sau:

Suy dinh dưỡng độ 1(thấp còi độ 1)

Suy dinh dưỡng độ 2 (thấp còi độ 2)

Bình Thường

Dưới -2SD đến ≥-3SD Dưới -3SD

-2SD trở lên Chỉ tiêu chiều cao/tuổi thấp (dưới -2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh

HUPH

Trang 19

dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ

*Cân nặng theo chiều cao:

Cân nặng/ chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2SD theo quần thể tham chiếu WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân bị SDD thể gầy còm

Nếu chỉ tiêu CN/ CC trên +2SD là trẻ có biểu hiện thừa cân

Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao/ tuổi và cân nặng/ chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng (-2SD) đề nghị đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa thấp còi

WHO còn đề nghị phối hợp cả 3 chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao để phân loại thiếu dinh dưỡng cấp hay quá khứ Đồng thời dùng 3 chỉ tiêu này để chia ra các thể lâm sàng biểu hiện thời gian bị bệnh Điểm ngưỡng cho các chỉ tiêu này được coi là bình thường là X± 2SD Trong các đánh giá ở cộng đồng những chỉ số cân nặng theo tuổi thấp được gọi là thể nhẹ cân, chiều cao theo tuổi thấp được gọi là thể thấp còi và cân nặng theo chiều cao thấp là thể gầy còm Sử dụng 3 chỉ tiêu đó WHO đã đưa ra ngưỡng phân loại (Bảng 1.1) để nhận định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng như sau:

Bảng 1 3 Ngưỡng phân loại mức độ SDD theo WHO

Thấp Trung bình Cao Rất cao

Thấp còi (Stunting) <20 20-29 30-39 ≥ 40 Nhẹ cân (Underweight) <10 10-19 20-29 ≥ 30 Gày còm (Wasting) < 5 5 -9 10 -14 ≥ 15

f) Phân loại dựa vào bách phân vị

* Khái niệm bách phân vị

Một bách phân vị ứng với vị trí của một giá trị kích thước đo được trong mối tương quan với tất cả các giá trị đo được (100%) của quần thể tham khảo được phân ranh giới theo thứ tự và độ lớn

HUPH

Trang 20

* Cách phân loại dựa vào bách phân vị

Người ta lấy điểm bách phân vị thứ ba của quần thể tham khảo NCHS làm điểm ngưỡng Những đứa trẻ có số đo nhân trắc dưới điểm này đều bị coi là suy dinh dưỡng

g) Phân loại dựa vào chỉ số vòng cánh tay:

Vòng cánh tay được sử dụng trong test sàng lọc đối với suy dinh dưỡng thiếu protein - năng lượng khi mà các kích thước cân nặng và chiều cao của trẻ không thể

đo được và tuổi chính xác của trẻ không rõ Một số điểm ngưỡng để phân loại mức

độ suy dinh dưỡng của trẻ từ 1 - 5 tuổi

- Bình thường: > 13,5cm

- Coi là báo động hoặc suy dinh dưỡng nhẹ: 12,5 - 13,5 cm

- Suy dinh dưỡng: < 12,5 cm

- Suy dinh dưỡng nặng: < 11,5 cm

1.1.3 Giải pháp và hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng ở Việt Nam

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đầu tư cho công tác phòng chống suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng trẻ em Từ năm

2000, dự án phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã được đưa vào là một trong các

dự án thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia về phòng chống các bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm với mức đầu tư trung bình khoảng 100 tỷ/năm Trên cơ sở đường lối dinh dưỡng của Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng, Dự án mục tiêu Quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và các tỉnh đã xây dựng kế hoạch nhằm giảm suy dinh dưỡng trẻ em trên địa bàn toàn quốc Các giải pháp của chiến lược quốc gia về dinh dưỡng bao gồm:

1) Giáo dục và phổ cập kiến thức dinh dưỡng cho toàn dân, 2) Đảm bảo an ninh thực phẩm ở cấp hộ gia đình, 3)Phòng chống suy dinh dưỡng protein-năng lượng ở trẻ em và bà mẹ, 4)Phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng, 5) Phòng chống các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng, 6) Lồng ghép hoạt động dinh dưỡng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, 7) Đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm 8) Theo dõi, đánh giá, giám sát dinh dưỡng, 9) Xây dựng mô hình điểm để rút kinh nghiệm chỉ đạo[16]

HUPH

Trang 21

* Các hoạt động dinh dưỡng triển khai tại cộng đồng

Hiện nay, công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã trở thành một hoạt động dinh dưỡng quan trọng ở nước ta trong đó mục tiêu hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng được đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền, các địa phương Phương châm dự phòng là chủ đạo tức là thực hiện chăm sóc sớm, chăm sóc mọi đứa trẻ và tập trung ưu tiên vào giai đoạn 2 năm đầu tiên Các hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng được triển khai theo một định hướng chung trên toàn quốc Nội dung chăm sóc dinh dưỡng thiết yếu tại xã/ phường bao gồm: chăm sóc phòng ngừa suy dinh dưỡng cho trẻ từ giai đoạn bào thai là sung viên sắt và acid folic cho bà mẹ mang thai, chăm sóc đúng cho trẻ giai đoạn sơ sinh: bú sữ mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 7 và tiếp tục bú mẹ tới

24 tháng tuổi Bổ sung Vitamin A liều cao cho trẻ một năm hai lần và bà mẹ sau sinh Các biện pháp tăng cường khác như: chăm sóc cho trẻ trong và sau khi mắc bệnh, phòng chống giun sán, theo dõi tăng trưởng – giáo dục truyền thông dinh dưỡng[5] [16]

1.1.4 Các chỉ số về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

• Nuôi con bằng sữa mẹ:

Nuôi con bằng sữa mẹ là vấn đề quan trọng trong nuôi dưỡng trẻ em ít nhất là trong năm đầu tiên Không chỉ là nguồn dinh dưỡng chính cho trẻ mà còn là nguồn cung cấp kháng thể chính cho trẻ [15]

- Bú sớm sau sinh: Cho con bú càng sớm càng tốt ngay trong nửa giờ đầu sau khi sinh

- Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong

6 tháng đầu Chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, đồ uống nào khác kể cả nước chín, trừ các trường hợp phải uống bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc theo chỉ định của bác sỹ

- Cho con bú đến 18 - 24 tháng, ít nhất đến 12 tháng

• Cho trẻ ăn bổ sung [14]

- Ăn bổ sung (ABS): là cho ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ Các thức ăn và chất lỏng thêm này được gọi là thức ABS vì chúng bổ sung cho sữa

HUPH

Trang 22

mẹ, chứ không hoàn toàn thay thế được sữa mẹ để cung cấp đủ chất dinh dưỡng Thức ABS phải là các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và đủ về mặt số lượng để trẻ có thể tiếp tục phát triển

- Thời điểm bắt đầu cho ABS: Từ khi tròn 6 tháng tuổi (180 ngày sau sinh), tốc độ tăng trưởng của trẻ tăng lên nhiều vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cũng tăng lên và sữa mẹ không thể đáp ứng nhu cầu này đặc biệt là một số vi chất dinh dưỡng (Fe, vitamin A…) Do đó, cần cho trẻ ABS ngoài sữa mẹ từ tháng tuổi 6 trở đi có sự thiếu hụt giữa mức tổng năng lượng cần cho trẻ và mức năng lượng

do sữa mẹ cung cấp, trẻ càng lớn thì sự thiếu hụt này càng tăng Vì vậy đối với

đa số trẻ, sau 6 tháng tuổi là thời gian tốt cho bắt đầu ABS

- Số lượng bữa ăn tối thiểu: trẻ được bú sữa mẹ và không bú sữa mẹ từ 6 tháng tuổi trở lên được cho ăn thêm các loại thức ăn lỏng, đặc và thức ăn mềm (bao gồm cả cho ăn sữa ngoài trong trường hợp trẻ không được bú sữa mẹ) nhiều hơn hoặc bằng số lượng bữa ăn tối thiểu Số lượng bữa ăn tối thiểu/ngày là:2 lần với trẻ từ 6-8 tháng tuổi được bú sữa mẹ; 3 lần đối với trẻ 9-23 tháng tuổi được

bú sữa mẹ; 4 lần đối với trẻ 6-23 tháng tuổi không được bú sữa mẹ

- Ăn đa dạng thực phẩm: Cần đảm bảo được ăn đủ 4 hoặc nhiều hơn 4 nhóm

thực phẩm: Nhóm chất bột, nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm vitamin và khoáng chất

• Chăm sóc trẻ bệnh: [14]

Các bệnh nhiễm khuẩn nhất là tiêu chảy và viêm đường hô hấp khá phổ biến và

là nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy dinh dưỡng Khi trẻ bệnh, ngoài nhu cầu dinh dưỡng cơ bản đáp ứng cấc hoạt động sống bình thường thì cơ thể còn cần thêm năng lượng để bù lại do tiêu hoa khi bệnh như hoạt hóa bổ thể chống lại mầm bệnh, bài tiết thải độc qua các lỗ tự nhiên Vì vậy, cần kết hợp với các hoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ ốm cả về y tế và nuôi dưỡng Cần thay đổi những quan niệm không phù hợp như kiêng mỡ, kiêng rau xanh khi trẻ bị tiêu chảy.Cụ thể cần làm những việc sau:

- Tiếp tục và tăng cường cho trẻ bú trong thời gian trẻ bị bệnh

HUPH

Trang 23

- Với trẻ trên 6 tháng tuổi, hãy tiếp tục cho trẻ ăn bổ sung (ăn dặm) và động viên trẻ ăn

Phải đảm bảo, bệnh nhân cần số lượng Kcal bằng số Kcal của chuyển hóa cơ bản: 1250 – 1500 Kcal, cộng thêm những nhu cầu sau đây do bệnh tật đòi hỏi

- 20% nếu bệnh nhân vật vã nhiều

- 13% nếu sốt cao lên 10C

- 10% nếu tổ chức tế bào bị hủy hoại

Tổng nhu cầu năng lượng dao động từ 1800 - 2000 Kcal tương đương với lao động nhẹ

Cân đối các nhóm dinh dưỡng thích hợp cho bệnh nhân thường là: P: L: G = 13:22:65 (tỷ lệ năng lượng) = l: 0,7: 5 (trọng lượng thức ăn) Bổ sung các vitamin thông qua trái cây hay các loại rau, tăng cường Vit A và C nhưng tránh các loại quá ngọt

Ngoài ra còn chú ý về vệ sinh an toàn thực phẩm và phương pháp chế sao cho thức ăn mềm, dễ tiêu

- Trong thời gian hồi phục bệnh, ngay khi trẻ có thể và muốn ăn, hãy cho trẻ ăn nhiều hơn (sữa mẹ và thức ăn bổ sung) và tiếp tục cho ăn nhiều càng lâu càng tốt

- Đến cơ sở y tế để nhận được tư vấn nên chăm sóc trẻ như thế nào

1.1.5 Các chỉ số về chăm sóc khi mang thai

Các yếu tố về dinh dưỡng là chỉ số về chất lượng chăm sóc trước sinh Dinh dưỡng trong thai kỳ đảm bảo sự tăng cân phù hợp của bà mẹ và nguồn năng lượng cho sự phát triển của thai nhi

Nguồn năng lượng cần thiết tăng trung bình là 300 kcal/ngày nhưng sẽ thay đổi tùy thuộc vào mỗi quý và năng lượng trung bình toàn bộ là từ 2200 đến

132900 kcal/ngày Kém dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai làm thai có thể bị sẩy, chết lưu, dị tật, đẻ non hoặc nhẹ cân đặc biệt là chế độ dinh dưỡng kém

trong 3 tháng cuối của thai kỳ[15] [14]:

• Chế độ ǎn uống của người mẹ

Trong thời kỳ có thai, nuôi con bú, chế độ ǎn uống của người mẹ rất quan trọng

vì có ảnh hưởng tới sức khỏe của cả mẹ lẫn con

HUPH

Trang 24

Nếu người mẹ ǎn uống tốt, đầy đủ các chất dinh dưỡng thì người mẹ sẽ lên cân tốt Trong suốt thời kỳ mang thai, người mẹ có cân nặng trung bình, cần tǎng thêm từ 10kg đến 12kg (trong đó 3 tháng đầu tǎng 1kg; 3 tháng giữa tǎng 4-5kg; 3 tháng cuối tǎng 5-6 kg) Tǎng cân tốt, người mẹ sẽ tích lũy mỡ là nguồn dự trữ để tạo sữa sau khi sinh Tối thiểu tăng ¼ về lượng và chất thức ăn của mỗi bữa

Đối với bà mẹ suy dinh dưỡng cần tăng ít nhất 12 - 18kg/thai kỳ Bà mẹ thừa cân hay béo phì vẫn cần tăng từ 6 – 8 kg/thai kỳ

Những trường hợp người mẹ bị thiếu ǎn hoặc ǎn uống kiêng cữ không hợp lý chính là nguyên nhân của suy dinh dưỡng trong bào thai, trẻ đẻ ra có cân nặng thấp dưới 2500g

Trong chế độ ǎn, người mẹ không nên kiêng cữ, nhưng cũng cần chú ý một số vấn đề nên hạn chế trong ǎn uống như:

- Không nên dùng các loại kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, nước trà đặc

- Đầu thai kỳ, các thức ăn hay uống có tính mát và gây co thắt nên hạn chế như dừa, rau má, rau ngót, đu đủ xanh, táo mèo, long nhãn, đào, gừng, ớt, rau sam… Mặc dù chưa có nghiên cứu nào kết luận gây xảy thai do nguyên nhân này nhưng cũng tùy thể trạng người bệnh mà nên cân nhắc

- Nên giảm ăn muối trong thai kỳ, đặc biệt là trong 3 tháng cuối thai kỳ, vì có thể gây ra phù, dẫn đến các biến chứng khi sanh Giảm ǎn các loại gia vị như ớt, tiêu, tỏi, dấm

- Một số loại hải sản cũng cần hạn chế sử dụng do có nguy cơ chứa thủy ngân cao (cá thu, cá mập, cá kiếm) Thủy ngân nhiễm trong cá nếu tích lũy quá nhiều có thể gây tổn thương đến não của thai nhi

- Tránh các thức ăn gây táo bón

Trang 25

Tối thiểu ba lần trong suốt thời kỳ mang thai

• Chăm sóc khác:

- Khi nằm nghỉ, ngủ nên nằm nghiêng và tốt hơn là nghiêng bên trái, hai chân

kê gối hơi cao nếu có phù chân do ứ đọng

- Nếu nghi ngờ có viêm nhiễm đường sinh dục cần được quan sát âm đạo, cổ tử cung qua đặt mỏ vịt

- Các xét nghiệm cần thiết: Thử protein nước tiểu, thử huyết sắc tố Nếu có thiếu máu thì xét nghiệm phân xem có giun không Thử HIV, giang mai và viêm gan Xét nghiệm khí hư (nếu cần)

- Tiêm phòng uốn ván: Với người chưa tiêm phòng uốn ván lần nào: tiêm mũi đầu khi phát hiện thai nghén bất kỳ ở tháng nào; tiếp theo tiêm mũi thứ hai sau mũi tiêm đầu ít nhất một tháng và phải cách thời gian dự kiến đẻ ít nhất 1 tháng.Với những người đã tiêm đủ 2 mũi, nếu: Lần tiêm trước trước < 5 năm: tiêm 1 mũi Lần tiêm trước trước > 5 năm: tiêm 2 mũi Với người đã tiêm ba mũi hoặc bốn mũi, cần tiêm nhắc lại một mũi Với người đã tiêm đủ năm mũi phòng uốn ván theo đúng lịch, nếu mũi tiêm cuối cùng cách đã 10 năm trở lên thì nên tiêm thêm một mũi nhắc lại

- Cung cấp thuốc thiết yếu: Viên sắt/folic: Uống ngày 1 viên trong suốt thời gian có thai đến hết 6 tuần sau đẻ Tối thiểu uống trước đẻ 90 ngày Nếu thai phụ

có biểu hiện thiếu máu rõ, có thể tăng từ liều dự phòng lên liều điều trị 2 - 3 viên/ngày Việc cung cấp viên sắt/acid folic cần được thực hiện ngay từ lần khám thai đầu Kiểm tra việc sử dụng và cung cấp tiếp trong các lần khám thai sau

- Lượng tăng ít nhất 1/4 (tăng số bữa ăn và số lượng cơm, thức ăn trong mỗi bữa)

- Chế độ làm việc khi có thai: Làm theo khả năng, xen kẽ nghỉ ngơi nhưng không quá nặng nhọc, tránh làm ban đêm (nhất là từ tháng thứ bảy) Không làm việc vào tháng cuối để đảm bảo sức khỏe cho mẹ và để con tăng cân - Không mang vác nặng trên đầu, trên vai Không để kiệt sức Không làm việc dưới nước hoặc trên cao

- Không tiếp xúc với các yếu tố độc hại

HUPH

Trang 26

- Tránh đi xa, tránh xóc xe hay va chạm mạnh - Quan hệ tình dục thận trọng

- Vệ sinh khi có thai

- Nhà ở phải thoáng khí sạch sẽ, tránh ẩm, nóng, khói

- Mặc quần áo rộng và thoáng - Tắm rửa thường xuyên, giữ sạch vú và bộ phận sinh dục hàng ngày

- Duy trì cuộc sống thoải mái, tránh căng thẳng

- Ngủ ít nhất 8 giờ mỗi ngày Chú trọng ngủ trưa

- Tránh bơm rửa trong âm đạo

- Lưu ý các dấu hiệu báo động cần khám ngay lại ngay như đau bụng, ra huyết

và phù nề

1.1.6 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng ở trẻ

SDD ở trẻ ngoài những hậu quả ngay lập tức như tử vong và tàn phế, nó còn ảnh hưởng đến tương lai của trẻ như tăng trưởng thể chất, khả năng sinh sản, suy nghĩ/trí thông minh và khả năng lao động của trẻ sau này Mức độ ảnh hưởng của SDD tùy thuộc vào mức độ và thời gian trẻ bị SDD Có rất nhiều nguyên nhân, yếu

tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD ở trẻ, mô hình nguyên nhân - hậu quả của UNICEF đã giúp khái quát những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó [17]:

HUPH

Trang 27

Suy dinh dưỡng

Nguyên nhân gián tiếp

Nguyên nhân cơ bản

HUPH

Trang 28

* Nguyên nhân trực tiếp: Phải kể đến là thiếu ăn về số lượng hoặc chất lượng và

mắc các bệnh nhiễm khuẩn Trẻ em trước tuổi học đường là đối tượng bị suy dinh dưỡng cao nhất bởi vì cơ thể ở giai đoạn phát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng cao

và do không được ăn đầy đủ các chất dinhdưỡng

Nuôi con bằng sữa mẹ không đúng và cho ăn bổ sung không hợp lý đóng vai trò quan trọng đối với suy dinh dưỡng Không cho trẻ bú sớm sau sinh, không cho trẻ bú sữa non, không cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cai sữa sớm, không tận dụng nguồn sữa mẹ, cho trẻ bú bình, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn, thức ăn bổ sung không đủ các chất dinh dưỡng, số lượng thức ăn bổ sung không đủ theo độ tuổi là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến suy dinh dưỡng

Nhiễm khuẩn dễ đưa đến suy dinh dưỡng do rối loạn tiêu hoá, và ngược lại suy dinh dưỡng dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm Do đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng có thể dao động theo mùa và thường cao trong các mùa các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét )

Trong những năm tháng đầu tiên sau khi ra đời, những trẻ đã bị kém phát triển trong thời kỳ bào thai (suy dinh dưỡng bào thai) có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng cao Tình trạng kém phát triển của trẻ biểu hiện qua cân nặng theo tuổi và chiều cao theo tuổi thấp, xảy ra trong khoảng thời gian tương đối ngắn, từ khi mới sinh đến khi trẻ được 2năm

* Nguyên nhân gián tiếp: do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ

em, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh

* Nguyên nhân cơ bản

Đói nghèo là nguyên nhân chính dẫn đến hàng loạt các nguyên nhân kể trên Đói nghèo dẫn đến việc trẻ phải sống trong môi trường không an toàn, không đảm bảo vệ sinh, không được khám chữa bệnh kịp thời Đói nghèo dẫn tới việc không đủ

ăn hoặc ăn uống không đủ chất Ngoài ra đói nghèo dẫn đến bà mẹ không được chăm sóc đúng cách khi mang thai, sinh con, nuôi con Đói nghèo là nguyên nhân làm cho kiến thức, khả năng CST bị hạn chế Song song với đói nghèo, cấu trúc kinh tế xã hội đóng vai trò khá lớn đến tình trạng SDD trẻ nhỏ Ở các nước phát

HUPH

Trang 29

triển tình trạng SDD ở trẻ nhỏ là rất thấp không đáng kể ngược lại ở các nước đang phát triển hoặc các nước nghèo tình trạng SDD này khá cao Ngoài nguyên nhân cấu trúc kinh tế, tình trạng SDD còn chịu ảnh hưởng bởi nguyên nhân chính trị, văn hóa xã hội, khoa học công nghệ và con người

* Những trẻ có nguy cơ cao bị thiếu dinh dưỡng [15]

- Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ ở 4 - 6 tháng đầu sau khi sinh

- Những trẻ sinh đôi

- Những trẻ gia đình đông con, mồ côi cha mẹ

- Những trẻ sống trong gia đình quá nghèo

- Những trẻ có dị tật bẩm sinh

- Những trẻ bị sởi, ỉa chảy, ho gà, viêm đường hô hấp

Sơ lược về thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam

Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã thấy được sự cải thiện TTDD, nền kinh tế phát triển hơn và hoạt động có hiệu quả của ngành Y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng Tuy nhiên, SDD vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam [17] [15].Theo kết quả tổng điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2015, tỷ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân là 14,1% được đánh giá là mức độ cao trung bình, SDD thể thấp còi là 24,6% được xem là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, SDD gầy còm ở mức 5-10% là mức trung bình của WHO [17]

(Nguồn: Viện Dinh dưỡng)

Hình 1 1 Diễn biến SDD trẻ em <5 tuổi giai đoạn 2008 – 2015

HUPH

Trang 30

Qua hình 1.1 cho thấy trong những năm gần đây, tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi đang có xu hướng giảm đều qua các năm.Với SDD thể nhẹ cân năm 2008 từ 19,9% đến năm 2015 tỷ lệ này chỉ còn 14,1%, trung bình mỗi năm giảm 0,73%; với SDD thể thấp còi, năm 2008 là 32,6% đến năm 2015 còn 24,6%, trung bình mỗi năm giảm 1%

Phân bố SDD theo khu vực: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa các vùng sinh thái, nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng Trong khu vực đồng bằng thì tỷ lệ SDD nông thôn cũng cao hơn ở thành thị.Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên (21,6% với SDD nhẹ cân và 34,2% với SDD thấp còi)

Ở vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ SDD thấp hơn so với các vùng khác (9,1% với SDD nhẹ cân và 19,3% với SDD thấp còi), thấp nhất trong các vùng sinh thái của cả nước Riêng tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất ở vùng Tây Nguyên (34,2%), Trung du và miền núi phía Bắc (30,3%), thấp nhất ở vùng đồng bằng Sông Hồng (21,8%) và vùng Đông Nam Bộ (19,3%) [11] SDD cũng có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội của người dân Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (17,9%) cao hơn vùng thành thị (14,1%) và vùng nghèo (27%) cao hơn so với vùng bình thường (14%) Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn (28,9%) cao hơn vùng thành thị (19,1%) và vùng nghèo (35,7%) cao hơn so với vùng không nghèo (25,6%)

Bảng 1 4 Tỷ lệ trẻ SDD dưới 5 tuổi theo khu vực

Toàn quốc và

SDD cân/tuổi (%) SDD cao/tuổi (%) SDD

cân/cao (%)

Chung Độ I Độ II Độ

III Chung Độ I Độ II Toàn quốc 98.477 14,1 12,2 1,7 0,2 24,6 16,4 8,2 6,4

ĐB sông Hồng 18.100 10,8 9,5 1,2 0,1 21,8 16,8 5,0 5,5

Trung du và

miền núi phíaBắc 21.226 19,5 15,4 3,7 0,4 30,3 20,1 10,2 8,1

HUPH

Trang 31

Bắc Trung Bộ và

duyên hải miền

Trung 21.129 16,1 14,2 1,7 0,2 27,3 18,4 8,9 6,2 Tây Nguyên 7.597 21,6 17,1 4,1 0,4 34,2 21,9 12,3 7,3 Đông Nam Bộ 10.625 9,1 7,6 1,4 0,1 19,3 11,9 7,4 4,2 ĐBS Cửu Long 19.760 12,2 10,7 1,3 0,2 23,5 15,3 8,2 6,8

Nguồn: Số liệu giám sát dinh dưỡng năm 2015 của Viện Dinh dưỡng

Phân bố SDD theo nhóm tuổi: Tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi là thấp nhất đối với cả 3 thể (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm), sau đó SDD tăng dần Thời kỳ trẻ 6-23 tháng là thời kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao nhất SDD thể nhẹ cân tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và đạt tỷ lệ cao nhất lúc trẻ được 36 - 41 tháng tuổi SDD thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ tháng 6 đến 23 tháng và gần như đi ngang, thậm chí giảm vào độ tuổi 54-59 tháng [8] Theo báo cáo của Alive & Thrive, Điều tra tại 11 tỉnh cho thấy

tỷ lệ SDD trẻ từ 6 đến 23,9 tháng tuổi theo các thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm lần lượt 8,4%, 15,3%, 3,6% Tỷ lệ thấp còi và nhẹ cân ở trẻ em trai cao hơn so với trẻ gái: 11,4% trẻ em trai so với 7,6% trẻ gái bị thấp còi; 6,4% trẻ em trai so với 5,1% trẻ gái bị nhẹ cân Tỷ lệ thấp còi và nhẹ cân tăng dần theo tuổi của trẻ, trong nhóm trẻ từ 18 đến 23,9 tháng tuổi, 20,8% trẻ bị thấp còi và 10,7% trẻ bị nhẹ cân [18]

1.2 Một số nghiên cứu yếu tố liên quan thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em 1.2.1 Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố thuộc về cá nhân trẻ và tình

trạng suy dinh dưỡng

Đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em, qua đó thấy rằng yếu tố cá nhân trẻ liên quan đến TTDD của trẻ như: tuổi và giới tính, cân nặng sơ sinh, mắc bệnh nhiễm khuẩn trước đó của trẻ

Nghiên cứu của Trần Thành Đô tại vùng Núi Phía Bắc và Tây Nguyên Kết quả cho thấy, tỷ lệ trẻ <2 tuổi SDD nhẹ cân là 24.8%, thấp còi 41,3%, trong đó trẻ trai có tỷ lệ thấp còi cao hơn trẻ gái khoảng 30% (p<0,05), tỷ lệ này tăng nhanh theo nhóm tuổi từ 22% ở nhóm 0-5 tháng đến 62% ở nhóm 18-23 tháng (p<0,01) Trẻ

HUPH

Trang 32

trai có tỷ lệ SDD nhẹ cân cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bé gái với p<0,01 (29,1% so với 19,9%) và tỷ lệ này tăng dần theo nhóm tuổi từ 15% ở nhóm 0-5 tháng đến 32% ở nhóm 18-23 tháng [4] Theo NC của Bùi Ngọc Diễm tại xã Ô Lâm huyện Tri Tôn tỉnh An Giang (2016) cho thấy trẻ nam có nguy cơ SDD cao hơn trẻ

nữ gấp 3,3 lần (P<0,01); tỷ lệ SDD nhẹ cân tăng dần theo nhóm tuổi (P<0,05); trẻ

có CNSS thấp làm tăng nguy cơ SDD thấp còi 7,3 lần (P<0,01) [3] Nghiên cứu tại Huyện Tứ kỳ, Hải Dương (2013) những trẻ có cân nặng sơ sinh < 2500g nguy cơ bị SDD thấp còi cao gấp 2,2 lần trẻ cân nặng SS > 2500g (P< 0,001) [12] Tại Nghiên cứu của Đinh Đạo tại Bắc Trà My, Quãng Nam năm 2014 thì tỷ lệ này chênh lệch 1,2 lần với p< 0,05 [2] Điều này cho thấy vấn đề chăm sóc thai có ý nghĩa với sự phát triển không những trong thời kỳ bào thai mà cả sự phát triển sau này của trẻ Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng minh Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, các bệnh nhiễm trùng khác cũng ảnh hưởng nhiều tới dinh dưỡng như nhiễm khuẩn đường hô hấp, sởi và các bệnh kí sinh trùng đường ruột Trong Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thúy (2013), trẻ bị bệnh tiêu chảy SDD thấp còi cao gấp 2,4 lần so với trẻ không mắc bệnh tiêu chảy (P<0,001); trẻ mắc bệnh NKHH có nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi cao gấp 2,4 lần so với trẻ không mắc NKHH (P<0,001) [12] Nghiên cứu của Đinh Đạo tại Bắc Trà My, Quãng Nam năm 2014 những trẻ NKHH cấp có nguy cơ SDD cao hơn trẻ không bị NKHH cấp là 1.6 lần (P<0,001) [2]

1.2.2 Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố thuộc về cá nhân mẹ và tình

trạng suy dinh dưỡng

Bà mẹ là người chăm sóc trực tiếp cho trẻ, yếu tố cá nhân mẹ như: tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con của bà mẹ ít nhiều ảnh hưởng đến TTDD của trẻ Ta có thể thấy điều đó qua một số nghiên cứu sau:

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nga tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng

2013, tỷ lệ SDD ở trẻ dân tộc thiểu số cao hơn dân tộc kinh ở cả 3 thể (nhẹ cân 22,8% và 8,6%, thấp còi 34,6% và 22,3%, gầy còm 3,7% và 2,8%) Ở vùng kinh tế càng khó khăn thì tỷ lệ SDD càng cao [7] Theo nghiên cứu tại Huyện Tứ kỳ, Hải

HUPH

Trang 33

Dương (2013) chỉ ra rõ tỷ lệ nguy cơ SDD trẻ em của các bà mẹ làm ruộng là gấp 2,1 lần so với các bà mẹ là công chức và ngành nghề khác (P<0,05) [12] Nghiên cứu của Đinh Đạo tại Bắc Trà My, Quãng Nam năm 2014 thì bà mẹ mù chữ có con nguy cơ bị SDD cao gấp 1,4 lần so với bà mẹ có trình độ trung học trở lên, số bà mẹ làm nghề nông có con bị SDD cao gấp 1,85 lần so với bà mẹ làm CNVC, và cũng cao hơn nhóm bà mẹ làm các nghề khác, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những gia đình kinh tế nghèo có trẻ nguy cơ bị SDD cao gia đình đủ ăn, khá giả là 1.6 lần (P<0,001) [2]

Nguyên nhân dẫn đến khẩu phần ăn của trẻ không hợp lý là nguồn lương thực trong gia đình và kiến thức, thực hành CST Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những vùng có tỷ lệ hộ nghèo hoặc những vùng không sản xuất cây lương thực hoặc kinh

tế kém phát triển thường có tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD cao, tại đây trẻ thường không được ăn đủ bữa và đủ chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ [19] Nghiên cứu của Đinh Đạo tại Bắc Trà My, Quãng Nam năm 2014 chỉ ra rằng bà mẹ có kiến thức không tốt thì trẻ sinh ra có nguy cơ SDD cao gấp 1,5 lần so với những bà mẹ

có kiến thức tốt bao gồm kiến thức của bà mẹ về cho bú và ăn dặm đúng (P<0,001); nhóm bà mẹ thực hành chăm sóc cho trẻ dưới 5 tuổi không tốt thì nguy cơ trẻ SDD cao gấp 1,8 lần so với những bà mẹ thực hành tốt (p<0,001) [2]

Theo nghiên cứu của Bùi Ngọc Diễm tại xã Ô Lâm huyện Tri Tôn tỉnh An Giang (2016) chỉ ra rằng kinh tế gia đình nghèo làm tăng nguy cơ trẻ SDD thấp còi 1,8 lần (P<0,05) [3], Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm năm 2009, kết quả có 52,2% trẻ SDD ở những gia đình thuộc diện nghèo của xã và 24,2% trẻ SDD ở những hộ không nghèo, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,05 Theo tác giả Trần Xuân Huyền tỷ lệ SDD nhẹ cân trong nhóm nghèo cao hơn trong nhóm không nghèo 1,8 lần (p<0,05); tỷ lệ SDD thấp còi trong nhóm nghèo cao hơn 1,7 lần so nhóm không nghèo (p<0,05) [6] Tại Nghiên cứu tại Huyện Tứ kỳ, Hải Dương (2013) thì chênh lệch này lên đến 2,8 lần (với p<0.001), trong nghiên cứu cũng nói rằng những bà

mẹ hiểu biết không đúng về lợi ích của sữa mẹ khi nuôi con thì con có nguy cơ SĐ thể thấp còi cao gấp 2 lần so với con của nhóm bà mẹ có hiểu biết đúng về lợi ích sữa mẹ (p<0,05); chênh lệch giữa bà mẹ không biết và không cho bú hoàn toàn

HUPH

Trang 34

trong 6 tháng đầu có con nguy cơ bị SDD cao gấp 2,4 lần so với những bà mẹ biết đúng (P<0,001); bà mẹ có kiến thức không đúng về thời gian cai sữa khi nuôi con thì có nguy cơ bị SDD cao gấp 2,2 lần so với nhóm các bà mẹ có kiến thức đúng về thời gian cai sữa (p<0,001); bà mẹ có kiến thức không đúng về thời gian cho ăn bổ sung khi nuôi con thì có nguy cơ SDD cao gấp 2,1 lần so với bà mẹ có kiến thức đúng về (P<0,05)[12]

Những bà mẹ không được chăm sóc tốt khi mang thai hoặc bị bệnh thường có

xu hướng sinh con bị nhẹ cân hoặc bị dị tật Những đứa trẻ không được chăm sóc đúng cách dễ mắc bệnh hơn Theo nghiên cứu của Bùi Ngọc Diễm tại xã Ô Lâm huyện Tri Tôn tỉnh An Giang (2016) cho thấy bà mẹ có kiến thức CST chưa đúng con có nguy cơ SDD thấp còi cao gấp 1,8 lần so với bà mẹ có kiến thức đạt (P<0,05); thực hành CTS của bà mẹ kém làm tăng nguy cơ con bị SDD thấp còi 4,7 lần (p<0,001), cũng trong nghiên cứu này chỉ rằng các bà mẹ cho trẻ cai sữa trước

12 tháng có nguy cơ bị SDD thấp còi cao gấp 2,3 lần so với nhóm trẻ cai sữa sau 12 tháng Những trẻ được bà mẹ cho ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi thì trẻ có nguy cơ bị SDD thấp còi gấp 2,4 lần trẻ được ăn bổ sung sau 4 tháng (P<0,001) [3]

1.2.3 Một số nghiên cứu mối liên quan yếu tố khác và tình trạng suy dinh

dưỡng

Bên cạnh yếu tố về chăm sóc sức khỏe, yếu tố môi trường cũng có tác động to lớn đến bệnh tật của trẻ Những nơi có dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẵn có thì trẻ ít bị bệnh hơn hoặc bị bệnh nhẹ hơn so với những trẻ sống ở những nơi cách xa nơi chăm sóc sức khỏe Những trẻ sống ở những nơi có nước sạch và môi trường sạch thì ít bị mắc các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa Theo Nghiên cứu của Bùi Ngọc Diễm nghiên cứu tại xã Ô Lâm huyện Tri Tôn tỉnh An Giang (2016) thấy rằng gia đình có thói quen đi tiêu ngoài vườn, ruộng làm tăng nguy cơ trẻ SDD thấp còi 1,7 lần so với trẻ sống trong gia đình có sử dụng hố xí hợp vệ sinh (P< 0.05); gia đình có thói quen uống nước lã hàng ngày làm tăng nguy cơ trẻ SDD thấp còi 1,8 lần (P<0,05) [3]

Về văn hóa của người raglay, hình thức khám chữa bệnh của cộng đồng người Raglay có 2 hình thức khám chữa bệnh nổi bật là tây y (ra trạm xá khám bệnh, ra

HUPH

Trang 35

hỏi hiệu thuốc tây) và truyền thống (tự chữa bằng thuốc nam, mời thầy cúng) Hầu hết đều chọn hình thức khám bệnh bằng tây y, nhưng ở hình thức truyền thống vẫn còn số ít người chọn hình thức mời thầy cúng, tin tưởng nhiều hơn vào thầy cúng, vào đấng siêu nhiên, ma quỷ tạo nên bệnh tật của con người hay hiệu quả của việc khám chữa bằng thuốc nam, chính thuốc nam đã làm cho những người tiếp cận có cảm giác là đỡ bệnh hơn Mặt khác, việc mời thầy cúng khi có bệnh vẫn còn lưu lại

ở trong cộng đồng người dân tộc Raglai cho đến ngày nay Đó được xem là nét văn hóa của dân tộc này, vì ngoài mời thầy cúng trong việc khám chữa bệnh, trong sinh

nở người dân còn mời thầy cúng trong những dịp tang ma, làm nhà [13]

Khung lý thuyết

Qua tổng quan tài liệu, tham khảo mô hình nguyên nhân Suy dinh dưỡng của UNICEF (2010) và một số nghiên cứu liên quan, cho thấy có 03 nhóm yếu tố liên quan đến thực trạng trẻ em bị suy dinh dưỡng (1) là yếu tố cá nhân của trẻ (tuổi, giới tính, thứ tự trẻ, cân nặng sơ sinh, nơi đỡ đẻ trẻ, bệnh nhiễm khuẩn đã hoặc đang mắc); (2) yếu tố cá nhân mẹ (tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, kinh tế hộ gia đình, số người trong gia đình, khoảng cách sinh trung bình, niềm tin dịch vụ y

tế, chăm sóc bà mẹ khi mang thai, kiến thức và thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ em); (3) một số yếu tố khác như tiếp cận thông tin về chăm sóc trẻ của bà mẹ, vệ sinh nhà ở, vệ sinh nước sinh hoạt, phong tục tập quán, sự hỗ trợ chăm sóc trẻ của người thân trong gia đình

HUPH

Trang 36

Yếu tố khác

Tiếp cận thông tin

Vệ sinh nhà ở

Nguồn nước sinh hoạt chính

Nguồn nước uống chính

Sự hỗ trợ của người thân trong

Số người trong gia đình Khoảng cách sinh trung bình Niềm tin dịch vụ y tế

Chăm sóc trước sinh Kiến thức chăm sóc trẻ 6- 24 tháng tuổi

Thực hành chăm sóc trẻ 6-24 tháng tuổi

HUPH

Trang 37

1.3 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

Huyện miền núi Bác Ái được thiết lập từ ngày 01/01/2001 theo nghi định số 65/2000/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 06/11/2000 về điều chỉnh địa giới hành chính huyện Ninh Sơn Huyện hiện nay có 9 xã với 38 thôn[11]

Khí hậu khắc nghiệt với mưa ít, nắng nhiều, độ ẩm thấp làm đất vón kết, chai cứng gây khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp Có diện tích tự nhiên 102.730 ha, trong đó hơn 60% là đất rừng và núi đá Đồng bào dân tộc Raglai chiếm hơn 95% trong tổng số 28.500 dân Điều kiện tự nhiên không thuận lợi, kinh tế phát triển chậm nên Bác Ái là địa phương duy nhất của tỉnh Ninh Thuận được thụ hưởng chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững của Chính phủ[11]

Qua trao đổi với một số cán bộ y tế địa phương và khảo sát sơ bộ thấy rằng việc chăm sóc trẻ còn nhiều bất cập Do chính sách bao phủ toàn dân của bảo hiểm nên nhiều bà mẹ đã biết đưa trẻ đến khám bệnh tại trạm y tế, tuy nhiên vẫn còn một

số ít trường hợp tự ý cho uống thuốc nam tại nhà theo kinh nghiệm dân gian, một số trẻ khi bị bệnh nặng thì các bà mẹ đôi khi còn mời thầy cúng để điều trị Nhiều bà

mẹ quan niệm cho trẻ ăn dặm càng sớm thì trẻ càng mau biết đi, bên cạnh đó là mua cho trẻ cháo dinh dưỡng bán ngoài vì tính thuận tiện thay vì tự chế biến và cân đối các nhóm dinh dưỡng cho trẻ[13] Việc đưa trẻ đến khám và điều trị tại CSYT còn nhiều cản trở do địa lý vùng núi khó khăn và tập quán làm nhà ở cách xa nhau

HUPH

Trang 38

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em 6 -24 tháng tuổi đang sống tại địa bàn nghiên cứu (tính từ ngày bắt đầu

điều tra)

- Bà mẹ của trẻ 6- 24 tháng tuổi (là người nuôi trẻ đa số thời gian trong giai đoạn

trẻ 6- 24 tháng tuổi) chấp nhận tham gia nghiên cứu, tự chủ về hành vi và ý thức

Loại trừ: Những trẻ có bà mẹ vắng nhà quá 3 lần khi đến phỏng vấn

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 9 năm 2018

- Địa điểm: Huyện Bác Ái tỉnh NinhThuận

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng, sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích

2.4 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu theo công thức:

n: là số trẻ 6-24 tháng tuổi

p: là tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi bị suy dinh dưỡng huyện Bác Ái là 15.94% (Theo thống kê

Báo cáo hoạt động dinh dưỡng tại cộng đồng huyện Bác Ái năm 2016); p= 0,16

α: Chọn mức ý nghĩa thống kê 95%, có α = 0,05

Z 1-α/2: Giá trị thu được bằng cách tra bảng Z, có α = 0,05; Z = 1,96 d là sai số cho

phép; d=0,05

Cỡ mẫu được tính dựa trên công thức trên là: n = 206

Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế:

Tổng số trẻ 6-24 tháng tuổi thuộc 3 xã tiến hành nghiên cứu là 281 trẻ, do gần bằng với số trẻ tính theo công thức là 206 trẻ nên lấy mẫu toàn bộ Sau sàng lọc các phiếu phỏng vấn không hợp lệ và các trường hợp bà mẹ không đưa trẻ đến cân đo nhân trắc còn 265 trẻ được nghiên cứu

HUPH

Trang 39

❖ Chọn đối tượng cần điều tra

Tính từ ngày xuống địa bàn điều tra thử nghiệm(5 phiếu): 7/7/2018 Trẻ thuộc đối tượng Nghiên cứu có ngày sinh trong khoảng: từ 10/4/2016 đến 9/10/2017

Lấy danh sách trẻ 6-24 tháng tuổi hiện sống tại địa bàn nghiên cứu Ta có 105 trẻ ở

xã Phước Tiến, 97 trẻ ở xã Phước Trung và 79 trẻ ở xã Phước Chính Tổng cộng có 281 trẻ

2.6 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

Phương pháp thu thập số liệu: Đo nhân trắc cân nặng, phỏng vấn có cấu trúc

Thống nhất thời gian phỏng vấn : 18 giờ đến 21 giờ

Thống nhất thời gian cân đo: 8 giờ đến 10 giờ

Chọn địa điểm cân đo: trao đổi với cô đỡ thôn bản

Chuẩn bị giấy mời, mã phiếu phát cho đối tượng nghiên cứu, quà tặng bà mẹ

Chọn hai cô đỡ bất kỳ hỏi thử nghiệm trên 5 phiếu phỏng vấn với 5 bà mẹ bất kỳ có con 6-24 tháng tuổi

* Tiến hành thu thập dữ liệu gồm 2 phần

Phỏng vấn trực tiếp: sử dụng bộ câu hỏi Phỏng vấn viên là những cô đỡ thôn bản

và điều tra viên là học viên trường ĐH YTCC Hà Nội thực hiện nghiên cứu về thực trạng

và các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em 6- 24 tháng tuổi Điều tra viên đọc bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu cho đối tượng phỏng vấn là bà mẹ, trả lời bất cứ

HUPH

Trang 40

nghiên cứu đảm bảo rằng đối tượng phỏng vấn được phép dừng cuộc phỏng vấn tại bất kỳ thời điểm nào Phỏng vấn viên tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi, kết hợp với điều tra viên trong việc diễn giải và mô tả câu hỏi cho đối tượng phỏng vấn Do địa phương đang mùa vụ nên việc phỏng vấn là vào các buổi tối tại nhà đối tượng phỏng vấn, nghiên cứu là khuyết danh nên mỗi bà mẹ được đưa cho một phiếu ghi mã số của đối tượng nghiên cứu Trung bình mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài 15 phút

Cân và đo các chỉ số nhân trắc của trẻ: có nhiều phương pháp đánh giá chỉ số nhân

trắc học của trẻ như đã nêu ở phần tổng quan 1.1.2, nhưng trong nghiên cứu này sử dụng

phương pháp phân loại và cân đo dựa vào độ lệch chuẩn hoặc Z- score (Who 2016) Do có

ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên mẫu lớn, dụng cụ cân đo đơn giản đễ di chuyển phù hợp với địa hình khó đi tại địa bàn nghiên cứu

Cân và đo được tiến hành tại nhà y tế thôn bản của mỗi thôn Thời gian đo bắt đầu từ 8-10 giờ mỗi sáng Điều tra viên với sự hỗ trợ của nhân viên y tế thôn và bà mẹ sẽ tiến hành cân và đo mỗi trẻ 2 lần Nếu chênh lệch giữa 2 lần cân và đo là trên 200g hoặc trên 2cm thì phải cân đo thêm lần 3 Các số liệu nhân trắc được các điều tra viên cố định cân,

đo với việc sử dụng cùng loại cân, cùng loại thước và trẻ được cân Số liệu trên được ghi vào phiếu câu hỏi đã phỏng vấn người chăm sóc trẻ chính trước đó theo mã số Những phiếu không có thông tin về chỉ số nhân trắc trẻ hoặc không trả lời đủ số câu hỏi của phiếu

sẽ bị loại ra Đảm bảo số phiếu loại ra không quá 10% mẫu nghiên cứu (< 20phiếu)

Cân, đo:

Các chỉ số cân nặng và chiều cao của trẻ được điều tra viên ghi vào phiếu phỏng vấn

bà mẹ (Phụ lục1)

*Cân nặng: Sử dụng cân Nhơn Hòa Kết quả được ghi theo kg với một số lẻ

- Chuẩn bị cân: Chọn mặt phẳng vững chắc để làm nơi đặt cân

- Kiểm tra cân trước và trong khi sử dụng: điều tra viên chỉnh cân về vị trí 00 kg trước mỗi lần cân, thỉnh thoảng phải kiểm tra lại độ chính xác của cân bằng vật chuẩn 5kg (sau 5-10 lần cân) Với trẻ tự đứng được thì chỉ cân trẻ, với trẻ không tự đứng được thì cân

cả mẹ và bé rồi trừ đi số cân riêng mẹ để được số cân của trẻ Hướng dẫn người được cân đứng thẳng và giữa trọng tâm của cân, bỏ các khăn, mũ, giày dép, áo khoác trước khi cân Điều tra viên đọc kết quả khi kim đã đứng yên, đọc kết quả với 1 số lẻ ghi vào phiếu kết quả nếu sau hai lần đo chênh lệch không quá 200 gram

HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:52

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w