1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới trượt đất ở miền trung việt nam định hướng về giải pháp quản lý trượt lở đất

92 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Tới Trượt Đất Ở Miền Trung Việt Nam Định Hướng Về Giải Pháp Quản Lý Trượt Lở Đất
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Khoa Học Địa Chất
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới như hiện nay, hiện tượng trượt lở đất ngày càng xảy ra nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng đặc biệt khi xảy ra thiên tai bất thường bão, mưa lớ

Trang 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Hiện tượng trượt lở đất phổ biến vào mùa mưa Những vùng địa hình phân cách mạnh, cấu trúc địa chất phức tạp, phát triển trên đá trầm tích biến chất cổ có mức độ trượt lở mạnh hơn Hàng năm ở Tây Bắc các vụ trượt lở xảy ra thường xuyên, đặc biệt trên các tuyến quốc lộ 6, gây ách tắc giao thông nghiêm trọng Hiện tượng trượt lở đất còn gặp nhiều ở Tây Nguyên, phía Bắc khu 4 cũ Miền Trung Việt Nam có thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa thường kéo dài với cường độ mưa lớn Vùng duyên hải miền Trung với các điều kiện địa hình, địa chất phức tạp, mạng lưới sông ngòi dày đặc, điều kiện khí hậu, thuỷ văn phức tạp và diễn biến bất thường; là nơi có bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ nhiều so với cả nước gây ra mưa lớn kéo dài sau bão Những điều kiện trên tạo nên những nguyên nhân gây ra thiên tai trượt lở mạnh mẽ và phổ biến trong khu vực ảnh hưởng đến tính mạng người dân và an toàn các công trình hiện hữu

Ở nước ta, trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay trượt lở đất có khả năng xảy ra ở nhiều nơi gây hậu quả nghiêm trọng Việc nghiên cứu trượt lở đất được quan tâm một cách đúng mức trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình, đề

tài nghiên cứu về trượt lở đất Do vậy đề tài “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới trượt đất ở miền Trung Việt Nam Định hướng về giải pháp quản lý trượt lở đất” gắn với đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn các công trình xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường ở miền Trung” nhằm làm rõ hơn tình hình trượt lở đất ở khu

vực miền Trung nước ta mang tính khoa học và thực tiễn cao

2 Mục đích của Đề tài

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới trượt lở đất ở miền Trung Việt Nam, đánh giá mức độ ảnh hưởng đến các công trình, tình hình sản xuất và đời sống nhân dân từ đó bước đầu đưa ra các giải pháp quản lý về trượt lở đất

Trang 2

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Tiếp cận với thông tin đại chúng, với tài liệu về trượt lở đất, với chuyên gia

4 Kết quả dự kiến đạt được

Qua đề tài xác định được các yếu tố chủ yếu gây nên hiện tượng trượt lở đất Định hướng được giải pháp quản lý trượt lở đất nhằm đảm bảo an toàn cho các công trình ở miền Trung

Trang 3

TỔNG QUAN VỀ TRƯỢT LỞ ĐẤT

Hiện tượng trượt lở đất là một hiện tượng địa chất tự nhiên và cũng là hiện tượng địa chất công trình động lực khá phổ biến trong tự nhiên Hiện tượng này là một tai biến địa chất có tính toàn cầu Trên thế giới, nhiều nước đều gặp phải thiên tai trượt lở đất gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng và tài sản của con người Như các nước Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Ý, Pháp, Canada, Ấn Độ …

Trong lịch sử nhân loại đã sớm ghi nhận về trượt lở Nhưng trước thế kỷ XIX chỉ hạn chế trong việc ghi chép mà thôi Vào giữa thế kỷ XIX trở đi, cùng với việc phát triển kinh tế xã hội, như xây dựng vận tải thủy, giao thông, hầm mỏ, nhà máy thì thiệt hại trượt lở trực tiếp đe dọa đến hoạt động kinh tế của con người Từ đó, các nước phương Tây là những nước đầu tiên triển khai nghiên cứu hiện tượng trượt

lở Song trong thời kỳ đầu chỉ giới hạn trong việc quan trắc hiện tượng trượt lở

Sau đại chiến thế giới lần hai, cùng với việc phát triển kinh tế ở các nước và khai phá đất đai, quy mô xây dựng ngày càng nhiều trên phạm vi ngày càng rộng Đặc biệt, thiệt hại trượt lở đã gặp phải trong khai phá ở miền núi, trung du ngày càng nghiêm trọng

Năm 1963, tại thung lũng sông Piave của Italia, nơi có đập vòm lớn nhất thế giới Vayont cao 265,5m được xây dựng năm 1960 đã xảy ra một vụ trượt lở đất khủng khiếp Bờ trái của thung lũng phía thượng lưu đã có một khối trượt với khối lượng 240.000.000mP

3

Pvới tốc độ dịch chuyển 15 - 30m/s Vụ trượt làm nước trong lòng hồ dâng sóng cao trên 100m tràn qua đỉnh đập xuống hạ lưu Hậu quả là một

số thành phố ở hạ lưu đã bị phá huỷ, gần 3000 người chết Toàn bộ quá trình trượt

lở, phá huỷ chỉ diễn ra trong 7 phút [10]

Ở Liên Xô cũ vào tháng 4 năm 1964, tại hạ lưu của sông Zeravsan và sông Fantaria thuộc nước cộng hoà Tagikistan đã phát sinh một khối trượt khoảng 20.000.000mP

3

P đất ở bờ trái thung lũng sông, khối trượt đã chắn ngang một đoạn

Trang 4

sông dài với diện tích 435.000mP

2

Pdựng thành một con đập cao 150m, tạo thành một

hồ chứa có dung tích 150.000.000mP

3 P Để tránh gây ra thảm hoạ, Liên Xô đã cho đào kênh dẫn để tháo nước trong lòng hồ vừa được tạo thành nhằm đảm bảo cân bằng

Dự tính hàng năm nước Mỹ tổn thất do tai họa trượt lở đất bình quân hàng trăm triệu đô la vào những năm 1958 Sau hai mươi năm sau, tổn thất trực tiếp và gián tiếp do sườn, mái dốc bị phá hoại theo dự tính một cách xác đáng vượt hàng tỷ

đô la Bên cạnh các thiệt hại về kinh tế, đặc biệt nghiêm trọng hơn nữa là tổn thất lớn về người Chỉ ngành đường giao thông hằng năm vượt quá hàng trăm triệu đôla

Tai hoạ trượt lở tương đối nghiêm trọng, dự tính từ năm 1970 đến năm 2000, tổng kinh phí do dịch chuyển sườn, mái dốc vượt quá hàng tỷ đôla, bình quân hàng năm hơn 300 triệu đôla Vượt quá tai hoạ do nước lũ gây nên

Tại Liên Xô cũ: vùng duyên hải biển Đen và lưu vực sông Volga cũng là khu vực trượt lở gây tại họa hết sức nghiêm trọng Tổn thất do trượt lở, hàng năm ở Liên

Xô đạt hàng trăm triệu rúp (tiền rúp cũ) Năm 1911 phát sinh trượt lớn tại thôn NoMiPy, có thể là vụ trượt lớn nhất được ghi lại của thế kỷ này, thể tích khối trượt vào khoảng 2,5 tỷ mP

3

P đã chôn vùi 54 hộ dân, đã bịt kín sông MyPrab Trượt tạo thành đập cao 310m, hồ nước sâu 284m, nước lênh láng dài 53km làm ngập 1 thôn khác ở thượng lưu [10]

Đất sét cao-lanh tại Canada gây ra nhiều trượt lở phát sinh đột ngột, quy mô lớn, nguy hại nặng nề

Tại Na Uy hàng năm trung bình có 17 người chết do sự cố trượt lở Năm

1945 tại lưu vực Gaudelen phía nam Trondheim của Na-uy đã xảy ra một vụ trượt lớn, làm chết hàng trăm người và phá huỷ nhiều ruộng đồng Trượt mái lớn nhất là vào năm 1893 là vụ trượt đất sét cao lanh Vaerdalen gần Trondheim trượt động kéo dài 30 phút, với tốc độ nhanh hơn ngựa phi, đất sét loãng như nước chảy vào khe suối, thương vong 112 người phá huỷ 16 trang trại, thể tích khối trượt đạt 55 triệu

mP

3

Pbao phủ diện tích 9kmP

2 P [10]

Nhật Bản có 70% lãnh thổ là vùng núi, lại nằm trên dải động đất Thái Bình Dương, mưa, tuyết rơi lượng lớn, thiệt hại về trượt lở vô cùng nghiêm trọng Tại

Trang 5

diện tích 143 nghìn hécta Tháng 11 năm 1931 trượt lở phát sinh tại đường sắt Quan-Tây (gọi là trượt Quy-chi-lai), phá huỷ đường hầm đường sắt Quy-chi-lai, phá huỷ đường giao thông, trượt lở đã nâng cao lòng sông, vùng trũng thượng lưu có nguy cơ gây ngập úng … Tháng 11 năm 1967 lại phát sinh trượt động, đã tốn 176 triệu đôla để tiến hành quan trắc, khảo sát, nghiên cứu và chỉnh trị Mãi đến thập niên 80 thế kỷ XX, cọc chống trượt với đường kính 6.5m sâu 50 đến 100m là cọc bê tông cốt thép loại lớn còn đang tiếp tục thi công

Tháng 10 năm 1962, xảy ra trượt tại tuyến quốc lộ Bắc Hải, đã hất tung xe buýt công cộng đang chạy trên đường rơi xuống biển, làm chết 14 người Tháng 3 năm 1963 tại đường sắt Quốc doanh Bắc-Lục xảy ra vụ trượt, hất tung hành khách

và lái xe rơi xuống biển, và phá huỷ 10 nhà dân Tháng 7 năm 1985 tại núi Địa phu thành phố Trang-Xe xảy ra trượt, đã phá huỷ đường giao thông, rừng, kênh dẫn nước, và nhiều nhà dân Có 25 người chết, 4 người bị thương nặng

Tại Canada: Cạnh thị trấn Frank tỉnh Arpat Canada, năm 1903 xảy ra trượt mái Núi Rùa, được coi là nổi tiếng về tốc độ cao 40 triệu m3 đá trong vòng 2 phút

đã trượt xa hàng km, chôn vùi 1 phần thị trấn, 1 nhà máy, 1 đoạn đường sắt và làm cho 70 người thương vong

Trong thế kỷ XX, một số thảm họa do trượt lở gây nên được liệt kê trong bảng 1.1 [10]

Bảng 1.1 Một số thảm họa do trượt lở xảy ra trong thế kỷ XX

Xuất phát quá trình

Khối lượng trượt

1911 Tadzhiktang Trượt đá

Usoy

Động đất Usoy M=7,4

2.109 Phá huỷ làng

Usoy, 54 người chết, lấp sông Murgav

Tổn thất thấp vì dân cư thưa

1919 Indonesia Kalut lahars

(dòng bùn núi lửa)

Phun núi lửa Kalut

185km2 5.110 người chết,

104 làng bị phá huỷ, hư hại

Tháo nước của hồ Crater là dòng bùn nóng phun trào

Trang 6

1920 Ningxia

(Trung Quốc)

Trượt Haiyuan

Động đất Haiyuan

chết, nhiều làng mạc bị phá huỷ

675 khối trượt trên đất hoàng thổ, tạo nên hơn 40 hồ

1921 Kazakhtan Trượt dòng

đá

Băng tan - 500 người chế Dòng đá ở thung

lũng sông Alma Atinka

1933 Sichuan

(Trung Quốc)

Trượt Deixi Động đất

Deixi, M=7,5

>150.106 6.800 người chết

vì trượt đất;

2.500 người chết đuối do đập hình thành bởi khối trượt bị vỡ

Động đất tạo nên những khối trượt lớn; khối trượt lớn nhất tạo nên một đập cao 255m trên sông Min

1939 Hyogo Nhật

Bản

Trượt Mount Rokko và dòng bùn

chết/mất tích;

130.000 nhà bị phá huỷ, hư hỏng nặng

Gây nên bởi bão lớn; 50-90% tác động của bão Nhật bản gây ra sự dịch chuyển sườn dốc

1949 Tadzhiktan Trượt đá

Khait

Động đất Khait M=7,5

- 12.000-20.000

người chết hoặc mất tích

Bắt đầu bằng hiện tượng trượt đá; chuyển thành dòng thác lớn đất hoàng thổ và mảnh đá granit

1953 Wakayama,

Nhật bản

Trượt và dòng bùn đá sông Arita

Mưa lớn - 460 người chết

và mất tích, 4.772 nhà bị phá huỷ và hư hại nặng

Gây nên bới cơn bão lớn; 50-90% tác động của bão Nhật bản gây ra sự dịch chuỷển sườn dốc

1953 Kyoto, Nhật

Bản

Trượt và dòng bùn đá Minamiy- amashiro

và mất tích, 5.122 nhà bị phá huỷ và hư hại nặng

Gây nên bới cơn bão lớn; 50-90% tác động của bão Nhật bản gây ra sự dịch chuỷển sườn dốc

1958 Shizuora,

Nhật Bản

Trượt và dòng bùn đá

Mưa lớn - 1.094 người chết

và mất tích,

Gây nên bởi cơn bão lớn; 50-90%

Trang 7

phá huỷ và hư hại nặng

Nhật bản gây ra sự dịch chuyển sườn dốc

1962 Ancash, Peru Dòng thác

đá Nevados Huascaran

người chết, nhiều làng mạc bị phá huỷ

D òng thác đá rời

từ Nevados Huascaran với tốc

- 250.106 2.000 người chết,

Longarone bị phá huỷ năng;

thiệt hai 200 tiệu USD

Ttrượt đá với tốc

độ nhanh vào lòng

hồ Vaiont gây nên sóng cao 100m vượt qua đập Vaiont

1964 Alaska, Mỹ Trượt

Alaska 1964

Động đất hoàng tử William Sound M=9,4

- Thiệt hại được

xác đinh là 280 triệu USD

Trượt lớn làm hư hại nhiều thành

Anchorage, Valdez, Whittier, Seward

Mưa lớn - 1.000 người chết Nhiều khối trượt ở

Rio de Janero và vùng xung quanh

Ararash,

Brazil

Trượt và các dòng thác đá rời và bùn Serra das Ararash

Mưa lớn - 1.700 người chết Nhiều khối trượt

trong dãy núi phía Tây Nam Rio de Janero

1970 Ancash, Peru Dòng thác

đá Nevados Huascaran

Động đất M=7,7

50.106

30-18.000 người chết; thị trấn Yungay bị phá huỷ, Ranrahirca hầu như bị phá huỷ hoàn toàn

Thác đá từ trên núi

đổ về với tốc độ đạt đến 280km/giờ

Trang 8

1974 Huancavelica,

Peru

Trượt đá thác đá rời Mayunmarca

Mưa xói 1,6.109 Làng

Mayunmarca bị phá hủy, 450 người chết, phá huỷ đập của vật liệu trượt tạo nên

lũ lớn ở hạ lưu

Dòng thác đá rời

có tốc độ tới 140km/giờ, sông Mantaro bị chặn dòng

1980 Washington,

Mỹ

Trượt đá và thác đá rời Mount St

Helens

Phun trào của Mount

St Helens

2,8.109 Trượt lớn nhất

nổi tiếng trên thế giới; chỉ có 5-10 người chết nhưng khối lượng lớn xây dựng lại nhà, đường xá; dòng

lũ đá lớn; số người chết ít do

đã được sơ tán

Sự sơ tán kịp thời

đã cứu dược sự sống; mới đầu chỉ

là sự trượt đá, sau

đó xấu đi thành dòng thác đá rời dài 23km với tốc

độ trung bình 125km/giờ; bề mặt biến thành dòng đá dài 95km

1983 Utah, Mỹ Trượt đá rời

Tổn thất 600 triệu USD

1983 Gansu, Trung

Quốc

Trượt Selesshan

- 3,5.106 237 người chết,

chôn vùi 4 làng, lấp đầy 2 hồ chứa nước

Trượt đất hoàng thổ

1985 Tolima,

Colombia

Dòng đá rời Nevado del Ruiz

Phun trào núi lửa Nevado del Ruiz

- Phá huỷ 4 thị

trấn và làng;

dòng trong thung lũng của sông Lagunillaslaays sinh mạng hơn 20.000 người trong thành phố Armero

Thiệt hại về người không kể xiết vì

dự báo thiên tai không đến được người dân sở tại

Trang 9

Guinia, miền

Đông nước

Anh

thác đá rời Bairaman

Bairaman M=7,1

bị phá huỷ vì chiếc đập do trượt gây nên bị thủng, sơ tán đã cứu nạn, có ảnh hưởng lớn tới cảnh quan khu vực

tạo nên đập cao 210m đập này tạo thành hồ chứa 50 triệu m3 Đập bị phá huỷ, đập bị phá huỷ tạo nên dòng lũ đá sâu 100m

1987 Napo, Ecuado Trượt

Reventador

Núi lửa Reventador

110.106

55-1.000 người chết, nhiều km đường ống dẫn dầu bị phá huỷ, thiệt hại

1 tỷ USA

Trượt chủ yếu trong đất bão hoà trên sườn dốc đứng, hàng ngàn khối trượt biến thành các dòng đá theo các phụ lưu

250km2 Một số làng hầu

như bị phá huỷ hoàn toàn, 271 người chế, 1700 người mất tích,

158 người bị thương, 12.000 người phải di rời chỗ ở

Hàng nghìn khối trượt đất đá sót trên sườn dốc dựng đứng đổ xuống thành các dòng đá theo các phụ lưu và kêng rạch

Hurricane Mitch

Khoảng 10.000 người chế do lũ

và trượt đồng thời với dòng lũ

đá do sản phẩm của núi lửa

xả với lượng mưa

4 inch/giờ, trượt lớn ở Tegucigalpa

và khắp nơi

Trang 10

Hình 1.1 Trượt ở bờ hồ chứa nước Vaiont (Italia)

Hình 1.2 Tr ượt Hurricane Mitch ở Honduras, 1998

Trang 11

Hình 1.3 Trượt Reventado, Ecuado, 1987

Do thiên tai trượt lở là hiện tượng phổ biến mang tính toàn cầu, nên nhiều quốc gia đã xúc tiến mạnh mẽ về hệ thống nghiên cứu trượt lở Học giả các nước ngày càng mong muốn cần phải tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế

Kể từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở lại đây, nghiên cứu phòng chống trượt

lở trên thế giới đã bước vào cao trào sôi nổi, rầm rộ Cùng với sự tích lũy kinh nghiệm phòng chống trượt lở, trình độ nghiên cứu chuyên sâu và trình độ kỹ thuật

đã được nâng cao, những chuyên đề về trượt lở càng ngày càng nhiều

Tháng 8 năm 2010 tại Trung Quốc đã xảy ra thảm họa về trượt lở đất, gần như xóa sổ hoàn toàn huyện Châu Khúc tỉnh Cam Túc làm hơn 200 người chết, bị thương hơn 100 người và hơn 1000 người mất tích Các nhà nghiên cứu đánh giá

hiện tượng trượt lở đất xảy ra do các nguyên nhân:

- Cấu tạo địa chất ở huyện Châu Khúc là trầm tích đất bùn tương đối dễ vỡ,

độ phong hóa rất cao nên lở đất, sụt đất và trượt đất dễ xảy ra

- Huyện Châu Khúc là vùng bị nạn nghiêm trọng trong trận động đất lớn ở tỉnh Tứ Xuyên ngày 12 tháng 5 năm 2008 Động đất phá hỏng các địa khối, làm giãn lỏng các dãy núi quanh huyện Cần 3 đến 5 năm mới khắc phục được hiện tượng núi bị giãn lỏng nhưng từ sau động đất đến nay chỉ mới hơn hai năm

- Huyện Châu Khúc – Trung Quốc bị hạn hán kéo dài từ quý IV năm 2009 đến nửa đầu năm 2010 Do đó, các khối đất đá bị tách rời, một phần thân núi và khối đất đá bị vỡ nứt, dễ bị ngấm nước mưa dẫn đến trượt đất Vùng núi phía đông

Trang 12

bắc huyện Châu Khúc có mưa rất to Mưa kéo dài hơn 40 phút, lượng mưa hơn 90

mm tạo ra lở núi, từ đó gây ra lở đất

Với tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới như hiện nay, hiện tượng trượt lở đất ngày càng xảy ra nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng đặc biệt khi xảy ra thiên tai bất thường (bão, mưa lớn gây lũ quét và trượt sạt lở đất)

Tại Việt Nam, vấn đề trượt lở đã được nghiên cứu từ những năm 60 của Thế

kỷ trước cho đến nay Các vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều là: trượt lở các

bờ dốc ở các mỏ khai thác khoáng sản, trượt lở các đường giao thông, trượt lở bờ sông, bờ biển, bờ hồ, trượt lở đê, đập Đặc biệt, khi lượng mưa lớn ở vùng núi đã tạo nên lở đất và lũ quét nhiều nơi, điển hình là Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, các tỉnh Miền Trung như: Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi

Hàng năm, ở Tây Bắc nước ta các vụ trượt lở xảy ra thường xuyên, đặc biệt trên các tuyến quốc lộ 6, gây ách tắc giao thông nghiêm trọng Hiện tượng trượt lở đất còn gặp nhiều ở Tây Nguyên, phía Bắc khu 4 cũ

Theo các báo cáo của các địa phương và các khảo sát chi tiết của Viện Địa chất, các cơ quan TW, trong một số năm gần đây, trượt lở đất đã hơn mười lần xảy

ra lớn gây rung động dư luận cả nước [10]:

- Năm 1990: Trượt lở và lũ quét phá huỷ hoàn toàn phần thấp thị xã Lai Châu Thị xã Lai Châu phải di chuyển

- Năm 1991: Trượt lở và lũ quét phá huỷ hoàn toàn hạ lưu thị xã Sơn La

- Năm 1992: Trượt lở trong một đêm vùi lấp trên 50 người ở Cao Bằng

- Năm 1994: Trượt lở đất phá huỷ nhiều nhà cửa ở huyện lỵ Mường Lay, Điện Biên, 11 người chết, 23 người bị thương

- Năm 1995 - 1999: Trượt lở cướp đi hàng nghìn héc ta đất và nhà cửa dọc sông Cửu Long, Sông Hồng, các sông miền Trung, bờ biển miền Trung Việt Nam Hàng chục nghìn hộ dân cư phải di chuyển

Trang 13

Lai Châu, gây kinh hoàng và thảm hoạ cho nhân dân trong khu vực 106 người chết,

26 người bị thương Gần 1 vạn người mất nhà ở Hơn 500 ha ruộng bị đất đá vùi lấp Đường giao thông, mạng thông tin bị phá huỷ hoàn toàn (thiệt hại ước tính 50

tỷ đồng) Huyện lỵ huyện Mường Lay phải di chuyển

- Năm 1999: Mưa lũ lớn ở miền Trung gây trượt lở trên diện rộng ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định Gần 40 người bị đất đá vùi lấp Hàng trăm gia đình phải di chuyển Riêng Quảng Ngãi có 3.400ha ruộng bị đất đá cát sỏi có nguồn gốc trượt lở vùi lấp dày trung bình 1m Giao thông Bắc Nam (đường sắt, đường bộ) bị trượt lở cắt đứt nhiều ngày

Trong 16 năm, kể từ năm 1990 đến năm 2005 lở đất và lũ quét đã phá huỷ 13.280 ngôi nhà, làm hư hại nặng khoảng 115.000 ngôi nhà, 988 người thiệt mạng

và mất tích, 628 người bị thương, 180.000ha hoa màu bị phá huỷ, nhiều cầu cống, đường sá, công trình thuỷ lợi bị hư hỏng nặng

Ở nước ta, việc nghiên cứu trượt lở đất đang được quan tâm một cách đúng mức trong những năm gần đây Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về trượt

lở đất Ngoài việc công tác cảnh báo, dự báo thì các kiến thức về ổn định mái dốc và việc áp dụng các giải pháp phòng chống trượt lở mái dốc còn khá hạn chế trong thiết kế, thi công và quản lý Do vậy, việc trang bị các kiến thức về vấn đề này cho các cán bộ kỹ thuật hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, môi trường và các cán bộ quản lý và người dân … là hết sức cần thiết

Trượt lở đất gây ra các ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân và các ngành kinh tế ở nước ta, như:

1 Gián đoạn giao thông vận tải

a Tác hại đối với việc xây dựng và vận tải đường sắt

b Phá hủy đường giao thông, đường bộ

c Tác hại đối với vận tải đường sông

2 Phá hoại việc khai thác khoáng sản

Trang 14

Trượt lở làm mất ổn định bờ mỏ lộ thiên đã trở thành một trong những vấn

đề quan trọng của sản xuất an toàn Trượt lở không những gây khó khăn cho việc khai thác khoáng sản mà còn làm gián đoạn việc vận chuyển khoáng sản, phá hoại các cơ sở sản xuất nằm ở ngoài mỏ khai thác như nhà máy, đường sá, đường ống

3 Nguy hại đến an toàn sản xuất nhà máy

Một số nhà máy xây dựng tại miền núi gặp rất nhiều thiệt hại do trượt lở, có nhà máy đang trong thời kỳ xây dựng đã xuất hiện trượt lở làm tăng chi phí đầu tư

Có nhà máy sau khi đã vận hành sản xuất, thì xuất hiện trượt lở đe dọa đến sản xuất

an toàn, thậm chí gây nên sự cố huỷ hoại nhà máy và thương vong cho người

4 Phá hoại xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện

Năm 1963 sau khi sự cố trượt mái hồ chứa Vayont ở Italia, các nước trên thế giới, trong xây dựng nhà máy thuỷ điện cũng coi trọng nghiên cứu tính ổn định bờ

hồ chứa Trong xây dựng nhà máy thuỷ điện cũng coi trọng nghiên cứu tính ổn định

bờ hồ chứa, mái taluy dương và âm của các hạng mục công trình

5 Phá hoại môi trường, thành phố

Thành phố, thị trấn miền núi làm nhà, làm tựa vào núi Tai họa trượt lở càng trở thành vấn đề an sinh xã hội quan trọng

6 Huỷ hoại thôn làng, ruộng vườn

Tưới tiêu thuỷ lợi gây hại đến ruộng vườn, thôn làng thì phá hoại của trượt mái do thiên nhiên gây nên lại càng nhiều Hiện tượng này thường xảy ra ở các khu vực có nhiều trượt mái

7 Trượt lở gây thiệt hại thứ sinh khác

a Trượt lở bờ sông tạo thành hồ chứa

Khi hồ chứa trượt lở bị vỡ tạo thành tai họa nước lũ cho vùng hạ lưu

b Trượt lở làm cho ruộng nước bị dò nước, ruộng trở thành hoang mạc, cạn kiệt, khô cằn

c Trượt lở thường sản sinh các tai hại khác như động đất, nước lũ, mưa … Miền Trung Việt Nam gồm 13 tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, phía Đông là Biển Đông, phía Tây là dải Trường Sơn Dải Trường Sơn kéo dài từ thượng

Trang 15

hình cung lớn hướng ra phía biển Đông Đèo Hải Vân và núi Bạch Mã chia dải Trường Sơn thành Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam Dãy Trường Sơn càng về phía Nam càng tiến sát ra bờ biển, tạo nên dạng địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Vùng miền Trung có địa hình bị chia cắt phức tạp, mạng lưới sông suối dày đặc, điều kiện khí hậu, thủy văn rất phức tạp và diễn biến bất thường Trong mấy thập kỷ gần đây, miền Trung là nơi có bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ nhiều so với

cả nước Bão và áp thấp nhiệt đới thường kéo theo mưa lớn kéo dài, tập trung gây ra trượt lở đất mạnh mẽ và phổ biến ở vùng núi khu vực này

Một số vụ trượt lở ghi nhận được trong những năm gần đây ở khu vực duyên hải Miền Trung như sau [10]:

Vùng Bắc Trung bộ:

- Trượt lở xảy ra mạnh ở hầu hết các tỉnh

- Các khu vực bị thiệt hại nặng:

+ Khe Sanh, Phú Lộc, Nam Đông (Thừa Thiên - Huế) + Quảng Ninh, Minh Hoá, Tuyến Hoà (Quảng Bình) + Hương Hoá (Quảng Trị)

+ Hương Sơn (Hà Tĩnh) + Kỳ Sơn, Quì Châu (Nghệ An) + Ngọc Lạc, Như Xuân, Thường Xuân (Thanh Hoá)

- Các loại hình tai biến thường xảy ra:

+ Trượt lở khu vực (Khe Sanh, Phú Lộc, Nam Đông, Hương Hoá, Hương Sơn)

+ Lũ bùn đá, lũ quét có nguồn gốc trượt lở

- Khe Sanh, Hương Hoá, Hương Sơn, Ngọc Lạc

+ Trượt lở đường giao thông: QL 7, QL 8, QL 9

+ Sạt lở bờ biển: Nga Sơn, Hoằng Hoá, Quỳnh Lưu, Nghi Xuân, Quảng

Trạch, Triệu Phong, Phú Lộc

Vùng Nam Trung Bộ:

Trang 16

- Trượt lở xảy ra mạnh ở hầu hết các tỉnh

- Các khu vực bị thiệt hại nặng

+ Thành phố Đà Nẵng

+ Đại Lộc, Giằng Hiên, Quế Sơn, Thăng Bình (Quảng Nam) + Sơn Hà, Sơn Tây, Ba Tơ, Trà Bồng (Quảng Ngãi)

+ Tây Sơn (Bình Định)

- Các loại hình tai biến thường xảy ra:

+ Trượt lở khu vực: Đại Lộc, Giằng Hiên, Sơn Hà, Sơn Tây

+ Lũ bùn đá, lũ quét có nguồn gốc trượt lở: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định

+ Trượt lở đường giao thông: QL.1A, QL.14 QL.19, QL 21

+ Sạt lở bờ biển: Điện Đường, Cửa Đai, Phổ An, Nước Mặn, Xuân Thọ, Cam Thịnh, Phước Dinh, Phan Rí

+ Sạt lở bờ sông: Các sông: Thu Bồn, Vũ Gia, Trường, Vĩnh Điện, Trà Bông, Trà Khúc, Sông Vệ, Phước Sang, Sông Đinh, Sông Cái

Theo phân tích của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, hiện tượng trượt lở thường gắn liền với các hiện tượng động đất và mưa lớn Tại miền Trung thiên tai trượt lở thường xảy ra khi mưa lớn, kéo dài ngày Trong một số năm qua, mưa lớn

đã xảy ra trên diện rộng, tập trung thường gây trượt lở đất ở các tỉnh miền Trung, một số vụ gây thiệt hại nặng

Hiện tượng trượt lở ở Việt Nam còn xảy ra mạnh mẽ ở các tuyến đường giao thông chính như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và một số công trình thủy lợi cũng như các công trình khai thác mỏ Khối trượt phát sinh ở phía nam mỏ Cọc Sáu trước đây Khối trượt có bề dày hàng chục mét, dài vài trăm mét và khối lượng của

nó đên hàng trăm ngàn mét khối đất Tại đèo Hải Vân năm 1999, một khối trượt đã phá hủy đoạn đường dài gần đỉnh đèo Tại công trình thủy lợi Vách Bắc ở Nghệ An (cuối những năm 70), do đào đất để taluy dốc, mặt khác lại chất tải lên trên nên đã gây trượt lở và làm chết nhiều người

Trang 17

Hình 1.4 Trượt tại mỏ đá D3, thủy điện

Bản Vẽ

Hình 1.5 Trượt lở tại núi Dũng Quyết

thành phố Vinh

Hình 1.6 Trượt lở quốc lộ 8A năm 2002 đã được xử lý

Hình 1.7 Trượt trên đường Hồ Chí Minh

tại xã Hương Hóa, Quảng Trạch

Hình 1.8 Trượt trên đường Hồ Chí Minh tại xã Lâm Hóa, Quảng Trạch

Trang 18

có trượt lở đất lớn nhất nước ta

3 Trượt lở đất gây nhiều tổn thất cho tính mạng và tài sản Trong những năm gần đây vấn đề trượt lở đất đã được quan tâm hơn và trượt lở còn được nghiên cứu

Nên việc nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới trượt lở đất ở miền Trung, định

hướng về giải pháp quản lý trượt lở đất là hết sức cần thiết

Trang 19

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG GÂY TRƯỢT LỞ ĐẤT Ở MIỀN TRUNG

2.1.1 Hình thái khối trượt

Mỗi một khối trượt đều tạo nên một khu trượt mà ranh giới, hình dạng của nó

ở trên mặt bằng được quyết định bởi kích thước và kiểu trượt [8] Những khối đất

đá đã bị dịch chuyển tạo thành thân trượt gồm vật liệu tích luỹ do trượt (hình 2.1)

Hình 2.1 Cấu trúc khối trượt

Bề mặt mà ở đó các khối đất đá trượt tách ra và dịch chuyển xuống dưới thấp gọi là mặt trượt Trượt có thể có một hoặc nhiều mặt trượt (đôi khi mặt trượt được gọi là mặt phá hoại) Khi có nhiều mặt trượt tồn tại thì cấu trúc bên trong của khối trượt phức tạp hơn; các bộ phận của nó sẽ bị dịch chuyển một cách tương đối với nhau

Hình dạng mặt trượt trong đất đá đồng nhất thường là lõm, lõm đồng đều gần giống với mặt hình trụ tròn; trong đất đá không đồng nhất, mặt trượt được quyết định bởi vị trí, sự định hướng của các mặt, đới yếu tồn tại trong tầng đất đá cấu tạo nên sườn dốc hoặc mái dốc Các mặt và đới yếu có thể là: mặt đá gốc, hoặc bề mặt

Trang 20

bên dưới của đá mềm yếu (thường là đất sét, đá sét, cát kết chứa sét, macnơ, than, muội than ), mặt của hệ thống khe nứt, đới vụn nát kiến tạo, đới đất đóng băng Trong những trường hợp đó, bên cạnh dạng trụ tròn mặt trượt có thể có dạng phẳng

- kết hợp bậc thang - phẳng, dạng lượn sóng, hoặc dạng bất kỳ, phụ thuộc vào sự kết hợp định hướng không thuận lợi các mặt yếu ở trong khối đất đá cấu tạo nên sườn dốc

Nơi mặt trượt xuất lộ ra ở chân sườn dốc, chân mái dốc được gọi là chân trượt, còn ở phần trên của sườn được gọi là đỉnh trượt Chỗ mặt trượt lộ ra ngoài ở bên

phải, bên trái trục khối trượt có tên là bờ trượt Tuỳ theo chiều sâu, mặt trượt có thể

là trượt bề mặt (<1m); trượt nông (<5m); trượt sâu (<20m) và trượt rất sâu (>20m) Tuỳ theo số lượng mặt trượt, khối đất đá dịch chuyển có thể là một thể nguyên, hoặc cấu tạo từ nhiều khối tảng - nhiều phần, tức có thể có cấu trúc toàn khối hoặc phức tạp hơn

Ở phần trên của sườn dốc hoặc mái dốc, gần đỉnh trượt hình thành khe nứt tách: dốc và định hướng vòng cung (đồng tâm), hoặc kéo dài theo phương của sườn Vách trượt gần tương tự rãnh đào ở trên sườn dốc, nối liền với đỉnh trượt Khi những khe nứt tách vỡ định hướng theo đường phương thì dọc sườn xuất hiện bậc thang Trên mặt bằng, thể trượt thường có dạng vách cong Chiều dài khối trượt theo mặt trước có thể gần bằng chiều rộng của khối trượt hoặc có thể dài hơn đáng

kể, tạo nên dạng trượt có diện kéo dài mà chiều dài dọc theo sườn dốc của những khối trượt này thường lớn hơn chiều rộng của nó rất nhiều Địa hình bề mặt thân trượt thường lượn sóng, gồ ghề và có nhiều chỗ trũng ứ nước

Theo kích thước khối trượt, có thể chia ra: trượt nhỏ - một vài tảng riêng lẻ, các vết lở không lớn với khối lượng vài m3; trượt không lớn từ 10 đến 100 - 200m3; trượt vừa - hàng trăm đến 1.000m3; trượt lớn - hàng nghìn và hàng chục nghìn m3 đến 100 - 200 nghìn m3; trượt rất lớn - hàng trăm nghìn m3 và nhiều hơn

Theo Xavarenxky [8], có thể phân chia trượt ra các kiểu axekvent - trượt không theo mặt có sẵn, conxekvent - trượt theo bề mặt có sẵn và inxekvent - trượt hỗn tạp

Trang 21

trượt thường lõm, có dạng hình cung trụ tròn Trượt conxekvent thường hình thành trong đất đá không đồng nhất, phân lớp, phân phiến và nứt nẻ Mặt trượt của nó thường là mặt tiếp xúc giữa đất và đá hoặc các mặt yếu, đới yếu trong khối đất đá ở sườn dốc Các mặt và đới yếu đó có thể là mặt phân lớp đơn nghiêng của đất đá, các lớp đất đá mềm yếu nằm nghiêng (đất sét, đá sét, muội than, than, ), mặt các khe nứt, các đới đứt gãy vò nhàu, cà nát mạnh, bề mặt đất đóng băng,

Trượt inxekvent thường được thành tạo trong đất đá không đồng nhất, phân lớp nằm ngang hoặc nghiêng về phía sườn dốc Mặt trượt có dạng phức hợp: một

phần đi theo mặt yếu và một phần cắt ngang một hoặc nhiều lớp đất đá

2.1.2 Các kiểu trượt lở chủ yếu

Tiêu chí cơ bản để phân loại các dịch chuyển sườn dốc được Varnes J.David đưa ra là kiểu chuyển động và loại vật liệu của khối chuyển động (đất đá) Theo dạng chuyển động, Varnes D.J [19], chia làm 5 nhóm chính (bảng 2.1), như: sập lở, lật, trượt, ép trồi, chảy - trượt dòng và trượt phức tạp

Bảng 2.1 Phân loại trượt lở chính (theo Varnes D.J.) [19]

vụn rời

Lật khối đất dính Trượt

đá theo mặt

cong)

Ít khối, tảng

Có sự xoay của khối đá

Có sự xoay của khối đất vụn rời

Có sự xoay của khối đất dính

Conxekven

(đất đá dịch

Dịch chuyển từng tảng của

Dịch chuyển từng tảng đất

Dịch chuyển từng tảng đất

Trang 22

chuyển theo

1 hoặc vài

mặt yếu có

sẵn trong khối đất đá)

trượt

dính theo mặt trượt Nhiều

khối, tảng

Dịch chuyển của khối đá theo mặt yếu

Dịch chuyển của khối đất rời theo mặt trượt

Dịch chuyển của khối đất dính theo mặt trượt Trượt ép trồi (lateral spreads,

оползни- выдавливания)

Dịch chuyển của khối đá theo một khối

có vùng vò nhàu và ép trồi

Dịch chuyển của khối đất rời theo đất dính với sự ép trồi

Dịch chuyển của khối đất dính với sự ép trồi

Trượt dòng (flows,

оползни-потоки)

Dòng chảy của tảng, khối đá

Dòng chảy của khối vật liệu rời

Dòng chảy của khối đất dính

- Trượt đất đá (slides) Trượt đích thực là sự biến dạng phá vỡ và dịch

chuyển của đất đá theo một hoặc một vài mặt trượt có thể quan sát hoặc giả định được Sự dịch chuyển của đất đá có thể vượt ra ngoài phạm vi chân khối trượt Trượt đất đá là loại hình tai biến phổ biến nhất ở các vùng đồi núi dốc, các tuyến đường giao thông miền núi, các bờ mỏ khai thác đá Các khối lượng trượt riêng lẻ

có độ lớn biến động từ vài chục mét khối tới vài triệu mét khối, có tốc độ di chuyển

từ cực nhanh (Bản Vẽ, Nghệ An) đến chậm (núi Đầu Voi, Tiên Phước, Quảng Nam) Khu vực thường xảy ra trượt lở là Khe Sanh, Phú Lộc, Nam Đông (Thừa Thiên- Huế), Hương Hoá (Quảng Trị), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Đại Lộc, Giằng Hiên, Tiên Phước, Trà My (Quảng Nam), Tây Trà, Trà Bồng, Sơn Hà, Sơn Tây (Quảng

Ngãi)

Trang 24

- Trượt dòng (flows) Trượt dòng đặc trưng cho sự chuyển dịch của vật liệu

trượt tạo thành dòng đất đá với tốc độ trượt khác nhau từ rất nhanh đến rất chậm Sản phẩm trượt có thể là hỗn hợp đất đá với nước (bùn đá) hoặc là vật liệu khô Dòng bùn đá là một trong những loại hình tai biến trượt lở nguy hiểm, có nguy cơ phát triển rộng ở các huyện miền núi các tỉnh duyên hải miền Trung, như Khe Sanh, Hương Hoá, Minh Hoá, Hương Sơn, A lưới, Tiên Phước, Trà Bồng Trượt dòng thường để lại hậu quả lâu dài Dòng bùn đá có thể phá hủy các công trình và cơ sở

hạ tầng kiên cố, có thể vùi lấp, cuốn trôi cả một vùng [10]

Hình 2.3 Trượt dòng trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyện A Lưới

Hình 2.4 Trượt dòng trên đường Hồ Chí

Minh xã Hương Hóa, Quảng Trạch

Hình 2.5 Trượt dòng trên đường Hồ Chí Minh tại xã Hóa Thanh, Minh Hóa

Trang 25

Hình 2.6 L ở đá trên đường Hoàng Sa -

Thành ph ố Đà Nẵng

Hình 2.7 Trượt taluy phía Đông xã Đắk

Glei - huyện Đak Tô

Hình 2 8 Trượt tại K51+200 ở đường

Trà Bồng-Tây Trà-Quảng Ngãi

Hình 2.9 Trượt núi tại K44+450 núi Tây Trà - Quảng Ngãi (2007)

Hình 2.10 Điểm trượt tại K40+700 ở

xã Trà Lâm - Quảng Ngãi (2008)

Hình 2.11 Đất đá đè lên nhà dân ở huyện Sơn Tây - Quảng Ngãi

Trang 26

- Sụt lở đất (falls) Khi sập, sụt lở đất, một phần đất có kích thước bất kỳ tách

ra khỏi sườn dốc, sụt xuống phía dưới Phạm vi sụt lở đất thường không lớn nhưng xảy ra rất thường xuyên, mạnh mẽ trên các tuyến đường giao thông vùng núi vào mùa mưa, như đường QL8, QL9, QL14, QL19, QL21, đường Hồ Chí Minh Lở đá (đá đổ) là hiện tượng các tảng đá có kích thước bất kỳ tách ra khỏi sườn dốc, chuyển dịch không lớn theo một vài mặt yếu và sập xuống dưới chủ yếu bằng cách rơi tự do và lăn khi va đập và lao tới sườn dốc Sự dịch chuyển thường rất nhanh

Đá đổ xảy ra ở núi Dũng Quyết thành phố Vinh (hình 1.5)

Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thiên tai trượt lở là toàn bộ điều kiện tự nhiên và nhân tạo, có tác dụng thuân lợi cho việc phá hoại sự cân bằng của khối đất đá trên sườn dốc và tạo nên trượt lở Trong những điều kiện thường gặp nhất, các yếu tố đó có thể chia làm nhóm yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân sinh Theo Lomtadze [8], các yếu tố đó có thể như sau: 1) đặc điểm khí hậu, chế độ thuỷ văn; 2) địa hình khu vực; 3) cấu trúc địa chất và tính chất cơ lý các lớp đất đá ở sườn dốc, các vận động kiến tạo mới và hiện đại, hiện tượng địa chấn; 4) điều kiện địa chất thuỷ văn; 5) sự phát triển các quá trình và hiện tượng địa chất động lực ngoại sinh kèm theo; 6) các hoạt động của con người

1 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn

Thực tế cho thấy, chu kỳ trượt lở hầu như đều trùng hợp với những chu kì mưa Những hiện tượng đó đặc biệt phát triển thuận lợi trong những khu vực vốn hay có mưa dầm kéo dài, nước mưa dễ dàng ngấm nhiều và xuống sâu, làm bão hoà đất đá của sườn dốc Trong những khu vực hay có mưa rào dữ dội, phần nhiều nước mưa chảy tràn trên bề mặt ra khỏi vùng chia nước, vùng sườn và chỉ một phần không đáng kể ngấm vào trong đất đá mà thôi Ở vùng khí hậu khô nóng, hiện tượng bốc hơi, làm khô đất đá trên sườn dốc phát triển mạnh và dĩ nhiên sẽ làm tăng

độ ổn định của sườn dốc

Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng lớn đến chế độ thuỷ văn các bể nước và các sông Trong nhiều khu vực trượt ven bờ, vào những thời gian nhất định, chế độ thuỷ

Trang 27

những sông có sự dâng cao mực nước đột ngột và rất lớn vào mùa lũ, trên những đoạn sông có vận tốc dòng chảy lớn, tại khu vực bờ biển, hồ và hồ chứa phát triển mạnh hiện tượng sóng vỗ, trên các hồ chứa xả lũ lớn theo chu kì, trong các đới nước sâu của hồ chứa (gần đập), Trong các trường hợp kể trên, chế độ thuỷ văn của các

bể nước của sông sẽ hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển trượt Trái lại, trên các sông có

sự dao động của mực nước trong năm không lớn Đặc biệt các sông đã được điều tiết dòng, trên các đoạn sông có dòng chảy êm đềm, ở các bờ biển, bờ hồ (phân bố ngoài ảnh hưởng của hiện tượng sóng vỗ) thì điều kiện thành tạo trượt ít thuận lợi hơn

Một số diễn biến trung tâm mưa lớn ở các tỉnh duyên hải miền Trung được xác định như sau [10]:

Khi bão và áp thấp nhiệt đới (XTNĐ) đổ bộ vào vùng I (Thanh Hoá), trung tâm mưa lớn tập trung ở Thanh Hóa với tần suất lớn nhất đến trên 70% Từ Nghệ

An đến Quảng Trị, khả năng "mưa vừa" đến "rất to" giảm dần từ 60% cho đến 0%: suất bảo đảm xảy ra mưa lớn có xu thế giảm dần từ Thanh Hóa xuống tới Quảng Trị không còn khả năng xảy ra nữa Khi có XTNĐ đổ bộ vào vùng II Nghệ An, Hà Tĩnh), mưa lớn tập trung xảy ra ở ven biển bắc Trung Bộ Trung tâm mưa lớn tập trung ở Hà Tĩnh với mức bảo đảm gần 90% Đặc biệt tại các vùng ven biển Thanh Hóa - Nghệ An, tần suất mưa lớn rất cao với trên 80% Từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi, khả năng mưa lớn giảm dần từ 60% xuống chỉ còn 20% Khi XTNĐ đổ bộ vào vùng III (Quảng Bình, Thừa Thiên Huế), khả năng xảy ra mưa lớn ở các nơi rất thấp Ít nơi có mức bảo đảm xảy ra trên 60% Phổ biến các nơi ở bắc Trung Bộ và trung Trung Bộ chỉ có mức bảo đảm xảy ra mưa lớn trong khoảng từ 20 - 60% Nơi

có mức bảo đảm xảy ra > 60% chủ yếu tập trung ở vùng XTNĐ đổ bộ, khả năng cao nhất là ven biển Thừa Thiên Huế: trên 80%, nhưng diện không lớn Ngoài ra, một vài nơi ven biển từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh có khả năng xuất hiện mưa lớn ở mức bảo đảm từ 60 - 80% Khi XTNĐ đổ bộ vào vùng IV (Quảng Nam, Quảng Ngãi), mưa lớn có thể xảy ra trên toàn miền Trung với các mức bảo đảm khác nhau rõ rệt:

Trang 28

từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi với mức bảo đảm trên 80% Mưa lớn xuất hiện trên diện rộng, khu vực có mức bảo đảm xảy ra cao nhất là Quảng Nam - Đà Nẵng Trong đó, tại Đà Nẵng mức bảo đảm xảy ra mưa lớn đạt tới 100%, có nghĩa chắc chắn có mưa lớn ở đây; khu vực vùng núi Hà Tĩnh - Quảng Bình và Bình Định khả năng xảy ra mưa lớn với mức bảo đảm trong khoảng từ 60 - 80% Khi XTNĐ đổ bộ vào vùng V (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà) khả năng xảy ra mưa lớn được xác định chỉ tập trung chủ yếu tại Bình Định và vùng lân cận Tại hai cực bắc và nam của khu vực, khả năng xảy ra mưa lớn là rất nhỏ Khi XTNĐ đổ bộ vào vùng VI (Phan Rang, Phan Thiết) khả năng xảy ra mưa lớn chỉ tập trung ở phía nam Trung

Bộ, phía bắc Trung Bộ rất ít khả năng xảy ra

Phân tích diễn biến các trượt lở lớn cho thấy hầu hết các tai biến trượt lở ở các tỉnh duyên hải miền Trung nước ta đều liên quan với những chế độ mưa nhất định Mưa là yếu tố quyết định, là điều kiện đủ để phát động trượt lở Kết quả thống

kê chỉ rõ trượt lở xảy ra mạnh ở những khu vực và vào những năm có tổng lượng mưa cao, có sự phân biệt rõ hai mùa mưa khô, và khi lượng mưa từ đầu mùa vượt quá 50% - 60% lượng mưa toàn mùa và vào thời điểm cuối những đợt mưa có cường độ lớn

Kết quả khảo sát và theo dõi diễn biến trượt lở đất cho thấy hầu hết các khu vực trượt lở đất mạnh đều nằm trong vùng có lượng mưa từ trung bình trở lên Ở các khu vực có lượng mưa năm phong phú và có các nhân tố địa chất địa hình thích hợp thì trượt lở có khả năng phát sinh rất mạnh trong các đợt mưa cường độ lớn Mối quan hệ này đã được quan sát thấy trên nhiều vùng Cường độ một số trận mưa gây trượt lở đất lớn được trình bày ở bảng 2.2 [10]

Bảng 2.2 Lượng mưa lớn tại các tỉnh miền Trung

TT Thời gian Địa điểm trượt lở Lượng mưa 1 trận Lượng mưa năm

1 11 - 1964 Quế Sơn, Quảng Nam 300 - 1000mm 2.500-3.500mm

2 12 - 1986 Sơn Trà, Quảng Ngãi 500 - 1227mm 2.500-3.500mm

3 11 - 1999 Phú Lộc, Thừa Thiên Huế gần 1000mm 2.400-3.000mm

4 9 - 2002 Hương Sơn, Hà Tĩnh 500-700mm 2.400-3.200mm

Trang 29

2 Đặc điểm địa hình Điều kiện quan trọng nhất có tác dụng hỗ trợ cho sự

thành tạo trượt là địa hình khu vực Sự phân bố địa lý và vị trí địa mạo là bằng chứng rõ ràng cho kết luận đó Nhiều số liệu quan sát đã chứng tỏ rằng trượt thường phân bố rộng rãi nhấn ở trong vùng núi, ở những khu vực có địa hình phân cắt mạnh trên sườn cao và dốc của thung lũng sông, trên các sườn ven bờ các bể nước, trên mái dốc các đường đào và công trường khai thác lộ thiên Nói chung, địa hình mặt đất, vị trí sơn văn của khu vực tạo ra những dự trữ thế năng tiềm tàng hỗ trợ cho sự phát triển hiện tượng trượt

Trượt lở ít khi xảy ra trên sườn dốc nhỏ hơn 10P

o P Trên các sườn có góc dốc

0 P

- 35P 0

Ptrượt

lở xảy ra rất mãnh liệt Khu vực có góc dốc 30 - 45P

0 P: Phân bố phổ biến ở vùng núi cao thuộc các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, khu vực có góc dốc 20 -

Do tác động của dòng nước mặt, các quá trình rửa trôi, rửa xói có thể làm thay đổi mặt địa hình và độ dốc của sườn dốc Rửa trôi là sự hoà tan và rửa các hạt cứng trên bề mặt đất đá dưới tác dụng của nước mặt Mức độ rửa trôi phụ thuộc vào: lượng nước mặt, quan hệ lượng nước và sự bốc hơi, độ dốc của địa hình, loại đất đá và các tính chất của chúng, điều kiện thế nằm và đặc điểm của thảm thực vật Kết quả của quá trình này là tạo nên sự bào mòn bề mặt Rửa xói là sự xói mòn cắt sâu vào mặt đất duới tác động của dòng nước mặt tập trung Các quá trình rửa xói tạo nên các rãnh xói (thể tích < 10mP

3 P), phát triển thành mương xói khởi đầu từ phần trên của sườn dốc Sự thành tạo mương xói là thí dụ điển hình của hiện tượng xói theo đường Cường độ rửa xói phụ thuộc vào: tốc độ dòng nước mặt (góc dốc của

Trang 30

địa hình), các thông số của dòng nước (lượng nước, giá trị lưu lượng tương đối, độ cứng của nước), độ bền và điều kiện thế nằm của đất đá ở lòng dòng chẩy, đặc điểm thảm thực vật ở bờ khe, suối Tác dụng rửa xói tăng lên khi tăng góc dốc của lòng dẫn hoặc tăng lưu lượng dòng nước; tác dụng giảm đi khi dòng nước cắt vào đất đá bền vững, ít nứt nẻ hoặc ở vùng bờ có thảm thực vật phong phú Động năng của dòng nước mặt gây xói: E = mvP

2 P/2 Khối lượng nước chảy phụ thuộc vào diện tích tập trung nước; tốc độ dòng chảy phụ thuộc vào chiều cao và góc dốc của bờ dốc

Như vậy: diện tập trung nước càng lớn, nằm càng cao so với gốc xói mòn địa

phương, sườn càng cao và dốc, nghĩa là địa hình bị phân cách mạnh mẽ thì quá trình xói mòn càng phát triển Kết quả của quá trình rửa xói tạo nên các rãnh xói, mương xói, khe hẻm Quá trình rửa trôi, rửa xói làm thay đổi bề mặt cà độ dốc của sườn dốc, tạo điều kiện thuân lợi cho quá trình trượt lở

3 Đặc điểm địa chất Cấu tạo, thành phần và tính chất đất đá cấu thành nên

sườn đồi núi, bờ sông, bờ biển được coi là một trong những yếu tố cơ bản phát sinh

trượt lở Dựa theo những yếu tố này, có thể phân nhóm đất đá theo mức độ từ rất dễ

trượt lở tới rất khó trượt lở Khả năng phát sinh trượt lở của đất đá ở vùng duyên hải

miền Trung có thể sắp xếp theo thứ tự từ rất cao tới rất thấp (bảng 2.3) [10]

Bảng 2.3 Khả năng phát sinh trượt lở của các nhóm đất đá ở vùng núi duyên

hải miền Trung

Khả năng trượt lở

Trang 31

tàn tích lên tới 20 - 50m ở sườn núi dốc 15P

o P

- 35P o P, chiều dày lớp đất này đạt tới 5 - 20m

Nhóm đá phiến và sét bột kết gắn kết yếu là đối tượng chủ yếu phát sinh các trượt lở khối lớn, các trượt lở tập trung trên phạm vi rộng Trượt lở dịch chuyển dọc

các mặt yếu trong đá phiến, trong các mặt phân lớp nứt nẻ của các tập đá sét bột kết Các mặt yếu trong đá phiến thường trơn bóng (phiến lục, phylit, phiến sericyt), có

độ bền chống cắt nhỏ Đá phiến tồn tại tương đối phổ biến ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảg Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên - Huế Trượt lở trên tuyến dường

Hồ Chí Minh khá phổ biến trên các loại đát đá này

Mức độ nứt nẻ trong đá ảnh hưởng tới mật độ và quy mô trượt lở Khi phân tích các khối trượt đơn lẻ yếu tố này được xét chung vào cấu tạo đất đá Khi xem xét phân vùng trượt lở trên phạm vi một lãnh thổ, yếu tố nứt nẻ có ý nghĩa nổi trội Trong cùng một loại đất đá, trượt lở dễ phát sinh ở đới dập vỡ nứt nẻ, vì ở đây đất

đá bị phong hoá sâu, dễ bão hoà nước, đất đá có độ bền chống cắt thấp

Độ vỡ nứt nẻ của đá bắt nguồn từ các phá huỷ kiến tạo (thường là các đứt gãy kiến tạo, các đớt tiếp xúc, quá trình đông cứng, quá trình dỡ tải (bóc mòn, bóc xúc đất đá .), quá trình phong hoá Dọc các đứt gãy kiến tạo thường phát triển mạnh các tai biến trượt lở Kết quả khảo sát những vùng trượt lở mạnh cho thấy hầu hết các trượt lở đá nguyên khối đều gắn với độ dập vỡ nứt nẻ tăng cao có liên quan tới các đứt gãy kiến tạo

Trong suốt quá trình phát triển địa chất, lãnh thổ Việt Nam nói chung, vùng miền Trung nói riêng, bị dập vỡ, phân cắt bởi nhiều đứt gãy kiến tạo có quy mô lớn (bậc I, bậc II) Các đứt gẫy kiến tạo này thường sâu hơn 30 - 40 km, dài tới trên một nghìn km Trên mặt đất, chiều rộng của đới ảnh hưởng dọc đứt gẫy đạt tới 5 - 15km Bên cạnh đó, cần kể thêm hệ thống các đới đập vỡ bậc thấp hơn (bậc III, IV, V )

đi kèm với chúng Vì vậy ảnh hưởng của nứt nẻ, dập vỡ kiến tạo tới mật độ và quy

mô trượt lở là rất đáng kể

Trang 32

Trong nhiều trường hợp, trượt phân bố ở những sườn dốc cấu tạo từ những đất đá loại sét hoặc trong đất đá cấu tạo nên sườn dốc có những lớp, lớp kẹt, đới đất

đá loại sét, vật chất sét bôi nhét hay là những loại đá khác dễ tạo nên các mặt và đới yếu (các lớp than, muội than, các mặt và đới khe nứt, phá huỷ kiến tạo ) và cuối cùng là những nơi trên sườn dốc có thành tạo loại sét eluvi, deluvi, prolevi dày, chẳng hạn như ở núi Đầu Voi, Tiên Phước, Quảng Nam Phân tích điều kiện thành tạo trượt trong đá cứng cho thấy: cả trong trường hợp này, vật chất sét lấp nhét khe nứt, sét bôi trơn bề mặt khe nứt cũng tạo điều kiện rất dễ dàng cho sự phá huỷ cân bằng các khối đá Sự thành tạo có nhiều khả năng nhất ở những nơi trong cấu trúc địa chất của sườn dốc hay mái dốc tồn tại các mặt trượt ẩn, định hướng bất lợi, tức

là có hướng nghiêng về chân sườn dốc Trong khi phân tích điều kiện địa chất, điều quan trọng nữa là cần phải xem xét đến cả vị trí kiến tạo - kiến trúc của khu vực, bởi

vì ở những khu vực bị nâng lên do các chuyển động kiến tạo mới và hiện tại luôn luôn đổi mới dự trữ thế năng tiềm tàng hỗ trợ cho sự thành tạo trượt Về phương diện đó, khu vực có hoạt động địa chất cao cũng chiếm vị trí đặc biệt

Ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển các quá trình và hiện tượng là các đặc điểm về tính chất cơ lý của đất đá cấu tạo nên sườn dốc, hoặc là của một số lớp, lớp kẹp, đới phá huỷ kiến tạo, hoặc là vật chất lấp nhét khe nứt và bôi trơn bề mặt của

nó Độ bền của đất đá - sức chống cắt cũng như nhiều tính chất đặc thù cho khuynh hướng giảm độ bền của đất đá - dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau và giảm theo thời gian có một ý nghĩa cơ bản về phương diện này đặc biệt quan trọng là phải xét đến thành phần khoáng vật, cấu trúc (kiến trúc và cấu tạo) của đất đá, trạng thái vật lý (độ ẩm, độ chặt, độ phong hoá, độ nứt nẻ), độ tan dữa, độ hoá mềm, độ háo nước, khuynh hướng trương nở và biến dạng dẻo, tính chất từ biến, độ bền lâu dài (nhỏ hơn độ bền tức thời rất nhiều), khuynh hướng từ biến tăng tiến Tất cả những tính chất nói trên cần được xem xét đến khi xác định các chỉ tiêu tính chất tổng hợp, cũng như tính toán của đất đá

4 Đặc điểm địa chất thuỷ văn Ở hầu hết các hiện tượng trượt lở tự nhiên

đều quan sát thấy vai trò đáng kể của nước dưới đất Đối với sườn đồi núi, sau các

Trang 33

ngầm dâng cao, trượt lở xảy ra dày và mạnh Ảnh hưởng nhiều nhất với trượt lở là tầng nước ngầm nông, nằm gần mặt đất

Ở miền Trung, tầng nước ngầm gần mặt đất thường phân bố trong các trầm tích bở rời có độ rỗng lớn (cát, cuội, sỏi phân bố dọc các sông và các đồng bằng ven biển), trong các vỏ phong hoá có độ rỗng, độ nứt nẻ cao (trên đá bazan, granit, cát bột kết ), trong các đới phá huỷ kiến tạo Độ sâu và dao động mực nước biến đổi theo mùa (khô, mưa) theo khoảng cách tới các sông suối theo độ dốc địa hình, theo cấu tạo địa chất Ở các vùng đồi núi, mực nước dao động trong khoảng 2-10m

Một trong những yếu tố quyết định khả năng thành tạo là các điều kiện địa chất thuỷ văn nhất định Những sườn dốc cấu tạo bởi đất đá sũng nước bao gồm các phức hệ, tầng và đới bão hoà gây trượt sẽ thuận lợi hơn nhiều so với các sườn dốc cấu tạo từ đất đá thoát nước tốt Do đó, khi nhận xét và đánh giá độ ổn định sườn dốc và mái dốc và điều kiện thành tạo trượt, cần phải xem xét nước dưới đất như một trong những yếu tố tự nhiên quan trọng nhất

Nước dưới đất có vai trò đối với sự gia tăng tuyệt đối hoặc tương đối ứng lực cắt ở trên sườn dốc, mái dốc Đối với các khối trượt thông thường, tác động này một mặt tăng của ứng lực cắt có liên quan tới mức độ sũng nước của đất đá và mặt quan trọng hơn, chính sự kiện tẩm ướt nó Đối với các khối trượt dòng, nước dưới đất kết hợp với nước mặt gây nên sự sũng nước cho khối đất đá, làm tan rã, trương nở thể tích và suy giảm độ bền cấu trúc của khối đất đá Đất đá từ thể rắn, rời xốp trở thành thể lỏng Dòng chất lỏng hỗn hợp đất đá và nước, dòng bùn đá, chuyển động theo sườn dốc tạo nên thể trượt dòng

Trong đá nứt nẻ, dưới tác dụng của nước dưới đất có thể phát sinh quá trình moi chuyển các hạt nhỏ ra khỏi đất đá gọi là quá trình xói ngầm Xói ngầm phát triển tương đối chậm (hàng năm, chục năm) nhưng phổ biến rộng rãi trong thiên nhiên và biểu hiện đa dạng Xói ngầm làm giảm độ chặt của đất đá, làm cho đất đá

tự nén chặt dưới tác dụng của trọng lượng bản thân, có thể hình thành vết nứt, mặt yếu tạo điều kiện hình thành khối trượt ở sườn dốc Xói ngầm thường là nguyên

Trang 34

nhân của nhiều dạng biến dạng mặt đất: vùng trũng, phễu lún, hố sụt, khe nứt Xói ngầm gây ra hiện tượng nhét bịt, lấp vật liệu nhỏ vào chỗ trống của các tầng lọc ngược của các công trình thu gom nước trong khối đất đá ở sườn dốc, phá vỡ sự làm việc bình thường của chúng, ảnh hưởng đến ổn định sườn dốc

5 Đặc điểm địa chất động lực công trình Những điều kiện thuận lợi đối với

sự thành tạo trượt thường được tạo nên cùng với sự phát triển các quá trình và hiện tượng địa chất kèm theo Thí dụ, quá trình phong hoá đất đá, hiện tượng xói mòn, lở

và phá huỷ sườn dốc, biến dạng xói ngầm và các biến dạng thấm khác, vận động kiến tạo mới và hiện đại, động đất và nhiều hiện tượng địa chất hiện đại khác - thường chuẩn bị điều kiện làm dễ dàng cho sự tác động của ứng lực cắt

Quá trình phong hoá Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, phong hoá hoá học chiếm ưu thế Trong quá trình phong hoá hoá học đất đá bị phá huỷ do tác dụng hoá học của các tác nhân khí quyển (khí, nước ) trong đó nước có chứa các thành phần hoá học là tác nhân quan trọng nhất Nước trong khí quyển rơi xuống mặt đất

ở dạng nước mưa không tinh khiết Nó luôn luôn chứa các dạng hoà tan các lượng ôxy và axit khác nhau Nước mưa ngoài oxy, axit cacbonic, nitơ còn hoà tan HCl, SO2, N2O3, N2O5, H2S, NH3, NaCl, KCl và những hợp chất hoá học khác có trong không khí Trong các hợp chất ấy tác dụng mạnh nhất là các axit và kiềm Nó làm tăng khả năng hoà tan của nước đối với các khoáng vật tạo đá Tác dụng phong hoá hoá học diễn ra dưới các hình thức: hoà tan, oxy hoá, thuỷ phân, thuỷ hoá: Tác dụng hoà tan đã xảy ra do nước có tính xâm thực (chứa CO2, axit sunfuric) hoà tan các khoáng vật dễ tan, còn gọi là quá trình rửa trôi Các khoáng vật còn lại - khoáng vật tàn dư lại tiếp tục chịu các tác dụng khác của quá trình phong hoá Tác dụng oxy hoá là phản ứng hoá học tạo thành các oxit sắt, mangan, manhê Quá trình này có thể xảy ra ở độ sâu hàng trăm mét, quyết định bởi độ rỗng và độ nứt nẻ của đất đá, mức độ phân cắt của địa hình và điều kiện khí hậu Tác dụng oxy hoá làm thay đổi thành phần hoá học của nhiều loại khoáng vật thuộc lớp sunfua, oxit, silicat, hợp chất hữu cơ Đá sau khi bị oxy hoá thường có màu vàng, nâu hoặc đỏ Tác dụng thuỷ phân thường thấy trong các khoáng vật thuộc lớp silicat và alumosilicat Dưới

Trang 35

độ thấp, nhưng có tính ổn định đối với phong hoá tốt hơn Tác dụng thuỷ hoá là quá trình thành tạo các hợp chất chứa nước bằng phương thức hấp thụ

Sản phẩm phong hoá ngoài phần rửa trôi đi, phần nằm tại chỗ bên trên đá mẹ gọi là tàn tích Về vẻ bề ngoài cũng như các tính chất vật lý, hoá học, tàn tích đã khác xa với đá mẹ Ở gần mặt đất sự khác biệt đó biểu hiện rõ nhất, càng xuống sâu

do cường độ phong hoá giảm, sự khác biệt giảm dần Trên quan điểm xây dựng, có thể chia ra các đới phong hoá cơ bản: đới thổ nhưỡng; đới vỡ mịn nằm dưới đới thổ nhưỡng; đới vỡ nhỏ (dưới dạng hạt) nằm dưới, kề ngay đới vỡ mịn; đới dạng khối là vùng đá bị phân cắt bởi nhiều khe nứt Đá bị phong hoá mạnh, phong hoá vừa; đới nguyên thể khó phân biệt với đá mẹ vì trong đá chỉ xuất hiện các khe nứt nhỏ, kín;

có cường độ giảm sút ít nhiều Đá bị phong hoá nhẹ

Trong quá trình phong hoá, các khoáng vật có độ bền cao chuyển thành các khoáng vật có độ bền thấp, làm cho các tính chất của đá, đặc biệt là các tính chất cơ học thay đổi, độ bền và mô đun đàn hồi giảm đi đáng kể Đối với một số loại đá phổ biến, quá trình phong hoá xảy ra như sau: Đá mácma xâm nhập thành phần bazơ và

đá phun trào ba zan, có thành phần khoáng vật chủ yếu là Plagioclaz và Piroxen Trong điều kiện nhiệt đới ẩm, khi bị phong hoá triệt để hai loại khoáng vật này thường tạo thành các sản phẩm sét, nhiều khi có hàm lượng monmoriolite cao, có

độ bền thấp, dễ bị trương nở, tan rã và hệ số thấm nước nhỏ Trong điều kiện thuận lợi có thể hình thành lớp laterit khá bền vững ở trên mặt Đá mácma axít chủ yếu là granit, có các khoáng vật tạo đá chính là thạch anh và fenspat Quá trình phong hoá hoá học cuối cùng biến đổi fenspat thành kaolin Kaolin là một khoáng vật mềm yếu, có tính trương nở nhẹ, dễ bị tan rã và có hệ số thấm nước nhỏ Các đá trầm tích thuộc loại sét, bột kết và đá biến chất của chúng thường dễ bị phong hoá Sản phẩm phong hoá là các loại sét, sét pha thuộc nhóm kaolinit, hydromica Đặc biệt, diệp thạch haimica bị phong hoá hình thành lớp sét pha có độ bền rất thấp theo mặt lớp, mặt phiến Hơn nữa, đá còn có khả năng trương nở ở mức độ trung bình

Trang 36

Hoạt động nội sinh Động đất là hiện tượng chấn động của vỏ quả đất vì thế

còn được gọi là địa chấn Động đất do chuyển động kiến tạo là loại động đất rất phổ biến, có cường độ mạnh và phạm vi ảnh hưởng lớn nhất Động đất làm phát sinh sóng dọc, sóng ngang và sóng mặt Tốc độ sóng dọc thường bằng 1,7 lần sóng ngang Khi động đất, trước hết nhận được sóng dọc, sau đó là sóng ngang, cuối cùng là sóng mặt

Động đất là nguồn phát sinh các dao động lớn, có thể trực tiếp kích động trượt, sạt, sụp đổ các khối đất đá Động đất Tuần Giáo (Lai Châu) năm 1983 đã gây trượt lở và sụp đổ nhiều vách núi đá vôi và mái dốc đường gây kinh hoàng trong nhân dân hơn cả bản thân chấn động do động đất Đất đá trượt lở kích động

bởi trận động đất này đã vùi lấp gần 200 ha ruộng

Mới đây nhất là động đất xảy ra tại khu vực Sông Tranh - Quảng Nam, có khả năng nguy hại đến công trình và đe dọa tính mạng cũng như đời sống, kinh tế của nhân dân quanh khu vực gây trượt lở đất

Kết quả nghiên cứu động đất cho thấy ở Việt Nam có khả năng phát sinh chấn động tới cấp 9 Toàn bộ lãnh thổ có khả năng bị chấn động thấp nhất là cấp 6 Hầu hết các khu vực có khả năng phát sinh động đất mạnh đều phân bố dọc các đới kiến tạo xung yếu của lãnh thổ, có hình dạng dải rộng

6 Ảnh hưởng của các hoạt động dân sinh kinh tế Con người là tác nhân

quan trọng, làm thay đổi các điều kiện tự nhiên, làm cho tai biến trượt lở được hoạt hoá và mạnh lên ở một số khu vực Thay đổi lớn nhất là chế độ thấm nước trên các sườn đồi núi, chế độ dòng chảy trên hầu khắp sông suối và làm gia tăng độ dốc của sườn dốc do các hoạt động khai đào, như giao thông, thuỷ lợi, xây dựng, khai thác

Trang 37

tiết nước cho sông suối Theo các thống kê và phân tích chưa đầy đủ, diện tích rừng hiện nay lại thu hẹp gần một nửa so với năm 1941 Theo những nghiên cứu mới đây, công việc đốt nương làm rãy và cháy rừng tự nhiên đã làm thay đổi cấu tượng đất, làm hình thành lớp dẫn nước trong tầng phong hoá và gia tăng khả năng trượt

lở các khu vực đó

Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra một nhận xét là hoạt động xây dựng

và kinh tế của con người cần phải dựa trên sự hiểu biết các định luật và các quy luật của quá trình trượt Chính những định luật và quy luật ấy là cơ sở để tiến hành công tác bảo vệ và cải tạo lãnh thổ Đồng thời kinh nghiệm cho thấy: hoạt động xây dựng

và kinh tế của con người lại tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành tạo trượt Cắt xén sườn dốc, thi công mái quá dốc, phá huỷ dòng chảy mặt và ngầm, đào phá các bãi cát gần chân sườn dốc và nhiều hoạt động khác của con người mà về phương diện phổ biến, qui mô và ý nghĩa có thể so sánh với các yếu tố tự nhiên thường tạo ra những điều kiện quan trọng nhất đối vơí sự phá huỷ cân bằng của các khối đất đá trên sườn dốc và mái dốc, hỗ trợ cho sự hình thành trượt

ĐẤT

Trên thế giới, đánh giá trượt lở khu vực được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau, như các phương pháp phân tích hệ thống cấp bậc (Analytic Hierachy Process - AHP), phương pháp ma trận định lượng (Quantified Matrix Method - QMM) của Hoa Kỳ, các phương pháp BCEГИГEO, phương pháp MГY của Nga Việc đánh giá thiên tai trượt lở khu vực là một vấn đề còn rất mới mẻ đối với nước ta Một số tác giả đã áp dụng các phương pháp QMM [9,13,15] và AHP [16] ở Việt Nam và đã thu được những kết quả bước đầu Để đánh giá nguy cơ trượt

lở khu vực các tỉnh miền Trung, luận văn sử dụng phương pháp QMM

Theo phương pháp QMM, hệ số mức độ nguy hiểm do trượt lở đất gây nên

K, được xác định bởi tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng có tác động làm phát sinh trượt

lở Các yếu tố đó được đánh giá theo thang điểm bởi một giá trị IR i R, được gọi là hệ số

Trang 38

độ nguy hiểm Trong mỗi yếu tố, người ta có thể xác định một đại lượng gọi là hệ

số cường độ tác động AR ij Rđể chính xác hóa thêm mức độ tác động của độ nguy hiểm đối với từng yếu tố Các giá trị IR i R và AR ij Rthường được xác định theo số liệu thống kê, theo kinh nghiệm chuyên gia Hệ số mức độ nguy hiểm do trượt gây nên được xác định theo công thức sau:

% 100

i A I M

1 max

=

i ij i

nj n j

j ii

i

A I

A I A

I A I A I K

1 max

2 2 1

MR max R - tổng số điểm lớn nhất có thể có được từ hệ số độ nguy hiểm của các yếu tố và hệ số cường độ tác động lớn nhất của yếu tố đó;

IR i R - hệ số độ nguy hiểm của yếu tố thứ I;

AR ij R - hệ số cường độ tác động của yếu tố thứ I thu được qua khảo sát hiện trường

AR ijmax R - cường độ tác động lớn nhất của yếu tố thứ i

1, 2,…n - số thứ tự các yếu tố từ yếu tố thứ nhất đến yếu tố thứ n

Vì cơ chế, hình thái trượt lở của sườn dốc đất và đá khác nhau khá nhiều, nên Reuter F [21] phân chia sườn dốc ra làm hai nhóm: sườn dốc đất và sườn dốc đá

Tham khảo các nghiên cứu của các tác giả [1,13,21], phân chia 10 yếu tố gây trượt trượt sườn dốc đất

10 yếu tố gây trượt sườn dốc đất bao gồm: 2 yếu tố địa hình, 1 yếu tố về mưa, 4 yếu tố địa chất và 3 yếu tố sinh vật Đó là:

Trang 39

4 Đất pha tàn tích dễ hút nước, trương nở, tan rã

5 Thế nằm của lớp đất nghiêng theo sườn dốc, có lớp đất yếu

6 Có tầng nước ngầm, nước có áp làm thay đổi tính chất của đất, tạo mặt trượt

7 Tải trọng động đất, tác dụng công trình và tải trọng động

Đặc điểm sinh học

8 Các tác động kỹ thuật như dạng, cường độ tiến hành các công trình trên sườn dốc

9 Thảm thực vật

10 Hoạt động của động vật: hang hốc, làm tơi xốp đất

Thang điểm kiến nghị đối với các yếu tố gây trượt sườn dốc đất ở vùng

duyên hải miền Trung được nêu ở bảng 2.4 với MR max R= 600 điểm

Bảng 2.4 Thang điểm các yếu tố gây trượt sườn dốc đất

TT Các yếu tố Độ nguy

hiểm IRi

Mức độ tác động Cường

độ tác động ARi

Trang 40

bão hòa 31 - 50%

5 Giảm cường độ kháng cắt khi

o

3 Góc nghiêng 21 - 30 P

o

5 Góc nghiêng 31 - 40 P

o

7 Góc nghiêng > 40 P

3 III 40% ≤ K < 55% Có nhiều nguy cơ trượt lở

4 IV 55% ≤ K < 75% Nguy cơ trượt lở cao

Ngày đăng: 25/06/2021, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo: Điều tra, đánh giá thiệt hại môi trường về hiện tượng nứt đất, sạt lở đất vùng núi Quảng Ngãi. Đề xuất các biện pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai - Trung tâm tư vấn công nghệ môi trường - Liên hiệp các hội khoa h ọc và kỹ thuật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá thiệt hại môi trường về hiện tượng nứt đất, sạt lở đất vùng núi Quảng Ngãi. Đề xuất các biện pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai
2. Giáo trình Địa Kỹ Thuật - Đại học Thủy lợi Hà Nội 3. Giáo trình Thu ỷ công - Đại học Thủy lợi Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa Kỹ Thuật" - Đại học Thủy lợi Hà Nội 3. "Giáo trình Thuỷ công
4. Nghiêm H ữu Hạnh - Nghiên c ứu bước đầu về trượt lở đất ở vùng núi một số t ỉnh duyên hải miền Trung - Phương pháp đánh giá , H ội nghị khoa học chào m ừng 50 năm Đại học Thuỷ lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bước đầu về trượt lở đất ở vùng núi một số tỉnh duyên hải miền Trung - Phương pháp đánh giá
5. Nghiêm H ữu Hạnh - M ột số giải pháp quản lý, phòng chống tai biến trượt lở ở vùng núi Việt Nam . H ội nghị khoa học toàn quốc, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp quản lý, phòng chống tai biến trượt lở ở vùng núi Việt Nam
6. Nghiêm H ữu Hạnh - Biến đổi khí hậu, nguy cơ tai biến trượt lở ở vùng núi Việt Nam và một số giải pháp quản lý, phòng chống. Tạp chí Địa kỹ thuật, số 3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu, nguy cơ tai biến trượt lở ở vùng núi Việt Nam và một số giải pháp quản lý, phòng chống
7. Trần Trọng Huệ, Nguyễn Văn Hoàng. Báo cáo tổng kết dự án điều tra cơ bản. Phần 1. Trượt lở đường Hồ Chí Minh, phân vùng nguy cơ trượt lở và đề xuất các giải pháp giảm thiểu. Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết dự án điều tra cơ bản. "Phần 1. Trượt lở đường Hồ Chí Minh, phân vùng nguy cơ trượt lở và đề xuất các giải pháp giảm thiểu
12. Nguy ễn Sỹ Ngọc (2003): Ổn định bờ dốc. Trường Đại Học Giao Thông Vận T ải, Hà Nội.13 . Nguyễn Đức Lý, Nguyễn Thanh. Vận dụng phương pháp ma trận định lượng đánh giá cường độ tác động tương hỗ các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trượt lở đất đá trên sườn dốc, mái dốc miền núi. Tạp chí Địa kỹ thuật, số 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ổn định bờ dốc
Tác giả: Nguy ễn Sỹ Ngọc
Năm: 2003
18. Nguyen Huu Ninh. Climate Change: Overview of Adaptation, Vulnerability &amp; Resilience in Global and Vietnam Context. 10/2008, Hanoi, Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overview of Adaptation, Vulnerability "& Resilience in Global and Vietnam Context
16. Nguy ễn Trọng Yêm. Báo cáo tổng kết đề tài: Xây dựng bản đồ phân vùng tai bi ến môi trường tự nhiên lãnh thổ Việt Nam. Hà Nội, 2006Ti ếng Anh Khác
17. Crozier M. J., and Glade T., Landslide Hazard and risk: Chapter 1.Issues, Concepts, and approach. Wiley 2005 Khác
19. Varnes D.J., Slope movement types and processes. Chater 2: Landslides- analysis and control. National academy of sciences. Washington, D.C.1978 Khác
20. YIN Kunlong, CHEN Lixia, ZHANG Guirong. Regional Landslide Hazard Warning and Risk Assessment. Earth Science Frontiers, 2007, 14(6). China Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w