1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6 24 tháng tuổi tại xã tuân tức, huyện thạnh trị, tỉnh sóc trăng năm 2017

117 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thanh Hà
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng trẻ em (13)
      • 1.1.1 Một số khái niệm (13)
      • 1.1.2. Cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (13)
      • 1.1.3. Phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi (14)
      • 1.1.4. Các yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng ở trẻ (15)
      • 1.1.5. Hậu quả của suy dinh dưỡng (19)
    • 1.2. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em (21)
      • 1.2.1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới (21)
      • 1.2.2. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam (22)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi (24)
    • 1.4. Thông tin địa bàn nghiên cứu (29)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (32)
    • 2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu (33)
    • 2.5. Công cụ và Phương pháp thu thập số liệu (34)
    • 2.6. Các biến số,thước đo và tiêu chuẩn đánh giá (36)
    • 2.7. Xử lý và phân tích số liệu (38)
    • 2.8. Đạo đức nghiên cứu (38)
    • 2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (39)
  • Chương 3 KẾT QUẢ (40)
    • 3.1. Mô tả đặc điểm chung của trẻ, đặc điểm chung của mẹ, hộ gia đình (40)
    • 3.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017 (42)
    • 3.3. Thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017 (45)
    • 3.4. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017 (51)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (61)
    • 4.1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi (61)
    • 4.2. Thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ (65)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi (69)
  • KẾT LUẬN (76)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (79)
  • PHỤ LỤC (84)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn: Trẻ trong độ tuổi 6-24 tháng tại thời điểm điều tra, đang sống tại xã và đồng ý tham gia nghiên cứu

Trẻ bị dị tật bẩm sinh, bệnh cấp tính nặng tại thời điểm điều tra

Bà mẹ mắc bệnh câm, điếc, bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ, không hợp tác, bà mẹ từ chối tham gia nghiên cứu

- Lãnh đạo chính quyền địa phương, hội phụ nữ, cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 01/2017 đến tháng 7/2017

- Địa điểm: xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa định lượng và định tính

Nghiên cứu định lượng năm 2017 tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6-24 tháng tuổi, mô tả thực hành chăm sóc dinh dưỡng của các bà mẹ, và xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.

Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm bổ sung cho mục tiêu 2, tập trung vào việc mô tả thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em của các bà mẹ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng trong năm 2017.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện trước, sau đó thu thập dữ liệu định tính để bổ sung cho kết quả từ dữ liệu định lượng.

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.4.1 Mẫu định lượng Áp dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ:

Trong nghiên cứu này, số trẻ cần điều tra trong độ tuổi 6-24 tháng là n, với tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ dưới 2 tuổi tại tỉnh Sóc Trăng năm 2013 là p = 0,16 Để đảm bảo mức tin cậy 95% với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05, ước lượng khoảng tin cậy được sử dụng là z1 - α/2 = 1,96 Sai số cho phép được chọn là d = 0,05 Sau khi tính toán, cỡ mẫu cần thiết là 238 trẻ, với 15% từ chối phỏng vấn, khảo sát thực tế tại địa phương ghi nhận có 243 trẻ và mẹ của trẻ trong độ tuổi này Do đó, toàn bộ trẻ 6-24 tháng và mẹ của trẻ sẽ được chọn để tham gia nghiên cứu.

 Cỡ mẫu: Nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, các đối tượng và số lượng tham gia nghiên cứu định tính bao gồm:

Phương pháp Đối tượng Số lượng người

Thảo luận nhóm (TLN) Bà mẹ có con bị SDD 1 cuộc (06 người)

Bà mẹ không có con bị SDD 1 cuộc (06 người)

 Cách chọn mẫu: Các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích:

Bài viết bao gồm các thành phần như: Chủ tịch xã, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng của Trạm Y tế, cùng với các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng (SDD) và không bị SDD Đặc biệt, những bà mẹ này cần có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt rõ ràng để thuận tiện cho việc di chuyển và tham gia chương trình.

Công cụ và Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu

Sử dụng bằng cân Nhơn Hòa mặt cân lòng máng của chương trình phòng chống SDD quốc gia cấp với độ chính xác là 100 gram

Sử dụng thước gỗ của chương trình phòng chống SDD quốc gia cấp với độ chính xác 0,1cm để đo chiều dài nằm của trẻ ≤24 tháng tuổi

Phiếu cân đo nhân trắc trẻ 6-24 tháng ( phụ lục 1)

- Phiếu phỏng vấn bà mẹ của trẻ: Gồm 4 phần chính với 59 câu hỏi (phụ lục 2)

2.5.1.2 Tổ chức thu thập thông tin

- Nhóm điều hành giám sát: Nghiên cứu viên

- Nhóm điều tra viên: Nghiên cứu viên, Y tế thôn bản tại xã (05 người)

❖ Thử nghiệm bộ công cụ

Tập huấn điều tra viên là quá trình mà các nghiên cứu viên trực tiếp hướng dẫn điều tra viên về cách cân đo và các tiêu chí cần đạt trong việc thu thập thông tin Trong quá trình này, các điều tra viên sẽ thực hiện phỏng vấn chéo lẫn nhau để kiểm tra tính hợp lý của bộ câu hỏi.

Thử nghiệm bộ câu hỏi: Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 5 phụ nữ có con

Trong giai đoạn từ 6 đến 24 tháng tuổi tại xã, nhóm nghiên cứu đã thảo luận và tiếp nhận phản hồi về bộ câu hỏi Dựa trên các thông tin thu thập được, nghiên cứu viên đã tiến hành chỉnh sửa và bổ sung để hoàn thiện bộ câu hỏi.

❖ Tiến hành thu thập thông tin tại thực địa theo kế hoạch

 Cân đo nhân trắc trẻ 6-24 tháng tuổi

Cần thực hiện cân đo trẻ vào ngày tiêm chủng, thống nhất với cán bộ và bà mẹ để cân đo trước khi tiêm Nếu bà mẹ không đưa trẻ đến trạm y tế, cần đến nhà để thực hiện cân đo Số liệu sẽ được ghi vào phiếu cân đo nhân trắc và gửi lại cho nhân viên y tế.

- Chuẩn bị cân: Chọn mặt phẳng vững chắc để làm nơi đặt cân

Trước và trong quá trình sử dụng, cần kiểm tra cân bằng bằng cách điều chỉnh thăng bằng ở vị trí 0 kg Sau đó, nên cân khoảng 10 trẻ và kiểm tra lại độ chính xác của cân bằng với vật chuẩn 5 kg.

Khi thực hành cân, trẻ cần được tháo khăn mũ, giày dép và cởi bớt quần áo Kết quả cân nên được đọc và ghi lại với đơn vị là kg, bao gồm cả phần lẻ sau dấu phẩy.

Để đo chiều dài trẻ, trước tiên hãy đặt thước trên mặt phẳng nằm ngang Tiếp theo, tháo bỏ giày dép và quần áo có thể ảnh hưởng đến kết quả đo Đặt trẻ nằm thẳng trên ván của thước đo, đảm bảo mắt trẻ vuông góc với mặt thước Người trợ giúp cần duỗi hai tay tự do, áp vào hai tai để giữ trẻ nhìn thẳng, đầu chạm vào đế thước.

5) ĐTV: một tay đặt vào gối hoặc cổ chân để giữ chân cho thẳng, một tay đưa thanh chặn chạm vào bàn chân trẻ Lưu ý: giữ bàn chân thẳng đứng và áp sát với thanh chặn trên mặt thước 6) Đọc kết quả với 1 số lẻ Giúp trẻ ngồi dậy 7) Người trợ giúp: Ghi ngay kết quả vào và cho người đo xem 8) NCV: Kiểm tra kết quả đo được ghi trong phiếu có chính xác không Hướng dẫn người trợ giúp sửa chữa lại nếu có nhầm lẫn Đọc, ghi kết quả với đơn vị là cm, lẻ sau 1 dấu phẩy [37]

 Phỏng vấn bà mẹ có trẻ từ 6-24 tháng tuổi

Để thực hiện phỏng vấn, ĐTV sẽ đến nhà của bà mẹ và tự giới thiệu bản thân, đồng thời đọc bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu Trong quá trình này, ĐTV sẽ trả lời mọi câu hỏi của bà mẹ liên quan đến cuộc điều tra Sau khi thỏa thuận, cả hai bên sẽ ký vào bản đồng ý trước khi bắt đầu phỏng vấn Mỗi cuộc phỏng vấn thường kéo dài từ 15 đến 20 phút và được thực hiện tại nhà của bà mẹ hoặc tại Trung tâm Y tế, đảm bảo không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.

❖ Kiểm soát chất lượng tại thực địa

Cân và đo là quy trình quan trọng trong việc kiểm tra số điểm tiếp xúc và tư thế đặt trẻ khi thực hiện đo lường Cần chú ý đến cách đọc và ghi chép kết quả một cách chính xác Đồng thời, việc kiểm tra số trẻ được cân đo tại thực địa cũng là một yếu tố cần thiết để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của quá trình này.

- NCV quan sát các cuộc phỏng vấn: quan sát tất cả ĐTV phỏng vấn trong 2-3 ngày đầu thực địa, quan sát ít nhất 2 cuộc phỏng vấn của mỗi ĐTV

- Kiểm tra kết quả phỏng vấn: NCV kiểm tra các bộ câu hỏi đã hoàn thành ngay sau

Khi ĐTV bàn giao, NCV yêu cầu ĐTV giải thích thông tin thiếu Nếu bộ câu hỏi còn thiếu từ 10 câu trả lời trở lên, bộ đó sẽ không được chấp nhận Trong trường hợp này, NCV sẽ yêu cầu ĐTV phản hồi lý do, phỏng vấn lại hoặc loại bỏ bộ câu hỏi tùy vào thực tế Một nguyên tắc quan trọng là nếu một ĐTV có hơn 2 bộ câu hỏi thiếu từ 20% thông tin trở lên trong một ngày do kiến thức và thái độ làm việc, ĐTV đó sẽ bị thay thế.

2.5.2.1 Công cụ thu thập số liệu

Máy ghi âm, bút, sổ ghi chép, bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 4,5,6), bảng hướng dẫn thảo luận nhóm (phụ lục 7)

2.5.2.2 Tổ chức thu thập thông tin

PVS: Gặp gỡ trực tiếp tại nhà của đối tượng nghiên cứu Sau khi đạt được các thỏa thuận và nhận được sự đồng ý tham gia từ các đối tượng, tổ chức sẽ tiến hành nghiên cứu.

Trong nghiên cứu, đã tiến hành 03 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) với sự tham gia của 01 lãnh đạo địa phương, 01 đại diện hội phụ nữ xã và 01 cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng Các cuộc PVS được thực hiện với sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu và dựa trên bảng hướng dẫn đã được xây dựng Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 15-20 phút Sau khi kết thúc, nghiên cứu viên đã nghe lại băng ghi âm để ghi chép những nội dung chính liên quan đến mục tiêu nghiên cứu.

Mời các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng (SDD) và không bị SDD tham gia vào nghiên cứu tại TYT Sau khi đạt được thỏa thuận, chúng tôi tổ chức hai cuộc thảo luận nhóm (TLN), mỗi cuộc gồm 06 bà mẹ, một nhóm có con bị SDD và một nhóm có con không bị SDD Các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) được ghi âm với sự đồng ý của các bà mẹ và dựa trên nội dung trong bảng hướng dẫn PVS đã được xây dựng Mỗi cuộc TLN kéo dài khoảng 20 phút.

Trong 30 phút, sau khi kết thúc buổi thảo luận, các nghiên cứu viên sẽ nghe lại quá trình phỏng vấn qua băng ghi âm và ghi chép những nội dung chính liên quan đến mục tiêu nghiên cứu.

Các biến số,thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

2.6.1 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu định lượng ( xem phụ lục 3)

Nhóm biến số về trẻ: Giới, nhóm tuổi, CNSS, bệnh tật, thứ tự con

Nhóm biến số về mẹ: Dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, số con

Nhóm biến số về thực hành chăm sóc của mẹ: thực hành chăm sóc khi mang thai, NCBSM, ABS, chăm sóc trẻ bệnh, vệ sinh cá nhân

Nhóm biến số về yếu tố liên quan được xây dựng dựa trên khung lý thuyết, bao gồm các yếu tố chính như: yếu tố cá nhân của trẻ, yếu tố từ bà mẹ và gia đình, thực hành của bà mẹ, cùng với yếu tố dịch vụ y tế.

2.6.2 Chủ đề trong nghiên cứu định tính

Tìm hiểu quan niệm, niềm tin, phong tục tập quán trong chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai /chăm sóc trẻ và lý do:

- Thực hành dinh dưỡng khi mang thai của bà mẹ

- Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

- Thực hành cho trẻ ăn bố sung

- Thực hành chăm sóc trẻ bị bệnh

- Thực hành vệ sinh cá nhân

2.6.3 Các khái niệm, tiêu chí đánh giá

- Tình tháng tuổi của trẻ: Theo WHO tháng tuổi của trẻ sẽ được tính tròn tháng, nghĩa là nếu trẻ chưa đủ 30 ngày tuổi thì tính là 0 tháng tuổi

- Trẻ bị tiêu chảy khi đi ngoài phân lỏng hoặc có máu 3 lần trở lên trong 1 ngày

- Trẻ coi là nhiễm khuẩn hô hấp khi có các dấu hiệu sau: sổ mũi, ho, sốt, khó thở

- Bắt đầu cho con bú sớm: trẻ sơ sinh được cho bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh

- NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu: Trẻ trong 6 tháng tuổi được BMHT không ăn thêm thức ăn, nước uống nào khác ngoài sữa mẹ

- Cai sữa đúng thời gian là cai sữa khi trẻ từ 18 - 24 tháng tuổi

- Ăn bổ sung: cho trẻ ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ Ăn bổ sung đúng thời gian là ăn bổ sung khi trẻ đủ 6 tháng tuổi

- Bà mẹ khám thai đúng và đủ khi khám thai ≥ 3lần mỗi 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối khám ít nhất 1 lần

- Trẻ tiêm chủng đầy đủ: trẻ được tiêm chủng đầy đủ theo tháng tuổi

- Cách đánh giá TTDD của trẻ: Trẻ được coi là SDD nhẹ cân, thấp còi, gầy còm khi

HUPH các chỉ số tương ứng CN/T, CC/T và CN/CC < -2SD; TCBP khi CN/T và CN/CC > 2SD

Đánh giá thực hành đạt yêu cầu về NCBSM, ABS, chăm sóc trẻ khi bị bệnh và vệ sinh cá nhân được xác định khi điểm của mỗi phần đạt từ 50% tổng số điểm của phần đó (theo phụ lục 3).

Xử lý và phân tích số liệu

Dữ liệu được thu thập sẽ được mã hóa và làm sạch trước khi nhập vào phần mềm EpiData 3.1 Sau đó, số liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0, và phần mềm WHO Anthro 3.2 sẽ được sử dụng để phân tích số liệu nhân trắc nhằm đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em.

Các kết quả phỏng vấn sâu đã được phân tích và chọn lọc, nhằm trích dẫn những thông tin hỗ trợ cho chủ đề và mục tiêu nghiên cứu.

Đạo đức nghiên cứu

- Được sự chấp thuận số: 167/2017/YTCC-HD3, ngày 22 tháng 3 năm 2017 của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y tế công cộng

- Nghiên cứu được sự đồng tình, ủng hộ của nhà quản lý hệ thống y tế địa phương

Các bà mẹ đã tự nguyện tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích rõ ràng về ý nghĩa của nó Những bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng (SDD) và thiếu cân (TCBP) sẽ nhận được sự tư vấn và hướng dẫn để cải thiện tình trạng sức khỏe của trẻ.

- Tất cả các dụng cụ để cân, đo được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không gây tổn thương và nguy hiểm cho trẻ

- Thực hiện phỏng vấn ở địa điểm riêng tư

Nghiên cứu này không gây ra ảnh hưởng tiêu cực và không đánh giá trình độ của đối tượng cũng như cộng đồng Thông tin về đối tượng tham gia được bảo mật trong nhóm điều tra.

Kết quả nghiên cứu chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và sẽ được thông báo cho các đối tượng tham gia cũng như nhà quản lý tại địa bàn sau khi báo cáo được thông qua Nghiên cứu cam kết đảm bảo tính trung thực của thông tin.

Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và kinh phí, nghiên cứu chỉ xác định được một số yếu tố liên quan mà không chỉ ra được nguyên nhân cụ thể gây ra suy dinh dưỡng (SDD).

Nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đánh giá thực hành của bà mẹ về TTDD mà không xem xét các yếu tố liên quan đến kiến thức của họ, do đó chưa phản ánh đầy đủ toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng.

- Do cỡ mẫu trong nghiên cứu được tính trên SDD thể nhẹ cân nên một số yếu tố liên quan có thể chưa bao quát SDD thể thấp còi

Sai số có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm sai số do quá trình nhớ lại, sai số từ điều tra viên, hoặc do đối tượng trả lời không chính xác hoặc không trả lời Ngoài ra, sai số cũng có thể đến từ quá trình cân đo trẻ và từ việc nhập, xử lý số liệu.

- Bộ công cụ được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu, thử nghiệm tại thực địa trước khi tiến hành điều tra

- ĐTV được tập huấn kỹ càng cách thu thập thông tin, phải giải thích cặn kẽ mục đích cuộc điều tra với đối tượng

- NCV chủ động cân đo kết hợp với TCMR

- NCV theo dõi, giám sát chặt chẽ thu thập số liệu

- Chuẩn hoá kỹ thuật: Các số liệu nhân trắc: sử dụng cố định loại cân, thước

KẾT QUẢ

Mô tả đặc điểm chung của trẻ, đặc điểm chung của mẹ, hộ gia đình

Bảng 3.1 Bảng thông tin chung của trẻ trong nhóm nghiên cứu Đặc điểm Tần suất

Cân nặng khi sinh < 2500 gram 15 6,2

Thứ tự con Con đầu 96 39,5

Con thứ ba trở lên 39 16

Bệnh tật trong 2 tuần qua

Bảng trên cho thấy sự phân bố đồng đều của trẻ em theo nhóm tuổi và giới tính Đáng chú ý, 93,8% trẻ có cân nặng lúc sinh từ 2500 gram trở lên Trong nghiên cứu, trẻ em chủ yếu là con thứ hai, chiếm 44,4% Tỷ lệ mắc bệnh trong 2 tuần qua cao nhất là nhiễm khuẩn hô hấp cấp (32,9%), tiếp theo là tiêu chảy (9,9%), và các bệnh khác chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,4%).

Bảng 3.2 Thông tin chung về các bà mẹ có con từ 6 đến 24 tháng tuổi Đặc điểm Tần suất

Đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu là người dân tộc Khmer (74,5%) và làm nghề nông (44,9%), trong khi chỉ có 6,6% là cán bộ nhà nước Trình độ học vấn của các bà mẹ chủ yếu ở cấp THCS, chiếm 46,5%, và chỉ 7,8% có trình độ THCN trở lên Hầu hết các gia đình có từ 1 đến 2 con, chiếm 83,9%.

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017

Bảng 3.3 Cân nặng trung bình, chiều cao trung bình theo nhóm tuổi của trẻ Đặc điểm Cân nặng trung bình Chiều cao trung bình Theo nhóm tuổi

Cân nặng trung bình và chiều dài nằm trung bình tăng theo nhóm tuổi và trẻ trai có giá trị trung bình tương ứng cao hơn của trẻ gái

Biểu đồ 3.1 TTDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi (n$3) Nhận xét:

Biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân là 13,2%, SDD thể thấp còi là 27,2%, SDD thể gầy còm là 7,4%, TCBP là 1,2%

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm TCBP

Biểu đồ 3.2 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo mức độ (n$3) Nhận xét:

Biểu đồ 3.2 chỉ ra rằng trẻ em bị suy dinh dưỡng (SDD) chủ yếu ở mức độ vừa, với tỷ lệ thể nhẹ cân là 11,5%, thể thấp còi là 23,9% và thể gầy còm là 6,6% Ngược lại, tỷ lệ trẻ em bị SDD mức độ nặng là rất thấp, với thể nhẹ cân chỉ 1,7%, thể thấp còi 3,3% và thể gầy còm 0,8%.

Bảng 3.4 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo nhóm tuổi Đặc điểm

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) cao nhất ở nhóm tuổi 12-17 tháng, với tỷ lệ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 15,7%; 28,9% và 9,6% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Biểu đồ 3.3 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo giới tính (n$3) Nhận xét:

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ trong cả ba thể loại: nhẹ cân (15% so với 11,2%), thấp còi (27,6% so với 26,7%) và gầy còm (7,9% so với 6,9%) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Biểu đồ 3.4 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo dân tộc (n$3) Nhận xét:

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em dân tộc Khmer cao hơn so với trẻ em dân tộc Kinh, với tỷ lệ nhẹ cân là 14,9% so với 8,5%, thấp còi là 32% so với 13,6%, và gầy còm là 8,3% so với 5,1% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, đặc biệt là tỷ lệ thấp còi giữa hai nhóm dân tộc (p 0,05.

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa TTDD và cân nặng sơ sinh của trẻ

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ có cân nặng sơ sinh (CNSS) dưới 2500 gram có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và suy dinh dưỡng thể thấp còi cao gấp 3,7 lần và 3,3 lần so với trẻ có CNSS từ 2500 gram trở lên, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan giữa CNSS và tình trạng suy dinh dưỡng thể gầy còm ở trẻ (p > 0,05).

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa TTDD với tình trạng bệnh tật

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em thường xuyên mắc bệnh có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và gầy còm, với tỷ lệ lần lượt là 3,2 lần và 3,7 lần so với trẻ không thường xuyên bị bệnh, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tuy nhiên, chưa có mối liên quan nào được xác định giữa tình trạng thường xuyên bị bệnh và suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ, với p > 0,05.

3.4.2 Yếu tố của bà mẹ

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa TTDD với dân tộc của mẹ

Dân tộc của mẹ SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em có mẹ thuộc dân tộc Khmer có nguy cơ suy dinh dưỡng thể thấp còi cao gấp 3 lần so với trẻ em có mẹ dân tộc Kinh, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, không có mối liên quan nào được tìm thấy giữa dân tộc của mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cũng như suy dinh dưỡng thể gầy còm ở trẻ em (p > 0,05).

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa TTDD với nghề nghiệp của mẹ

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em có mẹ làm nghề nông có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao gấp 2,6 lần và suy dinh dưỡng thể thấp còi gấp 2,0 lần so với trẻ em có mẹ làm nghề khác Sự khác biệt này cho thấy ảnh hưởng của nghề nghiệp của mẹ đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.

HUPH nghĩa thống kê với p < 0,05 Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với tình trạng SDD thể gầy còm ở trẻ với p > 0,05

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa TTDD với trình độ học vấn của mẹ

Trình độ học vấn SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em có mẹ có trình độ học vấn từ THCS trở xuống có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao gấp 4,4 lần so với trẻ có mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở lên, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi và suy dinh dưỡng thể gầy còm ở trẻ (p > 0,05).

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa TTDD với thực hành NCBSM

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em có mẹ không thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) đạt tiêu chuẩn có nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) cao hơn, với tỷ lệ lần lượt là 2,7 lần cho thể nhẹ cân, 2,2 lần cho thể thấp còi và 3,6 lần cho thể gầy còm so với trẻ có mẹ thực hành NCBSM đạt Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa TTDD với ABS

Thực hành ABS SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em có mẹ không cho bú sữa mẹ (ABS) đạt tiêu chuẩn có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao gấp 2,5 lần so với trẻ có mẹ cho ABS đạt, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, chưa có mối liên quan rõ ràng giữa thực hành ABS và tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi cũng như gầy còm ở trẻ em (p > 0,05).

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa TTDD với thực hành chăm sóc khi trẻ bị bệnh

Thực hành chăm sóc khi trẻ bị bệnh

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em có mẹ thực hành chăm sóc khi bị bệnh không đạt có nguy cơ suy dinh dưỡng thể gầy còm cao gấp 3,1 lần so với trẻ có mẹ thực hành chăm sóc đạt, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, chưa phát hiện mối liên quan giữa thực hành chăm sóc khi trẻ bị bệnh với tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi, với p > 0,05.

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa TTDD với thực hành rửa tay của bà mẹ và trẻ

Thực hành rửa tay của bà mẹ và trẻ

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em có mẹ không duy trì vệ sinh tay đạt tiêu chuẩn có nguy cơ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi cao gấp 3,2 lần so với trẻ có mẹ giữ vệ sinh tay tốt, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, không có mối liên hệ rõ ràng giữa vệ sinh tay của mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cũng như suy dinh dưỡng thể gầy còm ở trẻ (p > 0,05).

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa TTDD với số con trong gia đình

Số con SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em trong gia đình có từ hai con trở lên có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và gầy còm cao hơn lần lượt 4,8 lần và 3,8 lần so với trẻ em trong gia đình có từ một đến hai con, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, không có mối liên quan nào được tìm thấy giữa số lượng con và tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em (p > 0,05).

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa TTDD với nguồn nước ăn uống

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em sống trong gia đình không sử dụng nước máy có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn so với trẻ em trong gia đình sử dụng nước máy, bao gồm các thể loại suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi và gầy còm; tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa TTDD với hố xí hợp vệ sinh

Hố xí hợp vệ sinh SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Hai ngăn, thấm dội nước và khác

Tự hoại, bán tự hoại 2

Trẻ em sống trong gia đình không sử dụng hố xí hợp vệ sinh có tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) cao hơn so với trẻ em trong gia đình có hố xí hợp vệ sinh, bao gồm các thể loại SDD nhẹ cân, thấp còi và gầy còm Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa TTDD với kinh tế gia đình

Kinh tế gia đình SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em trong gia đình nghèo có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao gấp 3,5 lần so với trẻ em trong gia đình không nghèo, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, không có mối liên quan rõ ràng giữa tình trạng kinh tế gia đình và suy dinh dưỡng thể thấp còi cũng như suy dinh dưỡng thể gầy còm ở trẻ em (p > 0,05).

3.4.4 Yếu tố dịch vụ y tế

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa TTDD với TCMR

TCMR SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

Trẻ em không được tiêm chủng đầy đủ có tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) cao hơn so với trẻ được tiêm chủng đầy đủ, bao gồm cả ba thể loại SDD là nhẹ cân, thấp còi và gầy còm Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.25 Mối liên quan giữa TTDD với thông tin hướng dẫn bà mẹ cách nuôi con

Hướng dẫn cách nuôi con

SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm

BÀN LUẬN

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi

Nhẹ cân là biểu hiện phổ biến của tình trạng thiếu dinh dưỡng, nhưng khó xác định liệu đó là do suy dinh dưỡng mới xảy ra hay đã tích lũy từ lâu Việc theo dõi cân nặng trong cộng đồng tương đối dễ dàng, vì vậy tỷ lệ thiếu cân theo độ tuổi thường được sử dụng như một chỉ số chung để đánh giá tình trạng thiếu dinh dưỡng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em là 13,2%, thuộc mức trung bình theo phân loại thiếu dinh dưỡng cộng đồng So với số liệu điều tra của Viện Dinh Dưỡng năm 2015, tỷ lệ này thấp hơn mức trung bình toàn quốc (14,1%) nhưng cao hơn so với một số tỉnh miền Tây như Long An (8,7%), Tiền Giang (10,7%), Bến Tre (11,3%), An Giang (12,8%), Cần Thơ (10,7%) và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (12,2%).

Tỷ lệ trẻ nhẹ cân trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với một số quốc gia như Timor Leste (44,7%), Ấn Độ (43,5%), Niger (38,5%), Bangladesh (36,4%) và Madagascar (36,0%) Nghiên cứu của Vũ Phương Hà tại Quảng Trị năm 2010 cho thấy tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số là 42,1%, trong khi Nguyễn Thị Thanh Thuấn khảo sát trẻ em dân tộc Tày tại Tuyên Quang năm 2009 ghi nhận tỷ lệ 23,3%, đều cao hơn kết quả của chúng tôi Điều này cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nước ta có sự khác biệt giữa các vùng miền, đặc biệt cần chú ý đến vùng miền núi cao, dân tộc thiểu số và vùng sâu vùng xa.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ SDD CC/T là 27,2% Kết quả SDD CC/T cao hơn so với tỉnh Sóc trăng (25,6%), tỉnh Cần thơ (21,4%), tỉnh An Giang

(23,9%), tỉnh Long An (19,5%), tỉnh Tiềng Giang (24,4%), tỉnh Bến Tre (21,9%), khu vực Đồng bằng sông cửu long (23,5%) và cả nước (24,6%) [43]

Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) thể còi cọc (CC/T) tại địa bàn nghiên cứu cao hơn nhiều so với SDD thể cân nặng (CN/T) và thể còi cọc so với cân nặng (CN/CC), cho thấy tình trạng SDD mạn tính đang phổ biến và phù hợp với xu thế chung của quốc gia Tỷ lệ SDD CC/T phản ánh sự phát triển xã hội và là chỉ số đánh giá hậu quả của đói nghèo, đặc biệt là đối với trẻ em sống trong gia đình nghèo Văn hóa và nhận thức dinh dưỡng của người mẹ có ảnh hưởng lớn đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, trong khi nghề nghiệp của họ cũng tác động đến kinh tế và cơ hội giao tiếp trong gia đình Khu vực nghiên cứu chủ yếu là dân tộc thiểu số với tỷ lệ nghèo cao, 74,5% dân tộc thiểu số và 42,76% hộ nghèo và cận nghèo Trình độ học vấn của các bà mẹ thấp, chủ yếu là tự học trung học cơ sở trở xuống (71,6%) và tỷ lệ mù chữ còn cao (7,8%), trong khi 44,9% các bà mẹ làm nghề nông Những yếu tố này lý giải cho tỷ lệ SDD CC/T cao hơn so với tỉnh Sóc Trăng và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Chiều cao theo tuổi là chỉ số quan trọng phản ánh tình trạng suy dinh dưỡng mạn tính và thiếu protein ở trẻ em Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này thường là cân nặng sơ sinh thấp, việc cho trẻ ăn bổ sung quá sớm, và các bệnh tiêu chảy Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi đang ngày càng được chú ý do ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Nghiên cứu cho thấy giai đoạn tăng trưởng chiều cao ở trẻ em trước tuổi học đường có vai trò quyết định, mặc dù trẻ thấp còi có thể phát triển bù sau này Tuy nhiên, ở những khu vực có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao, chiều cao trung bình của người trưởng thành thường thấp hơn so với những nơi có tỷ lệ này thấp.

Suy dinh dưỡng thể gầy còm là dấu hiệu của tình trạng thiếu ăn gần đây và có tính chất cấp tính Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng/chiều cao đạt 7,4%.

HUPH cao hơn so với các tỉnh trong khu vực, cụ thể là tỉnh Sóc Trăng (3,9%), tỉnh Cần Thơ (3,2%), tỉnh An Giang (6,0%), tỉnh Long An (2,8%), tỉnh Tiền Giang (5,8%), tỉnh Bến Tre (5,0%), khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (5,6%) và cả nước (6,4%).

SDD cân nặng theo tuổi là chỉ số quan trọng phản ánh ngay lập tức tình trạng sức khỏe và chế độ ăn uống của trẻ em, cho thấy hậu quả của việc không tăng cân hoặc sút cân Trong những năm qua, chỉ tiêu này đã giảm nhanh trên toàn quốc, đồng thời với sự phát triển kinh tế của đất nước.

Sự chênh lệch tỷ lệ thể SDD trong nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên cứu khác có thể do chúng tôi thực hiện tại xã nghèo vùng nông thôn, nơi người dân tộc thiểu số chiếm đa số, và đối tượng nghiên cứu là trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi, nhóm có nguy cơ cao bị SDD Sau 6 tháng, sữa mẹ giảm đáng kể một số chất dinh dưỡng và vi chất như sắt, vitamin A, trong khi trẻ đang phát triển nhanh về thể chất và tinh thần, dẫn đến nhu cầu năng lượng và vi chất tăng cao Thực phẩm bổ sung rất quan trọng để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, nhưng thực hành cho ăn bổ sung và chăm sóc nuôi dưỡng của bà mẹ còn hạn chế, làm tăng tỷ lệ SDD Hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện trong giai đoạn này, khiến trẻ dễ mắc bệnh do tiếp xúc với yếu tố môi trường, trong khi kháng thể từ sữa mẹ giảm, tạo ra vòng xoắn bệnh lý nhiễm trùng và SDD.

Hai năm đầu sau sinh là giai đoạn phát triển nhanh nhất của cơ thể, đồng thời cũng là thời điểm có nguy cơ cao nhất về suy dinh dưỡng (SDD) Các nghiên cứu chỉ ra rằng cần tập trung can thiệp vào nhóm tuổi này để giảm thiểu nguy cơ SDD.

Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em bị suy dinh dưỡng (SDD) chủ yếu ở mức độ vừa, với tỷ lệ thể nhẹ cân là 11,5%, thể thấp còi là 23,9% và thể gầy còm là 6,6% Tỷ lệ trẻ bị SDD mức độ nặng thấp hơn, với thể nhẹ cân chiếm 1,7%, thể thấp còi 3,3% và thể gầy còm 0,8% Những kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chu Thị Phương Mai.

Dinh dưỡng năm 2010 [44] Điều này có thể do công tác phòng chống SDD của xã được thực hiện tốt

Tỷ lệ suy dinh dưỡng nặng trong cộng đồng đang có xu hướng giảm, điều này là một tín hiệu tích cực Tuy nhiên, chúng ta không nên chủ quan và lơ là trong công tác phòng chống suy dinh dưỡng, vì nếu không được quản lý và điều trị kịp thời, suy dinh dưỡng mức độ vừa có thể tiến triển thành mức độ nặng.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm tuổi 12 - 17 tháng tuổi là đáng kể, với 15,7% trẻ nhẹ cân, 28,9% trẻ thấp còi và 9,6% trẻ gầy còm, mặc dù sự khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Chu Thị Phương Mai và Vũ Phương Hà, cũng như điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2010, cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân và thấp còi ở nhóm tuổi 12-17 tháng cao hơn so với nhóm tuổi từ 6 tháng.

Trẻ em ở độ tuổi 11 tháng bắt đầu giai đoạn cai sữa, với thời gian bú mẹ trung bình chỉ 11 tháng trong nghiên cứu này Sau giai đoạn này, dinh dưỡng của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào việc thực hành nuôi trẻ ăn bổ sung của mẹ và người chăm sóc.

Kết quả từ biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ ở cả ba thể loại: thể nhẹ cân (15% so với 11,2%), thể thấp còi (27,6% so với 26,7%) và thể gầy còm (7,9% so với 6,9%) Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các kết quả của một số tác giả khác như Nguyễn Thị Thùy, Nguyễn Thị Vân Anh và Đinh Đạo.

Thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ

4.2.1 Thực hành chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai

Khám thai định kỳ là một phần quan trọng trong quản lý thai nghén, giúp bà mẹ nắm vững cách chăm sóc và vệ sinh trong thời gian mang thai, cũng như chế độ ăn uống hợp lý Nghiên cứu cho thấy 84,7% bà mẹ thực hiện khám thai đúng và đủ, tương đương với nghiên cứu của Bùi Trần Minh Nguyệt (85,8%) Sắt là khoáng chất thiết yếu cho quá trình tạo máu và nhiều chức năng quan trọng khác Thiếu sắt trong thai kỳ có thể dẫn đến sẩy thai, đẻ non, và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cả mẹ và con Mặc dù nghiên cứu không khảo sát việc uống viên sắt theo hướng dẫn quốc gia, nhưng có 88,1% bà mẹ cho biết đã uống viên sắt hàng ngày trong thời gian mang thai.

Tỷ lệ HUPH trong thời gian mang thai cao hơn so với nghiên cứu của Vũ Phương Hà, đạt 35,9% tại vùng dân tộc thiểu số ở hai huyện Hướng Hóa và Đakrông, tỉnh Quảng Trị.

[12] Điều này có thể do công tác quản lý thai nghén của xã được thực hiện tốt

Kết quả nghiên cứu cho thấy 18,5% bà mẹ ăn nhiều hơn trước khi mang thai, 76,1% ăn như bình thường, và 5,3% bà mẹ người dân tộc Khmer ăn kiêng Việc khuyến khích bà mẹ ăn uống đầy đủ trong thai kỳ là rất quan trọng, vì giai đoạn này cần nhiều dinh dưỡng cho cả mẹ và sự phát triển của thai nhi Nếu bà mẹ không được chăm sóc dinh dưỡng đúng cách, có nguy cơ sinh con nhẹ cân, ảnh hưởng đến sự phát triển sau này của trẻ Do đó, cán bộ y tế cần tuyên truyền cho các bà mẹ mang thai về chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để tránh tình trạng trẻ sinh ra bị thiếu cân.

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, bà mẹ mang thai cần chú ý đến sức khỏe, chỉ nên thực hiện công việc nhẹ để tránh ảnh hưởng đến thai nhi và nguy cơ sẩy thai Kết quả nghiên cứu cho thấy 48,6% bà mẹ làm việc ít hơn trước, 50,2% làm việc bình thường, và 1,2% bà mẹ dân tộc vẫn làm việc nặng khi mang thai Điều này cho thấy thực hành chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ tại địa bàn nghiên cứu khá tốt.

4.2.2 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Theo khuyến cáo của WHO và UNICEF, trẻ nên được bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh để nhận được những giọt sữa non giàu dinh dưỡng và kháng thể Mặc dù tất cả trẻ tham gia nghiên cứu đều được bú sữa mẹ, tỷ lệ trẻ được bú sữa non chỉ đạt 61,3% và bú trong 1 giờ đầu sau sinh là 55,1%, vẫn còn thấp so với các nghiên cứu trước đó Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Vũ Phương Hà tại vùng dân tộc thiểu số ở Quảng Trị (78,6%; 80,4%) và điều tra của Viện Dinh Dưỡng năm 2011 (70,8%; 76,2%) Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ thấp này là do nhiều bà mẹ cho rằng sữa mẹ không tốt, sữa sống cũ lạnh, và có người thân khuyên vắt bỏ sữa.

Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của WHO và UNICEF nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời Nghiên cứu cho thấy chỉ có 32,5% trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn từ 6 tháng trở lên, một tỷ lệ thấp do nhiều bà mẹ tin rằng cho trẻ ăn dặm sớm sẽ giúp trẻ cứng cáp hơn (34,6%) Tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây, như của Nguyễn Thị Như Hoa tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình (33,3%) và Trần Thị Tuyết Mai tại Khánh Hòa (37,3%) vào năm 2011.

[27] và cao hơn số liệu điều tra toàn quốc của Viện dinh dưỡng năm 2011 (19,6%)

Viện dinh dưỡng quốc gia khuyến cáo rằng trẻ nên được bú mẹ ít nhất 18 tháng, vì việc cai sữa sớm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển sau này của trẻ Nghiên cứu cho thấy trong số 138 trẻ được cai sữa, chỉ có 30,4% trẻ cai sữa đúng thời gian, con số này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó của Ngeth Chanthol (47%) và Lương Thị Thu Hà (45,8%).

Một trong những rào cản lớn đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ ở các dân tộc thiểu số là gánh nặng lao động của người mẹ sau sinh, khi họ phải trở lại làm việc sớm mà không có thời gian nghỉ ngơi để chăm sóc con nhỏ Khoảng 44,9% bà mẹ là nông dân, chủ yếu làm việc ngoài đồng ruộng, trong khi 20,6% là công nhân thường xuyên phải tăng ca Chỉ có 19,8% bà mẹ làm công việc nội trợ, cho phép họ có nhiều thời gian hơn để chăm sóc con Kết quả là, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ tại địa phương còn thấp, với số lượng bà mẹ cho trẻ bú sữa non và tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh cũng chưa đạt yêu cầu, cùng với việc cai sữa đúng thời gian còn hạn chế.

4.2.3 Thực hành cho trẻ ăn bổ sung

Thời kỳ bắt đầu ăn dặm (ABS) cho đến khi cai sữa là giai đoạn quan trọng ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ em Việc cho trẻ ABS quá sớm có thể gây hại cho sức khỏe, vì trước 6 tháng tuổi, trẻ chỉ cần sữa mẹ mà không cần thức ăn bổ sung Khi trẻ ăn dặm sớm, trẻ sẽ bú ít hơn, dẫn đến việc sản xuất sữa mẹ giảm và trẻ sẽ mất đi nguồn dinh dưỡng quý giá từ sữa mẹ.

Theo khuyến cáo của WHO, từ tháng thứ 6 trở đi, trẻ cần được bổ sung các loại thực phẩm ngoài sữa mẹ Nghiên cứu cho thấy chỉ có 30,9% bà mẹ thực hiện việc bổ sung thực phẩm đúng thời gian, tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu trước đó tại vùng dân tộc thiểu số ở Hướng Hóa và Đakrông (11,9%), Phạm Văn Hoan (28,7%) và Nguyễn Thanh Hằng (30%), nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Lương Thị Thu Hà (77,4%) Nguyên nhân tỷ lệ cho trẻ ăn bổ sung đúng thời gian thấp là do nhiều bà mẹ cho rằng cho trẻ ăn sớm sẽ giúp trẻ mau cứng cáp (34,6%) và một số mẹ phải đi làm sớm (18,5%).

Các nhà dinh dưỡng khuyến cáo các bà mẹ nên chia bữa ăn của trẻ thành nhiều lượt trong ngày để tối ưu hóa khả năng hấp thu dinh dưỡng, thay vì chỉ cho trẻ ăn 2 bữa như thói quen cũ Nghiên cứu cho thấy 85,6% trẻ em được mẹ cho ăn từ 3-5 bữa mỗi ngày, con số này tương đương với tỉnh Sóc Trăng, nơi có tỷ lệ 82,2%.

Việc cung cấp đủ 4 nhóm thực phẩm cho trẻ là rất quan trọng để đảm bảo trẻ nhận đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển, giúp tránh nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) trong tương lai Kết quả cho thấy có 34,6% trẻ được mẹ cho ăn đủ 4 nhóm thực phẩm như gạo, bột, thịt, cá, trứng, dầu mỡ, rau quả, cao hơn so với nghiên cứu của Vũ Phương Hà tại vùng dân tộc thiểu số ở Hướng Hóa và Đakrông (14%) nhưng thấp hơn nhiều so với tỉnh Sóc Trăng (69,9%) Đáng chú ý, 92,2% trẻ được uống vitamin A, cao hơn tỉnh Sóc Trăng (89,3%), cho thấy công tác quản lý bổ sung vitamin A tại xã được thực hiện tốt Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ được cân nặng thường xuyên chỉ đạt 42,8%, thấp hơn so với nghiên cứu của Vũ Phương Hà (89,7%) Điều này cho thấy việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, với nhiều bà mẹ chưa cho trẻ ăn đúng thời gian và chưa đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm.

4.2.4 Thực hành chăm sóc khi trẻ bị bệnh

Khi trẻ bị bệnh, có đến 82,3% bà mẹ đưa trẻ đến cơ sở y tế, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Hoa tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình năm 2011, khi chỉ có 71,3% bà mẹ đưa trẻ đến cơ sở y tế trong trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp.

HUPH và khi bị tiêu chảy là 67,5% [15], cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ (18,2%)

[46] Việc sử dụng Oresol khi trẻ bị tiêu chảy (62,6%), kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ (40,9%) [46], Bùi Trần Minh Nguyệt (59,6%) [29]

Việc cho trẻ bú mẹ hoặc cung cấp nước và dinh dưỡng đầy đủ trong thời gian trẻ bị tiêu chảy là rất quan trọng để bù đắp lượng nước mất đi và hỗ trợ sự phát triển của trẻ Nghiên cứu cho thấy chỉ có 14% trẻ em được bú nhiều hơn trong thời gian này, con số này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Hoa tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình năm 2011, và thấp hơn so với nghiên cứu của Vũ Phương Hà (53%).

Mặc dù tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn kiêng khi bị tiêu chảy chỉ là 61,3%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ (70,5%), nhưng vẫn còn khá cao Các loại thực phẩm kiêng bao gồm chất tanh (16,1%), dẫu mỡ (94,6%), rau (51,7%) và hoa quả (12,1%), chủ yếu do nỗi lo sợ rằng trẻ sẽ bị tiêu chảy nặng hơn (98%), trong khi chỉ 2% do lời khuyên từ ông bà và người thân Điều này cho thấy thực hành chăm sóc trẻ bị bệnh của các bà mẹ tại địa phương vẫn chưa đạt yêu cầu, mặc dù tỷ lệ trẻ đến khám tại cơ sở y tế cao, nhưng việc cho trẻ bú và ăn uống vẫn còn thấp, cùng với thói quen kiêng cử khi trẻ bị bệnh vẫn còn phổ biến.

4.2.5 Thực hành chăm sóc vệ sinh

Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi

4.3.1 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với yếu tố cá nhân của trẻ

Nghiên cứu cho thấy trẻ là con thứ có tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) cao hơn so với trẻ là con đầu, tuy nhiên chưa xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu trước đó của tác giả Chu Thị Phương Mai.

Suy dinh dưỡng (SDD) có thể xảy ra ở bất kỳ trẻ nào, không phân biệt là con đầu hay con thứ Nguyên nhân chủ yếu phụ thuộc vào cách chăm sóc và chế độ dinh dưỡng hàng ngày của cha mẹ, bắt đầu từ khi còn trong bụng mẹ cho đến những năm tháng đầu đời.

Phát triển thể lực của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường sống, chế độ ăn uống và sự chăm sóc của cha mẹ Việc xác định các yếu tố liên quan đến cân nặng sơ sinh (CNSS) là cần thiết để có giải pháp phù hợp CNSS phản ánh tình trạng dinh dưỡng của thai nhi và dự báo sức khỏe tương lai của trẻ Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ có CNSS dưới 2500 gram có mối liên quan với suy dinh dưỡng nhẹ cân và thấp còi (p < 0,05) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu khác Tuy nhiên, chưa tìm thấy mối liên quan giữa CNSS và tình trạng suy dinh dưỡng gầy còm ở trẻ (p > 0,05) Do đó, trong thời gian mang thai, mẹ cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ và khám thai định kỳ để phát hiện và điều trị kịp thời các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.

Khi trẻ bị bệnh, 82,3% bà mẹ đưa trẻ đến cơ sở y tế, trong khi 17,7% tự mua thuốc điều trị Kết quả cho thấy người dân đã quan tâm hơn đến dịch vụ y tế địa phương, nhưng cần tăng cường truyền thông để bà mẹ hiểu rõ tầm quan trọng của việc đưa trẻ đến khám tại trạm y tế hoặc bệnh viện Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ thường xuyên bị bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng nhẹ cân và gầy còm cao hơn 3,2 lần và 3,7 lần so với trẻ không thường xuyên bị bệnh, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Nghiên cứu của HUPH chỉ ra mối liên hệ giữa việc trẻ em thường xuyên mắc bệnh và tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi, với giá trị p > 0,05 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy [33].

4.3.2 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với yếu tố của bà mẹ

Mỗi dân tộc có phong tục và tập quán riêng về ăn uống và nuôi con, ảnh hưởng đến sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em Một số phong tục như cho trẻ sơ sinh bú sớm và nuôi con bằng sữa mẹ có lợi cho dinh dưỡng Nghiên cứu ở trẻ em dân tộc Tày và H'Mông cho thấy điều này Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng con của các bà mẹ dân tộc thiểu số có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn so với con của các bà mẹ người Kinh Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan giữa dân tộc của mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ (p 0,05).

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ (THCS trở xuống) và tình trạng suy dinh dưỡng nhẹ cân ở trẻ em (p < 0,05) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Thị Tâm và Nguyễn Thị Thùy Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi và gầy còm ở trẻ (p > 0,05), điều này cũng tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh và Bùi Trần Minh.

Đa số bà mẹ trong nghiên cứu có trình độ học vấn từ THCS trở xuống (79,4%), điều này phản ánh thực trạng giáo dục ở vùng nông thôn và có thể hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức của họ.

WHO và UNICEF khuyến cáo trẻ em nên được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh, tốt nhất là bú sữa non ngay sau khi sinh và tiếp tục bú ngay cả khi mẹ chưa có sữa Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa việc trẻ không được bú sữa non với tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ sơ sinh, chứa các chất đề kháng và dưỡng chất cần thiết, bảo vệ trẻ khỏi viêm nhiễm và bệnh tật Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có nguy cơ cao mắc SDD Việc cai sữa sớm cũng liên quan đến tình trạng SDD ở trẻ Kết quả nghiên cứu cho thấy những bà mẹ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ không đạt tiêu chuẩn có nguy cơ cao hơn về SDD cho con Thời kỳ bắt đầu ăn bổ sung cho đến khi cai sữa là giai đoạn đe dọa SDD nhất, và việc cho trẻ ăn bổ sung sớm có thể gây hại cho sức khỏe do trẻ chưa cần thức ăn ngoài sữa mẹ Thời điểm hợp lý để bắt đầu ăn bổ sung là khi trẻ được 6 tháng tuổi, và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa việc ăn bổ sung không đúng cách với tình trạng SDD ở trẻ.

Vũ Phương Hà [12], Hoàng Khải Lập [24] Ở những vùng nông thôn đặc biệt là

Mặc dù điều kiện kinh tế của các gia đình ở vùng sâu, vùng xa, xã nghèo đã có sự cải thiện, nhưng khẩu phần ăn của trẻ vẫn thiếu về số lượng và chất lượng Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa việc trẻ không ăn đủ 4 nhóm thức ăn với tình trạng suy dinh dưỡng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tỷ lệ bà mẹ thực hành cho trẻ ăn bổ sung đạt 92,1% ở nhóm trẻ không nhẹ cân, trong khi chỉ 7,9% ở nhóm nhẹ cân, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Điều này phù hợp với tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung không đúng thời gian và không đủ 4 nhóm thức ăn.

Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng (SDD), trong đó khẩu phần ăn thiếu và các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là tiêu chảy, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD Nhiễm trùng gây tổn thương đường tiêu hóa, làm giảm khả năng hấp thu vi chất và tăng cường sự xâm nhập của kháng nguyên và vi khuẩn Điều này dẫn đến việc trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng, tạo ra mối liên hệ tương tác giữa dinh dưỡng và bệnh tật SDD làm giảm sức đề kháng, khiến trẻ dễ mắc bệnh, trong khi các bệnh nhiễm trùng lại làm tăng nguy cơ SDD Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa thực hành chăm sóc trẻ khi bệnh và SDD thể gầy còm, với tỷ lệ mẹ có thực hành chăm sóc đạt ở nhóm trẻ không gầy còm là 95,5%, trong khi chỉ 4,5% ở nhóm gầy còm Thói quen cho trẻ ăn kiêng khi bị bệnh vẫn phổ biến, với 61,3% bà mẹ cho trẻ ăn kiêng khi tiêu chảy, dẫn đến giảm cung cấp dinh dưỡng và tăng nguy cơ SDD Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm cũng chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng SDD và việc ăn kiêng của trẻ khi tiêu chảy, cho thấy đây là một tập quán sai lầm cần được khắc phục.

Việc bổ sung dinh dưỡng hợp lý là rất quan trọng để giúp trẻ nhanh chóng hồi phục sau khi cơ thể tăng cường đào thải và chống lại bệnh nhiễm trùng Điều này không chỉ giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng mà còn giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của bệnh đến sức khỏe tổng thể của trẻ.

Vệ sinh tay của mẹ và trẻ trước khi chế biến và ăn uống là rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn 6-24 tháng khi trẻ bắt đầu học ăn Hệ tiêu hóa của trẻ còn non yếu và chưa có đủ miễn dịch tự nhiên, dễ dẫn đến các bệnh nhiễm trùng, chán ăn và suy dinh dưỡng Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa thực hành rửa tay của mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ (p < 0,05), phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh.

4.3.3 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với gia đình của trẻ

Nghiên cứu cho thấy trẻ sống trong gia đình có từ hai con trở lên có mối liên quan với tình trạng suy dinh dưỡng nhẹ cân và gầy còm (p < 0,05), trong khi không tìm thấy mối liên quan giữa số lượng con và tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi (p > 0,05) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thùy, cho thấy rằng các gia đình có nhiều con thường không thể cung cấp đủ sự chăm sóc và dinh dưỡng cho trẻ như các gia đình có từ một đến hai con.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Hải Anh (2005), Mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi tỉnh Lào Cai - Năm 2005, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi tỉnh Lào Cai - Năm 2005
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Anh
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2005
2. Nguyễn Thị Vân Anh (2015), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương 2015, Luận văn Thạc sỹ, Đại học y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: Đại học y tế công cộng
Năm: 2015
3. Báo mới (2015), 9 dấu hiệu nhận biết trẻ có nguy cơ thiếu chiều cao, truy cập ngày 30/12/2016, tại trang web http://www.baomoi.com/9-dau-hieu-nhan-biet-tre-co-nguy-co-thieu-chieu-cao/c/18163273.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: 9 dấu hiệu nhận biết trẻ có nguy cơ thiếu chiều cao
Tác giả: Báo mới
Nhà XB: Báo mới
Năm: 2015
4. Bộ Y tế (2012), Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
5. Ngeth Chanthol (2012), Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc ít người và một số yếu tố liên quan tại Quỳ Hợp - Nghệ An và Tân Lạc - Hòa Bình, năm 2012, Luận văn Thạc sĩ y tế công cộng, Đại Học Y Tế Công Cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc ít người và một số yếu tố liên quan tại Quỳ Hợp - Nghệ An và Tân Lạc - Hòa Bình, năm 2012
Tác giả: Ngeth Chanthol
Nhà XB: Đại Học Y Tế Công Cộng
Năm: 2012
6. Nguyễn Hoàng Linh Chi (2011), Tình trạng dinh dưỡng, nhiễm giun và một số yếu tố liên quan của trẻ em 12-36 tháng tuổi tại huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng, nhiễm giun và một số yếu tố liên quan của trẻ em 12-36 tháng tuổi tại huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Nguyễn Hoàng Linh Chi
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
7. Nguyễn Thị Chung và Nguyễn Hữu Huyên (2012), "Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại huyện KrôngPak năm 2008", Tạp chí Y học thực hành(697+698), tr. 197-202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại huyện KrôngPak năm 2008
Tác giả: Nguyễn Thị Chung, Nguyễn Hữu Huyên
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2012
8. Đinh Đạo (2014), Nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam, Luận văn tiến sỹ y học, Trường Đại Học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Đinh Đạo
Nhà XB: Trường Đại Học Y Dược Huế
Năm: 2014
9. Huỳnh Văn Dũng và các cộng sự. (2014), "Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi và thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ năm 2012", Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 10(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi và thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ năm 2012
Tác giả: Huỳnh Văn Dũng, các cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm
Năm: 2014
10. Lương Tuấn Dũng và các cộng sự. (2012), "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã Phúc Thịnh Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang năm 2012", Tạp chí Y học thực hành, 899(12), tr. 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã Phúc Thịnh Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang năm 2012
Tác giả: Lương Tuấn Dũng, các cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2012
11. Lương Thị Thu Hà (2008), Nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ y học dự phòng, Đại Học Y khoa Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lương Thị Thu Hà
Nhà XB: Đại Học Y khoa Thái Nguyên
Năm: 2008
12. Vũ Phương Hà (2010), Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 2 tuổi vùng dân tộc thiểu số 2 huyện Hướng Hóa và Dakrong, tỉnh Quảng Trị năm 2010, Luận văn thạc sỹ y học dự phòng, Đại Học Y Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 2 tuổi vùng dân tộc thiểu số 2 huyện Hướng Hóa và Dakrong, tỉnh Quảng Trị năm 2010
Tác giả: Vũ Phương Hà
Nhà XB: Đại Học Y Hà nội
Năm: 2010
13. Nguyễn Thanh Hằng và Trần Thị Phúc Nguyệt (2014), "Thực hành cho trẻ ăn bổ sung của các bè mẹ có con dưới 2 tuổi tại thị trấn Bích Động-huyệnHUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành cho trẻ ăn bổ sung của các bè mẹ có con dưới 2 tuổi tại thị trấn Bích Động-huyệnHUPH
Tác giả: Nguyễn Thanh Hằng, Trần Thị Phúc Nguyệt
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w