Vì vậy, với mục đích tìm hiểu thực trạng và xét những yếu tố liên quan đến thấp còi trẻ dưới hai tuổi như dinh dưỡng, tâm lý và điều kiện môi trường để TTYT đưa ra hoạt động dựa trên cơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY DINH DƯỠNG THẤP CÕI Ở TRẺ 6-24 THÁNG TUỔI TẠI HAI XÃ THUỘC HUYỆN THANH MIỆN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY DINH DƯỠNG THẤP CÕI Ở TRẺ 6-24 THÁNG TUỔI
TẠI HAI XÃ THUỘC HUYỆN THANH MIỆN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; Phòng Đào tạo sau đại học; Phòng Công tác chính trị và quản lý sinh viên; các thầy cô Bộ môn và các cán bộ trong trường đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới TS Từ Ngữ
đã tận tâm giảng dạy, chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn đồng thời luôn luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ths Phạm Vân Anh đã nhiệt tình giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi xin cảm ơn Trung tâm y tế huyện Thanh Miện, Trạm y tế xã Tứ Cường và
Lê Hồng đã nhiệt tình hợp tác và hỗ trợ trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu từ
đề tài đến thu thập số liệu
Con xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục và luôn động viên con trong những năm qua
Xin cảm ơn tất cả các bạn bè thân thiết đã luôn khuyến khích, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Học viên Nguyễn Thị Vân Anh
HUPH
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
CC/T Chiều cao theo tuổi CN/CC Cân nặng theo chiều cao CN/T Cân nặng theo tuổi
ĐHYTCC Đại học y tế công cộng
GVHD Giáo viên hướng dẫn NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ
SDDTC Suy dinh dưỡng thấp còi SDD TE Suy dinh dưỡng trẻ em TTDD Tình trạng dinh dưỡng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)
HUPH
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Mục lục ii
Mục lục bảng biểu iv
Tóm tắt nghiên cứu vii
Đặt vấn đề 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
Chương 1: Tổng quan tài liệu 4
1.1 Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi 4
1.2 Một số nghiên cứu về thấp còi của trẻ trên thế giới và tại Việt Nam 12
1.3 Khung lý thuyết 19
1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 20
Chương 2: Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cưu 21
2.4 Cỡ mẫu 21
2.5 Cách chọn mẫu 22
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.7 Biến số và phân loại biến và chỉ số nghiên cứu 25
2.8 Các khái niệm, tiêu chí đánh giá 26
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 27
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 29
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 29
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 31
HUPH
Trang 63.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi của hai xã thuộc Thanh Miện- Hải Dương năm 2015 34
3.3 Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi trẻ ở 6-24 tháng tuổi của hai xã thuộc Thanh Miện- Hải Dương 37
Chương 4: Bàn luận 48
4.1 Tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6 -24 tháng tuổi tại hai xã của huyện Thanh Miện, Hải Dương năm 2015 48
4.2 Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015 50
Kết luận 56
Khuyến nghị 58
Tài liệu tham khảo 59
Phụ lục 65
Phụ lục 1: Khung lý thuyết 65
Phụ lục 2: Các biến số và chỉ số nghiên cứu 66
Phụ lục 3: Phiếu giới thiệu và đồng ý tham gia nghiên cứu 68
Phụ lục 4: Bộ công cụ 69
Phụ lục 5: Một số tiêu chí đánh giá thực hành của bà mẹ 76
Phụ lục 6: Kinh phí thực hiện nghiên cứu 77
Phụ lục 7: Kế hoạch tiến độ nghiên cứu 78
Phụ lục 8: Mô hình nguyên nhân - hậu quả của SDD trẻ em dưới năm tuổi 79
Phụ lục 9: Một số bảng kết quả nghiên cứu 80
HUPH
Trang 7MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng cá nhân của trẻ dưới năm tuổi 5 Bảng 1.2: Mức phân loại SDD trên quần thể trẻ dưới năm tuổi 5 Bảng 3.1: Thông tin chung trẻ 6-24 tháng tuổi của hai xã tại Thanh Miện năm 2015 31 Bảng 3.2: Các giá trị trung bình chung theo giới và tháng tuối của trẻ 6-24 tháng tuổi của hai xã tại Thanh Miện năm 2015 31 Bảng 3.3: SDDTC phối hợp với các thể SDD khác ở trẻ 6-24 tháng của hai xã thuộc huyện Thanh Miện – Hải Dương năm 2015 36 Bảng 3.4: Mối liên quan giữa thực hành NCBSM với thấp còi trẻ 6-24 tháng 37 Bảng 3.5: Mối liên quan giữa thực hành ăn bổ sung với thấp còi trẻ 6-24 tháng 37 Bảng 3.6: Mối liên quan giữa thực hành bố sung vitamin, khoáng chất với thấp còi trẻ 6-24 tháng 38 Bảng 3.7: Mối liên quan thực hành phòng, chữa bệnh với thấp còi ở trẻ 6- 24 tháng……… 38 Bảng 3.8: Mối liên quan tần số tiêu thụ thực phẩm/ tuần với thấp còi trẻ 6-24 tháng 39 Bảng 3.9: Mối liên quan giữa tần số tiêu thụ thực phẩm thường xuyên của trẻ trong tháng qua với thấp còi ở trẻ 6-24 tháng 39 Bảng 3.10: Mối liên quan giữa sự chăm sóc của cha mẹ với thấp còi trẻ 6-24 tháng 41 Bảng 3.11: Mối liên quan giữa sự chăm sóc của cha mẹ với thấp còi trẻ 6-24 tháng 41 Bảng 3.12: Mô hình logistic mối liên quan giữa đặc điểm của cha mẹ với thấp còi trẻ 6-24 tháng 42
HUPH
Trang 8Bảng 3.13: Mối liên quan giữa yếu tố của mẹ với thấp còi trẻ 6-24 tháng 43 Bảng 3.14: Mối liên quan giữa sức khỏe sinh sản bà mẹ với thấp còi trẻ 6-24 tháng 43 Bảng 3.15: Mối liên quan giữa an ninh thực phẩm HGĐ với thấp còi trẻ 6-24 tháng 44 Bảng 3.16: Mối liên quan giữa môi trường với SDDTC trẻ 6-24 tháng 44 Bảng 3.17: Mô hình logistic mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân với thấp còi trẻ 6-24 tháng 45 Bảng 3.18: Mối liên quan giữa tình hình mắc bệnh trong 6 tháng qua với thấp còi trẻ 6-24 tháng 46 Bảng 3.19: Mối liên quan giữa tình hình mắc bệnh trong 2 tuần qua với thấp còi trẻ 6-24 tháng 46 Bảng 3.20: Mối liên quan giữa biểu hiện giấc ngủ của trẻ 6-24 tháng với thấp còi 47
Biểu đồ 1.1: Số liệu thống kê về TTDD trẻ em dưới năm tuổi ở Việt Nam qua các năm (2007-2014) 7Biểu đồ 1.2: Thời điểm chậm phát triển chỉ số z score CC/T trung bình trong 54 nghiên cứu 8 Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam bị SDD theo tháng tuổi, 2011 8 Biểu đồ 3.1: Phân bố giá trị của Zscore CC/T theo giới với nhóm tuổi ở trẻ 6-24 tháng của hai xã thuộc huyện Thanh Miện – Hải Dương năm 2015 32 Biểu đồ 3.2: Phân bố ba thể SDD theo nhóm tuổi ở trẻ 6-24 tháng của hai xã thuộc huyện Thanh Miện – Hải Dương năm 2015 33 Biểu đồ 3.3: Phân bố ba thể SDD theo giới tính ở trẻ 6-24 tháng của hai xã thuộc huyện Thanh Miện – Hải Dương năm 2015 33
HUPH
Trang 9Biểu đồ 3.4: Phân bố thấp còi theo giới và tháng tuổi ở trẻ 6-24 tháng của hai xã thuộc huyện Thanh Miện- Hải Dương năm 2015 34 Biểu đồ 3.5: Phân bố mức độ thấp còi theo nhóm tuổi ở trẻ 6-24 tháng của hai xã thuộc huyện Thanh Miện – Hải Dương năm 2015 35 Biểu đồ 3.6: Phân bố mức độ thấp còi ở trẻ 6-24 tháng của hai xã thuộc huyện Thanh Miện – Hải Dương năm 2015 36
HUPH
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới năm tuổi tại Việt Nam những năm qua có nhiều cải thiện Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2013, tỷ lệ trẻ dưới năm tuổi thấp còi vẫn cao (25,9%) và không đồng đều giữa các vùng Cũng giống tình hình thấp còi trẻ dưới năm tuổi cả nước, theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng, Hải Dương có tỷ lệ thấp còi và thấp còi mức độ nghiêm trọng những năm
gần đây cao hơn trung bình khu vực đồng bằng sông Hồng, hơn nữa còn có sự
chênh lệch thấp còi giữa các huyện và các xã trong cùng một huyện Thật vậy, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương - một vùng nông thôn cũng triển khai nhiều hoạt động nhằm giảm tỷ lệ SDD nói chung nhưng chưa có nghiên cứu cũng như hoạt động dành riêng nhằm giảm tỷ lệ trẻ thấp còi Vì vậy, với mục đích tìm hiểu thực trạng và xét những yếu tố liên quan đến thấp còi trẻ dưới hai tuổi như dinh dưỡng, tâm lý và điều kiện môi trường để TTYT đưa ra hoạt động dựa trên cơ sở thông tin thực tiễn, hướng đến giảm tỷ lệ thấp còi theo mục tiêu chiến lược quốc gia
về dinh dưỡng, nghiên cứu cắt ngang “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện, Hải Dương năm 2015” được tiến hành bằng cân đo đánh giá thấp còi 349 trẻ 6-24
tháng tuổi, kết hợp phỏng vấn bà mẹ theo bộ câu hỏi có cấu trúc
Kết quả nghiên cứu cho thấy suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi là 21,2% Tỷ lệ thấp còi cũng như mức độ thấp còi tăng dần theo tuổi, cao nhất ở nhóm trẻ 18-24 tháng tuổi Cụ thể, nguy cơ thấp còi của trẻ trên 15 tháng tuổi là 1,9 lần (p<0,01); trẻ trai nguy cơ thấp còi độ II là 6,13 lần (p<0,05) Hơn nữa, nghiên cứu thấy thấp còi còn phối hợp với nhiều dạng khác như nhẹ cân, thừa cân, gầy còm
và nhẹ cân với tỷ lệ lần lượt là 2,9% , 2,9% và 0,6% so với quần thể
HUPH
Trang 11Nghiên cứu đã tìm hiểu được một số yếu tố liên quan trong thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ với thấp còi trẻ 6-24 tháng tuổi là (1)Chăm sóc dinh dưỡng: tần suất dùng sữa <7 lần/tuần, ít sử dụng thực phẩm giàu đạm như tim, gan, bầu dục; đậu tương, đỗ, lạc; (2)Thực hành giữ vệ sinh tay cho mẹ và trẻ chưa đạt; (3)Chăm sóc tâm lý: Nguy cơ thấp còi với trẻ được mẹ chăm sóc ≤3 giờ/ ngày là 1,9 lần (p=0,01), với thời gian bố chăm sóc trẻ ≤90 phút/ngày là 2,5 lần cũng như trẻ không được đi chơi cùng cả bố và mẹ là 6,7 lần Ngoài ra, một số yếu tố liên quan đến thấp còi của trẻ như học vấn của bố từ THCS trở xuống, nghề nghiệp mẹ là nông dân (p<0,05) Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị với địa phương giúp giảm tỷ lệ thấp còi trẻ 6-24 tháng dựa trên kết quả thực tế Trong truyền thông cần tập trung, tăng cường nâng cao kiến thức, thực hành cho bà mẹ về cách chăm sóc dinh dưỡng, rửa tay bằng xà phòng cũng như nâng cao vai trò của người cha cùng tham gia chăm sóc trẻ
HUPH
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Báo cáo UNICEF năm 2009 cho biết, hiện nay suy dinh dưỡng (SDD) đóng vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp với 40- 50 của 10,9 triệu tử vong trẻ dưới năm tuổi trên toàn thế giới[42] SDD không những ảnh hưởng trước mắt, trực tiếp đến phát triển của trẻ mà còn dẫn đến những hậu quả không thể sửa chữa được như tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết quả học tập kém, giảm khả năng lao động của người lớn và ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân[9]
Suy dinh dưỡng thấp còi (SDDTC) định nghĩa là chiều dài/chiều cao theo tuổi dưới hai độ lệch chuẩn một tham chiếu quốc tế trung bình, bắt đầu từ lúc sinh Tuy nhiên, nó có thể xảy ra sớm nhất vào quý hai của thai kỳ, và tiếp tục qua năm thứ hai hoặc thứ ba của cuộc sống[4] Chiều dài thấp so với tuổi là một dấu hiệu của chế
độ ăn uống vào không đủ và nhiễm trùng thường xuyên trong một thời gian dài Đến nay, cơ chế bệnh sinh của SDDTC chưa được sáng tỏ nhưng người ta đã thống nhất các yếu tố di truyền và các yếu tố ngoại cảnh như sự chăm sóc, môi trường sống xung quanh trẻ đều có vai trò trong sự phát triển chiều cao Yếu tố di truyền qui định tiềm năng cho sự phát triển, bên cạnh đó còn các yếu tố ngoại cảnh quan trọng là dinh dưỡng và tâm lý Có ba giai đoạn quan trọng để phát triển chiều cao trong đó có giai đoạn trẻ dưới hai tuổi, vì chiều cao lúc hai tuổi bằng 1/2 chiều cao lúc trẻ trưởng thành, vậy nuôi trẻ dưới hai tuổi là vô cùng quan trọng[2]
Báo cáo của Viện dinh dưỡng (VDD) Việt Nam, bên cạnh tỷ lệ SDD nhẹ cân và còm còi đã giảm đáng kể thì tỷ lệ thấp còi vẫn còn cao (24,9 năm 2014)[24] song song đó là tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì (TCBP), năm 2014 là 4,8%
Hải Dương tỷ lệ thấp còi trẻ dưới năm tuổi thường cao hơn trung bình của khu vực đồng bằng sông Hồng (20,3%)- vùng có tỷ lệ thấp còi thấp hơn trung bình cả nước Năm 2010, tỷ lệ này tại Hải Dương là 26,6%, năm 2012 là 23,4%, năm 2014
HUPH
Trang 13là 20,9% cao hơn tỷ lệ trung bình của khu vực đồng bằng sông Hồng tương ứng là 25,5%, 21,9%, 20,3%[24] Huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương - một vùng nông thôn với kinh tế thuần nông, chuyển dịch theo hướng từ nông nghiệp sang dịch vụ
và công nghiệp còn chậm Tại huyện cũng triển khai nhiều hoạt động nhằm giảm tỷ
lệ SDD nói chung, nhưng chưa có nghiên cứu cũng như hoạt động dành riêng nhằm giảm tỷ lệ trẻ thấp còi Với mục đích đó, mong muốn tìm hiểu thực trạng trẻ thấp còi và xét những yếu tố liên quan đến SDDTC của trẻ như chăm sóc trẻ, điều kiện môi trường đến trẻ thấp còi của huyện để TTYT đưa ra hoạt động lâu dài dựa trên
cơ sở thông tin đầy đủ thực tiễn, hướng đến giảm tỷ lệ SDDTC theo mục tiêu chiến
lược quốc gia về dinh dưỡng, nghiên cứu cắt ngang “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện, Hải Dương năm 2015” được tiến hành
HUPH
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi
1.1.1.Suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi
1.1.1.1.Khái niệm suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em dưới năm tuổi
Điểm ngưỡng Z-score dưới trừ 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 là suy dinh dưỡng Nếu chiều cao/chiều dài nằm theo tuổi <-2SD là suy dinh dưỡng thấp còi (stunting)
1.1.1.2.Cách đánh giá suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi
Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng SDDTE như chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là các chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ Theo đó, tình trạng SDDTE được đánh giá chủ yếu dựa vào ba chỉ tiêu: cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) so với đơn vị độ lệch chuẩn (Z-score) theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006[19] Tại Việt Nam, Viện Dinh Dưỡng sử dụng quần thể chuẩn này từ năm 2006
Zscore được tính bằng công thức:
1.1.1.3.Phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi
Dựa vào ba chỉ tiêu trên ta đánh giá TTDD cá nhân và quần thể
Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cá nhân
SDD thể nhẹ cân không phân biệt được SDD mới xảy ra hay kéo dài đã lâu SDDTC (còi cọc) phản ánh SDD trường diễn SDD thể gầy còm phản ánh SDD thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm trẻ ngừng tăng cân hay tụt cân Khi cả hai chỉ tiêu
HUPH
Trang 16CC/T và CN/CC đều thấp hơn ngưỡng đề nghị thì trẻ bị SDD thể phối hợp (mãn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa còi cọc[19]
Bảng 1.1: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng cá nhân của trẻ dưới năm tuổi
Từ -2 đến +2 Không SDD Không SDD Không SDD
Dưới -3 Nhẹ cân nặng Thấp còi nặng Gày còm nặng
Số liệu dùng để phân tích TTDD trẻ em dưới 24 tháng tuổi trong phần này được lấy từ kết quả chiều dài nằm và cân nặng nói trên
Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cộng đồng
Bảng 1.2: Mức phân loại SDD trên quần thể trẻ dưới năm tuổi
Tiêu chí Mức độ SDD của cộng đồng theo tỷ lệ phần trăm ( )
1.1.2.Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi
Hậu quả của SDDTC thường ảnh hưởng đến phát triển thể lực, trí lực, sức khỏe
và bệnh tật trước mắt và lâu dài
Trẻ thấp còi sẽ có chiều cao thấp ở tuổi trưởng thành ảnh hưởng đến tầm vóc nòi giống dân tộc Sự thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài làm giảm khả năng nhận thức, trí thông minh, kết quả học tập, năng suất lao động và thu nhập quốc dân
Trẻ bị thấp còi thường hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn do suy giảm hệ miễn dịch và sau này cũng dễ có nguy cơ thừa cân, béo phì, đái tháo đường, tim mạch,
HUPH
Trang 17tăng huyết áp…Ở bé gái khi lớn lên nếu chiều cao thấp dễ gây đẻ khó, nguy cơ đẻ trẻ nhẹ cân (dưới 2.500g), chiều dài thấp và vòng đời SDD thấp còi lại tái diễn[3] SDDTC là một chỉ số có giá trị nhất phản ánh tiềm năng lớn lên và phát triển của một đứa trẻ trong tương lai, cũng như phản ánh tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia[9] Vì vậy, Chiến lược Dinh dưỡng Quốc gia 2011-2020 dành rất nhiều quan tâm và đầu tư cho giảm SDDTC, với mục tiêu giảm thấp còi cho trẻ dưới ba tuổi còn 26 vào năm 2015 và 23 vào năm 2020[15]
1.1.3.Tình hình trẻ dưới năm tuổi thấp còi trên thế giới, Việt Nam
1.1.3.1 Tình hình trẻ dưới năm tuổi suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới
Theo báo cáo của UNICEF tháng 7/2013, toàn cầu hơn ¼ (26 )- khoảng 165 triệu trẻ dưới năm tuổi bị thấp còi Nhưng tỷ lệ không phân bố đều giữa các châu lục và quốc gia: châu Phi cận Sahara (40%) và Châu Á (39%) là nơi tập trung ¾ tổng số trẻ thấp còi; giữa thành thị nông thôn: hơn 1/3 số trẻ ở vùng nông thôn bị thấp còi so với ¼ số trẻ sống ở thành thị Tỷ lệ SDDTC trẻ em dưới năm tuổi đã giảm 36 trong hai thập kỷ qua[43] Tỷ lệ giảm trung bình là 2,1 /năm[43]
Một số khu vực đã đạt được tiến bộ đáng kể, mức giảm thấp còi lớn nhất ở Đông Á và Thái Bình Dương - chiếm 70 trong giảm tỉ lệ SDD chung toàn thế giới, từ 42 (1990) xuống 12 (2011) Tỷ lệ giảm này phần lớn do những cải tiến
ở Trung Quốc- hơn 30 (1990) xuống 10 (2010) Trong thời gian này, Mỹ tinh và Caribe cũng giảm gần một nửa, và khu vực phía Nam Châu Á, Trung Đông; khu vực bắc Châu Phi giảm hơn 1/3 Nhưng, hơn 1/3 các nước tiểu vùng Sahara còn
La-tỷ lệ thấp còi rất cao[43]
1.1.3.2 Tình hình trẻ dưới năm tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại Việt Nam
Trong thập kỷ qua Việt Nam đã thành công trong cải thiện tình trạng SDDTE dưới năm tuổi Tháng 1/2015, VDD công bố tỷ lệ SDDTE < 5 tuổi toàn quốc: Từ
HUPH
Trang 18năm 2013 đến 2014, SDD thể nhẹ cân giảm từ 15,3 xuống 14,5 , thể thấp còi giảm từ 25,9 xuống 24,9 (năm 2014)[24] Tốc độ giảm thấp còi vẫn còn chậm,
không tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế (Biểu đồ 1.1)
Biểu đồ 1.1: Số liệu thống kê về TTDD trẻ em dưới năm tuổi ở Việt Nam qua các
Tỷ lệ thấp còi cũng có sự khác biệt khá lớn giữa thành thị và nông thôn
Tại thành thị, nghiên cứu của Hoàng Đức Hạnh tại Hà Nội năm 2011 được tỷ lệ trẻ thấp còi (17,8%) cao nhất trong ba thể SDD[7] Kết quả của Vũ Quỳnh Hoa năm
2010 tại thành phố Hồ Chí Minh cũng tương tự[8] Các nghiên cứu ở những vùng nông thôn khác nhau trên toàn quốc đều cho thấy tỷ lệ SDDTC chiếm khoảng 1/3 số trẻ dưới năm tuổi[10], [17]
HUPH
Trang 19Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi thấp còi khác nhau theo nhóm tuổi
Một cuộc điều tra của 54 quốc gia thuộc các nước đang phát triển thấy giá trị trung bình Zscores chiều cao theo tuổi ở trẻ sơ sinh rất giống nhau và Zcore trung bình giảm rõ rệt từ sơ sinh đến 24 tháng (Biểu đồ 1.2); Việt Nam cũng thấy tỷ lệ SDD chung ở trẻ tăng nhanh thời kỳ 6-24 tháng tuổi thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ 6-23 tháng và gần như đi ngang, thậm chí giảm vào 54- 59 tháng tuổi[1], [4], [16]
Biểu đồ 1.2: Thời điểm chậm phát
triển chỉ số z score CC/T trung bình
trong 54 nghiên cứu
Biểu đồ 1.3: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt
Nam bị SDD theo tháng tuổi, 2011[16]
Nguồn: Tổng cục Thống kê (GSO) (2011)
1.1.4.Các yếu tố nguy cơ của suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ dưới năm tuổi
1.1.4.1.Di truyền
Trong gia đình nếu bố mẹ có chiều cao thấp thì con cái của họ cũng có nguy cơ thấp còi Mặc dù yếu tố di truyền quy định tiềm năng cho sự phát triển nhưng tác động của môi trường nhất là khi mức sống nâng cao, chế độ dinh dưỡng được cải thiện thì sự tăng trưởng chiều cao có thể tăng hơn ở những thế hệ sau[2]
1.1.4.2.Các yếu tố liên quan thực hành chăm sóc trẻ trong 2 năm đầu đời
HUPH
Trang 20Các yếu tố liên quan chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ trong 2 năm đầu đời
SDDTC phản ánh thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc là hậu quả của một quá trình tích lũy bắt đầu xảy ra từ thời kỳ bào thai và kéo dài đến tuổi trưởng thành
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng nhiều đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ Nếu khẩu phần thiếu hụt protein năng lượng và các vi chất dinh dưỡng (kẽm, sắt, iod, vitamin A… ) không những làm cho trẻ bị SDD nhẹ cân mà còn ảnh hưởng đến phát triển chiều cao của trẻ, nhất là ở những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ và ĂBS không hợp lý (ĂBS sớm, thức ăn đơn điệu, không đủ 4 nhóm thực phẩm) Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy ảnh hưởng đáng kể của thực hành cho con bú và ĂBS đến thấp còi Nhưng nhiều nghiên cứu lại khuyên rằng đặc biệt chú ý chăm sóc dinh dưỡng tốt cho trẻ trong khoảng thời gian từ 6-24 tháng tuổi sẽ cải thiện được chiều cao theo tuổi của trẻ[1], [3], [4] Vì sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất cho trẻ nhỏ, nhưng sau 6 tháng trẻ phát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn, vì vậy cần được cho ĂBS (hay ăn dặm)
Theo báo cáo của Lancet (2008), việc áp dụng cho ĂBS tối ưu và các chiến lược hỗ trợ khác nhau có thể giảm khoảng 17% trong tỷ lệ thấp còi của trẻ tại thời điểm 24 tháng tuổi, ngăn ngừa 5,5 triệu số năm tàn tật được điều chỉnh năm cuộc đời (DALY)[27] Tương tự, một phân tích các bộ dữ liệu từ 14 quốc gia báo cáo rằng "một chế độ ăn uống đa dạng thực phẩm tối thiểu giảm nguy cơ của cả thấp còi
và nhẹ cân còn tần số bữa ăn tối thiểu chỉ liên quan đến giảm nguy cơ nhẹ cân"[32] Mặc dù đã có chỉ dẫn ĂBS phù hợp rộng khắp toàn cầu nhưng thực tiễn ĂBS tối ưu tại các nước vẫn còn thấp Theo phân tích dữ liệu về thực hành ĂBS từ năm 2002- 2008, chỉ khoảng 1/3 số trẻ em từ 6-23 tháng nhận được sự đa dạng theo khẩu phần khuyến cáo, khoảng ½ có đủ tần số bữa ăn theo khuyến nghị và chỉ 20% số trẻ nhận được chế độ ăn uống tối thiểu có thể chấp nhận[31]
HUPH
Trang 21Nước ta, VDD ước tính nếu tất cả các gia đình thực hiện các thực hành NCBSM
và ĂBS thích hợp, thì Việt Nam có thể giảm tỷ lệ thấp còi trẻ dưới năm tuổi xuống
26 trong năm 2015 và xuống 23 đến năm 2020[21] Thế nhưng trẻ em Việt Nam thường được ĂBS quá sớm và thường không đủ chất; nghĩa là trẻ không được
ăn đúng và đủ các loại thực phẩm cần thiết (giàu sắt, đạm động vật, rau củ quả, sữa, ngũ cốc và dầu thực vật)[3] Theo điều tra của VDD năm 2009-2010, khẩu phần ăn của vùng nông thôn mới chỉ đạt khoảng 30- 50% nhu cầu lượng protein động vật, vi chất dinh dưỡng của trẻ[16], [22] cũng như còn nhiều bất cập trong nhận thức người
mẹ về bổ sung vi chất[25]
Thiếu vi chất dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với SDDTC đặc biệt thiếu kẽm, sắt, iod, vitamin A…[6], [13], [18], [34] Viện Gia đình và giới báo cáo, đa phần các bà mẹ chưa từng sử dụng bất cứ loại thuốc bổ cho trẻ từ 7-24 tháng Trẻ nhỏ nông thôn chưa bổ sung bất cứ vi chất nào cao gần 2 lần so với trẻ thành thị[25]
Các yếu tố liên quan chăm sóc tâm lý cho trẻ trong 2 năm đầu đời
Rõ ràng chất lượng và số lượng bữa ăn là quan trọng đối với TTDD, nhưng cách thức cho trẻ ăn lại khá quan trọng Nếu mẹ chỉ dừng lại ở việc lựa chọn thực phẩm và chuẩn bị thức ăn bổ sung thì việc tiêu thụ, chấp nhận hay từ chối thức ăn lại phụ thuộc cách cho trẻ ăn Đặc biệt trẻ 1- 3 tuổi, khả năng nhận thức, ghi nhớ và tình cảm của trẻ phát triển mạnh mẽ
Mối tương tác mẹ con đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ Thời gian bà mẹ dành cho chăm sóc con, cách chăm sóc làm thúc đẩy phát triển tâm lý,
và thể chất của trẻ Bên cạnh đó, chăm sóc của người bố cũng tác động trực tiếp đến các con, và thông qua chất lượng của mối quan hệ cha mẹ[18] Thiếu tình mẫu tử hay phải sống trong gia đình thiếu tình cảm sẽ làm trẻ ức chế cảm xúc ảnh hưởng sự tiết hóc môn tăng trưởng dẫn đến trẻ thấp hơn những đứa trẻ khác
HUPH
Trang 221.1.4.3.Nguyên nhân giữa môi trường xã hội với thấp còi trẻ nhỏ
Môi trường, xã hội cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tăng chiều cao của trẻ Chiều cao trẻ phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện sống khi còn bé
Một số yếu tố liên quan thuộc đặc điểm của cha mẹ với thấp còi trẻ nhỏ
Lịch sử sức khỏe sinh sản của mẹ: tiếp cận y tế khi mang thai: dinh dưỡng của
bà mẹ trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng nhiều đến phát triển bào thai Chế độ
ăn phải đảm bảo nhu cầu protein, năng lượng, vitamin và khoáng chất để phòng chống thiếu năng lượng trường diễn, thiếu máu, thiếu canxi Ngoài chế độ ăn nên uống thêm viên sắt, acid folic để phòng chống thiếu máu và dị tật ống thần kinh thai nhi, đẻ non vì SDD bào thai[2]
SDD thấp còi cũng thường xảy ra ở những trẻ sống trong các hộ gia đình nghèo, đông con Nhận thấy cha mẹ có học vấn thấp[39], nghề nghiệp không ổn định[26], [41] thì kinh tế gia đình kém phát triển Bên cạnh đó mẹ sinh sớm khi cơ quan sinh dục chưa hoàn thiện[18], [35], [44] hay mẹ sinh nhiều[36], [41] hoặc khoảng cách sinh ngắn[30], [44] mẹ không có thời gian chăm sóc trẻ cũng như chưa phục hồi về sức khỏe, chuẩn bị được chất dinh dưỡng để nuôi thai nhi cho lần kế tiếp dẫn đến nguy cơ sinh trẻ nhẹ cân dẫn đến trẻ thấp còi
Yếu tố liên quan đến môi trường hộ gia đình
Các yếu tố môi trường như vệ sinh kém góp phần làm cho trẻ bị thấp còi Khi không khí ô nhiễm, môi trường thiếu vệ sinh như nguồn nước và hố xí không hợp
vệ sinh, trẻ hút thuốc thụ động làm trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, làm gián đoạn khả năng hấp thu dưỡng chất và suy yếu hệ miễn dịch gây hại cho quá trình phát triển về thể chất và chiều cao của trẻ[37], [44]
1.1.4.4.Mối liên quan giữa yếu tố của trẻ với thấp còi
HUPH
Trang 23Tháng tuổi và giới tính là những yếu tố cá nhân có thể liên quan đến tình trạng thấp còi của trẻ, được thấy trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước[1], [18], [28], [38], [40]
Yếu tố liên quan đến bệnh tật: Ngay từ giai đoạn bào thai, nếu mẹ thiếu dinh
dưỡng hoặc mắc bệnh làm cho thai nhi chậm phát triển trong tử cung, dẫn đến CNSS <2.500g trẻ không những nhẹ cân mà chiều dài cũng thấp[2] Tiếp đến, hai năm đầu tiên nếu trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm phổi, giun sán…) tái đi tái lại nhiều lần thường ảnh hưởng đến phát triển chiều cao trong những năm sau Một nghiên cứu tiến hành ở Brazil thấy trong hai năm đầu đời nếu trung bình trẻ bị bảy đợt tiêu chảy thì lúc bảy tuổi chiều cao của trẻ sẽ thấp hơn 3,6 cm so với trẻ cùng tuổi không mắc bệnh[2] Vì vậy, cách chăm sóc cho trẻ khi bị tiêu chảy và chú ý rửa tay bằng xà phòng cho cả mẹ và trẻ để hạn chế trẻ bị nhiễm khuẩn
Yếu tố liên quan đến giấc ngủ: Giấc ngủ đóng vai trò rất quan Trẻ ngủ không
ngon giấc, không sâu, dễ bị tỉnh giấc, khi tỉnh giấc lại dễ khóc sẽ ảnh hưởng đến
sự tiết hóc môn tăng trưởng Điều này được chứng minh trong kết quả nghiên cứu
từ Pemba, Zanzibar và Nepal, cả hai thiếu máu thiếu sắt và thấp còi có liên quan với
sự khác biệt trong giấc ngủ đặc trưng bởi thời gian ban đêm ngủ ngắn hơn và tần số cao hơn của đêm thức dậy[29] Ngoài vóc người thấp bé, trẻ còn phải đối mặt với sự kém phát triển trí tuệ hơn mức bình thường, uống nhiều, ăn nhiều, hành vi cũng dễ
bị kích động Giấc ngủ của trẻ được thay đổi theo độ tuổi: trẻ <6 tháng ngủ theo nhu
cầu Từ 6-12 tháng, trẻ đã ngủ theo giờ giấc, 1-2 giấc ngủ ban ngày, tổng số thời
gian khoảng 14 giờ ngủ/ngày
1.2 Một số nghiên cứu về thấp còi của trẻ trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Một số nghiên cứu về thấp còi trẻ dưới năm tuổi trên thế giới
1.2.1.1.Một số nghiên cứu tổng quan các yếu tố liên quan đến thấp còi trẻ em
HUPH
Trang 24Nghiên cứu đánh giá sự phổ biến và các yếu tố của thấp còi trẻ em dưới năm tuổi ở châu Phi bằng việc tiến hành tìm kiếm trên Medline, Pub Med, HINARI và Google Scholar Có 21 trong số 55 bài viết được xem xét trong phân tích cuối cùng Trên cơ sở đánh giá này, thực hành cho ĂBS không phù hợp, bà mẹ thiếu năng lượng trường diễn, an ninh lương thực hộ gia đình, tăng trưởng kinh tế và giáo dục của mẹ được xác định là các yếu tố quyết định chính của thấp còi[45]
Tương tự nghiên cứu tổng quan trên, nghiên cứu sử dụng dữ liệu nghiên cứu cắt ngang trẻ em từ 0-24 tháng từ Điều tra Sức khỏe gia đình Ấn Độ năm 2005/2006, cùng với xây dựng một khung gồm 3 yếu tố: yếu tố quyết định ngay lập tức, trung gian và cơ bản; đồng thời dựa vào mô hình tuyến tính và phi tuyến tính để xây dựng
mô hình tương quan đã chỉ ra các yếu tố liên quan của thấp còi như tuổi và giới tính trẻ, sự giàu có của gia đình, học vấn và BMI, tuổi bà mẹ[37]
Đa số các nghiên cứu đều đề cập đến yếu tố môi trường nhưng nội dung chính muốn hướng đến một số yếu tố liên quan đến chăm sóc bà mẹ và trẻ nhỏ được thể hiện qua các nghiên cứu khác nhau
1.2.1.2.Nghiên cứu yếu tố liên quan giữa yếu tố chăm sóc và môi trường xã hội với suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ
Một số yếu tố liên quan giữa cha, chăm sóc tâm lý với thấp còi của trẻ
Nghiên cứu cắt ngang hai giai đoạn điều tra mẫu phân tầng cụm 4549 trẻ dưới năm tuổi từ 6707 hộ gia đình (HGĐ) với mục đích xác định yếu tố dự báo thấp còi quan trọng ở Libya Hồi quy logistic đã được sử dụng để xác định các yếu tố nguy
cơ cá nhân trong đơn biến và phân tích đa biến Kết quả nguy cơ các nhóm bao gồm những người có độ tuổi trẻ (1-3 tuổi), trẻ trai, trình độ học vấn của cha thấp; thiếu kích thích tâm lý xã hội: gia đình không cùng trẻ tham gia hoạt động (OR=1,52,
HUPH
Trang 2595%CI 1,07-2,16), cha hiếm khi/ không bao giờ chơi với trẻ (OR=2,24, 95%CI 1,20- 4,16 ); môi trường nhà ở kém, tiêu chảy và CNSS thấp[44]
Nghiên cứu yếu tố liên quan giữa mẹ, cá nhân trẻ với thấp còi
Một nghiên cứu cắt ngang tại 84 ngôi làng ở tỉnh trung tây Trung Quốc năm
2010 trên 1.260 trẻ em để đánh giá dinh dưỡng về thể thấp còi và thấp còi nghiêm trọng thu được kết quả như các nghiên cứu khác Phân tích hồi quy logistic thứ bậc thấy các yếu tố nguy cơ là nơi cư trú, học vấn của người chăm sóc trẻ, giới tính của trẻ, CNSS thấp và thời gian bú mẹ hoàn toàn (<6 tháng)[38]
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ nghiên cứu dân số-y tế Zimbabwe (ZDHS) năm 2005-06 gồm 5.231 trẻ được sinh ra trong năm 2005-06 ZDHS và mẹ được phỏng vấn trong cuộc khảo sát để xem xét các yếu tố quyết định sinh học, xã hội và môi trường của sinh nhẹ cân và thấp còi, thu được kết quả là chỉ số khối cơ thể của bà mẹ; khoảng cách sinh là yếu tố bảo vệ chống lại thấp còi Xu hướng thấp còi tăng từ 6-23 tháng, tăng 11 với mỗi tháng tuổi thêm, và bắt đầu giảm từ 24-59 tháng, mỗi tháng thêm lại giảm 2% trong tỷ lệ thấp còi Ngoài ra, các yếu tố quyết định thấp còi mạnh mẽ và ý nghĩa hơn trong giới ở những trẻ lớn hơn Trẻ sinh nhẹ cân có nhiều khả năng bị thấp còi trong thời thơ ấu Từ đó, tác giả khuyến nghị những can thiệp để giải quyết SDDTE nên bắt đầu trước khi sinh con và tiếp tục qua thời thơ
ấu Nỗ lực cải thiện dinh dưỡng bà mẹ, KHHGĐ, chăm sóc trước sinh cũng như tiếp cận bổ sung Vitamin A và vệ sinh môi trường Tất cả đều đóng vai trò quan trọng ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc sống ban đầu của một đứa trẻ[34]
Nghiên cứu cắt ngang 575 đối tượng nông thôn Sidama của Masresha Tessema tiến hành từ tháng 2-3/2011 Tác giả lấy mẫu phân tầng để chọn các HGĐ cần, phân tích hồi quy logistic đa biến để so sánh tình trạng thấp còi, mô hình nuôi dưỡng trẻ
và các đặc điểm khác Kết quả chỉ 14,4% bà mẹ nuôi con tối ưu Tỷ lệ thấp còi cao
HUPH
Trang 26ở trẻ 6-8 tháng (43%) và 9-23 tháng (39%) Những phụ nữ không nhận được chăm sóc trước sinh trong suốt thai kỳ thì thực hành cho ăn đa dạng và tần số bữa ăn tối thiểu thấp (p<0,01) Bà mẹ trên 18 tuổi nuôi con tối ưu hơn các bà mẹ dưới 18 tuổi (p<0,01); trẻ ĂBS trước hoặc sau 6 tháng nhiều khả năng thấp còi[33]
1.2.1.3.Yếu tố liên quan giữa giấc ngủ của trẻ với thấp còi trẻ dưới năm tuổi
Trong nghiên cứu từ Pemba, Zanzibar và Nepal, nghiên cứu tìm ra mối quan hệ giữa thiếu máu thiếu sắt, thấp còi, và giấc ngủ ở trẻ từ 6-18 tháng tuổi bằng phỏng vấn cha mẹ về số lượng và thời gian của giấc ngủ trưa, giờ giấc ngủ ban đêm, và tần
số của đêm thức dậy Kết quả là hầu hết trẻ ngủ chợp mắt trong ngày và giấc ngủ ngắn khoảng 1,4-1,7 giờ Thời gian ngủ ban đêm trung bình là 8,3-9,7 giờ với thức dậy 2,1-2,5 lần mỗi đêm Cả hai thiếu máu thiếu sắt và thấp còi có liên quan với sự khác biệt trong giấc ngủ đặc trưng bởi thời gian ban đêm ngủ ngắn hơn và tần số cao hơn của đêm thức dậy[29]
1.2.2 Một số nghiên cứu về thấp còi trẻ dưới năm tuổi ở Việt Nam
1.2.2.1 Các nghiên cứu về thấp còi trẻ dưới năm tuổi ban đầu tại Việt Nam
Năm 2004, tác giả Nguyễn Công Khẩn đã có những nhận định khá đầy đủ về vấn đề thấp còi ở Việt Nam và đưa ra những định hướng thiết thực nhằm cải thiện tình hình Tác giả nhận định tỷ lệ SDDTC không đồng đều giữa các vùng, SDDTC thường gắn liền với thiếu vi chất dinh dưỡng như vitamin A, iod, sắt, kẽm; xuất hiện ngay trong giai đoạn bào thai, tiếp tục đến 2-5 năm đầu tiên của cuộc sống, để lại hậu quả lớn đến phát triển thể lực và trí lực Từ những phân tích đó tác giả đưa ra các định hướng như cải thiện dinh dưỡng của vị thành niên, bà mẹ mang thai từ trước và trong giai đoạn mang thai, tăng độ bao phủ của các chương trình chăm sóc dinh dưỡng trẻ em, tăng cường đầu tư cho an ninh lương thực HGĐ
HUPH
Trang 27Tương tự, một nghiên cứu cắt ngang của Lê Danh Tuyên (2005), nhằm đưa ra đặc điểm dịch tễ học và một số yếu tố nguy cơ SDDTC của trẻ em dưới năm tuổi ở một số vùng sinh thái khác nhau ở nước ta hiện nay Kết quả tỷ lệ SDDTC khác nhau giữa các vùng sinh thái, có liên quan đến học vấn bố mẹ, số con, kinh tế gia đình, CNSS, số ngày ở bệnh viện trong năm đầu tiên, có sự phối hợp giữa SDDTC với gầy còm, tháng tuổi của trẻ, nhưng không có liên quan đến giới[20]
1.2.2.2 Nghiên cứu dọc tìm hiểu mối liên quan giữa thấp còi với thể lực và trí lực
Nghiên cứu tại nông thôn miền bắc: Đỗ Thị Phương Hà (2006) tiến hành hồi cứu theo lớp nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa SDDTC khi còn nhỏ với phát triển nhận thức và các yếu tố liên quan với học sinh tiểu học hiện tại trong độ tuổi 7-8 đã tham gia vào cuộc điều tra dinh dưỡng năm 1994 gồm 46 trẻ SDDTC và 47 trẻ không thấp còi lúc nhỏ (18-30 tháng tuổi) tại một xã của Hà Tây cũ Kết quả, nhóm trẻ thấp còi sớm lúc nhỏ có điểm số nhận thức chung, điểm số phần việc thấp hơn nhóm trẻ không thấp còi sớm là 7 và 5 điểm (p <0,05), sau khi đã điều chỉnh các yếu tố khác[5]
Nghiên cứu tại vùng thành thị miền Bắc: Với mục đích tìm hiểu tình hình phát triển thể lực, TTDD của những trẻ SDDTC trong 2 năm đầu cuộc sống, nghiên cứu theo dõi 300 trẻ sinh ra trong những năm đầu của thập kỷ 1990 và theo dõi chiều dọc từ sơ sinh đến 17 tuổi của Lê Thị Hợp được triển khai tại 2 quận nội thành Hà Nội (Hai Bà Trưng và Hoàn Kiếm) Kết quả, trẻ SDDTC rất sớm ngay tháng thứ nhất Mức tăng chiều cao những trẻ SDD trong 2 năm đầu thấp hơn những trẻ khác
có ý nghĩa; trong giai đoạn dậy thì và trước dậy thì (9-13 tuổi) nhóm trẻ không SDD phát triển chiều cao nhanh hơn, song giai đoạn sau dậy thì (14-17 tuổi) những trẻ bị SDD khi nhỏ lại có xu hướng đuổi kịp phát triển chiều cao[12]
HUPH
Trang 281.2.2.3 Các nghiên cứu cắt ngang, chương trình can thiệp dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và trẻ em thấp còi
Nghiên cứu mối liên quan giữa vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và trẻ
em thấp còi tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả Nguyễn Đỗ Huy và cộng sự đã đánh giá TTDD của người mẹ tại 3 huyện đồng bằng Bắc Bộ là Bình Lục- Hà Nam, Kim Sơn- Ninh Bình và Vĩnh Bảo-Hải Phòng và tình hình SDDTC của trẻ em sau sinh cho tới thời điểm điều tra và tìm hiểu mối liên quan Những kết quả chính: SDDTC liên quan tuyến tính với CNSS, cân nặng hiện nay của mẹ Nguy cơ đối với SDDTC với CNSS thấp (<2500g) là 3,1 lần, với cân nặng mẹ trước có thai dưới 40kg là 4,0 lần,với chiều cao mẹ <145cm là 2,7 lần và cân nặng mẹ hiện tại<40kg là 2,0 lần[13]
Nghiên cứu can thiệp đồng thời tìm hiểu mối liên quan giữa vi chất dinh dưỡng
với trẻ em thấp còi tại vùng nông thôn và vùng biển miền Bắc Việt Nam
Nghiên cứu can thiệp bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất trên trẻ 6-36 tháng tuổi SDDTC tại Gia Bình- Bắc Ninh năm 2011 của Nguyễn Thanh Hà thấy tỷ lệ thiếu máu, thiếu vitamin A và thiếu kẽm tăng nhanh ở nhóm trẻ 13-24 tháng tuổi và song hành với SDDTC Điều này cho thấy phòng chống SDD không thể tách rời với phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ[6]
Nghiên cứu can thiệp khẩu phần tại Tiền Hải, Thái Bình của Trần Quang Trung năm 2014 áp dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích 3.042 trẻ dưới năm tuổi Kết quả, tỷ lệ SDDTC phổ biến nhất, tăng dần theo tuổi, tăng nhanh
từ nhóm 13-24 tháng Nghiên cứu đưa ra SDD phối hợp nhiều thể chiếm xấp xỉ 30% số trẻ em, cao nhất là thấp còi phối hợp với các thể SDD khác (36,8%) Nghiên cứu cũng xác định được tình trạng thiếu máu phối hợp với thiếu kẽm ở trẻ em thấp còi Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thấp còi là các yếu tố điều kiện vệ sinh và đặc
HUPH
Trang 29điểm bản thân trẻ như nhà tiêu và nguồn nước giếng không hợp vệ sinh, giới, nhóm tuổi trên 12 tháng cũng như chế độ ăn không đủ nhu cầu làm tăng tỷ lệ thấp còi; CNSS cao giúp giảm tỷ lệ SDDTC Bên cạnh đó, học vấn mẹ thấp, nghề nghiệp mẹ
là nông dân; tuổi mẹ khi sinh ≤20 tuổi cũng liên quan thấp còi của trẻ Còn kinh tế gia đình, số con, thứ tự sinh không liên quan đến tỷ lệ thấp còi[18] Nhưng hạn chế
là nghiên cứu can thiệp chỉ tập trung vào 25-48 tháng tuổi, trong khi các nghiên cứu chứng minh rằng từ giai đoạn 12 tháng tuổi thì SDDTC đã tăng nhanh và cao nhất ở
24 tháng tuổi
Tóm lại, ba nghiên cứu chỉ ra rằng can thiệp phòng chống SDD và SDDTC nói riêng cần phủ rộng trên cả bà mẹ và trẻ em, như tăng cường chất lượng khẩu phần,
bổ sung đa vi chất vào thực phẩm hoặc đường uống cho trẻ và bà mẹ mang thai
Nghiên cứu tại miền núi phía Bắc tìm mối liên quan thấp còi với bệnh tật của trẻ
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.640 trẻ 12 - 47 tháng tuổi tại 4 xã miền múi Lục Ngạn- Bắc Giang nhằm đánh giá tình trạng SDD và tình hình mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp và tiêu hóa (tiêu chảy, táo bón, phân sống) ở trẻ SDDTC của Nguyễn Thị Thúy Hồng Đối tượng được cân, đo chiều cao, hỏi thông tin chung
và thăm khám bệnh hô hấp, tiêu hóa Kết quả, tỷ lệ SDDTC ở trẻ 12-47 tháng tuổi
là 26,1%, tỷ lệ trẻ SDDTC mắc các bệnh đường hô hấp trên, bệnh tiêu hóa còn cao Cần có biện pháp tích cực để phòng chống bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ SDD TC[14] Nhìn chung, thế giới đã có nhiều nghiên cứu về SDDTC ở trẻ nhưng đa số các nghiên cứu chỉ xét đến những yếu tố riêng rẽ hoặc đưa ra mô hình tiên đoán Còn ở Việt Nam một số năm gần đây cũng bắt đầu quan tâm đến SDDTC của trẻ em nhưng đa số chỉ hướng đến dinh dưỡng của mẹ, trẻ hay môi trường xung quanh và dường như chưa nghiên cứu nào tìm hiểu yếu tố liên quan giữa thấp còi với chăm sóc tâm lý, giấc ngủ của trẻ
HUPH
Trang 301.3 Khung lý thuyết
Dựa vào khung khái niệm của UNICEF (Phụ lục 8- trang 79) và thông qua tổng
quan tài liệu, các nghiên cứu trong và ngoài nước tôi xây dựng một khung lý thuyết
mới gồm nguyên nhân trực tiếp: khẩu phần ăn vào và bệnh tật của trẻ, nguyên nhân
tiềm tàng: thực hành chăm sóc trẻ, đặc điểm của cha mẹ, yếu tố môi trường sức
khỏe, an ninh lương thực, ngoài ra còn yếu tố cá nhân của trẻ là giới và tuổi
Khung UNICEF - Phỏng - khái niệm khuôn khổ của UNICEF: Chăm sóc dinh
dưỡng (Patrice L Engle, Menon, & Haddad, 1999)
-Bú mẹ, thời điểm ĂBS
-Thời điểm cai sữa mẹ, khẩu phần đa dạng; số bữa, Bổ sung
vi chất
-Cách cho trẻ ăn -Phòng và chữa bệnh cho trẻ
Chăm sóc tâm lý, giáo dục trẻ sớm: thời gian và hoạt động
Đặc điểm của cha mẹ
Nghề nghiệp; Học vấn
Tuổi khi mang thai, Số con, khoảng cách sinh,
thứ tự sinh, bổ sung vi chất khi mang thai
Đặc điểm của trẻ
Giới tính Tháng tuổi
-Nguồn nước; Nhà vệ sinh
-Không khí: Vị trí bếp,
và nguồn năng lượng đun nấu, hút thuốc thụ động
- Chăn nuôi và
trồng trọt
HUPH
Trang 311.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Thanh Miện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hải Dương; Tây Bắc giáp huyện Bình Giang; Đông Bắc giáp huyện Gia Lộc, Đông Nam giáp huyện Ninh Giang; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình; Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên Huyện Thanh Miện cách
Hà Nội 60km; cách thành phố Hải Dương 23km và cách thị xã Hưng Yên 25km Huyện gồm 19 xã/thị trấn và 92 thôn, khu dân cư Diện tích tự nhiên 122,321 km2, dân số huyện là 127.999 người Năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,7%, với
cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chính, chuyển hướng từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp còn chậm Tính đến 6/2014, tổng số trẻ dưới 5 tuổi là 11.432 trẻ, số trẻ dưới 2 tuổi (1/6/2014) là 5084
Tại TYT hai xã tham gia là Tứ Cường và Lê Hồng có cơ cấu 5-6 nhân viên và mạng lưới y tế bao phủ toàn bộ các thôn TYT xã triển khai đầy đủ các chương trình thuộc mục tiêu quốc gia Số trẻ dưới hai tuổi của hai xã khoảng 504 trẻ Nghề nghiệp chủ yếu của người dân hai xã là nông dân và công nhân Nguồn nước chủ yếu dùng trong đun nấu là giếng khoan, giếng khơi và nước mưa, một số ít hộ dùng nước máy Bên cạnh các nhiên liệu đun nấu như gas thì nhiều HGĐ ở đây vẫn đun rơm, và củi
HUPH
Trang 32Chương 2
2.1.Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng 1: Trẻ em từ 6-24 tháng tuổi đang sống tại hai xã được chọn
Tiêu chuẩn lựa chọn: Trẻ trong độ tuổi 6-24 tháng tuổi tại thời điểm điều tra, đang
sống ở hai xã được chọn Gia đình tự nguyện cho trẻ tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ bị dị tật bẩm sinh, bệnh cấp tính nặng tại thời điểm điều tra
2.1.2 Đối tượng 2: Bà mẹ có con 6-24 tháng tuổi, đang thường trú tại huyện
Tiêu chuẩn lựa chọn: bà mẹ có thời gian cư trú liên tục trên hai xã được chọn ≥6
tháng tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu; và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Bà mẹ mắc bệnh câm, điếc, bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ,
không hợp tác Hoặc bà mẹ từ chối tham gia nghiên cứu
2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: 3/2015 – 5/2015
- Địa điểm: xã Tứ Cường, Lê Hồng - huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương
2.3.Thiết kế: Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang phân tích
2.4.Cỡ mẫu
Cỡ mẫu xác định tình trạng SDDTC trẻ 6-24 tháng tại hai xã
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ: 2
2 2 /
d
p p
Trong đó:
n: Số trẻ cần điều tra trong độ tuổi 6-24 tháng
p=0,194 (tỷ lệ SDDTC trẻ dưới 2 tuổi tỉnh Hải Dương năm 2013 (thông tin giám sát dinh dưỡng năm 2013)
Z: ứng với độ tin cậy 95 thì Z =1,96, α: là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5
HUPH
Trang 33d: sai số cho phép 0,06
Ước lượng 5 từ chối phỏng vấn và làm tròn số được cỡ mẫu là 175 trẻ 6-24 tháng Do chọn mẫu cụm, để cỡ mẫu đảm bảo an toàn ta nhân cỡ mẫu với 2 Vậy số trẻ 6-24 tháng tuổi cần điều tra là 350 trẻ Tức là chọn toàn bộ trẻ của hai xã
- Cỡ mẫu bà mẹ bằng số lượng trẻ tương ứng
- KẾT QUẢ: có 349 bà mẹ và trẻ tham gia nghiên cứu
2.5.Cách chọn mẫu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm Cụ thể như sau:
Chọn xã: Lập danh sách 19 thị trấn/xã của huyện Thanh Miện Bốc thăm ngẫu nhiên
02 xã/thị trấn
Chọn đối tượng nghiên cứu: Lập danh sách trẻ dưới 2 tuổi của 2 xã được chọn theo
danh sách trẻ đi tiêm chủng: Chọn toàn bộ trẻ dưới 2 tuổi của 2 xã đó
Chủ động liên hệ, hẹn gặp bà mẹ để phỏng vấn về các yếu tố liên quan đến TTDD của trẻ theo bộ câu hỏi được thiết kế s n
2.6.Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1.Nhân lực
- Giám sát viên (GSV): cán bộ có chuyên môn về dinh dưỡng cộng đồng thuộc trường Đại học YTCC và Viện Dinh dưỡng quốc gia
- Điều tra viên (ĐTV): Y tế thôn 2 xã được chọn
- Cộng tác viên (CTV): cán bộ phụ trách chương trình và trạm trưởng 2 xã
2.6.2.Phương pháp thu thập số liệu: gồm 1) cân và đo nhân trắc trẻ 6-24 tháng và
2) phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi được thiết kế s n
2.6.3.Quá trình tiến hành
2.6.3.1 Hậu cần
Thử nghiệm bộ câu hỏi: Bộ câu hỏi sẽ được thử nghiệm trên 3 phụ nữ có con 6-
HUPH
Trang 3424 tháng tuổi ở vùng nông thôn Sau đó thảo luận, tiếp nhận các thông tin phản hồi
về bộ câu hỏi Dựa trên kết quả thu được, nghiên cứu viên (NCV) sẽ chỉnh sửa và
bổ sung để hoàn thiện bộ câu hỏi
Tập huấn điều tra viên và giám sát viên
Giám sát viên: được thông báo mục đích, đối tượng, thiết kế nghiên cứu, thống
nhất cách tiến hành, yêu cầu trong quá trình thu thập thông tin, giám sát nghiên cứu
Điều tra viên: tập huấn cân đo, các tiêu chí cần đạt với thông tin thu thập Thảo
luận đặt ra các tình huống có thể phát sinh từ phía các đối tượng để tìm cách giải đáp Tiến hành phỏng vấn chéo lẫn nhau để kiểm tra tính hợp lý của bộ câu hỏi
Chọn và tập huấn cho CTV, nhờ CBYT phụ trách chương trình tại TYT tham
gia công tác tổ chức và thực hiện các đợt cân đo, quá trình đi phỏng vấn tại hộ gia đình CTV và CBYT được giới thiệu mục đích, đối tượng và các chỉ tiêu lựa chọn, quá trình thu thập và số liệu cần đạt
2.6.3.2 Tiến hành thu thập thông tin tại thực địa theo kế hoạch
Nhân trắc trẻ 6- 24 tháng tuổi
Thực hiện cân đo trẻ vào ngày tiêm chủng cho trẻ dưới 2 tuổi Thống nhất với cán
bộ và bà mẹ là cân đo trẻ trước khi thực hiện tiêm chủng Số liệu cân đo được ghi vào phiếu cân đo nhân trắc trẻ và gửi lại cho NCV
- NCV sẽ cân, đo trẻ 2 lần Nếu chênh lệch giữa 2 lần cân và đo là trên 200g hoặc trên 2cm thì phải cân đo thêm lần 3
- Khi cân và đo, NCV giữ trẻ nhẹ nhàng nhưng chắc chắn Nếu trẻ được đặt vào cân thước, NCV cần giữ và kiểm soát trẻ khỏi trượt ngã
Cân nặng: Kiểm tra cân trước và trong khi sử dụng: chỉnh thăng bằng ở vị trí 0
kg, sau đó cứ cân khoảng 10 trẻ lại kiểm tra và chỉnh cân 1 lần Khi cân, trẻ cần được bỏ khăn mũ, giày dép Thời tiết ấm nên cởi bớt quần áo Trường hợp trẻ quấy
HUPH
Trang 35khóc, không dỗ được, có thể cân mẹ rồi cân mẹ bồng con Trừ ngay để lấy số cân nặng thực tế của trẻ Đọc, ghi kết quả với đơn vị là kg và lẻ sau 1 dấu phẩy
Chiều dài trẻ: Sử dụng thước gỗ với độ chính xác 0,1cm để đo chiều dài nằm
của trẻ ≤24 tháng tuổi.1) Đặt thước trên mặt phẳng nằm ngang 2) Tháo bỏ giầy dép, quần áo hay thứ gì có thể làm ảnh hưởng đến việc đo chiều dài 3) Đặt trẻ nằm
thẳng trên ván của thước đo Hướng mắt của trẻ vuông góc với mặt thước 4) Người trợ giúp: hai tay duỗi tự do, áp vào hai tai để giữ trẻ nhìn thẳng, đầu trạm đế thước 5) NCV: một tay đặt vào gối hoặc cổ chân để giữ chân cho thẳng, một tay đưa thanh
chặn chạm vào bàn chân trẻ Lưu ý: giữ bàn chân thẳng đứng và áp sát với thanh
chặn trên mặt thước 6) Đọc kết quả với 1 số lẻ Giúp trẻ ngồi dậy 7) Người trợ giúp: Ghi ngay kết quả vào và cho người đo xem 8) NCV: Kiểm tra kết quả đo
được ghi trong phiếu có chính xác không Hướng dẫn người trợ giúp sửa chữa lại nếu có nhầm lẫn Đọc, ghi kết quả với đơn vị là cm, lẻ sau 1 dấu phẩy[19]
Phỏng vấn bà mẹ có trẻ từ 6-24 tháng tuổi
ĐTV tự giới thiệu bản thân, đọc bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu ĐTV trả lời bất cứ các câu hỏi nào của bà mẹ về điều tra trong quá trình thỏa thuận tham gia nghiên cứu Bà mẹ và ĐTV cùng ký vào bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu trước khi phỏng vấn Trung bình mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài 30 phút Địa điểm phỏng vấn là tại HGĐ đảm bảo không gian riêng, không bị tác động bởi bên ngoài Các nội dung của câu hỏi phỏng vấn sẽ bao gồm: thông tin chung của trẻ, bố mẹ và các đặc điểm nhân khẩu học; NCBSM; thực hành ĂBS; bổ sung vitamin và acid folic, chăm sóc tâm lý, điều kiện vệ sinh HGĐ (Phụ lục 4- trang 69) Khi kết thúc phỏng vấn, ĐTV kiểm tra để đảm bảo bộ câu hỏi đã được hoàn thành, tính chính xác của thông tin trước khi bàn giao cho NCV, GSV
2.6.3.3 Kiểm soát chất lượng tại thực địa
HUPH
Trang 36- Cân và đo: GSV kiểm tra số điểm tiếp xúc, tư thế đặt trẻ khi đo, cách đọc, ghi
chép kết quả Kiểm tra 10 số trẻ được cân đo tại thực địa
- Giám sát viên quan sát các cuộc phỏng vấn: NCV quan sát tất cả ĐTV phỏng vấn
trong 2-3 ngày đầu thực địa, quan sát ít nhất 2 cuộc phỏng vấn của mỗi ĐTV
- Kiểm tra kết quả phỏng vấn: NCV kiểm tra các bộ câu hỏi đã hoàn thành ngay sau
khi ĐTV bàn giao NCV yêu cầu ĐTV giải thích thông tin thiếu, nếu bộ câu hỏi còn thiếu ≥10 câu trả lời, bộ đó sẽ không được chấp nhận; khi đó GSV yêu cầu NCV và ĐTV phản hồi lý do, phỏng vấn lại hoặc loại bỏ bộ câu hỏi đó tùy vào thực tế Một nguyên tắc được áp dụng: nếu một ĐTV có >2 bộ câu hỏi thiếu ≥20% thông tin/ ngày do kiến thức và thái độ làm việc thì ĐTV đó bị thay thế
2.7.Biến số và phân loại biến và chỉ số nghiên cứu
2.7.1.Thông tin chung: Nhóm tuổi, giới; CC; CN trung bình (chung, theo giới
tính); Zscore chiều dài nằm (chung, theo giới tính)
2.7.2.Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6- 24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện- Hải Dương năm 2015
- Tỷ lệ thấp còi, mức độ thấp còi
- Phân bố thấp còi theo giới và nhóm tuổi
- Phân bố mức độ thấp còi theo giới và nhóm tuổi
- Tỷ lệ gầy còm, TCBP, phối hợp
2.7.3.Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại hai xã thuộc Thanh Miện- Hải Dương
2.7.2.1.Một số yếu tố giữa thực hành chăm sóc với suy dinh dưỡng thấp còi trẻ 6-24
tháng tuổi tại hai xã thuộc Thanh Miện- Hải Dương
- Chăm sóc dinh dưỡng: NCBSM, ĂBS (số lượng bữa, bữa ăn giàu chất đạm, chất béo, vitamin); bổ sung vi chất;
HUPH
Trang 37- Phòng và trị bệnh: Xử trí trẻ bị bệnh/ốm; Rửa tay
- Thực hành chăm sóc tâm lý của cha mẹ
2.7.2.2.Một số yếu tố giữa môi trường xã hội với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24
tháng tuổi tại hai xã thuộc Thanh Miện- Hải Dương
- Yếu tố của bà mẹ, cha: học vấn, nghề nghiệp, tuổi mẹ khi mang thai, bà mẹ bổ sung vi chất khi mang thai, số con, thứ tự sinh, khoảng cách sinh
- Môi trường không khí: khói đun nấu, khói thuốc lá/thuốc lào; nguồn nước, nhà vệ sinh và an ninh lương thực
- Ngoài ra có nhóm tuổi, giới tính của trẻ Một số yếu tố liên quan bệnh tật, giấc ngủ: CNSS, tình hình mắc bệnh trong 6 tháng qua
2.8.Các khái niệm, tiêu chí đánh giá
- Tình tháng tuổi của trẻ: Theo WHO tháng tuổi của trẻ được qui ước như sau: Trẻ
đẻ ra sống 1 ngày đến trẻ 29 ngày: 1 tháng tuổi
- Ăn bổ sung: trẻ được bú mẹ hoặc bú vú nuôi và ăn những thức ăn đặc, nửa đặc, cho trẻ nhận thêm bất kỳ thức ăn, nước uống khác bao gồm sữa bột, sữa hộp
- Trẻ bị tiêu chảy khi đi ngoài phân lỏng hoặc có máu 3 lần trở lên trong 1 ngày
- Trẻ coi là nhiễm khuẩn hô hấp khi có các dấu hiệu sau: sổ mũi, ho, sốt, khó thở
- Giấc ngủ tốt là ban ngày trẻ ngủ 1-2 giấc, mỗi giấc kéo dài 30-60 phút, và ngủ sâu
về đêm, tần số thức dậy đêm ít hơn 3 lần
- Số bữa ăn trong ngày của trẻ đạt khi trẻ ăn mỗi ngày 2 bữa bột với trẻ 6-8 tháng còn 3-4 bữa bột đặc ở trẻ 9 tháng trở lên
- Cách đánh giá TTDD của trẻ: Trẻ được coi là SDD nhẹ cân, thấp còi, gầy còm khi các chỉ số tương ứng CN/T, CC/T và CN/CC <-2SD; TCBP khi CN/CC>2SD Cách phân SDD cá nhân được trình bày trong Tổng quan (Mục 1.1.1.3 - trang 4)
- Một số tiêu chí đánh giá yếu tố thuộc thực hành (Phụ lục 5–trang 76)
HUPH
Trang 38- Cách cho ăn tích cực: thời gian ăn một bữa khoảng 30 phút, thường xuyên thay đổi chế biến thức ăn, dỗ dành vừa cho trẻ ăn vừa nói chuyện hoặc cho trẻ ăn cùng lúc với bữa ăn gia đình, không ép buộc, quát mắng trẻ hay xem tivi, đi ăn rong
- Chăm sóc trẻ khi bị tiêu chảy đạt là cho trẻ ăn thức ăn mềm, loảng; uống nước nhiều hơn (bú mẹ nhiều hơn), cho trẻ uống oresol hoặc nước cháo muối; không tự
ý dùng thuốc kháng sinh, thuốc cầm tiêu chảy hay thuốc nam
- Giữ vệ sinh tay đạt: cần thực hành rửa tay cho cả mẹ và trẻ Rửa tay cho mẹ trước khi nấu ăn, trước khi cho trẻ ăn và sau khi đi vệ sinh Đồng thời, mẹ cần rửa tay cho trẻ trước khi trẻ ăn, sau khi chơi đùa và sau khi đi vệ sinh
2.9.Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được nhập và quản lý trên phần mềm EpiData 3.1 và WHO - Anthro 3.2 Phần mềm SPSS 18.0 được sử dụng để lập bảng và tính toán thống kê
2.9.1 Làm sạch số liệu
- Tất cả các bộ câu hỏi đã hoàn thành đều được kiểm tra trước khi nhập liệu
- Đặt tên biến ngắn gọn, dễ hiểu trên Epidata 3.1 Sau đó chuyển số liệu sang phần mềm SPSS 18.0 và chạy lệnh kiểm tra số liệu để đảm bảo độ chính xác
- Số liệu kết quả đo cân đo trẻ được phân tích trên phần mềm Anthro 3.2 dựa theo phân loại SDD theo chuẩn WHO 2006
2.9.2 Kiểm tra logic và tính nhất quán
- Chạy tần suất và kiểm tra các giá trị missing Khi phát hiện các giá trị missing, NCV tìm lại bộ câu hỏi và tìm lý do mất số liệu Nếu mất do quá trình phỏng vấn thì liên lạc với đối tượng theo số điện thoại đã xin ở phiếu phỏng vấn, hoặc xin số liệu thứ cập như CNSS, nguồn nước, nhà vệ sinh… tại TYT xã
- Kiểm tra tính thống nhất giữa các biến Nếu các biến không thống nhất, NCV xem lại bộ câu hỏi gốc để tìm giải pháp thích hợp
HUPH
Trang 39- Kiểm tra các giá trị bất thường: chiều cao bất thường có thể do NCV điền nhầm; giá trị Zscore ngoài ngưỡng
2.9.3 Phân tích số liệu
Các kiểm định được sử dụng trong phân tích: χ2 so sánh hai tỷ lệ, OR đánh giá yếu tố nguy cơ, kiểm định t để so sánh các giá trị trung bình có phân phối chuẩn
Phương pháp phân tích: Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0 Kết quả
phân tích được chia thành 2 phần:
Phần mô tả: thể hiện tần suất, tỷ lệ phần trăm của các biến chỉ số trong nghiên cứu;
giá trị trung bình hoặc trung vị, khoảng tin cậy 95 của các biến liên tục có áp dụng phương pháp phân tích mẫu phức hợp mô tả ở trên
Phần phân tích
Đơn biến: kiểm định χ2 phân tích mối liên quan, tỷ số chênh OR xác định độ mạnh của yếu tố nguy cơ, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu khi so sánh 2 nhóm
Đa biến: Do ảnh hưởng của các yếu tố trên đến việc thực hành có thể xảy ra
đồng thời nên phân tích hai biến khó xác định vai trò của từng yếu tố nên cần phân tích đa biến với hệ các biến số độc lập đã nêu trên để kiểm soát các yếu tố nhiễu Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy sẽ thu được các hệ số hồi quy tương ứng với mỗi biến được giải thích; phản ánh cụ thể quan hệ tỷ lệ giữa biến giải thích
và biến phụ thuộc, cho phép đánh giá tác động riêng rẽ của từng biến giải thích tới biến phụ thuộc trong điều kiện các biến số khác không đổi; luôn chú ý đối chiếu các yếu tố (nếu có) với quy chuẩn quốc gia/quốc tế để đánh giá mức độ theo khoa học Việc đưa biến vào phân tích tương tác đa biến cần xem xét có ý nghĩa thống kê trong phân tích đơn biến và tương tác trù định đáng được nghiên cứu (các yếu tố này được tham khảo từ y văn, các nghiên cứu khác…)
HUPH
Trang 402.10.Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng Nghiên cứu được sự đồng tình, ủng hộ của nhà quản lý hệ thống y tế địa phương (tỉnh, huyện, xã, thôn)
- Các bà mẹ tự nguyện tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích ý nghĩa của nghiên cứu Tất cả những trường hợp vì từ chối không tham gia nghiên cứu, sau khi đã tư vấn và thuyết phục vẫn muốn bỏ cuộc sẽ được chấp nhận
- Tất cả các dụng cụ để cân, đo được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không gây tổn thương và nguy hiểm cho trẻ
- Thực hiện phỏng vấn ở địa điểm riêng tư hoặc trung lập
- Nghiên cứu không có ảnh hưởng bất lợi; không đánh giá trình độ của đối tượng và cộng đồng Các thông tin về đối tượng được giữ bí mật trong nhóm điều tra
- Kết quả nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Sau khi thông qua báo cáo, kết quả sẽ được thông báo cho đối tượng tham gia và nhà quản lý tại địa bàn Đồng thời nghiên cứu luôn đảm bảo tính trung thực của thông tin
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi hai xã không bao phủ toàn bộ huyện không đại diện cho các vùng sinh thái và cho toàn huyện
- Do thời gian và kinh phí có hạn nên nghiên cứu chỉ tìm ra được một số yếu tố liên quan, không chỉ rõ yếu tố nguyên nhân gây ra SDDTC
- Nghiên cứu không tìm hiểu yếu tố liên quan đến kiến thức của bà mẹ về SDDTC
mà chỉ đánh giá thực hành nên chưa bao quát toàn bộ được yếu tố
- Chiều cao ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền, nghiên cứu không thực hiện đo chiều cao của cha mẹ nên không thể chắc chắn về yếu tố di truyền trong nghiên cứu
HUPH