Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Dinh dưỡng là trạng thái mà cơ thể nhận đủ và cân đối các chất dinh dưỡng, giúp phát triển toàn diện và tăng trưởng, đồng thời đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh, phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể TTDD của mỗi cá nhân phụ thuộc vào chế độ ăn uống và khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng Một TTDD tốt cho thấy sự cân bằng giữa lượng thức ăn nạp vào và tình trạng sức khỏe, trong khi thiếu hoặc thừa dinh dưỡng có thể chỉ ra các vấn đề về sức khỏe hoặc dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu protein, năng lượng và vi chất dinh dưỡng, thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động Thời gian trong bụng mẹ và 2 năm đầu đời là giai đoạn quyết định sức khỏe, tư duy và phát triển não bộ của trẻ Phần lớn các trường hợp suy dinh dưỡng xảy ra trước 2 tuổi, khi cơ thể phát triển nhanh nhất và có nguy cơ cao nhất về suy dinh dưỡng.
1.1.2 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
Mức phân loại sức khỏe cá nhân của trẻ được xác định dựa trên cân nặng và chiều cao, so sánh với Chuẩn tăng trưởng của WHO năm 2006 Theo đó, suy dinh dưỡng (SDD) được chia thành 3 thể loại.
Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (SDD) là chỉ tiêu phổ biến nhất để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ Cân nặng của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi và giới trong quần thể chuẩn, với ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) được coi là SDD thể thiếu cân Tuy nhiên, việc phân loại tình trạng dinh dưỡng bằng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có nhược điểm là không phân biệt được SDD mới xảy ra hay kéo dài đã lâu.
Suy dinh dưỡng thể thấp còi (CC/T) là chỉ số chiều cao của trẻ so với chiều cao chuẩn của trẻ cùng tuổi và giới tính trong quần thể Chỉ tiêu chiều cao theo tuổi dưới mức chuẩn cho thấy tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ.
2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ làm đứa trẻ bị SDD thể thấp còi[11]
Suy dinh dưỡng thể gầy còm xảy ra khi cân nặng theo chiều cao (CN/CC) thấp hơn điểm ngưỡng -2SD theo tiêu chuẩn của WHO, phản ánh tình trạng suy dinh dưỡng hiện tại Tình trạng này có thể dẫn đến việc trẻ ngừng tăng cân hoặc giảm cân, gây ra suy dinh dưỡng thể gầy còm Nếu cả hai chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) đều thấp hơn ngưỡng đề nghị, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng thể phối hợp, tức là vừa gầy còm vừa còi cọc.
+ Phân loại SDD ở cộng đồng:
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay khuyến nghị rằng một người được coi là thiếu dinh dưỡng khi cân nặng theo tuổi thấp hơn 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với Chuẩn tăng trưởng của WHO.
2006 So với trị số tương ứng ở Chuẩn tăng trưởng chia ra các mức độ thiếu dinh dưỡng:
- Thiếu dinh dưỡng vừa độ I: Cân nặng/tuổi dưới - 2SD đến - 3 SD
- Thiếu dinh dưỡng nặng độ II: Cân nặng/tuổi dưới - 3SD đến - 4SD
- Thiếu dinh dưỡng nặng độ III: Cân nặng/tuổi dưới - 4SD
WHO đề nghị sử dụng ba chỉ số: cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao để phân loại tình trạng thiếu dinh dưỡng, bao gồm cả cấp tính và mãn tính.
Ba chỉ tiêu này được sử dụng để phân loại các thể lâm sàng dựa trên thời gian mắc bệnh Điểm ngưỡng cho các chỉ tiêu này được xem là bình thường khi nằm trong khoảng X ± 2SD.
Bảng 1 1 Ngưỡng phân loại mức độ SDD theo WHO
Chỉ tiêu Mức độ SDD theo tỷ lệ %
Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi (Stunting) 0,05).
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ và TTSDD
Trình độ học vấn SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Kết quả từ bảng 3.15 cho thấy trong nhóm trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, trẻ có mẹ có trình độ học vấn ≤ THCS có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn so với trẻ có mẹ có trình độ ≥ THPT, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Đối với nhóm suy dinh dưỡng thể thấp còi, tỷ lệ suy dinh dưỡng giữa hai nhóm trẻ cũng không có sự khác biệt rõ rệt.
Trình độ học vấn của mẹ đạt từ THPT trở lên có sự tương đồng với tỷ lệ OR = 0,95, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngoài ra, chưa phát hiện mối liên hệ giữa trình độ học vấn của mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng thể gầy còm ở trẻ em (p > 0,05).
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thực hành chăm sóc mang thai của bà mẹ và TTSDD
Thực hành chăm sóc khi mang thai
SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Kết quả từ bảng 3.16 cho thấy rằng trong nhóm trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và gầy còm, trẻ có mẹ không thực hành chăm sóc khi mang thai có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 2,0 lần và 3,3 lần so với nhóm trẻ có mẹ thực hành chăm sóc đạt, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thực hành NCBSM và TTSDD
SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Kết quả từ bảng 3.17 cho thấy rằng trong nhóm trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và gầy còm, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ có mẹ không thực hành NCBSM đạt cao hơn so với nhóm trẻ có mẹ thực hành NCBSM đạt, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngược lại, trong nhóm trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, trẻ có mẹ không thực hành NCBSM đạt có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 2,1 lần so với nhóm trẻ có mẹ thực hành NCBSM đạt, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa thực hành cho trẻ ABS và TTSDD
Thực hành ABS SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Kết quả từ bảng 3.18 cho thấy trong nhóm trẻ SDD thể nhẹ cân, tỷ lệ SDD giữa nhóm trẻ có mẹ thực hành cho trẻ ABS không đạt và nhóm có mẹ thực hành đạt gần như tương đương với OR= 1,1, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Ngược lại, trong nhóm SDD thể gầy còm, nhóm trẻ có mẹ thực hành cho trẻ ABS không đạt có nguy cơ SDD cao gấp 2,3 lần so với nhóm có mẹ thực hành đạt, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thực hành chăm sóc khi trẻ bị bệnh và TTSDD
Thực hành chăm SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
HUPH sóc khi trẻ bị bệnh
Kết quả từ bảng 3.19 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở nhóm trẻ nhẹ cân và thấp còi giữa hai nhóm có mẹ thực hành chăm sóc trẻ bệnh không đạt và đạt là gần như tương đương, với OR=1,0 cho cả hai nhóm, nhưng không có sự khác biệt thống kê đáng kể (p>0,05) Đối với nhóm trẻ gầy còm, tỷ lệ SDD ở nhóm có mẹ thực hành chăm sóc trẻ bệnh không đạt cao hơn so với nhóm có mẹ thực hành đạt, tuy nhiên sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thực hành vệ sinh tay của bà mẹ và TTSDD
Thực hành rửa tay của bà mẹ
SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Kết quả từ bảng 3.20 cho thấy rằng trong nhóm trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thể gầy còm, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm trẻ có mẹ không thực hành vệ sinh tay bằng xà phòng cao hơn so với nhóm trẻ có mẹ thực hành đạt, mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngược lại, trong nhóm trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi, nguy cơ suy dinh dưỡng ở nhóm có mẹ không thực hành vệ sinh tay bằng xà phòng cao gấp 2,2 lần so với nhóm có mẹ thực hành đạt, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa số con trong gia đình và TTSDD
Số con SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Kết quả từ bảng 3.21 cho thấy rằng trong nhóm trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân và gầy còm, tỷ lệ SDD ở trẻ sống trong gia đình có hơn 2 con cao hơn so với trẻ sống trong gia đình có 2 con trở xuống, nhưng sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Hơn nữa, không tìm thấy mối liên quan giữa số lượng con trong gia đình và tình trạng SDD thể thấp còi ở trẻ, với p > 0,05.
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và TTSDD
Nhà tiêu hợp vệ sinh
SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Hai ngăn, thấm dội nước và khác
Tự hoại, bán tự hoại 29
Kết quả cho thấy trong nhóm trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn ở trẻ sống trong gia đình sử dụng nhà tiêu không vệ sinh so với nhóm sử dụng hố xí hợp vệ sinh, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Đối với nhóm suy dinh dưỡng thể thấp còi, trẻ sống trong gia đình sử dụng nhà tiêu không vệ sinh có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 1,9 lần so với nhóm sử dụng hố xí hợp vệ sinh, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và TTSDD
Kinh tế gia đình SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
Kết quả từ bảng 3.23 cho thấy trẻ em sống trong gia đình nghèo có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao gấp 5,3 lần và suy dinh dưỡng thể gầy còm cao gấp 4,6 lần so với trẻ em sống trong gia đình không nghèo, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05).
3.4.4 Yếu tố dịch vụ y tế
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa thông tin hướng dẫn bà mẹ cách nuôi con và TTSDD
Hướng dẫn cách nuôi con
SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm