Kiến thức, thực hành về phòng và chăm sóc trẻ khi mắc tiêu chảy của của bà mẹ và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ ...19 1.5.. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
-*** -
ĐÀO THỊ THỦY
THỰC TRẠNG MẮC TIÊU CHẢY Ở TRẺ TỪ 6 – 24 THÁNG TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI XÃ MINH KHAI, HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hà Nội, 2015
HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
-*** -
ĐÀO THỊ THỦY
THỰC TRẠNG MẮC TIÊU CHẢY Ở TRẺ TỪ 6 – 24 THÁNG TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI XÃ MINH KHAI, HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS PHẠM VĂN HÙNG ThS LƯU QUỐC TOẢN
Hà Nội, 2015
HUPH
Trang 3Tôi xin cảm ơn Trung tâm y tế huyện Hoài Đức, Trạm y tế xã Minh Khai đã nhiệt tình hợp tác và hỗ trợ trong quá trình tiến hành đề tài và thu thập số liệu trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn các bạn học viên cao học khóa 17 đã động viên và chia sẻ những kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và làm luận văn
Tôi luôn ghi nhớ và biết ơn sâu sắc các thành viên trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên chia sẻ mọi mặt để tôi vƣợt qua mọi khó khăn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Học viên
Đào Thị Thủy HUPH
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TIÊU CHẢY Ở TRẺ EM 4
1.1.1 Định nghĩa bệnh tiêu chảy 4
1.1.2 Phân loại bệnh tiêu chảy 4
1.1.3 Hậu quả của bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ 5
1.1.4 Dịch tễ học bệnh tiêu chảy 5
1.2 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TIÊU CHẢY 10
1.3 MỘT SỐ LƯU Ý CHĂM SÓC KHI TRẺ MẮC TIÊU CHẢY 14
1.4 TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 17
1.4.1 Trên thế giới 17
1.4.2 Tại Việt Nam 18
1.4.3 Kiến thức, thực hành về phòng và chăm sóc trẻ khi mắc tiêu chảy của của bà mẹ và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ 19
1.5 GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 21
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 25
2.6 Biến số nghiên cứu 26
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 26
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28
2.9 Hạn chế trong nghiên cứu và các biện pháp khắc phục 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ 6-24 tháng tuổi 29 3.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng và chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy 31
HUPH
Trang 53.3 Một số yếu tố liên quan tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ từ 6 -24 tháng tuổi trong 2
tuần qua 45
Chương 4 BÀN LUẬN 50
4.1 Tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ 6-24 tháng tuổi trong 2 tuần qua tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội 50
4.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng và chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy 51 4.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng mắc tiêu chảy của trẻ từ 6 -24 tháng tuổi trong 2 tuần qua 56
KẾT LUẬN 60
KHUYẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 67
Phụ lục 1 BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 67
Phụ lục 2 BẢNG KIỂM CHẤM ĐIỂM KIẾN THỨC, THỰC HÀNH 77
Phụ lục 3 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 85
Phụ lục 4 BẢNG KIỂM KIỂM TRA VỆ SINH NƯỚC HỘ GIA ĐÌNH 94
HUPH
Trang 6DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin nhân khẩu học của trẻ
Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc tiêu chảy trong hai tuần qua
Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ theo giới và nhóm tuổi
Bảng 3.4 Thông tin nhân khẩu học của mẹ
Bảng 3.5 Kiến thức chung của bà mẹ về tiêu chảy
Bảng 3.6 Kiến thức của BM về NCBSM và cho trẻ ăn sam/ăn dặm phòng TC
cho trẻ Bảng 3.7 Kiến thức của bà mẹ về vệ sinh cá nhân và dụng cụ ăn uống cho trẻ Bảng 3.8 Kiến thức của bà mẹ về uống Vitamin A và tiêm vắc xin phòng TC
cho trẻ Bảng 3.9 Kiến thức bà mẹ về chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy
Bảng 3.10 Thực hành của bà mẹ về NCBSM và ăm sam phòng TC cho trẻ Bảng 3.11 Thực hành vệ sinh cá nhân và chế biến thức ăn phòng TC
Bảng 3.12 Thực hành tiêm phòng và uống Vitamin A phòng TC
Bảng 3.13 Thực hành của bà mẹ về chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy
Bảng 3.14 Điều kiện vệ sinh hộ gia đình
Bảng 3.15 Kênh thông tin bà mẹ tiếp cận được
Bảng 3.16 Mối liên quan thuộc về cá nhân trẻ và tỷ lệ mắc TC của trẻ
Bảng 3.17 Mối liên quan thuộc về nhân khẩu học bà mẹ, vệ sinh môi trường hộ
gia đình và tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ Bảng 3.18 Mối liên quan đến kiến thức phòng bệnh, chăm sóc khi trẻ mắc tiêu
chảy và tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ Bảng 3.19 Mối liên quan đến thực hành phòng bệnh, chăm sóc khi trẻ mắc tiêu
chảy và tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ
HUPH
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố độ tuổi của trẻ mắc tiêu chảy trong 2 tuần qua
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ kiến thức của bà mẹ về phòng TC cho trẻ
Biểu đồ 3.3 Kiến thức của bà mẹ về dấu hiệu đƣa trẻ tới cơ sở y tế
Biểu đồ 3.4 Kiến thức của bà mẹ về phòng và chăm sóc khi trẻ tiêu chảy
Biểu đồ 3.5 Thực hành phòng tiêu chảy của bà mẹ
Biểu đồ 3.6 Thực hành của bà mẹ về chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy trong lần
gần đây nhất Biểu đồ 3.7 Kênh thông tin bà mẹ yêu thích nhất
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là ở lứa tuổi 6-24 tháng Ước tính có khoảng 1,7 tỷ trường hợp tiêu chảy mỗi năm và khoảng 760.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết do tiêu chảy, 80% tử vong do tiêu chảy xảy ra ở lứa tuổi dưới 2 tuổi Ở Việt Nam, tiêu chảy vẫn là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất được báo cáo thường xuyên trong 26 bệnh truyền nhiễm
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 bà mẹ có con 6-24 tháng tuổi tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội từ tháng 10/2014-9/2015 tìm hiểu tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ trong 2 tuần qua và một số yếu tố liên quan đến mắc tiêu chảy của trẻ Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ trong 2 tuần qua là 22,2% Nhóm trẻ 6-12 tháng có tỷ lệ mắc cao nhất 12,5%, trẻ nam mắc tiêu chảy cao hơn trẻ nữ (12,5% và 9,72%) Có 58,8% bà mẹ có kiến thức đúng về phòng và chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy, trong đó tỷ lệ bà mẹ nhận biết bệnh tiêu chảy và đường lây của bệnh khá cao với 81,5%và 91,7%, bà mẹ nhận biết được hậu quả tiêu chảy còn thấp 28,2% Có 52,8% bà mẹ thực hành đúng về phòng tiêu chảy cho trẻ, có 42,1% bà mẹ cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu, 46,2% bà mẹ cho trẻ cai sữa từ khi trẻ dưới 18 tháng Có 46,8% bà mẹ thực hành đúng về chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy trong lần gần đây nhất, trong đó 57,6% bà mẹ cho trẻ ăn đạt, 25,7%
bà mẹ sử dụng ORS khi trẻ bị tiêu chảy Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ là: tuổi của trẻ, số trẻ trong gia đình, trình độ học vấn của mẹ, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, kiến thức của bà mẹ về phòng và chăm sóc khi trẻ tiêu chảy, thực hành cho trẻ cai sữa, thực hành cho trẻ ăn sam/ăn dặm Vì vậy, cần tăng cường truyền thông, hướng dẫn tập trung vào các đối tượng bà mẹ có nguy cơ cao nhằm tăng cường kiến thức, thực hành phòng và chăm sóc tiêu chảy tại nhà cho trẻ
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều thập niên gần đây, tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là ở lứa tuổi 6-24 tháng Ước tính trên thế giới có khoảng 1,7 tỷ trường hợp tiêu chảy mỗi năm và khoảng 760.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết do tiêu chảy, 80% tử vong do tiêu chảy xảy ra ở lứa tuổi dưới 2 tuổi, tính trung bình mỗi phút có hơn 1000 trường hợp mắc và 10 trường hợp tử vong [26], [42] Ngoài vấn đề tỉ lệ mắc và tử vong cao, tiêu chảy còn là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, bệnh không chỉ làm trẻ chậm phát triển
về thể chất mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác [43]
Ở Việt Nam, nhiều năm trở lại đây tình hình tiêu chảy đã có nhiều cải thiện, tuy nhiên nó vẫn được đưa vào trong số 26 bệnh báo cáo thường xuyên Số ca bệnh tiêu chảy 6 tháng đầu năm 2014 ghi nhận 301.570 trường hợp mắc tiêu chảy và 5 trường hợp tử vong Hà Nội là một trong những tỉnh thành có tỷ lệ mắc tiêu chảy cao nhất cả nước 520/100.000, trong đó trung bình cả nước là 380/100.000 Vì vậy
có thể nói tiêu chảy vẫn là gánh nặng trong chiến lược phòng chống bệnh truyền nhiễm của ngành y tế nước ta [24]
Hiện nay đối với tiêu chảy, các phương pháp phòng và chăm sóc trẻ đơn giản, hiệu quả có thể làm giảm rõ rệt tỷ lệ mắc và tử vong do tiêu chảy, đồng thời giảm tỷ lệ trẻ nhập viện không cần thiết của hầu hết các trường hợp nếu bà mẹ hiểu
rõ căn nguyên và công tác phòng, điều trị tiêu chảy Vì vậy, kiến thức và thực hành của các bà mẹ là nhân tố quyết định trong việc phòng tiêu chảy cho trẻ em đồng thời cũng làm giảm gánh nặng bệnh tật và chi phí đáng kể đối với gia đình và hệ thống y tế
Xã Minh Khai là một xã nằm phía Tây Bắc của huyện Hoài Đức, Hà Nội Nông nghiệp là cơ cấu kinh tế chính của xã, dân cư chủ yếu sống dọc theo hai bên
đê sông Đáy Tại huyện Hoài Đức, mặc dù chương trình phòng chống tiêu chảy đã
HUPH
Trang 11và đang được triển khai trong nhiều năm nay nhưng thời gian qua tình hình mắc tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó có nhóm 6-24 tháng tuổi, còn khá phổ biến trong cộng đồng Theo thống kê trạm Y tế xã Minh Khai năm 2014 tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy của xã là 12,5% so với toàn huyện Tuy nhiên con số này chỉ phản ánh một phần trong cộng đồng do bà mẹ lựa chọn cơ sở y tế rấ đa dạng và nhiều trường hợp mắc tiêu chảy không được báo cáo [23], [24] Theo các nghiên cứu trước, lứa tuổi từ 6–24 tháng tuổi là chiếm tỷ lệ lớn trong các ca mắc của trẻ dưới 5 tuổi Các nghiên cứu trước cũng chỉ ra rằng ngoài các yếu tố cá nhân trẻ thì các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ là nhân tố quan trọng trong việc phòng và chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy Trong 10 năm trở lại đây, chưa có nghiên cứu hay báo cáo nào mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh tiêu chảy của
bà mẹ có con từ 6–24 tháng tuổi tại xã Minh Khai Vậy thực trạng mắc tiêu chảy của trẻ 6 – 24 tháng tuổi tại xã Minh Khai là bao nhiêu? Kiến thức, thực hành của
bà mẹ có con từ 6–24 tháng tuổi về phòng bệnh và chăm sóc trẻ khi bị tiêu chảy tại
xã Minh Khai như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan tới tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ 6–24 tháng tuổi tại xã Minh Khai? Đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc trên, học viên tiến hành nghiên cứu tại huyện Hoài Đức với đề tài “ Thực trạng mắc tiêu chảy ở trẻ 6 -24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 2015”, từ đó đề xuất các giải pháp truyền thông phù hợp phòng nhằm dự phòng, chăm sóc trẻ từ 6-24 tháng tuổi mắc tiêu chảy trên địa bàn huyện Hoài Đức HUPH
Trang 123 Xác định một số yếu tố liên quan đến mắc tiêu chảy của trẻ từ 6–24 tháng tuổi trong 2 tuần trước thời điểm điều tra tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức,
Hà Nội năm 2015
HUPH
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TIÊU CHẢY Ở TRẺ EM
1.1.1 Định nghĩa bệnh tiêu chảy
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trẻ tiêu chảy khi đi ngoài từ 3 lần trở lên trong 24 giờ, phân lỏng và nhiều nước hơn bình thường Riêng đối với trẻ đang bú mẹ, phân có thể nhão hơn bình thường số lần có thể 3-4 lần trong 24 giờ, nhưng không phải là tiêu chảy Đối với những trẻ này khi xác định mắc tiêu chảy, thực tế là dựa vào số lần tiêu chảy tăng dần hoặc tăng mức độ phân lỏng kèm theo lời phàn nàn của bà mẹ cho là bất thường [42], [43]
1.1.2 Phân loại bệnh tiêu chảy
Nhiều nghiên cứu đã xác định 3 hội chứng lâm sàng khác nhau của tiêu chảy
vì thể hiện ba cơ chế khác nhau, do vậy phương án điều trị xử lý cũng khác nhau [3]
- Tiêu chảy cấp: khởi đầu đột ngột, phân cấp tính kéo dài không quá 14 ngày thường là dưới 7 ngày, phân lỏng hoặc tóe ra nước, không thấy máu Với trẻ ở trong tình trạng này, sự cần thiết phải bù ngay một lượng nước đã mất và một lượng nước dự phòng có thế mất tiếp theo do tiêu chảy cấp gây ra, có thể thực hiện tại nhà
Tiêu chảy kéo dài: là tiêu chảy khởi đầu cấp tính, sau đó kéo dài tới 14 ngày hoặc lâu hơn nữa Trong trường hợp này bà mẹ cần đưa con em mình đến cơ sở ý tế khám để xác định rõ nguyên nhân
Hội chứng lỵ: đây là tiêu chảy thấy có máu trong phân có thể kèm theo chất nhày mũi, thường kèm theo triệu chứng sốt Tốt nhất đưa đến cơ sở y tế để tìm căn nguyên gây bệnh và cho phác đồ điều trị đặc hiệu
Đợt tiêu chảy là giai đoạn bắt đầu từ khi tiêu chảy trên 3 lần trong 24h, cho đến ngày cuối cùng trong đó còn tiêu chảy trên 3 lần, ngày cuối cùng cũng phải kế
HUPH
Trang 14tiếp ít nhất là 2 ngày trẻ đi ngoài phân trở lại bình thường Nếu sau 2 ngày trẻ tiếp tục đi tiêu chảy trên 3 lần trong 24h, thì phải đánh giá lại đợt mất nước và ghi nhận đợt tiêu chảy mới [9], [21]
1.1.3 Hậu quả của tiêu chảy ở trẻ nhỏ
Tiêu chảy có tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao tại nước đang phát triển ước tính khoảng một triệu lượt ỉa chảy mỗi năm Theo thống kê của WHO thì trên thế giới trung bình mỗi trẻ mắc 3,3 lượt tiêu chảy, đặc biệt ở một số vùng mỗi năm trung bình trẻ mắc vượt quá 9 lượt, cũng theo thống kê của WHO, thì mỗi năm tại các nước đang phát triển có gần 1 tỉ trẻ em bị tiêu chảy, và số chết là gần 5 triệu [26], [32]
Tiêu chảy cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng làm cho trẻ suy dinh dưỡng do giảm lượng thức ăn trong và sau khi tiêu chảy, giảm hấp thu, tăng nhu cầu dinh dưỡng trong khi bị nhiễm khuẩn Nếu tiêu chảy xảy ra trong một thời gian kéo dài
sẽ gây nên hội chứng kém hấp thu hậu quả là một vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng trường diễn, tăng tính nhạy cảm với bệnh tật đặc biệt là bệnh nhiễm trùng [21], [25]
Khoảng 30% số giường bệnh nhi tại các bệnh viện ở các nước đang phát triển dành cho tiêu chảy, hậu quả làm tăng gánh nặng cho bệnh viện và ngân sách y
tế quốc gia Cho tới nay hầu hết các nước đã có chương trình phòng chống tiêu chảy nhằm giảm tỷ lệ tử vong do bệnh này gây nên, giảm ngân sách y tế bằng cách cải tiến phương pháp điều trị, giảm tần số mắc bằng tăng cường các biện pháp phòng bệnh đặc biệt [13], [14]
1.1.4 Dịch tễ học tiêu chảy
1.1.4.1 Sự lây truyền
Hầu hết các nhà nghiên cứu về bệnh sinh, dịch tễ học tiêu chảy cho rằng tác nhân gây tiêu chảy chủ yếu và duy nhất truyền qua đường phân, miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm hay lây do tiếp xúc trực tiếp với phân người bị bệnh tiêu chảy, hoặc qua trung gian truyền bệnh như ruồi, gián Sự lan truyền trực
HUPH
Trang 15tiếp có thể ngăn chặn được hay không là tùy thuộc vào sự cải thiện vệ sinh cá nhân
và gia đình [3], [43]
* Một số hành vi làm gia tăng sự lan truyền tác nhân gây tiêu chảy
Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu tiên sau khi sinh Theo WHO, những trẻ em không được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ mắc tiêu chảy gấp nhiều lần so với những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn, nguy cơ tử vong do tiêu chảy ở những trẻ này cũng lớn hơn một cách đáng kể Trong các y văn
đã ghi rõ, vai trò của sữa mẹ rất quan trọng trong việc bảo vệ trẻ đối với bệnh tiêu chảy Sữa mẹ có chứa globulin miễn dịch chủ yếu là IgA (95%), ngoài ra còn có IgM, IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống nhiễm khuẩn các bệnh đường ruột và một số bệnh khác do siêu vi trùng gây ra Lysozym là một men tìm thấy ở trứng và sữa, nó là một yếu tố chống nhiễm khuẩn không đặc hiêu có khả năng phá hủy một
số vi khuẩn Gram (+) và còn góp phần vào việc phát triển và duy trì hệ vi khuẩn đường ruột của những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ [3], [43]
Thói quen cai sữa sớm: cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sẽ làm giảm chỉ số mắc và trầm trọng của một số bệnh như lỵ và tả Theo WHO, những đứa trẻ từ 0-2 tháng tuổi mà không được bú mẹ thì tỉ lệ tiêu chảy cao gấp 2 lần và nguy cơ chết do liên quan của nó tăng lên gấp 25 lần so với những trẻ được bú mẹ [3], [44]
Cho trẻ bú sữa chai hoặc bình: khi cho sữa vào một chai hoặc bình không sạch thì sẽ bị ô nhiễm, nếu trẻ không bú hết sữa trong bình thì sự ô nhiễm bời mầm bệnh đường ruột khó rửa sạch và vi khuẩn sẽ phát triển [3]
Thói quen cho ăn sớm ăn dặm trước 4 tháng tuổi: cho ăn dặm quá sớm hay quá muộn hoặc ăn dặm không đúng cách, đều có thể dẫn đến tiêu chảy và suy dinh dưỡng Ăn sam hay ăn bột theo cách gọi miền Bắc hay ăn dặm theo cách gọi miền Nam, là quá trình nuôi trẻ, tạo cho trẻ thích ứng với sự chuyển đổi chế độ từ một khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ sang một chế độ ăn sử dụng đều đặn các thực phẩm sẵn có trong bữa ăn gia đình Đây là quá trình giúp cho trẻ quen dần với thức
ăn của người lớn, đồng thời cung cấp thêm chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ phát
HUPH
Trang 16triển bình thường Ăn sam thường được bắt đầu từ 4-6 tháng tuổi, vì thời kỳ này nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cao hơn và sữa mẹ trong thời kỳ này dinh dưỡng không
đủ đáp ứng nhu cầu của trẻ Đây là gia đoạn khó khăn nhất của trẻ, nếu cho ăn sam không đúng, sớm hay muộn quá đều không có lợi cho sức khỏe của trẻ và dễ dẫn đến tiêu, chảy suy dinh dưỡng Ăn sam đúng phụ thuộc vào thời điểm cho ăn, loại thức ăn, cách chế biến, bảo quản thức ăn [14], [19]
Dùng nước uống đã bị nhiễm vi khuẩn đường ruột: nước có thể bị nhiễm bẩn ngay tại nguồn của nó hoặc trong suốt quá trình dự trữ tại nhà Sự ô nhiễm tại nhà do bảo quản hoặc sử dụng không hợp vệ sinh Theo WHO tỷ lệ mắc tiêu chảy trên toàn thế giới khoảng 1 tỷ người/năm, trong đó chết 3,3 triệu người/năm có liên quan đến nước không an toàn và vệ sinh [2], [26]
Không rửa tay sau khi đi ngoài, sau khi xử lý phân, trước khi chuẩn bị thức ăn: thói quen rửa tay là mọt hành vi bảo vệ sức khỏe chung, đặt biệt có hiệu lực đối với việc phòng tiêu chảy [20]
Không xử lý phân một cách hợp vệ sinh: nhiều bậc cha mẹ cho rằng phân trẻ
em là không nguy hiểm, nhưng thực ra chúng chứa rất nhiều virus, vi khuẩn gây bệnh và phân súc vật cũng chứa nhiều vi sinh vật có thể truyền bệnh cho con người
* Tính cảm thụ: một số yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ của bệnh tiêu chảy
Tuổi: bệnh có thể ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất là ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là nhóm từ 6 tháng đến 24 tháng tuổi Chỉ số mắc bệnh chủ yếu gặp ở
6 đến 11 tháng tuổi Theo WHO lứa tuổi này dễ mắc bệnh tiêu chảy vì thời kỳ này trẻ phải ăn thức ăn bổ sung, trong khi các yếu tố bảo vệ trong sữa mẹ giảm [43]
Suy dinh dưỡng: bệnh tiêu chảy và suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với nhau nhất là đối với những trẻ suy dinh dưỡng nặng, những trẻ đó sự hồi phục niêm mạc ruột bị chậm trễ do thiếu vitamin, giảm sức đề kháng của cơ thể, mức độ trầm trọng kéo dài thì nguy cơ tử vong do tiêu chảy sẽ gia tăng đối với những trẻ bị suy
HUPH
Trang 17dinh dưỡng Ngược lại điều này sẽ làm cho tình trạng suy dinh dưỡng trở nên trầm trọng thêm [3]
Sởi: nhiều công trình nghiên cứu cho thấy ở trẻ đang bị sởi hoặc mới khỏi bệnh sởi trong vòng 4 tuần thì mắc bệnh tiêu chảy nhiều hơn do thời gian này hệ thống miễn dịch của trẻ bị ảnh hưởng [3], [44]
Bệnh suy giảm miễn dịch: trẻ bị suy giảm miễn dịch kéo dài như HIV làm cho trẻ dễ mắc bệnh tiêu chảy Tiêu chảy xảy ra khoảng 30% sau khi dùng kháng sinh hoặc bất kỳ thay đổi ở ruột trẻ [2], [42]
* Tính chất mùa
Thời tiết khí hậu có liên quan không nhỏ đối với bệnh tật, đặc biệt là bệnh đường tiêu hóa Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn đường ruột Bên cạnh đó khí hậu nóng ẩm cũng là điều kiện phát triển cho các vector truyền bệnh, điều này cũng là yếu tố làm cho bệnh tiêu chảy tái phát và thường tăng lên vào tháng nóng từ cuối mùa xuân đến đầu mùa thu Theo WHO có sự khác biệt theo mùa ở vùng địa lý khác nhau [3], [42]
Vùng ôn đới: tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa nóng, ngược lại
do vi rút như Rotavirus thường xảy ra vào mùa đông
Vùng nhiệt đới: tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra quanh năm nhưng lại tăng cao vào các tháng khô và lạnh Ngược lại do vi khuẩn lại tăng vào mùa mưa và mùa nóng
Tuy nhiên có một số tác nhân gây ra các vụ dịch không dự đoán được đôi khi vài năm mới xảy ra một lần Loài người đã từng gánh chịu những tổn thất to lớn do những vụ dịch và đại dịch tiêu chảy gây ra Hai tác nhân gây bệnh đường ruột có thể gây thành dịch lớn và tử vong cao là Vibro cholerae 01 và Shigella dysenteriae Typ1 Những vụ dịch gần đây năm 1961 dịch xảy ra do Vibrio cholerae 01 ở Indonesia lan đến Châu Á, Trung Cận Đông và Châu Phi, một số nước châu Âu và
HUPH
Trang 18Bắc Mỹ Shigella dysenteriae Tysp1 gây dịch lỵ lớn ở Trung Mỹ và gần đây ở Châu Phi và vùng Nam Á [3], [44]
1.1.4.2 Nguyên nhân tiêu chảy
o Coli đường ruột Escherichia Coli (E.Coli)
Trong đó, E Coli sinh độc tố ruột là tác nhân gây tiêu chảy cấp phân nước ở trẻ em
o Trực khuẩn lỵ (Shigella): gây hội chứng lỵ phân máu
o Campylobacter jejuni: gây bệnh ở trẻ nhỏ, tiêu chảy phân nước hoặc phân máu
o Salmonella enterocolitica: gây tiêu chảy phân nước hoặc phân máu
o Vi khuẩn tả Vibrrio cholerae: gây tiêu chảy xuất tiết bằng độc tố tả, mất nước và mất điện giải nặng ở cả trẻ em và người lớn
Trang 191.2 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TIÊU CHẢY
Điều trị tiêu chảy đúng làm giảm nguy cơ tử vong nhưng không làm giảm tỷ
lệ mắc tiêu chảy Do vậy, dự phòng tiêu chảy và chăm sóc đúng cho trẻ khi mắc tiêu chảy là biện pháp tốt nhất để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và dự phòng các biến chứng nặng của tiêu chảy Cơ sở y tế là nơi tốt nhất để điều trị và hướng dẫn các thành viên của gia đình trẻ, giúp họ thực hiện các biện pháp phòng tiêu chảy và bà mẹ sẽ
là người tiếp nhận những thông tin này, chỉ nên đưa những thông tin thích hợp hữu ích nhất cho bà mẹ và trẻ [3].Các nội dung phòng tiêu chảy và chăm sóc đúng cho trẻ khi mắc tiêu chảy bao gồm các yếu tố dưới đây:
Nuôi con bằng sữa mẹ
Trong 6 tháng đầu đời, trẻ cần được bú mẹ hoàn toàn, có nghĩa là một đứa trẻ khoẻ mạnh cần được bú sữa mẹ và không phải ăn hoặc uống thêm thứ gì khác như nước, các loại nước chè, nước hoa quả, nước cháo, sữa động vật hoặc thức ăn nhân tạo, Sữa mẹ có chứa các chất dinh dưỡng, chất chống oxi hóa và kháng thể cần thiết để trẻ có thể tồn tại và phát triển Trẻ được bú mẹ hoàn toàn sẽ ít mắc tiêu chảy
và tỉ lệ tử vong thấp hơn so với trẻ không được bú mẹ hoặc không được bú mẹ hoàn toàn, ngay cả ở trẻ mà bà mẹ có HIV dương tính Bú mẹ cũng làm giảm nguy cơ dị ứng sớm, đồng thời cũng tăng sức đề kháng chống lại các bệnh nhiễm trùng, làm giảm các đợt nhiễm trùng khác (ví dụ : viêm phổi) Nên cho trẻ bú mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi và có thể lâu hơn Trẻ sơ sinh được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ tử vong bằng 1/6 lần do các bệnh truyền nhiễm trong hai tháng đầu tiên, bao gồm tiêu chảy, so với trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong Cho trẻ trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt ngay sau sinh mà không cho ăn bất cứ loại thức ăn nào khác [3], [43], [44]
Nếu không có điều kiện cho trẻ bú mẹ, nên cho trẻ ăn sữa động vật (cho trẻ
ăn trước 6 tháng) hoặc sữa công thức nên dùng thìa và cốc Chai sữa và núm vú không nên sử dụng vì khó làm sạch, dễ nhiễm khuẩn gây tiêu chảy
Cải thiện nuôi dưỡng bằng thức ăn bổ sung (ăn sam)
HUPH
Trang 20Thức ăn bổ sung nên cho ăn khi trẻ 6 tháng tuổi Tuy nhiên, có thể cho trẻ ăn thức ăn bổ sung vào bất cứ thời gian nào sau 4 tháng tuổi nếu trẻ phát triển kém Thực hành ăn sam tốt bao gồm lựa chọn thức ăn giầu chất dinh dưỡng và chế biến hợp vệ sinh Lựa chọn thức ăn bổ sung dựa vào chế độ ăn và thực phẩm an toàn sẵn
có tại địa phương Cùng với sữa mẹ hoặc sữa khác, phải cho trẻ ăn thức ăn nghiền nhỏ và bổ sung thêm trứng, thịt, cá và hoa quả Những thức ăn khác phải nấu nhừ,
có rau và cho thêm dầu ăn (5 -10ml/bữa) [3]
Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ
Trẻ bị suy dinh dưỡng có nguy cơ bị tiêu chảy cao hơn, nặng hơn, kéo dài và thường xuyên hơn Những đợt tiêu chảy lặp đi lặp lại đặt trẻ em vào một nguy cơ tình trạng dinh dưỡng ngày càng xấu đi do giảm lượng thức ăn và giảm hấp thu dinh dưỡng, kết hợp với tăng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong giai đoạn tái phát
Tiêu chảy thường dẫn đến còi xương ở trẻ em do nó đi kèm với sự hấp thụ chất dinh dưỡng kém và mất cảm giác ngon miệng Các nguy cơ còi xương ở trẻ em
đã được chứng minh là làm tăng đáng kể với mỗi đợt của tiêu chảy, và kiểm soát tiêu chảy, đặc biệt là trong sáu tháng đầu đời có thể giúp giảm tỷ lệ thấp còi ở trẻ
em [3], [42]
Sử dụng nước sạch
Những cải tiến trong việc tiếp cận với nước sạch và vệ sinh môi trường cùng với việc đẩy mạnh thực hành vệ sinh tốt (đặc biệt là rửa tay bằng xà phòng), có thể giúp ngăn ngừa tiêu chảy ở trẻ em Trong thực tế, ước tính có khoảng 88% các ca tử vong trên toàn thế giới do tiêu chảy là do nước không an toàn, vệ sinh kém
Có thể giảm nguy cơ tiêu chảy bằng sử dụng nước sạch Gia đình cần:
Trang 21- Chứa nước trong chum, vại được rửa sạch hàng ngày, có nắp đậy Không
để người và động vật uống nước trực tiếp ở chum vại Dùng gáo cán dài để múc nước, không chạm tay vào nước
- Nếu sẵn chất đốt thì sử dụng nước đã đun sôi cho trẻ uống và chế biến thức
ăn Nước chỉ cần đun sôi chứ không cần đun sôi kéo dài tốn chất đốt
Khối lượng và chất lượng nước dự trữ trong gia đình có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy Nếu có thể thì để một lượng nước lớn sử dụng cho vệ sinh, còn nguồn nước sạch nhất thì chứa riêng dùng để uống và chế biến thức ăn [3]
Rửa tay với xà phòng thường quy
Tất cả các nguyên nhân gây tiêu chảy được truyền bằng tay khi bị nhiễm bẩn phân Nguy cơ của tiêu chảy giảm đi khi thành viên gia đình thực hành rửa tay Tất
cả thành viên trong gia đình cần phải rửa tay của họ thật kỹ sau khi đi ngoài, sau khi
vệ sinh cho trẻ đi ngoài, sau khi dọn phân cho trẻ, trước khi chuẩn bị thức ăn và trước khi ăn Các nghiên cứu cho thấy rằng rửa tay bằng xà phòng có hiệu quả ngay
cả trong các khu ổ chuột đông đúc và ô nhiễm cao trong các nước đang phát triển [3], [44]
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng rửa tay bằng nước một mình là rất ít hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh thay vì sử dụng xà phòng Xà phòng phá vỡ dầu mỡ
và bụi bẩn mang mầm bệnh và các mầm bệnh gây bệnh Sử dụng xà phòng cũng làm tăng thời gian dành cho việc rửa tay so với rửa một mình nước [3], [42]
Thực phẩm an toàn
Thực phẩm dễ nhiễm các tác nhân gây tiêu chảy trong tất cả các khâu từ sản xuất đến chế biến thức ăn bao gồm: nuôi trồng có sử dụng phân tươi, mua bán nơi công cộng (chợ), chế biến thức ăn tại nhà hoặc quán ăn và bảo quản thức ăn sau chế biến [3] Bộ Y tế khuyến nghị về nguyên tắc chế biến thức ăn như sau:
- Không ăn thực phẩm sống, trừ những rau quả đã bóc vỏ và phải ăn ngay
- Rửa tay kỹ với xà phòng sau đi ngoài và trước khi chế biến thức ăn hoặc ăn
HUPH
Trang 22- Nấu kỹ thức ăn
- Ăn thức ăn nóng hoặc hâm kỹ lại trước khi ăn
- Rửa sạch và làm khô tất cả dụng cụ trước, sau khi nấu và ăn
- Bảo quản thức ăn đã chế biến vào dụng cụ sạch riêng biệt để tránh nhiễm bẩn
- Sử dụng lồng bàn để tránh ruồi
Sử dụng nhà tiêu và xử lý phân an toàn
Môi trường mất vệ sinh làm lan rộng các tác nhân gây tiêu chảy Những tác nhân này được bài tiết từ phân làm lây nhiễm cho người và động vật Xử lý phân đúng hạn chế lây nhiễm Phân làm nhiễm bẩn nguồn nước nơi trẻ chơi, nơi bà mẹ giặt quần áo và nơi lấy nước dùng cho gia đình Các gia đình cần quan tâm đến chất lượng và vệ sinh của nhà tiêu Nếu nhà tiêu không đạt tiêu chuẩn thì phải đại tiện vào hố và chôn phân ngay sau khi đại tiện Phân của trẻ em thường chứa tác nhân gây tiêu chảy, phải thu dọn, đổ vào nhà tiêu hoặc chôn ngay sau khi đi ngoài [3]
Phòng bệnh bằng vắc xin
Phải tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo lịch tiêm chủng mở rộng Tiêm phòng sởi có thể giảm tỷ lệ mắc và mức độ trầm trọng của tiêu chảy Tất cả trẻ em cần tiêm phòng sởi ở độ tuổi khuyến nghị Sởi là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính Nhưng ở một số trẻ em, đặc biệt là những trẻ bị suy dinh dưỡng hoặc bị tổn thương hệ thống miễn dịch, có thể gặp tác dụng phụ nghiêm trọng, trong đó có tiêu chảy Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tủ vong liên quan với bệnh sởi trên toàn thế giới [3], [42]
Rota vi rut: được ước tính gây ra khoảng 40% tất cả các trường hợp nhập viện do tiêu chảy trên toàn thế giới- dẫn đến 100 triệu ca nhập viện do tiêu chảy cấp mỗi năm mà kết quả là 350.000-600.000 trẻ em tử vong Rota vi rut đã triển khai ở các nước phát triển cho thấy hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do rota vi rut rất tốt Hiện nay, có nhiều dạng chế phẩm vắc xin phòng rota vi rut, liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và Chương trình tiêm chủng quốc gia Từ
HUPH
Trang 23tháng 6 năm 2009, Tổ chức Y tế thế giới đã chính thức khuyến cáo đưa vắc xin Rota vi rút vào trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em trên toàn cầu Việt Nam đang cân nhắc việc đưa vắc xin phòng rota vi rút vào trong chương trình Tiêm chủng mở rộng trong tương lai [3], [44]
Vắc xin tả uống và vắc xin thương hàn được chỉ định sử dụng cho những vùng có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của Cục Y tế Dự phòng và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia
Bổ sung vi chất dinh dưỡng
Bổ sung Vitamin A là một biện pháp phòng ngừa quan trọng, và các nghiên cứu đã cho thấy giảm tỷ lệ tử vong từ 19% đến 54% ở nhận được nhận bổ sung Bổ sung vitamin A cũng đã được chứng minh là giảm thời gian, mức độ nghiêm trọng
và các biến chứng liên quan đến tiêu chảy[2] Theo báo cáo MICS 2006, chỉ có 54,6% trẻ từ 6-59 tháng tuổi được uống vitamin A trong vòng 6 tháng Tỷ lệ bà mẹ được uống Vitamin A trong vòng 8 tuần sau đẻ chỉ có 47% ở thành thị còn nông thôn tỷ lệ này chỉ có 28% Theo phó giáo sư Lê Danh Tuyên viện dinh dưỡng quốc gia chỉ cần bổ sung một liều vitamin A sau khi sinh có thể đủ cho bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu [2], [3]
Bổ sung kẽm đầy đủ ở trẻ em là rất quan trọng cho sự tăng trưởng là phát triển bình thường của trẻ Thử nghiệm bổ sung gần đây đã chỉ ra rằng đủ kẽm dẫn đến giảm đáng kể trong trường hợp tiêu chảy ở trẻ em Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy quá trình điều trị từ 10 đến 14 ngày với kẽm có hiệu quả làm giảm thời gian và mức độ nghiêm trọng của bệnh tiêu chảy kéo dài và cấp tính [42], [43] 1.3 MỘT SỐ LƯU Ý CHĂM SÓC KHI TRẺ MẮC TIÊU CHẢY
Khi mắc tiêu chảy, cơ thể trẻ sẽ mất nhiều nước và giảm hấp thu các chất dinh dưỡng dẫn tới suy dinh dưỡng Do vậy, bà mẹ cần được hướng dẫn cách dự phòng mất nước tại nhà bằng cách cho trẻ uống thêm dịch nhiều hơn bình thường Dự phòng suy dinh dưỡng bằng tiếp tục cho trẻ ăn, uống kẽm và những dấu hiệu cần mang trẻ trở lại cơ sở y tế Những bước này được tóm tắt trong 4 nguyên tắc điều trị sau[3]
HUPH
Trang 24Nguyên tắc 1: Cho trẻ uống nhiều dịch hơn bình thường để phòng mất nước
Những loại dịch thích hợp
Các loại dịch này có thể chia thành hai nhóm và phần lớn các loại dịch trẻ thường dùng đều có thể sử dụng
Các dung dịch chứa muối
- ORS (ORS nồng độ thẩm thấu thấp)
- Dung dịch có vị mặn (ví dụ như nước cháo muối, nước cơm có muối)
- Súp rau quả hoặc súp gà, súp thịt
Các dung dịch không chứa muối
Nguyên tắc 2: Tiếp tục cho trẻ ăn để phòng suy dinh dưỡng
Khẩu phần ăn hàng ngày nên được tiếp tục và tăng dần lên Không được hạn chế trẻ ăn và không nên pha loãng thức ăn Nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ thường xuyên Phần lớn trẻ tiêu chảy phân nước sẽ thèm ăn trở lại ngay khi được bù đủ nước Trái lại, những trẻ tiêu chảy phân máu thường kém ăn kéo dài hơn cho đến
HUPH
Trang 25khi bệnh thuyên giảm Những trẻ này cần được khuyến khích ăn lại chế độ ăn bình thường càng sớm càng tốt
Cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng giúp cơ thể tiếp tục tăng trưởng, hồi phục nhanh cân nặng và chức năng đường ruột, gồm khả năng tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng Trái lại những trẻ ăn kiêng hoặc thức ăn pha loãng sẽ bị giảm cân, thời gian tiêu chảy kéo dài hơn và chức năng đường ruột phục hồi chậm hơn
Nguyên tắc 3: Cho trẻ uống bổ sung kẽm (10mg; 20mg) hàng ngày trong 10 - 14 ngày
Các bà mẹ được khuyến nghị là nên cho trẻ uống kẽm càng sớm càng tốt ngay khi tiêu chảy bắt đầu Kẽm sẽ làm rút ngắn thời gian và mức độ trầm trọng của tiêu chảy Kẽm rất quan trọng cho hệ thống miễn dịch của trẻ và giúp ngăn chặn những đợt tiêu chảy mới trong vòng 2 - 3 tháng sau điều trị Kẽm giúp cải thiện sự ngon miệng và tăng trưởng
- Trẻ < 6 tháng tuổi: 10mg/ngày, trong vòng 10 - 14 ngày
- Trẻ ≥ 6 tháng tuổi: 20mg/ngày, trong vòng 10 - 14 ngày Nên cho trẻ uống kẽm lúc đói
Nguyên tắc 4: Đưa trẻ đến khám ngay khi trẻ có một trong những biểu hiện sau:
- Đi ngoài rất nhiều lần phân lỏng (đi liên tục)
- Nôn tái diễn
- Trở nên rất khát
- Ăn uống kém hoặc bỏ bú
- Trẻ không tốt lên sau 2 ngày điều trị
- Sốt cao hơn
- Có máu trong phân
HUPH
Trang 261.4 TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.4.1 Trên thế giới
Tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tỷ lệ mắc và tử vong cao ở trẻ em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2003 có khoảng 1,87 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong
do tiêu chảy, trong đó 80% là trẻ từ 0-2 tuổi Trung bình, trẻ dưới 3 tuổi mắc từ 3 đến 4 đợt tiêu chảy, thậm chí có những trẻ bị 8-9 đợt mỗi năm Theo đánh giá gánh nặng bệnh tật năm 2013 của WHO, tiêu chảy chiếm 14% các nguyên nhân tử vong
ở trẻ dưới 5 tuổi và là nguyên nhân phổ biến thứ 2 gây tử vong ở lứa tuổi này đặc biệt là các nước đang phát triển Trên thế giới ước tính mỗi năm có khoảng 1,7 tỉ trường hợp tiêu chảy mỗi năm và khoảng 760.000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy [26], [32], [45]
Trong hơn một thập kỷ qua kể từ năm 2000, các kế hoạch thực hiện trong việc giảm tỷ lệ tử vong bệnh viêm phổi và tiêu chảy ở trẻ em trên toàn thế giới đã tăng đáng kể Từ năm 2000 so với năm 2013, cộng đồng y tế thế giới toàn cầu đã thành công trong việc giảm số ca tử vong do viêm phổi và tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tương ứng bằng 44% và 55%[40] Theo ước tính tỷ lệ tử vong trẻ em mới nhất (công bố vào năm 2014 được tính đến năm 2013), viêm phổi và tiêu chảy gây ra hơn 1,5 triệu/năm tuổi tử vong trẻ em, lần lượt chiếm 15% và 9% số ca tử vong trong 6,3 triệu/năm xảy ra trên toàn cầu trong năm 2013, so với 1,6 triệu ca tử vong
ở năm 2012 Điều này có nghĩa rằng mỗi 20 giây, một người mẹ và người cha sẽ mất đi con của họ với bệnh tiêu chảy và viêm phổi, nhưng đó là bệnh có thể phòng ngừa được [42], [43]
Nghiên cứu của Siraj Fayaz Ahmed và cộng sự tại Ấn Độ năm 2008 được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế (IJHS) cho thấy tỷ lệ trẻ từ 6 – 11 tháng tuổi
và trẻ từ 12 – 23 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất trong trẻ dưới 5 tuổi lần lượt
có tỷ lệ là 19,2% và 12,4%; tỷ lệ này còn lớn hơn tỷ lệ của trẻ từ 36 – 47 tháng tuổi
và 48 – 59 tháng tuổi cộng lại (9,8%)[40] Năm 2013, một nghiên cứu về tương
HUPH
Trang 27quan của bệnh tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi tại Sudan của tác giả S Siziya, AS Muula cũng cho thấy rằng tỷ lệ trẻ từ 6 – 24 tháng tuổi và trẻ từ 24 – 35 tháng tuổi có nguy
cơ bị tiêu chảy cao gấp 1,5 lần và 1,17 lần so với trẻ dưới 6 tháng tuổi và trẻ 36 – 47 tháng tuổi [39]
1.4.2 Tại Việt Nam
Tiêu chảy hiện nay cùng với nhiễm khuẩn hô hấp cấp vẫn là hai nguyên nhân gây mắc bệnh và tử vong cao nhất ở trẻ em tại Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2005, bệnh tiêu chảy có nguồn gốc nhiễm khuẩn là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng bệnh tật và
tử vong ở Việt Nam Ở nước ta, tiêu chảy được đưa vào trong số 26 bệnh báo cáo thường xuyên Số ca bệnh tiêu chảy trong 6 tháng đầu năm 2014 ghi nhận 301.570 trường hợp mắc Riêng miền Bắc đã ghi nhận 85.404 ca mắc đứng thứ 3 trong số 5 bệnh mắc cao nhất Số ca tử vong ước tính (năm 2005) là 9600-12400 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi do tiêu chảy Trong năm 2005, ước tính chi phí điều trị trực tiếp cho những trường hợp tiêu chảy lên đến 3,1 triệu đô la Mỹ, 685.000 đô la cho chi phí trực tiếp khác và 1,5 triệu đô la dành cho chi phí gián tiếp Trong số trẻ dưới 5 tuổi, 15% sẽ phải nhập viên do tiêu chảy và 50% cần tới phòng khám [11]
Sau khi UNICEF và WHO ra báo cáo chung năm 2009 về hướng dẫn phòng
và điều trị tiêu chảy thì Việt Nam cũng đã ban hành quyết định 4121/QĐ-BYT năm
2009 về “tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em” do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định này đã hướng dẫn và quy định rất rõ ràng phương thức điều trị và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 5 tuổi tại gia đình và cộng đồng Quyết định này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi trong những năm qua
Về độ tuổi mắc bệnh theo nghiên cứu của Phạm Thọ Dược về sự phân bố tỷ
lệ tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi cho thấy bệnh mắc ở mọi nhóm tuổi, trong đó nhóm từ 12 đến dưới 24 tháng tuổi và từ 24 tháng tuổi đến dưới 36 tháng tuổi có tỷ
lệ mắc cao 15,5% và 13,6% tỷ lệ thấp ở nhóm dưới 6 tháng tuổi chiếm 2,7%[8] Nghiên cứu của Phạm Trung Kiên cho thấy tỷ lệ mới mắc tiêu chảy là 0,64 – 0,68
HUPH
Trang 28đợt trẻ/năm, lứa tuổi mắc tiêu chảy nhiều nhất là trẻ 6 – 17 tháng tuổi, tiêu chảy hay gặp ở thời điểm trẻ bắt đầu ăn bổ sung và ở nửa sau của thời kỳ bú mẹ[10] Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc năm 2007 tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy là 33,71% Hầu hết các đợt tiêu chảy của trẻ em thường xảy ra trong 2 năm đầu đời, nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất chiếm 70,79%[13] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc năm 2012 tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ dưới 2 tuổi trong 6 tháng là 26,5%, chủ yếu là đối tượng 6 -18 tháng tuổi chiếm 63,8%[14] Phan Quốc Bảo năm 2011 tại Huế tỷ lệ tiêu chảy ở trẻ dưới 24 tháng tuổi cao gấp 1,5 lần so với trẻ trên 24 tháng tuổi [1]
Vậy có thể thấy rằng tiêu chảy ở trẻ em trên thế giới cũng như tại Việt Nam tập trung nhiều ở nhóm dưới 5 tuổi, trong nhóm tuổi này thì trẻ từ 6 – 24 tháng tuổi
có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất
1.4.3 Kiến thức, thực hành về phòng và chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy của của bà
mẹ và một số yếu tố liên quan đến tình trạng mắc tiêu chảy của trẻ
Bà mẹ là người có vai trò quan trọng trong sự phát triển sức khỏe của trẻ ngay từ lúc mang thai cho đến khi trưởng thành Do vậy hiểu biết bà mẹ có nghĩa quan trọng với việc chăm sóc sức khỏe trẻ em, chỉ khi bà mẹ có kiến thức tốt thì mới có các biện pháp phòng bệnh tốt nhất, phát hiện sớm giúp cho việc xử trí đơn giản, ít tốn kém giúp trẻ phát triển khỏe mạnh và giảm khả năng mắc bệnh và tử vong của trẻ
Một số kết quả nghiên cứu về kiến thức về phòng và chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy của bà mẹ Nghiên cứu của Lưu Thị Minh Châu về thực trạng KAP của các bà mẹ đối với việc phòng chống tiêu chảy cấp cho thấy chỉ có 52,2% bà mẹ hiểu biết về biểu hiện của bệnh tiêu chảy cấp, 57,1% bà mẹ biết các dấu hiệu cần đưa trẻ tới trạm y tế khi trẻ nặng lên[7] Nguyễn Văn Tập (2007) nghiên cứu trên 1072 bà
mẹ có con dưới 24 tháng tuổi trong 2 tuần thì bà mẹ có kiến thức chung chưa đúng
về phòng tiêu chảy là 23,6% trong đó biết đúng về cách dự phòng là 7,84%[19] Nghiên cứu của Nguyễn Quang Vinh tại huyện Đắc Hà, Kon Tum năm 2007 cho biết tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi là 77,3% bà mẹ hiểu biết nguyên nhân tiêu
HUPH
Trang 29chảy kém thì trẻ có nguy cơ mắc tiêu chảy cao gấp 2,86 lần so với bà mẹ hiểu biết
về nguyên nhân gây bệnh tốt, hiểu biết về vệ sinh phòng bệnh tiêu chảy kém thì trẻ
có nguy cơ mắc tiêu chảy cao hơn gấp 3,13 lần so vói bà mẹ có hiểu biết tốt hơn (p<0,05); bà mẹ am hiểu về nguyên nhân gây bệnh thì có cách chăm sóc trẻ tiêu chảy tốt gấp 1,85 lần so với bà mẹ hiểu biết nguyên nhân tiêu chảy kém Có mối liên quan về trình độ học vấn, dân tộc của mẹ với hiểu biết về chắm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy [28]
Thực hành phòng và chăm sóc tiêu chảy của các bà mẹ trong một số nghiên cứu Nghiên cứu của Mbonye ở Sambabule tại Uganda cho thấy tỷ lệ tiêu chảy ở trẻ dưới 2 tuổi là 40,3%[37] Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy ở trẻ là trẻ không được tiêm chủng (OR=2,8), bà mẹ thiếu kiến thức pha ORS (OR=1,7), không rửa tay sau khi đi vệ sinh (OR=1,8) và không rửa tay trước khi chuẩn bị bữa ăn (OR=1,4) so với các nhóm khác [37] Nghiên cứu về dinh dưỡng và điều trị cho trẻ
6 – 24 tháng tuổi của Nguyễn Thanh Tuấn tỷ lệ trẻ tiêu chảy trong 2 tuần qua là 21%, chỉ có 1/3 số trẻ tiêu chảy được sử dụng ORS và 1/5 sử dụng được các loại dung dịch bù nước điện giải bằng đường uống khác, 59,8% trẻ dùng thuốc kháng sinh hoặc thuốc chống tiêu chảy [25]
Yếu tố liên quan tới tình trạng mắc tiêu chảy của trẻ được mô tả trong một số nghiên cứu Nghiên cứu tại Ấn Độ năm 2008 của S.F.Ahmed cho thấy trẻ ở nhóm tuổi từ 6-11 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất 19,2%, giới tính của trẻ không ảnh hưởng đáng kể về tỷ lệ nhiễm bệnh, nhưng trẻ trai (10,4%)dễ mắc tiêu chảy hơn cho với trẻ gái (8,1%) có ý nghĩa thống kê [40] Nghiên cứu này cũng tương đồng với nghiên cứu được tiến hành bởi Banerjee B và cộng sự tại Ấn Độ năm 2004, cho thấy cho tần suất của bệnh tiêu chảy là cao hơn đáng kể ở trẻ em trong nhóm 6 – 24 tháng tuổi, tỷ lệ mắc tiêu chảy của nghiên cứu này là 21,67% trong 2 tuần Nghiên cứu về trẻ dưới 5 tuổi tại Sudan năm 2013 cũng cho kết quả trẻ từ 6 -24 tháng tuổi
có nguy cơ mắc cao gấp 1,51 lần so với các nhóm tuổi khác [39]
HUPH
Trang 30Theo nghiên cứu của Trần Phan Quốc Bảo và cộng sự tại Huế năm 2011 cho thấy những yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê tới tiêu chảy ở trẻ em là: nghề nghiệp của mẹ, trình độ học vấn của mẹ, tuổi của mẹ, số con trong gia đình, vệ sinh nguồn nước, vệ sinh nhà tiêu, kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy, kiến thức của
bà mẹ phòng tiêu chảy, kiến thức của bà mẹ về chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy, thói quen rửa tay của bà mẹ, thời điểm ăn dặm, vệ sinh đầu vú trước khi cho trẻ bú[1] Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc và Phạm Văn Nhu tại Quảng Ngãi năm 2007 cũng đã cho thấy các mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kinh tế hộ gia đình, tuổi của mẹ, tuổi của trẻ, giới tính trẻ và kiến thức của bà mẹ về phòng và chăm sóc trẻ[14] Trong một nghiên cứu của Christopher S Yilgwan, SN Okolo tại Nigeria cho thấy có mối liên quan giữa tiêu chảy và học vấn thấp của bà mẹ, tình trạng bú
mẹ của trẻ và tỷ lệ mắc tiêu chảy trước đó của anh chị em trong gia đình[30].Các nghiên cứu tại South Ethiopia năm 2013 của Godanan W, Menqistie B cho thấy rằng sự xuất hiện tiêu chảy liên quan đáng kể với thiếu nhà vệ sinh OR=2,43, thiếu
xử lý nước tại nhà OR=2,25, thiếu nguồn nước được cải thiện OR=1,98 và tiêu thụ thực phẩm thừa ở nhiệt độ phòng không an toàn OR=1,65 Tiêu chảy cấp tính trẻ có
ý nghĩa thống kê với số con dưới 5 tuổi trong hộ gia đình OR=1,96, nghề nghiệp của mẹ và thu nhập gia đình có p<0,05; tiêu chảy cấp ở trẻ còn liên quan tới nguồn nước, chăm sóc cho uống nước tại nhà và xử lý phân trẻ có p<0,001 [31]
1.5 GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Xã Minh Khai là một xã nằm ở phía Tây Bắc huyện Hoài Đức Dân số toàn xã
là 6.217 khẩu với 1434 hộ gia đình Dân cư sống dọc theo hai bên đê tả Đáy, địa bàn hành chính xã chia thành 7 thôn (4 thôn miền làng, 3 thôn miền bãi) trong đó có
3 thôn miền bãi nằm trong vùng phân lũ của sông Đáy Cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn
là nông nghiệp, ngoài ra xã còn có làng nghề làm miến, một trong 3 xã có nghề làm miến nổi tiếng lâu đời trong huyện Hoài Đức, Hà Nội, cung cấp sản phẩm cho cả nước Bên cạnh đó chính là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng do nước thải của các làng nghề chưa được xử lý triệt để là thách thức lớn trong công tác phòng chống dịch bệnh của xã Minh Khai cũng như của huyện Hoài Đức
HUPH
Trang 31Tại huyện Hoài Đức, mặc dù chương trình phòng chống tiêu chảy đã và đang được triển khai trong nhiều năm nay nhưng thời gian qua tình hình mắc tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi còn khá phổ biến trong cộng đồng Theo thống kê trạm Y
tế xã Minh Khai năm 2014 tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy của xã là 12,5% so với toàn huyện Tuy nhiên con số này chỉ phản ánh một phần trong cộng đồng do bà
mẹ lựa chọn cơ sở y tế rất đa dạng và nhiều trường hợp mắc tiêu chảy không được báo cáo.Tính đến cuối năm 2014 tổng số trẻ từ 6-24 tháng tuổi trên địa bàn xã là
230 trẻ Theo số liệu giám sát tại trạm Y tế xã thì số trường hợp trẻ mắc tiêu chảy dưới 5 tuổi đến khám và điều trị không có dấu hiệu giảm xuống thậm chí còn tăng lên Năm 2012 có 130 trẻ mắc, năm 2013 là 155 trường hợp trong đó số trẻ dưới 2 tuổi mắc lần lượt là 80 và 107 trường hợp, đến năm 2014 đã ghi nhận 120 trường hợp trẻ dưới 2 tuổi mắc Các nghiên cứu trước cũng chỉ ra rằng ngoài các yếu tố cá nhân trẻ thì các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ là nhân tố quan trọng trong việc phòng và chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy Trong 10 năm trở lại đây, chưa có nghiên cứu hay báo cáo nào tìm hiểu về thực trạng và các mối liên quan đến bệnh tiêu chảy của trẻ 6 – 24 tháng tuổi tại xã Minh Khai Vậy tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ 6 -24 tháng tuổi tại xã Minh Khai là bao nhiêu? Kiến thức, thực hành của bà mẹ có con từ 6 – 24 tháng tuổi về phòng bệnh và chăm sóc trẻ khi mắc tiêu chảy tại xã Minh Khai như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh liên quan tới tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ 6 – 24 tháng tuổi tại xã Minh Khai? Đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc trên, học viên tiến hành nghiên cứu tại huyện Hoài Đức với đề tài “Thực trạng tiêu chảy ở trẻ 6- 24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 2015”, từ đó đề xuất các giải pháp truyền thông, can thiệp phù hợp nhằm dự phòng, chăm sóc trẻ từ 6-24 tháng tuổi mắc tiêu chảy trên địa xã Minh Khai, huyện Hoài Đức[22], [23], [24]
HUPH
Trang 32KHUNG LÝ THUYẾT
Bà mẹ
Tình trạng mắc tiêu chảy ở trẻ 6 – 24 tháng tuổi
Đặc điểm nhân khẩu học bà mẹ:
Tuổi, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, điều kiện kinh tế,
Kiến thức của bà mẹ về phòng và
chăm sóc khi trẻ mắc tiêu chảy:
phòng bệnh (nuôi con bằng sữa
mẹ, ăn sam/ăn dặm, vệ sinh cá
nhân trẻ và bà mẹ, nguyên tắc chế
biến thức ăn, bảo quản và vệ sinh
dụng cụ ăn uống, tiêm chủng và
uống vitamin A), chăm sóc (cho
trẻ ăn, cho uống, cho bú, nguồn
dịch bổ sung, loại thức ăn cho trẻ
ăn, bổ sung kẽm, dấu hiệu nhận
biết đưa trẻ tới trạm y tế)
mẹ, nguyên tắc chế biến thức ăn,
bảo quản và vệ sinh dụng cụ ăn
uống, tiêm chủng và uống
vitamin A), thực hành chăm sóc
(xử trí ban đầu, cho trẻ ăn, cho
uống, cho bú, nguồn dịch bổ
sung, loại thức ăn cho trẻ ăn,kẽm)
Cá nhân trẻ Tuổi , giới, cân nặng sơ sinh, thứ tự trẻ trong gia đình, tình trạng mắc tiêu chảy của trẻ
Điều kiện vệ sinh hộ gia đình
Nguồn nước ăn uống , loại nhà tiêu sử dụng, loại nền nhà
Một số yếu tố liên quan khác
Truyền thông về phòng
và chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy
HUPH
Trang 33Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Trẻ từ 6–24 tháng tuổi
Đối tượng trẻ 6–24 tháng tuổi được lựa chọn nhằm xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy trong 2 tuần qua của trẻ (trẻ sinh từ 01/04/2013-01/10/2014)
Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Trẻ đang sinh sống trên địa bàn xã Minh Khai, huyện Hoài Đức + Trẻ sống cùng với mẹ và mẹ là người chăm sóc chính
Người chăm sóc chính là người trực tiếp chế biến, xử lý thức ăn, chăm sóc cho trẻ ăn, uống, vệ sinh cá nhân, chăm sóc khi trẻ mắc bệnh
Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Trẻ không sống cùng mẹ 2.1.2 Bà mẹ có con từ 6–24 tháng tuổi
Bà mẹ có con từ 6–24 tháng tuổi được lựa chọn dựa trên thông tin từ danh sách các trẻ đã được lựa chọn ở trên
Tiêu chuẩn chọn lựa đối tượng
- Bà mẹ có con từ 6–24 tháng tuổi tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội (có hộ khẩu thường trú tại huyện Hoài Đức từ 6 tháng trở lên)
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đối tượng có khả năng trả lời phỏng vấn
- Đối tượng không mắc các bệnh liên quan đến tâm thần kinh, alzheimer, mất kiểm soát hành vi
Tiêu chuẩn loại trừ
- Từ chối tham gia nghiên cứu
- Bà mẹ không phải là người trực tiếp chăm sóc trẻ (điều tra viên hỏi bà mẹ nếu không phải là người trực tiếp chăm sóc trẻ trong vòng 6 tháng trở lại đây sẽ loại trừ đối tượng)
- Đối tượng vắng mặt sau 3 lần tiếp cận
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
HUPH
Trang 34Thời gian: Từ tháng 10/2014 – 9/2015
Địa điểm: Tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, có phân tích
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên đơn:
2
2 2 /
p Z
Trong đó:
n: là cỡ mẫu cần điều tra
Z: là độ tin cậy lấy ở ngưỡng xác suất = 0,05 Z 1-α/2 = 1,96
p: tỷ lệ trẻ 6 – 24 tháng bị tiêu chảy trong vòng 2 tuần, p=0, 141 là tỷ lệ trẻ dưới 24 tháng mắc tiêu chảy trong vòng 2 tuần qua theo: Nghiên cứu các yếu tố liên quan tới tiêu chảy của trẻ dưới 5 tuổi tại thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011 Kết quả nghiên cứu được trình bày theo nhóm tuổi của trẻ, bao gồm nhóm trẻ dưới 2 tuổi [1]
d: sai số chấp nhận được , d = 0,05
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ta được n=186 và dự phòng 10% đối tượng không tham gia nghiên cứu, không đủ tiêu chuẩn Cỡ mẫu làm tròn cần chọn là 210 trẻ Tương ứng, cỡ mẫu đối với bà mẹ có con từ 6 – 24 tháng tuổi lựa chọn nghiên cứu là 210 bà mẹ Trên thực tế nghiên cứu đã chọn toàn bộ 216 bà mẹ phù hợp tiêu chuẩn nghiên cứu
2.4.2 Cách chọn mẫu
Trong 230 trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Minh Khai nghiên cứu đã chọn toàn bộ
216 bà mẹ phù hợp với tiêu chuẩn nghiên cứu Đối với bà mẹ có từ hai con từ 6 –
24 tháng tuổi trở lên thu thập thông tin về trẻ có số tháng tuổi nhỏ nhất
2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
HUPH
Trang 352 5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Công cụ thu thập số liệu: sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để phỏng vấn bà
mẹ về tình trạng mắc tiêu chảy của trẻ, thông tin kiến thức, thực hành về phòng tiêu chảy và các yếu tố liên quan Bảng kiểm thiết kế sẵn để điều tra viên điền trong lúc phỏng vấn, quan sát
- Phương pháp: phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình và quan sát bằng bảng kiểm (điều tra viên trực tiếp quan sát và tích vào bảng kiểm)
- Điều tra viên: nghiên cứu viên và 2 cán bộ y tế thôn thuộc trạm y tế xã Minh Khai Điều tra viên được tập huấn và giám sát trước khi phỏng vấn và trong suốt quá trình thu thập số liệu
- Sử dụng kiểm định khi bình phương, kiểm định Fisher Exact để xác định mối liên quan đến tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ 6-24 tháng tuổi, sử dụng tỷ số chênh OR để đo lường độ mạnh của mối liên quan
2.6 Biến số nghiên cứu
HUPH
Trang 36Đánh giá thực hành: Mỗi câu trả lời đạt được 1 điểm, khi trả lời được từ 50% trở lên số điểm của câu thì được đánh giá là đạt Khi trả lời dưới 50% số điểm của câu là không đạt Phần thực hành từ câu C1-C22, vậy có 22 câu Tổng điểm phần này là 22 điểm Trả lời đạt từ 1/2 số điểm, tương đương số điểm từ 11 điểm trở lên được đánh giá là đạt, dưới 11 điểm là không đạt
Cách đánh giá nguồn nước hợp vệ sinh (phụ lục 3)
(Dựa theo thông tư hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình, số 15/2006/TT-BYT quy định)
Nước giếng đào: 0 điểm: chưa có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; 1 - 4 điểm: Có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; ≥ 5 điểm: Có nguy cơ cao gây ô nhiễm nguồn nước
Đối với nguồn nước giếng khoan độ sâu mực nước 10m trở lên : 0 điểm: chưa có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; 1điểm: Có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; ≥ 2 điểm: Có nguy cơ cao gây ô nhiễm nguồn nước
Đối với nguồn nước là các bể chứa nước mưa : 0 điểm: chưa có nguy cơ gây
ô nhiễm nguồn nước; 1 - 4 điểm: Có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; ≥ 5 điểm:
Có nguy cơ cao gây ô nhiễm nguồn nước
Đối với nguồn nước là các bể chứa nước, chum vại, lu, khạp… : 0 điểm: chưa có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; 1 - 2 điểm: Có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; ≥ 3 điểm: Có nguy cơ cao gây ô nhiễm nguồn nước
Ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 theo quyết định số 03/NQ-CP năm 2010 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nướcnhư sau:
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuông
HUPH
Trang 37Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đến 520.000 đồng/người/tháng
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 510.000 đồng tới 650.000 đồng/người/tháng
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ được triển khai khi đã được hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua
- Nghiên cứu không có vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không ảnh hưởng đến tâm
lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Đối tượng được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu trước khi trả lời và đồng ý tham gia nghiên cứu Đối tượng có thể từ chối tham gia nghiên cứu nếu thấy không thích hợp
- Mọi thông tin về đối tượng nghiên cứu, số liệu của cuộc điều tra, phỏng vấn sẽ được giữ kín để đảm bảo tính riêng tư của đối tượng nghiên cứu
- Các số liệu chỉ dùng vào mục đích nghiên cứu, kết quả nghiên cứu nhằm đề xuất nâng cao sức khỏe nhân dân không phục vụ cho mục đích khác Kết quả nghiên cứu là cơ sở đưa ra các khuyến nghị có tính khả thi trong công tác phòng chống bệnh tiêu chảy tại địa phương
2.9 Hạn chế trong nghiên cứu và các biện pháp khắc phục
- Nghiên cứu chỉ tiến hành trên bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi mà chưa tiến hành trên toàn bộ đối tượng, chỉ tiến hành trên một xã huyện Hoài Đức nên kết quả chỉ có giá trị thực tiễn cho địa bàn nghiên cứu, không thể đại diện cho toàn huyện
- Sai số nhớ lại của người trả lời : có thể hạn chế bằng thiết kế câu hỏi chặt chẽ, tiến hành kiểm tra chất lượng thông tin của bộ công cụ trước khi tiến hành nghiên cứu Sau khi thử nghiệm bộ câu hỏi phải được chỉnh sửa và bổ sung cho phù hợp với nội dung nghiên cứu, tạo môi trường phỏng vấn thích hợp
- Sai số do người thu thập số liệu : có thể khắc phục bằng tập huấn kỹ năng điều tra viên, các biến số phải được định nghĩa rõ ràng dễ hiểu, giám sát viên phải hiểu
rõ mục đích thực hiện đề tài, có kinh nghiệm thực hiện công tác điều tra và giám sát bệnh tiêu chảy Giám sát chặt chẽ từng bước khi điều tra thu thập ở cộng đồng
HUPH
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ 6-24 tháng tuổi
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của trẻ (n=216)
Bảng 3.1 Thông tin nhân khẩu học của trẻ
Qua bảng 3.1 ta thấy tỷ lệ trẻ 6-12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 42,6%, nhóm tuổi
13-18 tháng và nhóm tuổi trẻ 19-24 tháng chiếm tỷ lệ tương đương nhau ứng với 29,6% và 27,8% Tỷ lệ giới tính của trẻ trong nghiên cứu gần tương đương nhau với 47,7% trẻ nam, 52,3% trẻ nữ Đa số trẻ trong nghiên cứu có cân nặng sơ sinh từ 2500g trở lên chiếm tới 95,8%, chỉ có 4,2% trẻ có cân nặng sơ sinh dưới 2500g Trẻ
là con thứ 2 trở lên trong gia đình chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ là con một trong gia đình tương ứng với 58,3% và 41,7%
Thông tin chung của trẻ Tấn số Tỷ lệ (%)
Trang 393.1.2 Tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ 6-24 tháng tuổi
Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ trong 2 tuần qua
Tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ Tiêu chảy trong 2 tuần qua
Số trẻ mắc Tỷ lệ (%) Trẻ mắc tiêu chảy Có 48 22,2
Qua bảng 3.2 ta thấy trong số 216 trẻ được điều tra có 48 trẻ mắc tiêu chảy trong 2 tuần qua với tỷ lệ 22,2%
Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ theo giới và tuổi
Qua bảng 3.3 ta thấy tỷ lệ mắc tiêu chảy trong 2 tuần qua ở trẻ nam (12,5%) cao hơn so với trẻ nữ (9,72%) Kết quả cũng cho thấy ở độ tuổi 6-12 tháng, trẻ có tỷ lệ mắc tiêu chảy cao nhất 12,5%, thấp hơn ở hai nhóm 13-18 tháng và 19-24 tháng, tỷ
lệ mắc của trẻ ở hai nhóm này tương đương nhau tương ứng là 4,63% và 5,09%
Phân bố giới tính và tuổi của trẻ mắc tiêu chảy
trong 2 tuần qua
n Số trẻ
mắc
Tỷ lệ (%)
Trang 403.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng và chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy 3.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
Bảng 3.4 Thông tin nhân khẩu học của bà mẹ (n=216)
Thông tin chung của bà mẹ Tần số Tỷ lệ (%)
HUPH