1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ mầm non 3 5 tuổi trên địa bàn thành phố mỹ tho năm 2018 và một số yếu tố liên quan

124 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ mầm non 3-5 tuổi trên địa bàn thành phố Mỹ Tho năm 2018 và một số yếu tố liên quan
Tác giả Trần Ngọc Ngân Hà
Người hướng dẫn TS. Lê Quang Trí
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế Công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 3,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG TRẦN NGỌC NGÂN HÀ TÌNH TRẠNG THỪA CÂN-BÉO PHÌ Ở TRẺ MẦM NON 3-5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ MỸ THO NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN NGỌC NGÂN HÀ

TÌNH TRẠNG THỪA CÂN-BÉO PHÌ Ở TRẺ MẦM NON 3-5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ MỸ THO

NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

MỤC LỤC

Contents

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.Tổng quan về thừa cân-béo phì 4

1.1.1 Định nghĩa thừa cân-béo phì 4

1.1.2 Cách đánh giá tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ em 4

1.1.3 Sinh lý bệnh 5

1.1.4 Nguyên nhân thừa cân-béo phì trẻ em 5

1.2 Tình trạng thừa cân-béo phì trên thế giới và Việt Nam 7

1.2.1.Tình hình thừa cân-béo phì trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình thừa cân-béo phì tại các nước phát triển 8

1.2.3 Tình hình thừa cân-béo phì tại các nước đang phát triển 8

1.2.4 Tình hình thừa cân-béo phì tại Việt Nam 10

1.2.5.Tình trạng thừa cân-béo phì tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: 11

1.3.Tình trạng dinh dưỡng tại địa bàn nghiên cứu 11

1.4 Yếu tố nguy cơ TC-BP ở trẻ em lứa tuổi học đường 12

1.4.1 Các yếu tố liên quan đến trẻ 13

1.4.2.Yếu tố gia đình 16

1.4.3 Kinh tế-văn hóa-xã hội 17

1.4.4 Địa dư 18

1.5 Thông tin địa bàn nghiên cứu 18

1.5.1 Thông tin chung 18

1.5.2 Số trường học, số học sinh và tình trạng dinh dưỡng Mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho 19

KHUNG LÝ THUYẾT 20

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

HUPH

Trang 4

2.2.1.Thời gian nghiên cứu: 21

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: 21

2.3.Thiết kế nghiên cứu: 21

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu: 21

2.5 Phương pháp chọn mẫu 22

2.6 Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu 23

2.6.1 Mục tiêu 1 23

2.6.2 Mục tiêu 2 24

2.6.3 Công cụ thu thập số liệu: 24

2.7 Xử lý và phân tích dữ liệu 25

2 8 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 26

2.9 Hạn chế nghiên cứu, sai số, biện pháp khắc phục 27

2.9.1 Sai lệch trong việc cân trọng lượng và đo chiều cao của học sinh 27

2.9.2 Sai lệch thông tin từ phía người được điều tra do sai lệch hồi tưởng hoặc không hợp tác 27

2.9.3 Sai số nhớ lại trong điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm 27

2.9.4 Sở thích của trẻ được đánh giá khách quan bởi cha, mẹ của trẻ 27

2.9.5 Không điều tra khẩu phần ăn của trẻ 27

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Thông tin chung 28

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 28

3.1.2 Tần suất tiêu thụ thực phẩm 30

3.1.3 Đánh giá kiến thức của phụ huynh về TC-BP 33

3.2 Tình trạng thừa cân-béo phì 35

3 3 Một số yếu tố liên quan đến thừa cân-béo phì 37

3.3.1.Mối liên quan giữa TC-BP của trẻ với đặc điểm nhân khẩu học 37

3.3.2 Mối liên quan giữa TC-BP của trẻ theo các đặc tính nghề nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ, yếu tố gia đình, di truyền 40

3.3.3 Mối liên quan giữa TC-BP ở trẻ với thói quen ăn uống của trẻ 42

3.3.4 Liên quan giữa thừa cân béo phì với chế độ vận động của trẻ 46

3.3.5 Liên quan giữa TC-BP với nơi cư trú 47

HUPH

Trang 5

3.3.6 Liên quan giữa chính sách kinh tế, xã hội với TC-BP 48

3.3.7 Mối liên quan giữa kiến thức của phụ huynh và TC-BP 49

3.3.8 Phân tích hồi quy đa biến 50

Chương 4: BÀN LUẬN 52

4.1 Tình trạng thừa cân- béo phì ở trẻ mầm non 3-5 tuổi tại thành phố Mỹ Tho năm 2018 52

4.2 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ mầm non 3-5 tuổi 54

4.2.1 Liên quan giữa TC-BP của trẻ với đặc điểm nhân khẩu học 54

4.2.2 Liên quan giữa TC-BP với các yếu tố gia đình 56

4.2.3 Mối liên quan giữa TC-BP ở trẻ với thói quen ăn uống của trẻ 58

4.2.4 Liên quan giữa TC-BP và hoạt động thể lực của trẻ 62

4.2.5 Liên quan giữa TC-BP và nơi cư trú của trẻ 63

4.2.6 Liên quan giữa TC-BP với hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội 63

4.2.7 Liên quan kiến thức của phụ huynh về TC-BP với TC-BP của trẻ 64

4.2.8 Liên quan giữa các yếu tố khi phân tích đa biến 64

4.2.9 Điểm mạnh và điểm yếu của đề tài 64

Chương 5: KẾT LUẬN 66

5.1.Tình trạng thừa cân- béo phì ở trẻ mầm non từ 3-5 tuổi trên địa bàn thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang 66

5.2.Một số yếu tố liên quan tới tình trạng thừa cân- béo phì ở trẻ mầm non từ 3-5 tuổi trên địa bàn thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang 66

Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 68

6.1 Đối với trường học 68

6.2 Đối với Ngành giáo dục và Ngành Y tế địa phương 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Phụ lục 1: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 79

Phụ lục 2: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU NHÂN TRẮC 86

Phụ lục 3: PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG TC-BP 87

VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN 87

Phụ lục 4: PHIẾU ĐIỀU TRA TẦN XUẤT TIÊU THỤ THỰC PHẨM 96

HUPH

Trang 6

Phụ lục 5: SỐ LỚP VÀ SỐ TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN: 100 Phụ lục 6: CÁCH CHỌN TRƯỜNG VÀ TRẺ NGHIÊN CỨU 102

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

HUPH

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1 1.Bản đồ thành phố Mỹ Tho 19

Biểu đồ 1 1.Biểu diễn xu hướng thừa cân - béo phì ở trẻ mầm non [58] 9

Biểu đồ 1 2 So sánh tỉ lệ TC-BP của TPMT 12

Biểu đồ 3 1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ nghiên cứu 36

Biểu đồ 3 2 Tình trạng thừa cân, béo phì theo tuổi 37

HUPH

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tỉ lệ thừa cân và béo phì vùng (> 2 SD cân nặng theo chiều cao trung

bình) ở trẻ em trong độ tuổi 0-5 tuổi, bởi Liên Hiệp Quốc (UN): 1990-2020 [59] 9

Bảng 1.2 Tỉ lệ thừa cân-béo phì 2000-2011 ở trẻ từ 0.5 đến 11 tuổi tại Việt Nam [24] 10

Bảng 2 1.Quy đổi tần suất tiêu thụ thực phẩm tương đương hàng ngày [106] 26

Bảng 3 1.Thông tin về nhân khẩu học của trẻ 28

Bảng 3 2 Thông tin cha, mẹ của trẻ tham gia trả lời phỏng vấn 28

Bảng 3 3 Tần suất tiêu thụ thực phẩm trung bình quy đổi theo ngày (lần/ngày) (TB ± SD) 30

Bảng 3 4 Thực trạng kiến thức của phụ huynh về TC-BP 33

Bảng 3 5 Cân nặng và chiều cao trung bình của trẻ tham gia nghiên cứu 35

Bảng 3 6 Tỉ lệ thừa cân, béo phì theo giới 36

Bảng 3 7 Tỉ lệ TC-BP theo khu vực sống 37

Bảng 3 8 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và TC-BP 37

Bảng 3 9 Mối liên quan giữa thứ tự sinh của trẻ và TC-BP 38

Bảng 3 10 Mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh của trẻ và TC-BP 39

Bảng 3 11 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở giai đoạn 39

Bảng 3 12 Mối liên quan đặc tính nghề nghiệp, trình độ học vấn 40

Bảng 3 13 Liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của cha, mẹ và TC-BP 41

Bảng 3 14 Mối liên quan thái độ của phụ huynh khi trẻ mập mạp, 42

Bảng 3 15 Mối liên quan giữa loại sữa bé sử dụng 42

Bảng 3 16 Mối liên quan giữa thói quen ăn uống của trẻ và TC-BP 43

Bảng 3 17 Mối liên quan giữa tần suất tiêu thụ thực phẩm và TC-BP (TB±SD) 45

Bảng 3 18 Mối liên quan giữa chế độ vận động của trẻ và TC-BP 46

Bảng 3 19 Liên quan giữa thời gian hoạt động tĩnh tại, thời gian vận động 47

Bảng 3 20 Mối liên quan giữa nơi cư trú và TC-BP của trẻ 47

Bảng 3 21 Liên quan giữa quảng cáo thực phẩm và TC-BP của trẻ 48

Bảng 3 22 Liên quan giữa hành vi của cha, mẹ với hoạt động giải trí 48

Bảng 3 23 Mối liên quan giữa kiến thức của phụ huynh và TC-BP của trẻ 49

Bảng 3 24 Mối liên quan giữa các yếu tố và TC-BP của trẻ 50

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Béo phì ở trẻ em đã trở thành một cuộc khủng hoảng toàn cầu về sức khoẻ cộng đồng [102] Trẻ em bị thừa cân-béo phì (TC-BP) thời thơ ấu sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe như nguy cơ tim mạch, sức khoẻ tâm thần kém: trẻ bị tự ti, thụ động,… Thừa cân-béo phì đặt ra một gánh nặng kinh tế đáng kể về

hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn cầu Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ mầm non 3-5 tuổi trên địa bàn thành phố Mỹ Tho năm

2018 và một số yếu tố liên quan ” nhằm xây dựng biện pháp can thiệp và phòng ngừa sớm TC-BP ở trẻ nhỏ tránh những gánh nặng bệnh tật, gánh nặng tâm lý cho trẻ khi trưởng thành

Mục tiêu: Mô tả tình trạng thừa cân-béo phì ở và xác định một số yếu tố liên

quan đến tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ mầm non từ 3-5 tuổi tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2018

Phương pháp: Nghiên cứu với thiết kế cắt ngang mô tả và phân tích được

tiến hành trên 397 trẻ cùng cha, mẹ trẻ đang học tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho Sử dụng bộ câu hỏi điều tra, cân đo nhân trắc, sau đó sử dụng phần mềm WHO Anthro và WHO AnthroPlus, SPSS 22.0 để nhập và phân tích số liệu

Kết quả: Tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì ở trẻ từ 3-5 tuổi trên địa bàn nghiên cứu

là 30 % (14.6% là thừa cân và 15.4% là béo phì) Tỉ lệ thừa cân, béo phì của nam là 38,7% gấp 1,67 lần tỉ lệ thừa cân, béo phì của nữ 23,2% Tỉ lệ thừa cân, béo phì ở nhóm 3 tuổi có tỉ lệ thấp nhất 20%, nhóm 4 tuổi 22,6%, nhóm 5 tuổi 54,4% Tỉ lệ TC-BP của trẻ sống ở vùng nội ô thành phố Mỹ Tho là 28% và vùng ven thành phố

Mỹ Tho là 31,9%

Trong nghiên cứu này tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố: Trẻ trai có tỉ lệ thừa cân béo phì cao gấp 2,1 lần trẻ gái; tỉ lệ thừa cân, béo phì có xu hướng tăng dần theo tuổi; trẻ có cân nặng sơ sinh <3500g có tỉ lệ thừa cân béo thấp hơn so với trẻ có cân nặng sơ sinh ≥ 3500g; trẻ bú sữa bình có tỉ lệ TC-BP cao hơn so với trẻ khác; trẻăn nhanh, nhiều; trẻ thích ăn đồ béo; trẻ thích ăn đồ ngọt; trẻ thích ăn thức

HUPH

Trang 11

ăn nhanh có tỉ lệ TC-BP cao hơn các trẻ khác Trẻ TC-BP có tần suất tiêu thụ sữa và sản phẩm từ sữa 2,4 lần/ngày so với trẻ bình thường là 2,87 lần/ngày Cha, mẹ bị TC-BP sinh con bị thừa cân, béo phì cao hơn so với trẻ có cha, mẹ không bị TC-BP Trẻ TC-BP có thời gian hoạt động tĩnh tại mỗi ngày lớn hơn trẻ bình thường là 23 phút

Kết luận: Tỉ lệ TC-BP ở trẻ mầm non tại thành phố Mỹ Tho rất cao và

tăng dần theo tuổi của trẻ, đây là vấn đề sức khỏe cần quan tâm, cần có biện pháp can thiệp sớm truyền thông giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng hợp lý và chế độ vận động cho học sinh và phụ huynh nhằm góp phần dự phòng và kiểm soát một số bệnh không lây nhiễm khi trưởng thành

HUPH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thừa cân-béo phì đang nổi lên như một vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu

ở các nước đã phát triển và đang phát triển [71], [87] Trẻ em bị TC-BP thời thơ ấu

sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe như nguy cơ tim mạch, sức khoẻ tâm thần kém: trẻ bị tự ti, thụ động,… TC-BP đặt ra một gánh nặng kinh tế đáng kể

về hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn cầu [52] Trẻ bị TC-BP lúc nhỏ sẽ có nguy cơ kéo dài vào tuổi trưởng thành, giảm chất lượng cuộc sống, làm tăng nguy cơ cho bệnh tật suốt đời và tử vong sớm [19], [52]

Thừa cân-béo phì có thể phòng ngừa được nhưng việc điều trị lại rất khó khăn, tốn kém và hầu như không có kết quả Phòng ngừa được béo phì ở trẻ em sẽ góp phần làm giảm tỉ lệ béo phì ở người lớn, giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính không lây có liên quan đến béo phì và giảm chi phí y tế [19]

Theo tổ chức Y tế thế giới năm 2016, khoảng 41 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân-béo phì Thừa cân-béo phì không chỉ là một vấn đề ở các quốc gia có thu nhập cao mà đang gia tăng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở các khu vực thành thị Ở Châu Phi, số trẻ em thừa cân dưới 5 tuổi đã tăng gần 50%

kể từ năm 2000 Ở Châu Á, vào năm 2016, gần một nửa số trẻ dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì [90]

Tại Việt Nam, tỉ lệ TC-BP ở trẻ em < 5 tuổi có xu hướng gia tăng đáng báo động Năm 2004, vùng thành thị có 5,5% trẻ em TC-BP và chỉ có 1,7% trẻ em nông thôn TC-BP đến năm 2011 có đến 29% trẻ TC-BP ở thành thị và 5,6% trẻ TC-BP ở vùng nông thôn [24] Theo báo cáo của Hội dinh dưỡng Việt Nam TC-BP từ trẻ em tuổi tiền học đường và học đường đến tuổi trưởng thành đang gia tăng ở Việt Nam, nhất là ở các thành phố lớn Tỷ lệ TC-BP ở trẻ dưới 5 tuổi ở TPHCM đã gia tăng gấp ba lần trong hơn 10 năm qua, từ 3,7% lên 11,5%

Theo Quyết định số 226/QĐ-TTg ngày 22/12/2012 của thủ tướng Chính phủ quyết định về phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030 tại mục tiêu 2: Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em có nêu là khống chế tỉ lệ béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi ở mức dưới 5% ở nông thôn và dưới 10% ở

HUPH

Trang 13

các thành phố lớn năm 2015 và duy trì ở các năm tiếp theo để thực hiện được mục tiêu này chúng ta cần có những giải pháp tích cực và can thiệp sớm để phòng chống thừa cân-béo phì ở trẻ ngay từ bậc học Mầm non

Thành phố Mỹ Tho hiện nay là trung tâm của tỉnh Tiền Giang là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, nền kinh tế của thành phố Mỹ Tho ngày càng phát triển làm cho đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu và đáp ứng về ăn uống, giải trí của người dân cũng thay đổi hơn trước Theo báo cáo thống kê của Phòng Giáo dục-Đào tạo thành phố Mỹ Tho, hiện nay TC-BP ở các bậc học trên địa bàn đang tăng theo các năm, năm học 2015-2016 tỉ lệ TC-BP trẻ mầm non là 11,5%, năm học 2016-2017 tỉ lệ TC-BP ở trẻ Mầm non là 12.7%, đầu năm học 2017-2018 béo phì Mầm non trên địa bàn là 13.45% nhưng đây chỉ là số liệu thô do các trường báo cáo

về Phòng giáo dục-Đào tạo mà chưa có nghiên cứu thực tế Vậy“ Tỉ lệ TC-BP thực

tế ở trẻ Mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho hiện nay như thế nào và yếu tố nào liên quan đến thừa cân-béo phì của trẻ?” Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu “Tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ mầm non 3-5 tuổi trên địa

bàn thành phố Mỹ Tho năm 2018 và một số yếu tố liên quan” nghiên cứu này

nhằm để đánh giá thực trạng thừa cân-béo phì và xác định các yếu tố liên quan đến thừa cân-béo phì ở trẻ mầm non qua đó đề xuất với Phòng giáo dục-Đào tạo và phụ huynh học sinh có hướng can thiệp sớm phòng chống thừa cân-béo phì ở trẻ tránh những hậu quả về sau

HUPH

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ 3-5 tuổi tại một số trường mầm non thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2018

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ 3-5 tuổi tại một số trường mầm non thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2018

HUPH

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Tổng quan về thừa cân-béo phì

1.1.1 Định nghĩa thừa cân-béo phì

Thừa cân: là sự tích lũy chất béo bất thường hoặc quá mức có thể ảnh hưởng sức khỏe [90]

Béo phì: Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa béo phì là tình trạng có khối lượng chất béo đủ lớn để tăng nguy cơ bệnh tật, thay đổi thể chất, tâm lý và có

thể gây tử vong [48]

1.1.2 Cách đánh giá tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ em [6]

Đánh giá tình trạng thừa cân-béo phì của trẻ từ 0-60 tháng tuổi thông qua chỉ

số Z-scores (đơn vị độ lệch chuẩn) của chỉ số cân nặng theo chiều cao so với chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế thế giới năm 2005

-3 SD ≤ Z-score < -2 SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm

2 SD > Z-score ≤ 3 SD Trẻ thừa cân

Sử dụng bảng Z-score chỉ số BMI theo tuổi và giới cho trẻ từ 5-19 tuổi cho

trẻ > 60 tháng tuổi đến <72 tháng tuổi (Z-score WHO 2007)

HUPH

Trang 16

1.1.3 Sinh lý bệnh [47]

Béo phì là do sự phát triển quá mức của mô mỡ, là tập hợp của các tế bào mỡ

ở dưới da, cạnh các phủ tạng Các tế bào mỡ trong mô mỡ tăng dự trữ mỡ theo hai cách:

- Gia tăng số lượng tế bào mỡ

Trong giai đoạn đầu, sự tích lũy mỡ trong mô mỡ chủ yếu là gia tăng kích thước tế bào, do đó chế độ can thiệp phù hợp trong giai đoạn này có thể giúp cân nặng giảm nhanh và ổn định lâu dài Béo phì càng kéo dài, bên cạnh sự gia tăng kích thước tế bào sẽ có hiện tượng tăng phân bào để thành lập các tế bào mỡ mới Khi béo phì đã đến giai đoạn này, các can thiệp có thể giúp giảm cân nặng trong giai đoạn đầu chủ yếu là do hiện tượng giảm kích thước tế bào mỡ, nhưng trong giai đoạn tiếp theo cân nặng thường giảm chậm và rất khó duy trì cân nặng lâu dài, do

số lượng tế bào mỡ thường rất khó giảm

Bên cạnh các tế bào mỡ tập trung thành mô mỡ, trong các trường hợp béo phì nặng cũng có kèm theo hiện tượng gia tăng lượng lipid tự do trong tuần hoàn máu và sự hiện diện của tế bào mỡ trong các mô của cơ quan

1.1.4 Nguyên nhân thừa cân-béo phì trẻ em [48]

Trên 90% trường hợp béo phì là do yếu tố ngoại sinh, tức là do ăn uống, chế

độ vận động, sinh hoạt, chỉ có không đến 10% là do di truyền và bệnh lý, thường gặp trong các bệnh lý về gen, nội tiết có thể nguyên phát hay thứ phát [47]

1.1.4.1 Béo phì do yếu tố ngoại sinh

Trẻ em của thế hệ hiện tại đang sống trong môi trường rất thuận lợi để phát sinh béo phì, trong đó trọng lượng rất dễ dàng vượt quá mức bình thường, nếu trẻ

em không có ý thức và nỗ lực Thừa cân-béo phì còn do các hành vi cá nhân không lành mạnh hoặc các môi trường xung quanh, bao gồm cả gia đình, nhà trường, xã hội và bị ảnh hưởng bởi các hệ thống vĩ mô như ngành công nghiệp thực phẩm và chính phủ [95]

- Hành vi cá nhân

HUPH

Trang 17

Thói quen ăn uống không lành mạnh: Tiêu thụ năng lượng thực phẩm dày đặc, thực phẩm tinh chế đóng gói, tiêu thụ nhiều đường và đồ uống ngọt, ăn vặt quá nhiều, bỏ bữa và ăn ít trái cây, rau quả có liên quan đến chứng béo phì [53]

- Thiếu hoạt động thể chất

Tăng thời gian ngồi trước màn hình (tivi, máy tính, điện thoại) và giảm thời gian ngủ [77]

- Ảnh hưởng môi trường

+ Gia đình: Các phong cách và hành vi nuôi dạy con cái cũng như việc cha,

mẹ chăm sóc chế độ ăn uống cho trẻ và các mô hình hoạt động thể chất, việc lựa chọn thực phẩm và tập thể dục của đứa trẻ

Các yếu tố nguy cơ như mẹ tiểu đường, hút thuốc lá, cách cho trẻ ăn khi sơ sinh, thời gian ngủ, tỷ lệ tăng cân sau khi sinh của mẹ cũng liên quan đến béo phì của trẻ [94]

+ Trường học: Môi trường học đường có thể làm gia tăng tình trạng béo phì

ở trẻ nếu không có sự nhấn mạnh về dinh dưỡng và giáo dục thể chất

Thiếu sân chơi và các cơ sở thể thao, bữa ăn trưa của trường không lành mạnh và sự sẵn có của những điều không tốt: đồ ăn nhẹ và đồ uống trong trường hoặc khu vực lân cận tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em [65, 69]

+ Vùng lân cận: Những yếu tố như sự sẵn có của thực phẩm và cửa hàng tạp hoá, không gian công viên, khu vực dành cho người đi bộ hoặc đi xe đạp có thể làm trung gian nguy cơ bệnh béo phì [56]

- Ảnh hưởng môi trường vĩ mô

+ Công nghiệp thực phẩm: Sản xuất chất béo, đường, các hình thức tiếp thị, quảng cáo thực phẩm, chiến thuật bán hàng tích cực và việc ghi nhãn không rõ ràng làm hạn chế khả năng lựa chọn thực phẩm hợp lý của người tiêu dùng

- Chính phủ

+ Chính phủ có trách nhiệm cung cấp môi trường an toàn có lợi cho hoạt động thể chất như sân chơi, phòng tập thể dục, khu vực dành cho người đi bộ

HUPH

Trang 18

+ Các chính sách dinh dưỡng lành mạnh cũng cần thiết để hạn chế sự sẵn có các đồ ăn nhẹ không lành mạnh, nhãn thức ăn rõ ràng và kiểm soát giá cả của trái cây và rau

1.1.4.2 Béo phì do yếu tố nội sinh và di truyền

- Bệnh lý nội tạng, các yếu tố di truyền khác

- Nguyên nhân nội tiết: Suy giáp, suy giáp cận lâm sàng được quan sát thấy trong khoảng 10% bệnh nhân bị thừa cân

- Yếu tố di truyền: Do bố, mẹ bị thừa cân-béo phì

1.2 Tình trạng thừa cân-béo phì trên thế giới và Việt Nam

1.2.1.Tình hình thừa cân-béo phì trên thế giới

Tỷ lệ béo phì ở trẻ em đã đạt đến cấp báo động yêu cầu hành động khẩn cấp Trong năm 2010, hơn 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi được báo cáo là thừa cân trên toàn thế giới [89]

Tỷ lệ thừa cân-béo phì ở các nước phương Tây và các nước công nghiệp hoá cao nhất, nhưng vẫn thấp ở một số nước đang phát triển Tỷ lệ này cũng khác nhau theo tuổi và giới tính [102]

Theo WHO ở Châu Á và các vùng Địa Trung Hải phía Đông có tỷ lệ thừa cân-béo phì cao hơn so với Châu Âu (20-30%), cao hơn Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và Châu Phi (10-20%) Năm 2010 tổng cộng có 43 triệu trẻ em (35 triệu ở các nước đang phát triển) được ước tính là thừa cân hoặc béo phì; 92 triệu người có nguy cơ thừa cân Tỷ lệ thừa cân và béo phì trên toàn cầu đã tăng đáng kể

kể từ năm 1990, ở trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo, từ khoảng 4% năm 1990 lên 7% năm

2010 Nếu xu hướng này tiếp tục, tỷ lệ hiện mắc đạt đến 9% hoặc 60 triệu người vào năm 2020 [102]

Trong giai đoạn 1990-2000 tình hình thừa cân-béo phì gia tăng tương đối nhanh, đến năm 2002 ước tính trên toàn cầu có 155 triệu trẻ lứa tuổi học đường bị thừa cân-béo phì Tuy nhiên, tỉ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ có khác biệt theo khu vực [84]

HUPH

Trang 19

Tỉ lệ thừa cân-béo phì của trẻ em Châu Phi là 8,5% năm 2010, ước tính năm

2020 sẽ là 12,7% Tỉ lệ béo phì ở các nước phát triển cao gấp 2 lần các nước đang phát triển [57]

1.2.2 Tình hình thừa cân-béo phì tại các nước phát triển

Tại các nước đã phát triển, thừa cân-béo phì đang gia tăng đến mức báo động

và là một nạn dịch [63]

Tỉ lệ tăng hàng năm trong 2010-2014 của béo phì trẻ trai thành thị, trẻ gái thành thị, trẻ trai nông thôn, trẻ em gái nông thôn là 0,62%, 0,42%, 0,79% và 0,49% [100]

Tại Mỹ năm 2003-2004 tỉ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ 2-5 tuổi tại Mỹ là 26,2% Thừa cân-béo phì trẻ em hiện nay đang là vấn đề y tế công cộng tại Mỹ [82].Tỉ lệ hiện mắc bệnh béo phì thay đổi theo nhóm tuổi và nhóm dân tộc cho cả nam giới và

nữ giới [59] Giai đoạn 2009-2010 tỉ lệ béo phì theo độ tuổi ở nam giới là 35,5% và 35,8% nữ giới [60] Giai đoạn 2013-2014 tỉ lệ béo phì theo độ tuổi là 35,0% ở nam giới và 40,4% ở phụ nữ [61] Tại Hoa Kỳ tỉ lệ thừa cân ở trẻ em độ tuổi đi học và thiếu niên đã tăng hơn ba lần, từ 5% đến > 16% trong ba thập kỷ qua [62]

Tại Úc năm 2014 có 27,6% trẻ em bị thừa cân Giữa năm 2007-2008 và 2014-2015, tỉ lệ thừa cân-béo trẻ em tăng từ 24,7% lên 27,6% [70]

1.2.3 Tình hình thừa cân-béo phì tại các nước đang phát triển

Vấn nạn béo phì không chỉ của riêng các nước phát triển mà đang có xu hướng tăng cao ở cả các nước đang phát triển Trong năm 2010, trên thế giới có 43 triệu trẻ em trong đó với 35 triệu ở các nước đang phát triển bị thừa cân-béo phì và

92 triệu trẻ em có nguy cơ thừa cân [49] Tỉ lệ thừa cân toàn cầu và trẻ em béo phì đang gia tăng Vào năm 1990, tỉ lệ thừa cân-béo phì toàn cầu là 4,2%; năm 2000 là 5,1%; trong năm 2010 nó là 6,7% và năm 2020 là tỉ lệ ước tính là 9,1% [49]

Ở Châu Á, tỉ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ mầm non là 3,2% vào năm 1990 tăng lên 4,9% trong năm 2010 ước tính năm 2020 là 6,8% Năm 1990 có 12,4 triệu trẻ em ở Châu Á bị béo phì đến năm 2010 tăng lên 18 triệu ước tính đến năm 2020,

sẽ có 24 triệu người trẻ em ở châu Á sẽ bị béo phì Riêng Đông Nam Á, số trẻ em béo phì tăng từ 1,2 triệu lên 2,5 triệu trong 20 năm Thừa cân-béo phì mầm non trên

HUPH

Trang 20

thế giới đang gia tăng và tăng từ 4,2% vào năm 1990 đến 6,7% trong năm 2010 Xu hướng này dự kiến đạt 9,1% hoặc ≈60 triệu năm 2020 Tỉ lệ ước tính lứa tuổi mầm non thừa cân và béo phì ở châu Phi trong năm 2010 là 8,5% và dự kiến sẽ đạt 12,7% trong năm 2020 [57]

Bảng 1.1 Tỉ lệ thừa cân và béo phì vùng (> 2 SD cân nặng theo chiều cao trung bình) ở trẻ em trong độ tuổi 0-5 tuổi, bởi Liên Hiệp Quốc (UN): 1990-2020 [57] Vùng Liên hợp quốc 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020

Biểu đồ 1 1.Biểu diễn xu hướng thừa cân - béo phì ở trẻ mầm non [57]

Châu Á vào năm 2010, dự kiến đến 24 triệu người bị thừa cân-béo phì Các chương trình và giải pháp can thiệp phải được thực hiện để giải quyết những vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ ảnh hưởng đến trẻ em các nước ASEAN [51]

HUPH

Trang 21

1.2.4 Tình hình thừa cân-béo phì tại Việt Nam

Trước năm 1985, tỉ lệ thừa cân-béo phì ở học sinh mẫu giáo và tiểu học tại Việt Nam hầu như không đáng kể Trongnhững năm gần đây, tỉ lệ thừa cân-béo phì

ở trẻ em có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt ở các thành phố lớn Kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc cho thấy tỉ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là1,1% (năm 1999), 2,7% (năm 2000) [7]

Tỉ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em < 5 tuổi năm 2010 là 5,6%; tỉ lệ béo phì riêng là 2,8% Kết quả này cho thấy tỉ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi quá mức 5% mức đặt ra khống chế trong Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001-

2010, thậm chí ở vùng thành thị tỉ lệ thừa cân- béo phì là 6,5% [1]

Xu hướng thừa cân, béo phì gia tăng đáng báo động Năm 2004, vùng thành thị có 5,5% trẻ em TC-BP và chỉ có 1,7% trẻ em nông thôn TC-BP đến năm 2011

là 47% và mầm non ngoại thành là 22.2% [27]

Năm 2013 tỉ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ 4-9 tuổi là 39,9% (tỉ lệ thừa cân là 21,9% và tỉ lệ béo phì là 18,0%); tỉ lệ thừa cân-béo phì tăng dần theo lứa tuổi và học sinh nam có tỉ lệ cao hơn học sinh nữ [25]

Nghiên cứu Phùng Đức Nhật, 2014, tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ mẫu giáo tại quận 5, TPHCM là 21,1% trong đó thừa cân 13,2%, béo phì là 8% [32]

HUPH

Trang 22

Nghiên cứu Trần Thu Hà về thực trạng thừa cân-béo phì ở trẻ 4-6 tuổi tại 2 trường mầm non xã Mỹ Yên, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2015 cho thấy tỉ lệ trẻ 4-6 tuổi bị thừa cân-béo phì là 10,7% trong đó thừa cân 4% , béo phì 6,7% [12]

Nghiên cứu Phan Thị Ngọc Nhanh và Lê Ngọc Phượng, 2016 tỉ lệ thừa béo phì trẻ từ 5-6 tuổi tại thành phố Long Xuyên, An Giang là 17,4% trong đó 10% thừa cân, 7,4% béo phì [31]

cân-Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn năm

2030 khẳng định nhiệm vụ cải thiện dinh dưỡng là trách nhiệm của các ngành, các cấp và mọi người dân Cần phấn đấu bảo đảm dinh dưỡng cân đối, hợp lý là yếu tố quan trọng nhằm hướng tới phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất, trí tuệ của người Việt Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống Nội dung cụ thể của Chiến lược bao gồm 6 mục tiêu cụ thể trong đó mục tiêu thứ tư là từng bước kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân-béo phì [2]

1.2.5.Tình trạng thừa cân-béo phì tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu

1.3.Tình trạng dinh dưỡng tại địa bàn nghiên cứu

Tỉnh Tiền Giang có tổng số 11 huyện thị thành Trong đó, TPMT là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, là trung tâm, văn hoá, chịnh trị xã hội của tỉnh, là điểm dừng chân của lộ trình về miền Tây cũng là nơi thu hút hàng ngàn khách du lịch trong và ngoài nước Cùng với sự phát triển đó là nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm, mất cân bằng dinh dưỡng và dịch bệnh có nguy cơ gia tăng và bùng phát mạnh

Tình trạng thừa cân-béo phì trẻ mầm non trên địa bàn tỉnh theo số liệu thống

kê của Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Tiền Giang năm 2017 ở một số huyện trên địa bàn như sau:

HUPH

Trang 23

Biểu đồ 1 2 So sánh tỉ lệ TC-BP của TPMT

và các huyện lân cận trong tỉnh

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy tình trạng béo phì của TPMT đang ở mức cao vượt tỉ lệ chung của toàn tỉnh và 2 huyện lân cận

Theo đề tài nghiên cứu của Bác sĩ Trần Kim Châu tại trường mầm non Hùng Vương năm học 2016-2017 tại trường có 109/829 (tỉ lệ 13.15%) trẻ dưới 5 tuổi bị

thừa cân-béo phì

1.4 Yếu tố nguy cơ TC-BP ở trẻ em lứa tuổi học đường

Béo phì là hậu quả của sự mất cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao trong thời gian dài song song với giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại Sự mất cân bằng này có thể do tăng năng lượng ăn vào hay giảm năng lượng tiêu hao hoặc cả hai Một số nghiên cứu cho rằng nguyên nhân còn có thể do yếu tố di truyền Có tới 75% các trường hợp béo phì ở trẻ em kéo dài, tồn tại đến tuổi trưởng thành và khó điều trị [19]

Có các nhóm nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ thừa cân-béo phì tại cộng đồng:

do yếu tố di truyền, thói quen ăn uống, hoạt động thể lực, các yếu tố kinh tế - văn hóa - địa dư Các yếu tố di truyền được thể hiện quan việc trẻ dễ bị TC-BP khi có cha hoặc mẹ bị TC-BP Trẻ có cha bị TC-BP có nguy cơ TC-BP gấp 2,3 lần, trẻ có

mẹ TC-BP có nguy cơ TC-BP gấp 1,9 lần trẻ không có cha hoặc mẹ bị TC-BP [21]

7.7

5.2

12.7

3.9 3.7

2 4 6 8 10

HUPH

Trang 24

Tại Việt Nam, giai đoạn 2000 đến 2010 có sự gia tăng lượng thực phẩm tiêu thụ trên đầu người về các chất: thịt, cá, trứng sữa, chất béo nên nguy cơ thừa cân-béo phì cũng gia tăng [8]

1.4.1 Các yếu tố liên quan đến trẻ

1.4.1.1 Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống

Trong số các yếu tố lối sống, hành vi ăn uống đã được chứng minh là một

yếu tố liên quan đến chỉ số khối cơ thể (BMI), thừa cân và béo phì [78]

Việc gia tăng chất ngọt và béo trong khẩu phần cùng với giảm ăn hoặc ít ăn rau, trái cây là một đặc điểm của những người thừa cân-béo phì [13] , [50]

Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa thói quen ăn uống

và tình trạng thừa cân-béo phì của trẻ Trẻ thừa cân-béo phì thường có thói quen háu

ăn, ăn nhanh, ăn nhiều và ăn nhiều bữa trong ngày hoặc có ăn thêm bữa phụ buổi tối trước khi đi ngủ [36] Các nghiên cứu cũng cho thấy trẻ có sở thích ăn chất đường, chất béo có nguy cơ thừa cân-béo phì cao hơn trẻ không có sở thích trên [30]

Nghiên cứu Trần Thu Hà năm 2015 tại Hà Nội 35.8% trẻ TC-BP ăn nhanh, 10.2% trẻ TC-BP vừa xem tivi vừa ăn, 27,7% trẻ TCBP ăn nhiều hơn giới hạn, 11,6% trẻ TCBP do ăn đêm [11]

Các thực phẩm ăn nhanh, thực phẩm chế biến sẵn ngày càng đa dạng và được

sử dụng trên khắp thế giới, thường là các thực phẩm nhiều chất béo, bán kèm với nước giải khát có đường Các loại bữa ăn này cung cấp nhiều năng lượng nhưng không cân đối về thành phần bữa ăn Loại bữa ăn này phù hợp với lối sống công nghiệp khi thời gian ăn ngắn với nhu cầu cung cấp nhiều năng lượng trong bữa ăn nhưng ăn thường xuyên dễ gây thừa cân-béo phì [64] Tại Mỹ khẩu phần thức ăn nhanh vừa rẻ tiền vừa có năng lượng cao, lại chứa nhiều chất béo vượt hơn nhu cầu năng lượng của bữa ăn Đây được nhận định là lý do khiến dịch thừa cân-béo phì tăng nhanh ở Mỹ [87]

Theo J O Hill, thức ăn của chúng ta ngày nay có lượng mỡ rất cao và chế độ

ăn nhiều mỡ được xem như là nguyên nhân thúc đẩy béo phì bằng cách tăng năng lượng ăn vào dẫn đến một cân bằng năng lượng dương và gây tăng cân [68]

Nguyễn Thị Kim Hoa nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan đến

HUPH

Trang 25

thừa cân-béo phì ở trẻ từ 2-5 tuổi tại một số trường mầm non thành phố Huế năm

2009 xác định trẻ thường xuyên ăn thức ăn béo, giàu năng lượng có nguy cơ thừa cân-béo phì gấp 3,4 lần so với trẻ không có thói quen này [16]

Nghiên cứu của Klesges, tỉ lệ trao đổi chất trong suốt quá trình xem tivi hạ thấp một cách đáng kể và có mối liên quan giữa TC-BP và thời gian xem tivi [73]

Nghiên cứu của Ian Janssen và các cộng sự, 2004 cho thấy xem truyền hình

và không hoạt động thể chất có liên quan chặt chẽ với thừa cân và béo phì ở thanh niên Canada [72]

Tăng hoạt động thể chất không chỉ có tiềm năng để giúp giải quyết vấn đề béo phì mà còn giải quyết nhiều vấn đề sức khỏe quan trọng khác [85]

Trịnh Thị Thanh Thủy so sánh thời gian xem truyền hình, chơi điện tử của nhóm thừa cân-béo phì và nhóm chứng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), lần lượt là 79,6 phút/ngày so với 53,3 phút/ngày [43]

Kiểu sống tĩnh tại có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới TC-BP Như vậy cần phải có các bước tích cực khuyến khích phát triển các hoạt động thể lực trong cộng đồng Một nguyên nhân góp phần làm gia tăng thừa cân-béo phì ở trẻ em hiện nay

là tình trạng trẻ em ngày càng ít vận động, ít tiêu hao năng lượng hơn Không gian vui chơi giải trí cho trẻ em tại các thành phố lớn ngày càng bị thu hẹp do đô thị hóa

và do thiếu sót trong qui hoạch không gian đô thị của các cấp có thẩm quyền cũng

là một yếu tố quan trọng cho nguy cơ thừa-cân béo phì ở trẻ em

Trẻ em ngày càng quen thuộc với truyền hình, trò chơi điện tử, máy vi tính, gia tăng thời gian học tập và qua đó gia tăng các hoạt động tĩnh tại Gia tăng các

HUPH

Trang 26

phương tiện sinh hoạt tiện nghi hơn làm giảm vận động của trẻ: xe cộ, thang máy, thang cuốn (làm giảm thời gian vận động), điều khiển từ xa, máy vi tính, truyền hình, trò chơi điện tử (làm tăng thời gian hoạt động tĩnh tại)

1.4.1.3 Các yếu tố khác

Cân nặng sơ sinh: nhiều nghiên cứu cho thấy trọng lượng lúc sinh cao làm tăng nguy cơ béo phì khi lớn [46], [10], [16] Cân nặng sơ sinh của trẻ cũng có liên quan đến TC-BP Trẻ có cân nặng sơ sinh ≥ 3500g có nguy cơ TC-BP gấp 3 lần trẻ

có cân nặng sơ sinh ≤ 3500g [16]

Thời gian ngủ: béo phì có liên quan đến thời gian ngủ ít Ngủ ít về đêm làm tăng nguy cơ béo phì được giải thích là do nội tiết tố tăng trưởng được sản xuất chủ yếu về đêm, một giấc ngủ ngắn làm mất cân bằng vài nội tiết tố có ảnh hưởng trên

sự xây dựng cơ thể và dự trữ mỡ ở trẻ [23] Nghiên cứu mối liên quan giữa thời gian ngủ của trẻ dưới 1 tuổi với nguy cơ thừa cân-béo phì lúc 3 tuổi cho thấy trẻ ngủ dưới 12 giờ/ngày giai đoạn dưới 1 tuổi có nguy cơ thừa cân-béo phì gấp 2,04 lần trẻ ngủ trên 12 giờ/ngày [97]

Trẻ là con trai, con một, con cưng: bị béo phì cao hơn [16] Điều này được lý giải do trẻ trai ít được quan tâm về vóc dáng hơn trẻ gái Trẻ con một, con cưng được ưu tiên ăn nhiều, cha mẹ chú ý chăm sóc hơn và ít phải làm việc hơn

Trẻ bú mẹ hay bú bình: Vương Thuận An và Mai Thùy Linh (2012) trẻ không bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh có nguy cơ TC-BP hơn trẻ khác

là 1,56 lần [45] Nghiên cứu của Grummer Strawn năm 2004 cho thấy trẻ bú sữa mẹ càng lâu thì nguy cơ thừa cân-béo phì càng giảm, trẻ bú đến dưới 12 tháng có nguy

cơ chỉ bằng 0,7 lần, trẻ bú trên 12 tháng có nguy cơ chỉ bằng 0,49 lần so với trẻ không bú sữa mẹ [66].Tổng hợp các nghiên cứu tại Đức ở 9.206 trẻ 4 - 6 tuổi tỉ lệ trẻ không bú sữa mẹ bị thừa cân-béo phì là 4,5% so với nhóm có bú sữa mẹ là 2,8%, tại Czech ở 33.768 trẻ từ 6 - 14 tuổi, trẻ bú sữa mẹ giảm nguy cơ thừa cân- béo phì còn 0,8 lần so với trẻ không bú sữa mẹ Tóm lại, trẻ bú sữa bình có nguy cơ thừa cân-béo phì cao hơn trẻ bú sữa mẹ [93]

HUPH

Trang 27

Nghiên cứu Trần Thị Xuân Ngọc năm 2012 tại Hà Nội nguy cơ TC-BP những trẻ có bố bị TC-BP gấp 2,9 lần so với trẻ khác [28]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Lân về tình trạng béo phì ở học sinh tiểu học 9-11 tuổi và các yếu tố liên quan tại Hà Nội và TPHCM năm

2008 trẻ có cha và mẹ với BMI > 25 có nguy cơ thừa cân-béo phì gấp 5,96 lần so với trẻ có cha và mẹ với BMI < 25 [29] Trẻ có anh em ruột bị TC-BP có tỉ lệ TC-

BP 18.2% cao hơn trẻ không có anh em bị TC-BP có tỉ lệ TC-BP 7.7% [16]

1.4.2.2 Tình trạng kinh tế gia đình

Trẻ ở trong gia đình có kinh tế cao thì có nguy cơ béo phì nhiều hơn do mức chi phí cho ăn uống của trẻ cao hơn so với trẻ sống trong gia đình bình thường [18], [39] Trẻ được chi phí > 2.000.000 đ/tháng có tỉ lệ TC-BP cao hơn nhóm còn lại (18,5% so với 8,1%) và nguy cơ TC-BP gấp 2,3 lần [41]

1.4.2.3 Trình độ học vấn của cha, mẹ

Trình độ học vấn của cha mẹ cũng có ảnh hưởng, nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa năm 2010 trẻ có người chăm sóc có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên

có nguy cơ TC-BP gấp 3,6 lần so với nhóm trẻ khác Trẻ có cha (mẹ) lao động trí óc

bị TC-BP cao hơn các nhóm khác (11,5% so với 7,6% và 2,3%) Nghiên cứu của Trịnh Thị Thanh Thủy năm 2011 cũng cho thấy trẻ giảm nguy cơ thừa cân- béo phì khi người nuôi dưỡng trẻ có trình độ học vấn cao [16],[43]

HUPH

Trang 28

1.4.3 Kinh tế-văn hóa-xã hội

Thừa cân-béo phì liên quan các yếu tố kinh tế - văn hoá - xã hội khi các yếu

tố này tạo thuận lợi cho việc gia tăng tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, nhiều hàm lượng chất béo và lối sống tĩnh tại ít vận động

Kinh tế: Tỉ lệ thừa cân-béo phì ở các nước phát triển cao hơn rất nhiều ở các nước đang phát triển Trong năm 2010, tỷ lệ TC-BP trẻ em Mỹ 31,8% [86] trong khi đó là tỉ lệ TC-BP trẻ em ở các nước đang phát triển là 5% [57]

Ở các nước đang phát triển tỉ lệ TC-BP ở tầng lớp nghèo thường thấp (thiếu

ăn, lao động chân tay, phương tiện đi lại khó khăn) và béo phì như một đặc điểm của giàu có Ở các nước đã phát triển khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì tỉ lệ béo phì lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với tầng lớp trên [5]

Nhiều nghiên cứu gần đây tại các siêu thị Seattle cho thấy các loại thực phẩm với mật độ năng lượng thấp nhất (rau tươi và trái cây) tăng giá gần 20% hơn 2 năm, trong khi giá thức ăn năng lượng dày đặc có nhiều đường và chất béo vẫn không đổi [83] Thực phẩm chi phí thấp tạo nên một tỉ lệ thừa cân-béo phì lớn hơn về chế độ

ăn uống của các cá nhân có thu nhập thấp [55]

Văn hóa: Căng thẳng có tác dụng trực tiếp trên trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận, liên quan đến sự phát triển của bệnh béo phì [76]

Văn hóa cung cấp ý nghĩa cho một bộ quy tắc cho hành vi đó là những gì tất

cả mọi người nên làm và làm thế nào để làm điều đó Văn hóa, bản năng không giống như đang học, được phân phối trong một nhóm trong đó không phải ai cũng

sở hữu cùng một kiến thức, thái độ, thực hành cho phép mọi người liên lạc với nhau

và cư xử theo những cách có thể phiên dịch được lẫn nhau và tồn tại trong một môi trường xã hội Trong số những người hiểu biết chia sẻ thể hiện bởi một nền văn hóa

là những liên quan đến béo phì, trong đó có sự hiểu biết về nguyên nhân của nó, biện pháp can thiệp và mức độ mà một xã hội hay một nhóm dân tộc xem béo phì là một căn bệnh [74]

Văn hóa có thể ảnh hưởng đến nhận thức về rủi ro liên quan đến béo phì Các nghiên cứu tại Châu Mỹ La Tinh chỉ ra các bà mẹ có con béo phì tin rằng con của

họ được khỏe mạnh và không quan tâm về cân nặng của con mình, mặc dù các bậc

HUPH

Trang 29

phụ huynh biết rằng trẻ em béo phì nói chung nên được đưa đến một chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ để được giúp đỡ để giảm trọng lượng [79]

Văn hóa ảnh hưởng đến hành vi liên quan đến tiêu thụ thực phẩm khác nhau [54] Khả năng chi trả, tính khả dụng của các loại thực phẩm, các thành phần thực phẩm, sự ngon miệng của các thực phẩm nhập ngày càng phát triển, loại bỏ món ăn truyền thống và chấp nhận thực phẩm mới gắn liền với văn hóa chính thống Trẻ em

độ tuổi đi học từ các hộ gia đình Mexico nhập cư chế độ ăn uống với các món ăn truyền thống có hàm lượng calo thấp hơn chuẩn bị ở nhà bị loại bỏ và ưu tiên các loại thực phẩm có hàm lượng calo cao hơn, đồ uống và đồ ăn nhẹ họ tiêu thụ ở trường hoặc xem quảng cáo trên truyền hình [79]

Quảng cáo thực phẩm: Ngày nay xã hội càng phát triển, chương trình vô tuyến dành cho trẻ em càng đa dạng và hấp dẫn, số giờ phát sóng lại liên tục trong ngày do đó trẻ càng có nhiều cơ hội tiếp cận với vô tuyến Xem vô tuyến làm giảm hoạt động thể lực, giảm chuyển hoá cơ bản, tăng ăn vặt đặc biệt là thức ăn giàu béo (Snack) Việc tiếp xúc nhiều với quảng cáo thực phẩm trên vô tuyến làm tăng sở thích của trẻ đối với thức ăn như đường ngọt, bánh kẹo dẫn đến tăng tiêu thụ các sản phẩm này và là những yếu tố nguy cơ dễ gây TC, BP [98]

1.4.4 Địa dư

Thừa cân-béo phì thường xảy ra ở các đô thị lớn, nơi có lượng thực phẩm dồi dào và các loại thức ăn nhanh khá phổ biến Tỉ lệ TC-BP của trẻ tiểu học sống ở nô ̣i thành TPMT có tỉ lê ̣ TC-BP (47,7%) cao hơn trẻ sống ở ngoa ̣i thành (32,9%) [14], Hoàng Đức Hạnh năm 2013 tại thành phố Hà Nội tỷ lệ học sinh tiểu học thừa cân, béo phì ở khu vực nội thành là 40,6%, khu vực ngoại thành là 15,5% [38]

1.5 Thông tin địa bàn nghiên cứu

1.5.1 Thông tin chung

Thành phố Mỹ Tho là một đô thị nằm ở bờ Bắc hạ lưu sông Tiền Phía Đông

và Bắc giáp huyện Chợ Gạo, phía Tây giáp huyện Châu Thành, phía Nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre Nằm trên trục giao thông chính của tỉnh, thành phố Mỹ Tho là trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội của tỉnh Tiền Giang, được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2016 Ngay từ những năm đầu mới hình thành, cũng

HUPH

Trang 30

như hôm nay thành phố Mỹ Tho luôn là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa của toàn tỉnh

Diện tích tự nhiên của thành phố Mỹ Tho là 81,5 km2, trong đó phần diện tích nội thị là 9,2 km2, chiếm 11,3% Với dân số 224.018 người Thành phố Mỹ Tho

là địa bàn có mật độ dân số cao nhất trong toàn tỉnh (2.749 người/km2), cao gấp 15,2 lần so với các huyện, thị trong toàn tỉnh Đơn vị hành chính cơ sở tại đây gồm

2,6-11 phường và 6 xã ven với tổng số 120 khu phố/ấp (Niên giám thống kê tỉnh Tiền

Giang-2014)

Hình 1 1.Ba ̉ n đồ thành phố Mỹ Tho 1.5.2 Số trường học, số học sinh và tình trạng dinh dưỡng Mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho

Theo báo cáo thống kê của Phòng Giáo dục-Đào tạo thành phố Mỹ Tho do các trường học báo cáo đầu năm học 2017-2018, địa bàn thành phố Mỹ Tho có 11 phường và 6 xã ven có 27 trường mầm non Trong đó, trên địa bàn phường có 20 trường và xã ven có 7 trường Trẻ từ 3-5 tuổi được chia theo 3 bậc học là mầm-chồi-lá Với tổng số học sinh là 8771

HUPH

Trang 31

KHUNG LÝ THUYẾT

TRẺ

KHẨU PHẦN VÀ THÓI

QUEN ĂN UỐNG

- Số bữa ăn chính, số bữa ăn

- Thời gian ngủ trong ngày

- Thời gian ngủ về đêm, ngủ sớm hay trễ

- Thời gian hoạt động tĩnh tại:

xem ti vi, chơi điện thoại, vẽ tranh, học bài

- Tham gia trò chơi thể thao (vận động) tại trường và tại nhà

GIA ĐÌNH

DI TRUYỀN

Tình trạng dinh dưỡng của cha/mẹ

- Kinh tế gia

đình

-Thói quen sinh

hoạt của gia đình

- Tình hình kinh tế địa phương

- Sự sẵn có của thực phẩm…

- Quảng cáo thực phẩm

- Chính sách của nhà nước về chăm sóc sức khoẻ trẻ em

- Truyền thông- giáo dục

KINH TẾ-VĂN HÓA -

XÃ HỘI HUPH

Trang 32

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ từ 3-5 tuổi đang học ở các trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

- Ba hoặc mẹ của trẻ

+ Tiêu chí lư ̣a cho ̣n:

- Trẻ 3-5 tuổi và ba hoặc mẹ của trẻ đang theo học ở các trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

- Ba hoặc mẹ của trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu

+Tiêu chí loại trừ:

- Học sinh có tên trong các lớp được chọn nhưng không đi học vào thời điểm thực hiện nghiên cứu

- Trẻ bị tàn tật ảnh hưởng đến việc cân đo như vẹo cột sống, dị tật bàn chân

- Ba hoặc mẹ của trẻ không phản hồi thông tin, trẻ không sống chung với ba,

mẹ

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1.Thời gian nghiên cứu:

Đã thực hiện từ tháng 01/2018 đến tháng 08/2018 (8 tháng)

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:

Tại một số Trường mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

2.3.Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu:

Tính cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lê ̣

Trong đó: Chọn khoảng tin cậy 95%

: xác suất sai lầm loại 1 ( = 0,05)

HUPH

Trang 33

Z (1-/2) = 1,96 (tra từ bảng phân phối chuẩn) d: độ chính xác mong muốn (d = 0,05) p: tỉ lệ béo phì mầm non trong nghiên cứu trước đó de: hệ số thiết kế mẫu, chọn de= 2

Theo đề tài nghiên cứu của Bác sĩ Trần Kim Châu tại trường mầm non Hùng Vương thành phố Mỹ Tho năm học 2016-2017 tại trường có 109/829 (tỉ lệ 13.15%) trẻ dưới 5 tuổi bị thừa cân-béo phì (p=0.1315)

Theo công thức trên, chúng tôi chọn cỡ mẫu tương ứng với: n = 351 trẻ Thêm 10% cỡ mẫu dự phòng, như vậy cỡ mẫu tối thiểu cần lấy là:

Bước 1: Chọn trường: Chọn 4 trường thuộc hai khu vực nội thành và ngoại

thành của thành phố Mỹ Tho bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên Để đánh giá khách quan bắt thăm ngẫu nhiên 2 trường nội thành và 2 trường ngoại thành theo phương pháp PPS như sau :

20 trường nội thành chọn ra 2 trường: Mầm non Hùng Vương 1, mầm non Hoa Hồng

7 trường xã chọn ra 2 trường: Mầm non Bình Minh, mầm non Phước Thạnh Dựa vào tổng số trẻ mầm, chồi, lá ở 4 trường và số trẻ cần nghiên cứu chọn

số trẻ ở mỗi trường

Tổng số trẻ ở 4 trường được chọn từ 3-5 tuổi: 1904 trẻ

Số trẻ cần nghiên cứu: 386 Tỉ lệ: 4.93 Để chọn trẻ nghiên cứu ở mỗi trường

ta lấy tổng số trẻ ở mỗi trường/4.93 được kết quả như sau:

Mầm non Hùng Vương 1: 161 trẻ/794

Mầm non Hoa Hồng: 96 trẻ/483

Mầm non Bình Minh : 67 trẻ/330

HUPH

Trang 34

Mầm non Phước Thạnh : 62 trẻ/297 (Phụ lục 9)

Bước 2: Chọn lớp: Căn cứ theo số lượng học sinh cân đo cần có tại mỗi

trường, chọn ngẫu nhiên các lớp tương ứng với 3 bậc học là mầm, chồi và lá bằng cách bắt thăm ngẫu nhiên

→ Kết quả chọn:

Mầm non Hùng Vương 1: Chọn mầm 1, chồi 4, lá 1 và lá 3

Mầm non Hoa Hồng: Mầm 2, chồi 1, lá 3

Mầm non Bình Minh : Mầm 1, chồi 2, lá 5

Mầm non Phước Thạnh : Mầm 2, chồi 1, lá 3

Bước 3: Cân, đo toàn bộ số học sinh được chọn ở các lớp ở mỗi trường để

tiến hành đánh giá tình trạng dinh dưỡng

→ Kết quả: cân đo 397 trẻ và phỏng vấn 397 cha/mẹ trẻ

2.6 Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu

* Cách tính tuổi, kỹ thuật cân đo, dụng cụ cân đo cho học sinh:

- Cách tính tuổi:

Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày tháng năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ và phân loại theo WHO, 1995

- Cân trọng lượng cơ thể:

Sử dụng cân điện tử sai số 100g Trước khi cân, cần kiểm tra cân ở vị trí 0 (hiện số 0 nếu là cân điện tử) Cho trẻ đứng 2 chân đều giữa cân (có thể dán hình bàn chân lên cân để trẻ đặt bàn chân đúng) Đứng yên đến khi số cân hiện cố định Đọc số cân nặng tính bằng kg với 1 số lẻ Khi cân học sinh mặc quần áo nhẹ (cởi áo

HUPH

Trang 35

khoác), không mang giày dép, không để các đồ vật trong túi (đồ ăn, đồ chơi…) để cân được chính xác

- Đo chiều cao cơ thể:

Dùng các loại thước đo chiều cao là thước kéo đóng cố định vào tường Khi

cố định, thước phải thẳng và vuông góc với sàn nhà với vạch số 0 sát sàn nhà Học sinh không đội nón, mũ, không mang giày, dép Đứng thẳng sát tường sao cho 5 điểm chạm tường: (1) phía sau gáy (tháo búi tóc nếu có), (2) bờ sau vai, (3) mông, (4) bắp chân và (5) gót chân chạm tường Hai gót chân chụm lại hình chữ V, mắt nhìn thẳng, hai tay thả lỏng Kéo thước áp sát đỉnh đầu vuông góc với thước đo Mắt của người đo nhìn trực diện vào vạch của thước nơi tiếp xúc giữa thước và đỉnh đầu và đọc số đo chính xác đến 0,1cm

2.6.2 Mục tiêu 2

Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để phỏng vấn phụ huynh học sinh Nhóm nghiên cứu liên hệ nhờ ban giám hiệu nhà trường và cô chủ nhiệm của trẻ hỗ trợ mời phụ huynh học sinh đến trước giờ đón trẻ 1giờ để phỏng vấn (thực hiện theo

từng lớp) Nếu sau 2 lần mời mà phụ huynh không thể đến được sẽ phỏng vấn qua

điện thoại, giáo viên lớp là cộng tác viên đã được tập huấn sẽ tiến hành phỏng vấn

2.6.3 Công cụ thu thập số liệu:

- Mục tiêu 1: Phiếu điều tra nhân trắc gồm các nội dung: trường, lớp, ngày cân đo, ngày, tháng, năm sinh, giới tính và cân nặng, chiều cao của trẻ Phiếu này được các điều tra viên thu thập tại trường Cân điện tử TANITA, có khả năng cân được 150kg với độ chính xác 0,1kg, cân được kiểm tra và hiệu chỉnh trước khi cân, Dùng các loại thước đo chiều cao là thước kéo đóng cố định vào tường, độ chính xác 1mm

- Mục tiêu 2:

Phiếu thứ nhất thu thập các thông tin liên quan đến trẻ bao gồm:

+ Thông tin chung về người chăm sóc và kinh tế gia đình (thông tin về nhân trắc cha mẹ trẻ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình của người chăm sóc chính của trẻ)

HUPH

Trang 36

+ Các thông tin liên quan đến trẻ như cân nặng sơ sinh, là con thứ mấy trong gia đình, thói quen ăn uống và chế độ vận động hiện tại của trẻ

Phiếu thứ hai thu thập tần suất tiêu thụ thực phẩm trong vòng 1 tháng qua

về số lần tiêu thụ từng loại thực phẩm tại nhà Tần suất tiêu thụ thực phẩm được điều tra bằng cách hỏi phụ huynh về thực phẩm mà trẻ sử dụng trong vòng 1 tháng qua theo bộ câu hỏi sẵn Nếu phụ huynh không thể trả lời liền thì người điều tra sẽ hướng dẫn sơ bộ và đưa phụ huynh về nhà điền vào khi nộp lại sẽ được điều tra viên kiểm tra và bổ sung những chổ thiếu sót Khi nhập liệu nếu nghi ngờ không hiểu sẽ người nghiên cứu sẽ điện thoại phỏng vấn trực tiếp phụ huynh hạn chế sai số

Dựa vào 4 nhóm thực phẩm chính: Protid, Glucid, Lipid, vitamin và khoáng cùng với những thực phẩm sẵn có ở địa phương để đưa thực phẩm vào điều tra tần suất tiêu thụ

Mục tiêu 1: thống kê mô tả được thực hiện để tính toán các tần số và tỉ lệ nhằm mô tả tỉ lệ TC- BP theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi đối với trẻ 36 đến 60 tháng tuổi, BMI theo tuổi đối với trẻ >60 tháng tuổi đến <72 tháng tuổi

Mục tiêu 2: Quan hệ giữa từng yếu tố liên quan với tình trạng dinh dưỡng được phân tích sử dụng test χ2 đểso sánh hai tỉ lệ, test Fisher’ exact được sử dụng

HUPH

Trang 37

khi 20% giá trị kỳ vọng <5 Khoảng tin cậy 95% được áp dụng cho toàn bộ các test, nhận định có sự khác biệt khi giá trị p<0.05 Sử dụng phân tích hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan với tình trạng TC- BP

Đối với tần suất tiêu thụ thực phẩm được tính toán tần suất tiêu thụ trung bình quy đổi theo ngày của từng nhóm thực phẩm mà trẻ tiêu thụ trong vòng 1 tháng qua Tần suất tiêu thụ thực phẩm theo nhóm được tính là trung bình tổng hợp của tần suất tiêu thụ thực phẩm của từng loại thực phẩm phổ biến tại địa phương theo từng nhóm Cách quy đổi tương đương tần suất tiêu thụ hàng ngày dựa theo hướng dẫn phân tích khẩu phần của Hội ung thư Victoria của Úc

Bảng 2 1.Quy đổi tần suất tiêu thụ thực phẩm tương đương hàng ngày [99]

2 8 Vấn đề y đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đảm bảo người tham gia nghiên cứu không chịu sự tổn hại nào

về tinh thần hay thể chất Tham gia của phụ huynh là tự nguyện, người tham gia được quyền chọn lựa tham gia hay từ chối tham gia nghiên cứu, được quyền từ chối trả lời các câu hỏi Hàng năm, việc cân đo trẻ được thực hiện định kỳ tại trường nên không ảnh hưởng tinh thần cho trẻ hay người thân Những thông tin liên quan đến trẻ khi tham gia nghiên cứu sẽ được hoàn toàn giữ kín, không vi phạm y đức

HUPH

Trang 38

Nghiên cứu được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua tại văn bản số 142/YTCC-HD ngày 16/3/2018 của trường Đại học Y tế công cộng về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH

2.9 Hạn chế nghiên cứu, sai số, biện pháp khắc phục

2.9.1 Sai lệch trong việc cân trọng lượng và đo chiều cao của học sinh

Khắc phục: Thống nhất chung trong nhóm nghiên cứu về cách cân, đo và dụng cụ cân, đo học sinh

2.9.2 Sai lệch thông tin từ phía người được điều tra do sai lệch hồi

tưởng hoặc không hợp tác

Khắc phục: Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi trên 30 phụ huynh, từ đó chỉnh sửa bảng câu hỏi cho đơn giản và dễ hiểu Trong phiếu điều tra có xin số điện thoại của đối tượng trả lời phỏng vấn để điều tra lại thông tin khi cần thiết

Ngoài ra, chúng tôi cung cấp địa chỉ hay điện thoại liên lạc của người thực hiện nghiên cứu để giải đáp thắc mắc (nếu có) của phụ huynh Sau khi điều tra nếu thấy số liệu còn nghi ngờ sẽ điện thoại cho đối tượng để kiểm tra lại

2.9.3 Sai số nhớ lại trong điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm

Khắc phục: Điều tra viên phỏng vấn và dùng hình ảnh, ví dụ cụ thể để tránh sai sót

2.9.4 Sở thích của trẻ được đánh giá khách quan bởi cha, mẹ của trẻ

Khắc phục: Điều tra viên phỏng vấn giải thích rõ ràng thế nào là thích và không thích để đánh giá của ba, mẻ trẻ mang tính tương đối

2.9.5 Không điều tra khẩu phần ăn của trẻ

Khắc phục: Điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ HUPH

Trang 39

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 3 1.Thông tin về nhân khẩu học của trẻ

Bảng 3 2 Thông tin cha, mẹ của trẻ tham gia trả lời phỏng vấn

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Viện dinh dưỡng Bộ y tế (2009-2010), Tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010, Nhà xuất bản y học,52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010
Tác giả: Viện dinh dưỡng Bộ y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2009-2010
2. Viện dinh dưỡng Bộ Y tế (2012), Chiến lược quốc gia dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030, Tr 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030
Tác giả: Viện dinh dưỡng Bộ Y tế
Năm: 2012
3. Trịnh Hùng Cường (2015), Thực trạng thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh nữ 9-10 tuổi tại trường tiểu học Ninh Hiệp, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2015, Trường Đại học Thăng Long, Tr 214-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh nữ 9-10 tuổi tại trường tiểu học Ninh Hiệp, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2015
Tác giả: Trịnh Hùng Cường
Nhà XB: Trường Đại học Thăng Long
Năm: 2015
4. Trần Kim Châu (2017), Thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ mầm non 3-5 tuổi tại trường mầm non Hùng Vương năm học 2016-2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ mầm non 3-5 tuổi tại trường mầm non Hùng Vương năm học 2016-2017
Tác giả: Trần Kim Châu
Năm: 2017
5. Viện dinh dưỡng Chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em, Tr 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em
Tác giả: Viện dinh dưỡng
6. Viện dinh dưỡng Phương pháp nhân trắc trong đánh giá dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, Nhà xuất bản Y học, Tr 32, Tr 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nhân trắc trong đánh giá dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
7. Viện dinh dưỡng (2000), Tổng điều tra dinh dưỡng 1999-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dinh dưỡng 1999-2000
Tác giả: Viện dinh dưỡng
Năm: 2000
8. Viện dinh dưỡng (2011), Tình hình dinh dưỡng Việt Nam năm 2009 - 2010, Nhà xuất bản y học, Tr 27, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dinh dưỡng Việt Nam năm 2009 - 2010
Tác giả: Viện dinh dưỡng
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2011
9. Viện dinh dưỡng (2014), Thông tin giám sát dinh dưỡng năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin giám sát dinh dưỡng năm 2014
Tác giả: Viện dinh dưỡng
Năm: 2014
11. Trần Thu Hà (2015), Thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ 4-6 tuổi tại 2 trường mầm non xã Mỹ Yên, huyện Thanh Trì, Hà Nội và kết quả bước đầu áp dụng chương trình can thiệp, Tr 31-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ 4-6 tuổi tại 2 trường mầm non xã Mỹ Yên, huyện Thanh Trì, Hà Nội và kết quả bước đầu áp dụng chương trình can thiệp
Tác giả: Trần Thu Hà
Năm: 2015
13. Lê Thị Hải (2002), Dinh dưỡng lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, Tr 54, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng lâm sàng
Tác giả: Lê Thị Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
14. Thái Ngọc Hạnh (2016), Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố Mỹ Tho năm 2016, Tr 40-48.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố Mỹ Tho năm 2016
Tác giả: Thái Ngọc Hạnh
Nhà XB: HUPH
Năm: 2016
10. Nguyễn Điểm (2006), Tình trạng béo phì của học sinh tiểu học ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định năm 2006, Tạp chí khoa học và công nghệ Khác
12. Trần Thu Hà (2015), Thực trạng thừa cân, béo phì ở trẻ 4-6 tuổi tại 2 trường mầm non xã Mỹ Yên, huyện Thanh Trì, Hà nội năm 2015 và kết quả bước đầu áp dụng chương trình can thiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w