1.4. Yếu tố nguy cơ TC-BP ở trẻ em lứa tuổi học đường
1.4.1 Các yếu tố liên quan đến trẻ
1.4.1.1 Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống
Trong số các yếu tố lối sống, hành vi ăn uống đã được chứng minh là một yếu tố liên quan đến chỉ số khối cơ thể (BMI), thừa cân và béo phì [78].
Việc gia tăng chất ngọt và béo trong khẩu phần cùng với giảm ăn hoặc ít ăn rau, trái cây là một đặc điểm của những người thừa cân-béo phì [13] , [50].
Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa thói quen ăn uống và tình trạng thừa cân-béo phì của trẻ. Trẻ thừa cân-béo phì thường có thói quen háu ăn, ăn nhanh, ăn nhiều và ăn nhiều bữa trong ngày hoặc có ăn thêm bữa phụ buổi tối trước khi đi ngủ [36]. Các nghiên cứu cũng cho thấy trẻ có sở thích ăn chất đường, chất béo có nguy cơ thừa cân-béo phì cao hơn trẻ không có sở thích trên [30].
Nghiên cứu Trần Thu Hà năm 2015 tại Hà Nội 35.8% trẻ TC-BP ăn nhanh, 10.2% trẻ TC-BP vừa xem tivi vừa ăn, 27,7% trẻ TCBP ăn nhiều hơn giới hạn, 11,6% trẻ TCBP do ăn đêm [11].
Các thực phẩm ăn nhanh, thực phẩm chế biến sẵn ngày càng đa dạng và được sử dụng trên khắp thế giới, thường là các thực phẩm nhiều chất béo, bán kèm với nước giải khát có đường. Các loại bữa ăn này cung cấp nhiều năng lượng nhưng không cân đối về thành phần bữa ăn. Loại bữa ăn này phù hợp với lối sống công nghiệp khi thời gian ăn ngắn với nhu cầu cung cấp nhiều năng lượng trong bữa ăn nhưng ăn thường xuyên dễ gây thừa cân-béo phì [64]. Tại Mỹ khẩu phần thức ăn nhanh vừa rẻ tiền vừa có năng lượng cao, lại chứa nhiều chất béo vượt hơn nhu cầu năng lượng của bữa ăn. Đây được nhận định là lý do khiến dịch thừa cân-béo phì tăng nhanh ở Mỹ [87].
Theo J. O. Hill, thức ăn của chúng ta ngày nay có lượng mỡ rất cao và chế độ ăn nhiều mỡ được xem như là nguyên nhân thúc đẩy béo phì bằng cách tăng năng lượng ăn vào dẫn đến một cân bằng năng lượng dương và gây tăng cân [68].
Nguyễn Thị Kim Hoa nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan đến
HUPH
thừa cân-béo phì ở trẻ từ 2-5 tuổi tại một số trường mầm non thành phố Huế năm 2009 xác định trẻ thường xuyên ăn thức ăn béo, giàu năng lượng có nguy cơ thừa cân-béo phì gấp 3,4 lần so với trẻ không có thói quen này [16].
1.4.1.2. Hoạt động thể lực
Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng của tỉ lệ thừa cân-béo phì đi song song với giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại hơn. Trước đây, khẩu phần mỡ tăng là yếu tố chủ yếu làm tăng TC-BP thì hiện nay sự giảm hoạt động đã là một yếu tố chính. Thời gian dành cho xem tivi, đọc báo, làm việc bằng máy tính, nói chuyện qua điện thoại, lái xe, ăn uống… cao hơn. Sự giảm vận động tại nơi học tập, làm việc và tại gia đình còn nghiêm trọng hơn với giảm mức tập thể dục và luyện tập [58], [67].
Nghiên cứu của Klesges, tỉ lệ trao đổi chất trong suốt quá trình xem tivi hạ thấp một cách đáng kể và có mối liên quan giữa TC-BP và thời gian xem tivi [73].
Nghiên cứu của Ian Janssen và các cộng sự, 2004 cho thấy xem truyền hình và không hoạt động thể chất có liên quan chặt chẽ với thừa cân và béo phì ở thanh niên Canada [72].
Tăng hoạt động thể chất không chỉ có tiềm năng để giúp giải quyết vấn đề béo phì mà còn giải quyết nhiều vấn đề sức khỏe quan trọng khác [85].
Trịnh Thị Thanh Thủy so sánh thời gian xem truyền hình, chơi điện tử của nhóm thừa cân-béo phì và nhóm chứng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), lần lượt là 79,6 phút/ngày so với 53,3 phút/ngày [43].
Kiểu sống tĩnh tại có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới TC-BP. Như vậy cần phải có các bước tích cực khuyến khích phát triển các hoạt động thể lực trong cộng đồng. Một nguyên nhân góp phần làm gia tăng thừa cân-béo phì ở trẻ em hiện nay là tình trạng trẻ em ngày càng ít vận động, ít tiêu hao năng lượng hơn. Không gian vui chơi giải trí cho trẻ em tại các thành phố lớn ngày càng bị thu hẹp do đô thị hóa và do thiếu sót trong qui hoạch không gian đô thị của các cấp có thẩm quyền cũng là một yếu tố quan trọng cho nguy cơ thừa-cân béo phì ở trẻ em.
Trẻ em ngày càng quen thuộc với truyền hình, trò chơi điện tử, máy vi tính, gia tăng thời gian học tập và qua đó gia tăng các hoạt động tĩnh tại. Gia tăng các
HUPH
phương tiện sinh hoạt tiện nghi hơn làm giảm vận động của trẻ: xe cộ, thang máy, thang cuốn (làm giảm thời gian vận động), điều khiển từ xa, máy vi tính, truyền hình, trò chơi điện tử (làm tăng thời gian hoạt động tĩnh tại).
1.4.1.3 Các yếu tố khác
Cân nặng sơ sinh: nhiều nghiên cứu cho thấy trọng lượng lúc sinh cao làm tăng nguy cơ béo phì khi lớn [46], [10], [16]. Cân nặng sơ sinh của trẻ cũng có liên quan đến TC-BP. Trẻ có cân nặng sơ sinh ≥ 3500g có nguy cơ TC-BP gấp 3 lần trẻ có cân nặng sơ sinh ≤ 3500g [16].
Thời gian ngủ: béo phì có liên quan đến thời gian ngủ ít. Ngủ ít về đêm làm tăng nguy cơ béo phì được giải thích là do nội tiết tố tăng trưởng được sản xuất chủ yếu về đêm, một giấc ngủ ngắn làm mất cân bằng vài nội tiết tố có ảnh hưởng trên sự xây dựng cơ thể và dự trữ mỡ ở trẻ [23]. Nghiên cứu mối liên quan giữa thời gian ngủ của trẻ dưới 1 tuổi với nguy cơ thừa cân-béo phì lúc 3 tuổi cho thấy trẻ ngủ dưới 12 giờ/ngày giai đoạn dưới 1 tuổi có nguy cơ thừa cân-béo phì gấp 2,04 lần trẻ ngủ trên 12 giờ/ngày [97].
Trẻ là con trai, con một, con cưng: bị béo phì cao hơn [16]. Điều này được lý giải do trẻ trai ít được quan tâm về vóc dáng hơn trẻ gái. Trẻ con một, con cưng được ưu tiên ăn nhiều, cha mẹ chú ý chăm sóc hơn và ít phải làm việc hơn.
Trẻ bú mẹ hay bú bình: Vương Thuận An và Mai Thùy Linh (2012) trẻ không bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh có nguy cơ TC-BP hơn trẻ khác là 1,56 lần [45]. Nghiên cứu của Grummer Strawn năm 2004 cho thấy trẻ bú sữa mẹ càng lâu thì nguy cơ thừa cân-béo phì càng giảm, trẻ bú đến dưới 12 tháng có nguy cơ chỉ bằng 0,7 lần, trẻ bú trên 12 tháng có nguy cơ chỉ bằng 0,49 lần so với trẻ không bú sữa mẹ [66].Tổng hợp các nghiên cứu tại Đức ở 9.206 trẻ 4 - 6 tuổi tỉ lệ trẻ không bú sữa mẹ bị thừa cân-béo phì là 4,5% so với nhóm có bú sữa mẹ là 2,8%, tại Czech ở 33.768 trẻ từ 6 - 14 tuổi, trẻ bú sữa mẹ giảm nguy cơ thừa cân- béo phì còn 0,8 lần so với trẻ không bú sữa mẹ. Tóm lại, trẻ bú sữa bình có nguy cơ thừa cân-béo phì cao hơn trẻ bú sữa mẹ [93].
HUPH