Mối liên quan giữa TC-BP ở trẻ với thói quen ăn uống của trẻ

Một phần của tài liệu Tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ mầm non 3 5 tuổi trên địa bàn thành phố mỹ tho năm 2018 và một số yếu tố liên quan (Trang 69 - 73)

4.2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ mầm non 3-5 tuổi

4.2.3. Mối liên quan giữa TC-BP ở trẻ với thói quen ăn uống của trẻ

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa loại sữa trẻ sử dụng từ lúc sinh ra đến 6 tháng và thừa cân béo phì. Trẻ bú sữa bình có tỉ lệ TC-BP là 52,4%, trẻ vừa bú sữa mẹ vừa bú sữa bình tỉ lệ TC-BP là 31,3%, trẻ bú sữa mẹ tỉ lệ TC-BP 27,2% sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,049 <0,05. Một số nghiên cứu khác cũng có kết quả tương tự nghiên cứu của Vương Thuận An và Mai Thùy Linh (2012) trẻ không bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh có nguy cơ TC-BP hơn trẻ khác là 1,56 lần [45], nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Hoa 2009 trẻ không bú sữa mẹ có nguy cơ TC-BP gấp 4,3 lần trẻ bú sữa mẹ [16] . Nghiên cứu của Grummer Strawn năm 2004 cho thấy trẻ bú sữa mẹ càng lâu thì nguy cơ thừa cân-béo phì càng giảm, trẻ bú đến dưới 12 tháng có nguy cơ chỉ bằng 0,7 lần, trẻ bú trên 12 tháng có nguy cơ chỉ bằng 0,49 lần so với trẻ không bú sữa mẹ [66], [37].

Chúng ta có thể lý giải trẻ không bú mẹ sẽ được bổ sung bằng sữa công thức với nhiều thành phần dinh dưỡng khác nhau nên dễ dẫn đến trẻ bị thừa cân, béo phì.

HUPH

4.2.3.2 Liên quan giữa TC-BP và các thói quen ăn uống của trẻ

Thói quen ăn uống của trẻ là một yếu tố quan trọng có liên quan mật thiết đến thừa cân, béo phì. Thói quen ăn nhanh, háu ăn do có liên quan với tình trạng thừa cân, béo phì trẻ mẫu giáo. Trẻ nhỏ thường ăn theo thói quen, sở thích và nhu cầu mà không nhận thức được ăn nhiều hoặc ăn loại thức ăn nào sẽ gây thừa cân, béo phì.

Trong nghiên cứu này không tìm thấy mối liên quan giữa ăn tối, ăn trước khi ngủ với thừa cân, béo phì nghiên cứu của Quách Thiện Khiêm tại Cần Thơ năm 2012 [22] và nghiên cứu Lê Văn Khoa và cộng sự 2005 [40] cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên kết quả này khác với nghiên cứu của Lê Thị Thúy Loan nhận thấy rằng trẻ có ăn thêm bữa phụ trước khi ngủ có nguy cơ TC-BP cao gấp 7,07 lần nhóm không ăn thêm bữa phụ trước khi ngủ [26]. Không tìm thấy mối liên quan giữa thói quen ăn vặt của trẻ, ăn trong lúc xem tivi và thừa cân, béo phì.

Cũng không tìm thấy mối liên quan giữa việc ăn nhiều bữa trong ngày với TC-BP. Kết quả này có sự khác biệt với các nghiên cứu khác, nghiên cứu Quách Thiện Khiêm cho rằng những trẻ ăn trên 3 bữa/ngày có nguy cơ bị TC-BP cao gấp 1,7 lần so với những trẻ ăn từ 3 bữa/ngày trở xuống. Tỷ lệ TC-BP ở nhóm ăn trên 3 bữa/ngày là 31,7%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm ăn từ 3 bữa/ngày trở xuống là 21,6%

(p = 0,019) [22], khác với nghiên cứu của Trịnh Hùng Cường và cộng sự năm 2015 trẻ ăn >4 bữa/ngày TC-BP gấp 1,04 lần trẻ ăn <4 bữa/ngày [3], [36] điều này có thể lý giải rằng việc ăn nhiều bữa trong ngày còn phụ thuộc vào lượng thực phẩm tiêu thụ/bữa ăn và loại thực phẩm mà trẻ ăn mới có nguy cơ TC-BP.

Không có mối liên quan giữa thói quen ăn vặt, ăn trong lúc xem tivi với TC-BP điều này không có sự khác biệt với nghiên cứu của Quách Thiện Khiêm [22], nghiên cứu của Trương Thanh [42], nghiên cứu của Phùng Đức Nhật tại các trường mẫu giáo Quận 5 TPCM năm 2014 [32], khác với nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc tỉ lệ thích ăn vặt ở nhóm thừa cân, béo phì là 49,4%, cao hơn nhóm chứng là 29,7%, sự khác biệt với p<0,01[28]. Không có liên quan thói quen ăn vặt, ăn trong lúc xem tivi của trẻ và TC-BP do phụ huynh hiện nay có kiến thức đúng

HUPH

về TC-BP rất cao và cũng rất quan tâm tới TC-BP của trẻ nên đa phần phụ huynh rất quan tâm đến việc lựa chọn thực phẩm cho con.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy trẻ ăn nhanh, nhiều tỉ lệ thừa cân, béo phì 50% so với trẻ ăn bình thường (32,6%) và trẻ biếng ăn (9,6%) p= 0,0001<0,05 có ý nghĩa thống kê. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy trẻ ăn nhanh, nhiều có liên quan đến TC-BP nghiên cứu Nguyễn Đỗ Huy trẻ háu ăn có nguy cơ bị thừa cân cao hơn 2,87 lần những trẻ khác không có đặc tính này[20], nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Hoa 2009 ở trẻ 2-5 tuổi tại trường mầm non thành phố Huế trẻ háu ăn TC-BP gấp 3,2 lần trẻ bình thường [16], nghiên cứu Bùi Xuân Thy ở trẻ mầm non 3-6 tuổi tại thành phố Vũng Tàu trẻ háu ăn có tỉ lệ TC-BP cao gấp 1,8 lần so với trẻ bình thường [35], Đỗ Thị Mỹ Hạnh và cộng sự năm 2016 trẻ háu ăn có tỉ lệ thừa cân/ béo phì cao hơn trẻ không háu ăn gấp 5 lần [37], Trịnh Thị Thanh Thủy điều tra năm 2011 tình trạng TC-BP và một số yếu tố nguy cơ ở trẻ 6-11 tuổi tại quận Đống Đa cho thấy trẻ ăn nhanh, ăn nhiều làm tăng nguy cơ thừa cân béo phì [43], [17], [28].

Trẻ ăn nhanh, nhiều dẫn đến năng lượng dư thừa tích lũy trong cơ thể lớp mỡ dưới da dẫn đến TC-BP.

Có mối liên quan giữa sở thích ăn đồ béo của trẻ với thừa cân, béo phì. Trẻ thích ăn đồ béo thừa cân, béo phì 41,8 % trẻ bình thường 29,3% và trẻ không thích ăn đồ béo 15,9% sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p=0,01<0,05 điều này tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan đến TC-BP ở trẻ 2-5 tuổi tại một số trường mầm non ở thành phố Huế xác định trẻ thường xuyên ăn thức ăn béo, giàu năng lượng có nguy cơ thừa cân-béo phì gấp 3,4 lần so với trẻ không có thói quen này [16], phù hơp nghiên cứu Phùng Đức Nhật trẻ thích ăn chất béo có nguy cơ thừa cân gấp 2,3 lần so với trẻ không thích ăn chất béo [32], [14]. Chất béo có năng lượng cao 1 g chất béo giải phóng 9kcal trong khi 1 g protein và tinh bột chỉ giải phòng 4 kcal nếu ăn quà nhiều chất béo mà kém hoạt động thể lực sẽ dẫn đến năng lượng dư thừa dễ bị TC-BP.

Có mối liên quan giữa sở thích ăn ngọt của trẻ với thừa cân, béo phì. Trẻ thích ăn đồ ngọt thừa cân, béo phì 38,6 % , trẻ bình thường 28,6% và trẻ không thích ăn ngọt 4,5 % sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p=0,0001<0,05 phù hợp

HUPH

với nghiên cứu của Cao Thị Yến Thanh [36], Thái Ngọc Hạnh [14], khác với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa [16]. Trẻ ăn nhiều thức ăn ngọt sẽ hấp thu thừa năng lượng dễ dẫn đến TC-BP. Việc ăn uống không điều độ nhất là ăn nhiều thức ăn có chỉ số đường cao sẽ làm rối loạn chuyển hóa mỡ trong cơ thể làm tăng dự trữ mỡ gây nên tình trạng thừa mỡ nhất là tổ chức mỡ ở bụng.

Có mối liên quan giữa sở thích ăn thức ăn nhanh của trẻ với thừa cân, béo phì. Trẻ thích ăn thức ăn nhanh thừa cân, béo phì 38,5 %, trẻ bình thường TC-BP 22,6% và trẻ không thích ăn thức ăn nhanh TC-BP là 16,7 % sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p=0,001<0,05, phù hợp với nghiên cứu của Thái Ngọc Hạnh trẻ thích ăn thức ăn nhanh có nguy cơ TCBP gấp 4,2 lần so với trẻ không thích và trẻ có sở thích ăn thức ăn nhanh bình thường có nguy cơ TCBP gấp 3,7 lần so với trẻ không thích [14], Simone A French và cộng sự cho rằng các thực phẩm ăn nhanh, thực phẩm chế biến sẵn cung cấp nhiều năng lượng trong bữa ăn nhưng ăn thường xuyên dễ gây thừa cân-béo phì [64]. Tại Mỹ khẩu phần thức ăn nhanh vừa rẻ tiền vừa có năng lượng cao, lại chứa nhiều chất béo vượt hơn nhu cầu năng lượng của bữa ăn đây được nhận định là lý do khiến dịch thừa cân-béo phì tăng nhanh ở Mỹ [87], nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc (2010) cũng cho thấy trẻ thích ăn món chiên rán thì nguy cơ thừa cân, béo phì là 4,02 lần [33] .

Không có mối liên quan giữa sở thích ăn rau, ăn trái cây với TC-BP phù hợp với nghiên cứu của Quách Thiện Khiêm [22], Phùng Đức Nhật [32], Nguyễn Đỗ Huy[20]. Rau và trái cây là thực phẩm giàu vitamin, khoáng chất và chất xơ, ít năng lượng do đó ăn nhiều rau và trái cây không gây TC-BP.

4.2.3.3 Mối liên quan giữa TC-BP ở trẻ với tần suất tiêu thụ thực phẩm Trẻ TC-BP có tần suất tiêu thụ sữa và sản phẩm từ sữa 2,4 lần/ngày so với trẻ bình thường là 2,87 lần/ngày sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê kết quả này tương tự nghiên cứu của T. Koca và các cộng sự (2017) cho rằng tiêu thụ nhiều sữa và sản phẩm từ sữa sẽ chống lại béo phì [75], tiêu thụ sản phẩm từ sữa có liên quan đến việc giảm nguy cơ béo phì [101], nghiên cứu của Mihaela Tanasescu và các cộng sự (2000) trẻ gái TC-BP có tần suất tiêu thụ sữa là 2,62±1,05lần/ngày so với trẻ không TC-BP là 4,04±2,14 lần/ngày [96] chúng ta có thể giải thích rằng sữa và

HUPH

sản phẩm từ sữa là thực phẩm giàu canxi đặc biệt hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sữa giúp phát triển chiều cao của trẻ, những trẻ tiêu thụ ít sữa sẽ ảnh hưởng tới chiều cao nguy cơ béo phì sẽ tăng lên.

Không tìm thấy mối liên quan giữa tần suất tiêu thụ nhóm tinh bột, nhóm đạm động vật, nhóm đạm thực vật, nhóm chất béo, nhóm đường ngọt và TC-BP tương tự nghiên cứu của nghiên cứu của Mihaela Tanasescu và các cộng sự (2000) cũng không tìm thấy mối liên quan về tần suất tiêu thụ các thực phẩm khác [96], khác với nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc tiêu thụ gạo ở nhóm TC-BP phì là 305,0g, cao hơn nhóm chứng là 284,0g, khác biệt với p<0,001. Tiêu thụ thịt của nhóm TC-BP cũng cao hơn nhóm chứng rõ rệt (150,0g so với 90,0g), khác biệt với p<0,001. Tiêu thụ dầu, mỡ, hạt có dầu của nhóm thừa cân, béo phì là 13,7g, cao hơn nhóm chứng là 6,0g, sự khác biệt với p<0,001. Đường ngọt được nhóm thừa cân, béo phì tiêu thụ nhiều hơn (28,3g) so với NC (12,5g), khác biệt với p<0,01 [28].

Nguyên nhân khác biệt này có thể còn phụ thuộc vào lượng từng loại thực phẩm mà trẻ tiêu thụ, năng lượng cung cấp cho trẻ hàng ngày so với năng lượng tiêu hao hàng ngày. Mặc khác nghiên cứu này chỉ giới hạn ở điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ hàng ngày nên chưa tìm ra được mối liên quan giữa các thực phẩm này và TC-BP của trẻ.

Một phần của tài liệu Tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ mầm non 3 5 tuổi trên địa bàn thành phố mỹ tho năm 2018 và một số yếu tố liên quan (Trang 69 - 73)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)