1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020

139 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội năm 2020
Tác giả Đỗ Thu Thảo
Người hướng dẫn TS. Đặng Hoàng Anh, TS. Trần Thị Thu Thủy
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế Công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 3,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (15)
    • 1.1. Các định nghĩa, khái niệm (15)
      • 1.1.1. Các định nghĩa về trầm cảm, lo âu và căng thằng (15)
      • 1.1.2. Một số bộ công cụ sàng lọc sức khỏe tâm thần (16)
    • 1.2. Thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của giáo viên trên thế giới và tại Việt (20)
      • 1.2.1. Thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của giáo viên trên thế giới (20)
      • 1.2.2. Thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của giáo viên tại Việt Nam (24)
    • 1.3. Một số yếu tố liên quan tới căng thẳng, lo âu, trầm cảm của giáo viên (27)
      • 1.3.1. Nhóm yếu tố cá nhân (27)
      • 1.3.2. Nhóm yếu tố về điều kiện làm việc (28)
      • 1.3.3. Nhóm yếu tố về các mối quan hệ trong lao động (30)
    • 1.4. Giới thiệu tóm tắt đề tài “Thực trạng căng thẳng tâm lý và một số giải pháp công đoàn góp phần giải tỏa căng thẳng tâm lý ở giáo viên” (31)
    • 1.5. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu (32)
    • 1.6. Khung lý thuyết (34)
  • Chương 2 (35)
    • 2.1. Mô tả bộ số liệu gốc (35)
      • 2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu (35)
      • 2.1.2. Đối tượng (35)
      • 2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (35)
      • 2.1.4. Thiết kế nghiên cứu (35)
      • 2.1.5. Cỡ mẫu (35)
      • 2.1.6. Biến số nghiên cứu và phương pháp thu thập và phân tích số liệu (37)
    • 2.2. Giả thuyết nghiên cứu (38)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn (39)
      • 2.3.1. Đối tượng nghiên cứu (39)
      • 2.3.2. Thiết kế nghiên cứu (39)
      • 2.3.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (39)
      • 2.3.4. Biến số (40)
      • 2.3.5. Tiêu chuẩn đánh giá (41)
      • 2.3.6. Phương pháp phân tích số liệu (42)
      • 2.3.7. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (44)
  • CHƯƠNG 3 (45)
    • 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (45)
    • 3.2. Thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội (47)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội (51)
      • 3.3.1. Đánh giá mối liên quan đến triệu chứng trầm cảm của giáo viên (51)
      • 3.3.2. Đánh giá mối liên quan đến triệu chứng lo âu của giáo viên (59)
      • 3.3.3. Đánh giá mối liên quan đến triệu chứng căng thẳng của giáo viên (67)
      • 3.3.4. Đánh giá mối liên quan đến nguy cơ mắc nhiều tình trạng rối loạn sức khỏe tâm thần đồng thời của giáo viên (75)
  • CHƯƠNG 4 (84)
    • 4.1. Thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội (84)
    • 4.2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội (87)
      • 4.2.1. Một số yếu tố liên quan đến triệu chứng trầm cảm của giáo viên (87)
      • 4.2.2. Một số yếu tố liên quan đến triệu chứng lo âu của giáo viên (89)
      • 4.2.3. Một số yếu tố liên quan đến triệu chứng căng thẳng của giáo viên (90)
    • 4.3. Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (93)
  • KẾT LUẬN (96)
    • 1. Thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở giáo viên một số trường tiểu học và (96)
    • 2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng sức khỏe tâm thần ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội năm 2020 (96)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (99)
  • PHỤ LỤC (66)

Nội dung

Các định nghĩa, khái niệm

1.1.1 Các định nghĩa về trầm cảm, lo âu và căng thằng

Trầm cảm, hay còn gọi là rối loạn trầm cảm, là một rối loạn cảm xúc phổ biến có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảm xúc, suy nghĩ và khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày của người bệnh, bao gồm ngủ, ăn uống và làm việc Để được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm, các triệu chứng cần phải xuất hiện và duy trì ít nhất trong hai tuần.

Anxiety disorders encompass a range of mental health conditions characterized by feelings of anxiety and fear These include generalized anxiety disorder (GAD), panic disorder, phobias, social anxiety disorder, obsessive-compulsive disorder (OCD), and post-traumatic stress disorder (PTSD).

Rối loạn lo âu là một nhóm các tình trạng liên quan với những triệu chứng riêng biệt, nhưng tất cả đều chung một đặc điểm là cảm giác sợ hãi hoặc lo âu dai dẳng trong những tình huống không đe dọa Người bệnh thường trải qua các triệu chứng như sợ hãi, căng thẳng, nóng nảy, bồn chồn, cáu kỉnh, dự đoán điều tồi tệ nhất và luôn đề phòng các dấu hiệu nguy hiểm.

Căng thẳng - Stress: là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với bất kỳ nhu cầu nào (1)

Căng thẳng là phản ứng tự nhiên của cơ thể trước áp lực, có thể xuất phát từ nhiều tình huống hoặc sự kiện trong cuộc sống Nó thường xảy ra khi con người đối mặt với những trải nghiệm mới, bất ngờ hoặc cảm thấy bị đe dọa, đặc biệt khi họ cảm thấy thiếu khả năng kiểm soát tình huống.

Căng thẳng trong công việc, hay còn gọi là căng thẳng nghề nghiệp, là phản ứng của mỗi cá nhân khi phải đối mặt với những yêu cầu và áp lực công việc vượt quá khả năng và kiến thức của họ, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Căng thẳng nghề nghiệp tại HUPH được hiểu là sự mất cân bằng giữa yêu cầu công việc và khả năng lao động của nhân viên Khả năng đối phó với những thách thức này là rất quan trọng để duy trì hiệu suất làm việc và sức khỏe tâm lý.

1.1.2 Một số bộ công cụ sàng lọc sức khỏe tâm thần

Thang đo mức độ căng thẳng cảm nhận (PSS) là công cụ tâm lý phổ biến nhất để đánh giá nhận thức về căng thẳng Nó đo lường mức độ mà các tình huống trong cuộc sống được cảm nhận là căng thẳng Các câu hỏi trong thang đo này nhằm khai thác cảm giác không thể đoán trước, không thể kiểm soát và quá tải trong cuộc sống của người trả lời PSS10 cho phép đánh giá mức độ căng thẳng mà vẫn đảm bảo chất lượng đo lường tâm lý.

Trong mỗi trường hợp, những người tham gia được hỏi về tần suất cảm nhận của họ Có bằng chứng cho thấy điểm PSS cao hơn trong các trường hợp.

• Bệnh nhân tiểu đường không kiểm soát được lượng đường trong máu

• Dễ bị tổn thương hơn đối với các triệu chứng trầm cảm do sự kiện cuộc sống gây ra căng thẳng

Mối quan hệ giữa tình trạng sức khỏe và PSS được nghiên cứu bởi Cohen et al (1988), cho thấy có sự tương quan với các yếu tố như biện pháp căng thẳng, dịch vụ y tế tự báo cáo, hành vi sức khỏe, tình trạng hút thuốc và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp.

Vào năm 2017, Trần T.H Đào đã dịch Thang đo ứng suất cảm nhận 10 (PSS-10) sang tiếng Việt và tiến hành đánh giá phiên bản tiếng Việt (V-PSS-10) về tính tương đương, giá trị mặt, hiệu lực cấu trúc, mối tương quan, độ tin cậy nhất quán nội bộ và độ tin cậy kiểm tra lại trên 473 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên Kết quả cho thấy V-PSS-10 có giá trị và độ tin cậy chấp nhận được, cho phép sử dụng trong nghiên cứu và thực hành để đo lường mức độ căng thẳng ở phụ nữ lớn tuổi Tuy nhiên, các nghiên cứu trong tương lai sẽ cần thiết để xác nhận thêm tính hợp lệ và độ tin cậy của V-PSS-10.

Warwick Edinburgh Mental Wellbeing Scale-WEMWBS (2007)

Thang đo sức khỏe tâm thần Warwick-Edinburgh Mental Wellbeing Scale (WEMWBS) được phát triển để cho phép đo lường sức khỏe tâm thần trong dân số nói

Thang đo WEMWBS 14 mục với thang điểm 5 (từ "không lúc nào" đến "mọi lúc") được sử dụng để đánh giá các dự án, chương trình và chính sách nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần Tất cả các mục trong thang đo đều được diễn đạt tích cực, bao gồm cả khía cạnh cảm giác và hoạt động của sức khỏe tâm thần, giúp khái niệm trở nên dễ tiếp cận hơn Thang điểm này đã được áp dụng rộng rãi cả trong nước và quốc tế để theo dõi và đánh giá các dự án, chương trình, cũng như điều tra các yếu tố quyết định sức khỏe tâm thần.

WEMWBS được thiết kế để đo lường sức khỏe tâm thần cá nhân, không phải các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như khả năng phục hồi, kỹ năng quan hệ, quản lý xung đột và giải quyết vấn đề Nó cũng không xem xét các yếu tố kinh tế xã hội như nghèo đói, bạo lực gia đình, bắt nạt, thất nghiệp, kỳ thị, phân biệt chủng tộc và các hình thức loại trừ xã hội khác.

WEMWBS đã được xác nhận là công cụ đánh giá sức khỏe tâm thần cho nhiều nhóm tuổi, bao gồm thanh thiếu niên từ 13-16 tuổi (Clarke và cộng sự, 2010), sinh viên đại học và dân số nói chung (Tennant và cộng sự, 2007) Ngoài ra, WEMWBS cũng đã được áp dụng thành công cho những người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần từ 18 tuổi trở lên (Bass, Dawkin, Muncer, Vigurs & Bostock, 2016).

Tại Việt Nam, bảng hỏi WEMWBS hiện chưa được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi các nghiên cứu trong nước

Bảng Câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân (PHQ-9) là công cụ sàng lọc tự báo cáo ngắn gọn, được sử dụng để đánh giá mức độ trầm cảm trong cả môi trường lâm sàng và cộng đồng.

Bảng câu hỏi PHQ-9 gồm 9 mục dựa trên tiêu chí DSM-IV, được sử dụng để sàng lọc triệu chứng trầm cảm và chẩn đoán rối loạn trầm cảm nặng (MDD) Điểm số cao trong thang PHQ-9 phản ánh những khó khăn gia tăng trong hoạt động hàng ngày và tình trạng sức khỏe Đánh giá này cũng giúp theo dõi mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, những thay đổi và đáp ứng với điều trị theo thời gian.

Thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của giáo viên trên thế giới và tại Việt

1.2.1 Thực trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm của giáo viên trên thế giới

1.2.1.1 Thực trạng căng thẳng của giáo viên trên thế giới

Sức khoẻ tâm thần của giáo viên đóng vai trò quan trọng trong chất lượng giáo dục, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất công việc của họ và sức khoẻ tâm thần của học sinh Nghề giáo viên được xem là một trong những nghề có mức độ căng thẳng cao, do đó, việc chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho giáo viên là cần thiết.

Căng thẳng của giáo viên là những trải nghiệm liên quan đến cảm xúc tiêu cực như tức giận, thất vọng, lo lắng và trầm cảm.

Căng thẳng trong công việc của giáo viên có thể dẫn đến lo âu, sợ hãi và khó chịu Việc đo lường mức độ căng thẳng của giáo viên là rất quan trọng để hiểu rõ các quá trình dẫn đến tình trạng kiệt sức Kiệt sức được định nghĩa là sự không khả năng thực hiện chức năng và hiệu quả trong công việc do tiếp xúc với căng thẳng Nghiên cứu về căng thẳng của giáo viên đã gia tăng đáng kể và trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng ở nhiều quốc gia.

Năm 2010, Samad đã tiến hành đánh giá tình trạng căng thẳng của 272 giáo viên tiểu học tại 9 trường ở Thung lũng Klang, Malaysia Kết quả cho thấy 71,7% giáo viên có mức độ căng thẳng trung bình, trong khi chỉ 12,1% có sức khỏe tâm thần ở mức thấp Một báo cáo từ Viện Y tế Quốc gia, Bộ Y tế Malaysia chỉ ra rằng tình trạng trầm cảm trong giáo viên ở Malaysia đang trở nên nghiêm trọng do khối lượng công việc ngày càng tăng.

Năm 2015, Liên đoàn giáo viên Hoa Kỳ đã tiến hành khảo sát "Quality of Worklife Survey" với hơn 30,000 nhà giáo dục để đánh giá sức khỏe tâm thần và mức độ căng thẳng của giáo viên Khảo sát gồm 80 câu hỏi về hạnh phúc, sức khỏe tâm thần và căng thẳng, với 80% người tham gia là giáo viên và 34% cho biết sức khỏe tâm thần của họ bị suy giảm Tại Ethiopia, căng thẳng nghề nghiệp cũng phổ biến ở giáo viên trung học cơ sở, với nghiên cứu của Hagos (2015) cho thấy tất cả 321 giáo viên tham gia đều có mức độ căng thẳng cao.

HUPH chiến lược đối phó chủ yếu được sử dụng bởi hơn một nửa số giáo viên là chuyển sang tôn giáo

Nghiên cứu của Baraza (2017) về mức độ căng thẳng của giáo viên THCS công lập tại phía bắc Kakamega, Kenya, sử dụng thang đo căng thẳng của Holmes và Rahe với 43 câu hỏi liên quan đến các sự kiện gây căng thẳng Kết quả khảo sát trên 179 giáo viên và lãnh đạo nhà trường cho thấy 6,06% giáo viên có mức độ căng thẳng thấp, 37,37% có mức độ căng thẳng trung bình, và 56,57% ghi nhận mức độ căng thẳng cao.

Trong nghiên cứu của Gebisa (2019) tại thành phố Gondar, tây bắc Ethiopia, 409 giáo viên THCS công lập đã được đánh giá về triệu chứng căng thẳng nghề nghiệp thông qua thang đo PSS-14 Thang đo này bao gồm 14 câu hỏi, với điểm số từ 0 đến 4, phản ánh tần suất xuất hiện triệu chứng trong tháng trước khảo sát Kết quả cho thấy tỷ lệ cảm giác căng thẳng liên quan đến công việc trong tháng qua đạt 58,2%.

1.2.1.2 Thực trạng lo âu của giáo viên trên thế giới

Căng thẳng nghề nghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe tinh thần, thể chất của giáo viên Áp lực từ cơ sở giáo dục, học sinh, phụ huynh và thái độ cộng đồng, cùng với khối lượng công việc lớn và xung đột vai trò, khiến giáo viên cảm thấy bối rối và lo lắng Cảm giác lo lắng tạm thời có thể khác biệt so với lo lắng mãn tính, nhưng cả hai đều ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của giáo viên trong công việc và cuộc sống hàng ngày.

Tỷ lệ giáo viên có triệu chứng lo âu ở các nước dao động từ 43,59% đến 60,8% tùy theo khu vực Nghiên cứu của Zahiruddin và cộng sự (2019) cho thấy trong số 356 giáo viên THCS tại khu thung lũng Klang, Malaysia, có đến 68,0% giáo viên gặp triệu chứng lo âu, trong đó 23,3% có mức độ lo âu nặng và nghiêm trọng.

Ibrahim (2021) cũng sử dụng Thang điểm trầm cảm, lo âu và căng thẳng DASS

Theo nghiên cứu của Lovibond, mức độ nghiêm trọng của sức khỏe tâm lý của giáo viên đạt 43,59% (n = 146) Trong đó, khoảng 82,39% (n = 276) triệu chứng lo âu được phân loại là rất nghiêm trọng, 14,93% (n = 50) ở mức độ nặng, trong khi chỉ có 0,89% (n = 3) ở mức độ nhẹ và 1,79% (n = 6) ở mức độ trung bình.

1.2.1.3 Thực trạng trầm cảm ở giáo viên trên thế giới

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, gây tàn tật toàn cầu và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, nhận thức và hoạt động hàng ngày Nó là nguyên nhân dẫn đến 39% số ca tự tử trên toàn thế giới Nghiên cứu cho thấy giáo viên có mức độ trầm cảm cao hơn so với dân số chung, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của họ Tại Anh, tỷ lệ trầm cảm ở giáo viên dao động từ 19,4% đến 52,5% Hadi (2008) đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang trên 580 giáo viên trung học cơ sở ở Kota Bharu, Malaysia, sử dụng thang đánh giá DASS để đo lường mức độ trầm cảm, lo âu và căng thẳng.

Bảng câu hỏi nội dung công việc JCQ được sử dụng để khảo sát tình trạng trầm cảm và các yếu tố liên quan Kết quả cho thấy 49,1% giáo viên tại các trường trung học cơ sở có triệu chứng trầm cảm, trong đó phần lớn chỉ ở mức độ nhẹ (21,0%).

Một nghiên cứu của Louise và cộng sự (2019) đã khảo sát sự căng thẳng và triệu chứng trầm cảm ở 163 giáo viên tại một số cơ sở giáo dục công lập ở Brazil, trong đó có 108 (66,3%) là nam giới Kết quả cho thấy 67% giáo viên nam và 63% giáo viên nữ trải qua căng thẳng ở các mức độ khác nhau, trong khi 79,8% nữ giới và 64,8% nam giới bị trầm cảm.

Nghiên cứu của Ibrahim (2021) sử dụng Thang điểm trầm cảm, lo âu và căng thẳng DASS 21 do Lovibond phát triển cho thấy mức độ nghiêm trọng của sức khỏe tâm lý của giáo viên là tương đối cao, với 43,59% giáo viên (n = 146) có tổng điểm cho thấy các triệu chứng trầm cảm nặng Đặc biệt, tỷ lệ giáo viên có các triệu chứng rất nghiêm trọng là 25,69% (n = 86) Trong khi đó, chỉ có 0,57% (n = 2) và 30,15% (n = 101) giáo viên có các triệu chứng nhẹ hoặc trung bình.

Kể từ cuối năm 2019, dịch bệnh COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra đã trở thành một đại dịch toàn cầu, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người Toàn thế giới đã phải thích nghi với tình trạng mới này.

HUPH hội mới, trong đó rất nhiều người dân đã phải ngừng lại hoàn toàn công việc của mình

Một số yếu tố liên quan tới căng thẳng, lo âu, trầm cảm của giáo viên

1.3.1 Nhóm yếu tố cá nhân

Một số yếu tố cá nhân đã được chứng minh là có liên quan tới tình trạng sức khỏe tâm thần của giáo viên

C.Gorcy (2015) sử dụng kiểm định t-test để tìm hiểu một số mối liên quan đến sức khỏe tâm thần của giáo viên, các giá trị t cho thấy rằng có sự khác biệt đáng kể về điểm số căng thẳng và trầm cảm giữa hai giới Giáo viên nam thường có sức khỏe tâm thần tốt hơn so với các đồng nghiệp nữ (70), Louise (2019) cũng nhận định sự khác biệt về mức độ căng thẳng giữa các thầy giáo và cô giáo, có sự khác biệt giữa tỷ lệ căng thẳng và tỷ lệ trầm cảm giữa hai giới Về tỷ lệ căng thẳng, có 67% thầy giáo và 63% cô giáo gặp tình trạng căng thẳng 64,8% thầy giáo có triệu chứng trầm cảm, nhưng có tới 79,8% cô giáo có triệu trứng trầm cảm (57) Ở Úc, mức độ căng thẳng của giáo viên nữ cao hơn so với giáo viên nam, với 26% giáo viên nữ, so với 20% giáo viên nam Sue Thomson (2020) đại diện cho khảo sát TALIS 2020 cho biết tỷ lệ căng thẳng ở các giáo viên trẻ hơn (30% ở giáo viên dưới 30 tuổi) cao hơn so với giáo viên lớn tuổi (19% giáo viên trên 50 tuổi) (71) Ở Việt Nam, các nữ giảng viên bị căng thẳng nhiều hơn các đồng nghiệp nam (90% ở giảng viên nữ và 88,5% giảng viên nam) (66)

Nghiên cứu của Kavita K (2018) tại Malaysia cho thấy nhóm tuổi từ 20-30 thường trải qua nhiều áp lực hơn so với nhóm tuổi từ 51-60 Điểm số mức độ căng thẳng trung bình của giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy từ 11-15 năm cao hơn so với giáo viên có kinh nghiệm từ 31-50 tuổi Ngoài ra, có sự khác biệt đáng kể về mức độ căng thẳng giữa giáo viên độc thân và đã kết hôn, với sự khác biệt trung bình là 0,42 (p

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. The Pennsylvania State University. Teacher Stress and Health. 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teacher Stress and Health
Tác giả: The Pennsylvania State University
Năm: 2017
8. Phạm Thị Hương. Stress của giáo viên trường mầm non tư thục. Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học, trường Đại học Quốc gia Hà Nội. 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress của giáo viên trường mầm non tư thục
Tác giả: Phạm Thị Hương
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
10. Bộ Giáo dục và đào tạo. Quyết định 512/QĐ-BGDĐT 2020 Phê duyệt Danh mục sách giáo khoa lớp 1 sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông. Hà Nội: Bộ Giáo dục và đào tạo; 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 512/QĐ-BGDĐT 2020 Phê duyệt Danh mục sách giáo khoa lớp 1 sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2020
11. The National Institute of Mental Health Information Resource Center. Depression 2018 [Available from: https://www.nimh.nih.gov/health/topics/depression Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression
Tác giả: The National Institute of Mental Health Information Resource Center
Năm: 2018
12. Pan American Health Organization. Anxiety disorders 2015 [Available from: https://www.paho.org/en/noncommunicable-diseases-and-mental-health/noncommunicable-diseases-and-mental-health-data-portal-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anxiety disorders
Tác giả: Pan American Health Organization
Năm: 2015
13. National Alliance on Mental Illness. Anxiety Disorders 2017 [Available from: https://www.nami.org/About-Mental-Illness/Mental-Health-Conditions/Anxiety-Disorders Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anxiety Disorders
Tác giả: National Alliance on Mental Illness
Năm: 2017
14. Mental Health Foundation. Stress 2018 [Available from: https://www.mentalhealth.org.uk/a-to-z/s/stress Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress 2018
Tác giả: Mental Health Foundation
Năm: 2018
15. Deakin University. Work Related Stress 2019 [Available from: https://www.deakin.edu.au/students/health-and-wellbeing/occupational-health-and-safety/work-related-stress Sách, tạp chí
Tiêu đề: Work Related Stress 2019
Tác giả: Deakin University
Năm: 2019
16. Goldberg DP, Huxley P. Common mental disorders: a bio-social model: Tavistock/Routledge; 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Common mental disorders: a bio-social model
Tác giả: Goldberg DP, Huxley P
Nhà XB: Tavistock
Năm: 1992
17. World Health Orgainization. Occupational health: Stress at the workplace: World Health Orgainization,; 2020 [Available from: https://www.who.int/news- room/q-a-detail/ccupational-health-stress-at-the-workplace Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational health: Stress at the workplace
Tác giả: World Health Organization
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2020
1. Tan SY, Yip A. Hans Selye (1907-1982): Founder of the stress theory. Singapore Med J. 2018;59(4):170-1 Khác
2. Mendes Rodrigues LT, Campêlo Lago E, Pinheiro Landim Almeida CA, Pires Ribeiro I, Vasconcelos Mesquita G. Estrés y depresión en docentes de una institución pỳblica de enseủanza. Enfermerớa Global. 2019;19(1):209-42 Khác
3. Ferguson K, Frost L, Hall D. Predicting teacher anxiety, depression, and job satisfaction. Journal of teaching and learning. 2012;8(1) Khác
4. Yang X, Wang L, Ge C, Hu B, Chi T. Factors associated with occupational strain among Chinese teachers: a cross-sectional study. Public Health.2011;125(2):106-13 Khác
7. Othman Z, Sivasubramaniam V. Depression, Anxiety, and Stress among Khác
9. Jakubowski TD, Sitko-Dominik MM. Teachers' mental health during the first two waves of the COVID-19 pandemic in Poland. PloS one. 2021;16(9):e0257252 Khác
18. Cohen S, Kamarck T, Mermelstein R. A Global Measure of Perceived Stress. Journal of Health and Social Behavior. 1983;24(4):385-96 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phân bố cỡ mẫu nghiên cứu trên cá tỉnh, thành phố - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 2.1. Phân bố cỡ mẫu nghiên cứu trên cá tỉnh, thành phố (Trang 36)
Bảng 2.2. Bảng phân loại lại biến tình trạng triệu chứng - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 2.2. Bảng phân loại lại biến tình trạng triệu chứng (Trang 42)
Bảng 3.1: Thông tin chung về cá nhân của đối tượng nghiên cứu - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.1 Thông tin chung về cá nhân của đối tượng nghiên cứu (Trang 45)
Bảng 3.2: Thông tin chung liên quan đến công việc của đối tượng nghiên cứu - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.2 Thông tin chung liên quan đến công việc của đối tượng nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 3.3: Mô tả thang đo DASS - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.3 Mô tả thang đo DASS (Trang 47)
Bảng 3.4: Phân bố tỷ lệ đánh giá mức độ trầm cảm ở giáo viên tiểu học và THCS - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.4 Phân bố tỷ lệ đánh giá mức độ trầm cảm ở giáo viên tiểu học và THCS (Trang 49)
Bảng 3.11: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về yêu cầu công - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.11 Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về yêu cầu công (Trang 53)
Bảng 3.13: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về tính chất/môi  trường công việc và tình mắc trầm cảm của các giáo viên - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.13 Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về tính chất/môi trường công việc và tình mắc trầm cảm của các giáo viên (Trang 55)
Bảng 3.22: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về mỗi quan hệ - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.22 Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về mỗi quan hệ (Trang 64)
Bảng 3.25: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa thông tin chung về cá nhân và - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.25 Phân tích đơn biến mối liên quan giữa thông tin chung về cá nhân và (Trang 67)
Bảng 3.29: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về tính chất/môi - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.29 Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về tính chất/môi (Trang 71)
Bảng 3.30: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về mối quan hệ - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Bảng 3.30 Phân tích đơn biến mối liên quan giữa nhóm các yếu tố về mối quan hệ (Trang 72)
BẢNG 2  KHẢO SÁT YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CĂNG THẢNG TÂM LÝ Ở GIÁO VIÊN - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
BẢNG 2 KHẢO SÁT YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CĂNG THẢNG TÂM LÝ Ở GIÁO VIÊN (Trang 107)
Hình thức: - Căng thẳng, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở giáo viên một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại thành phố hà nội năm 2020
Hình th ức: (Trang 136)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w