ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 7-9 tại trường THCS Nguyễn Trãi được chọn làm đối tượng nghiên cứu, trong khi học sinh lớp 6 không được lựa chọn do nhóm này vừa trở lại học trực tiếp sau thời gian gián đoạn vì COVID-19.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Học sinh lớp 7-9 đang theo học tại trường THCS Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp, TPHCM
Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh vắng mặt tại thời điểm điều tra
T HỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2022
- Địa điểm: Trường THCS Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp, TPHCM
T HIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
C Ỡ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
2.4.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức ước tính một tỉ lệ
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra
- Z 2 1-α/2: Hệ số tin cậy mức 95%, tương ứng là 1,96
Trong nghiên cứu này, p được xác định là tỉ lệ ước tính liên quan đến bạo lực học đường, bao gồm hai tỉ lệ: tỉ lệ thực hiện bạo lực và tỉ lệ bị bạo lực Dựa trên điều tra thực trạng bạo lực học đường và các yếu tố liên quan tại trường THCS Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Hà Nội vào năm 2017, chúng tôi đã tiến hành tính toán cỡ mẫu.
HUPH mẫu với tỉ lệ thực hiện bạo lực - p1=0,12 và tỉ lệ bị bạo lực - p2=0,10 (86)
- d = 0,05 (độ chính xác tuyệt đối)
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm với đơn vị là lớp, dự kiến cỡ mẫu là 508 học sinh Để dự phòng cho 15% học sinh có thể từ chối hoặc vắng mặt, khoảng 100 học sinh được tính thêm Cuối cùng, tổng cỡ mẫu tham gia vào nghiên cứu là 635 học sinh.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm Với số lượng học sinh mỗi lớp dao động từ 30 đến 35, chúng tôi đã thực hiện việc chọn ngẫu nhiên một số lượng học sinh nhất định.
Chúng tôi đã xây dựng danh sách 20 lớp học từ 40 lớp của 3 khối lớp 7 đến lớp 9, không bao gồm khối lớp 6 do chưa được học trực tiếp Sau khi tổng hợp danh sách toàn bộ học sinh của 20 lớp, chúng tôi đã tiến hành chọn ngẫu nhiên học sinh tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy khối lớp 7 và lớp 8 có 6 lớp được chọn, trong khi khối lớp 9 có 8 lớp tham gia vào nghiên cứu, với toàn bộ học sinh của các lớp được chọn đều tham gia.
P HƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ được phát triển dựa trên các công cụ từ Điều tra Đánh giá hành vi nguy cơ sức khỏe trẻ vị thành niên tại Hà Nội năm 2019 và các nghiên cứu tương tự về hành vi bắt nạt học sinh trung học Bộ công cụ đã được thử nghiệm trên 10 học sinh tại trường THCS Nguyễn Trãi, và những học sinh này sẽ không được đưa vào danh sách điều tra chính thức cuối cùng Bộ câu hỏi bao gồm các nhóm biến số chính.
1 Thông tin cá nhân của học sinh
5 Yếu tố môi trường, xã hội
6 Thực trạng bạo lực ở học sinh (hành vi bạo lực và từng bị bạo lực)
2.5.2 Cách thức thu thập dữ liệu
Chuẩn bị thu thập số liệu :
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp phát vấn trực tiếp trên lớp cho học sinh
Điều tra viên (ĐTV) gồm 03 cán bộ từ TYT phường 13, quận Gò Vấp, thực hiện nghiên cứu với sự hỗ trợ của nghiên cứu viên chính, người có kỹ năng giám sát, kiểm tra và đánh giá Các ĐTV đã được tập huấn trong 01 ngày về mục đích, nội dung nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu.
- ĐTV lên dự kiến thu thập và cùng với nghiên cứu viên chính gửi công văn phối kết hợp triển khai tới trường THCS Nguyễn Trãi
Tiến hành thu thập thông tin:
Trước khi tiến hành thu thập dữ liệu, ĐTV sẽ gửi đơn xin đồng ý tham gia cho học sinh, yêu cầu ý kiến đồng ý từ phụ huynh hoặc người chăm sóc chính Giáo viên chủ nhiệm sẽ hỗ trợ bằng cách gửi thông báo và thu thập phiếu đồng ý trực tuyến.
Để thực hiện điều tra, ĐTV đã hẹn thời gian với từng lớp học Vào ngày điều tra, ĐTV phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để hướng dẫn học sinh hoàn thành bộ câu hỏi tự điền Trong quá trình học sinh trả lời trực tuyến, ĐTV hỗ trợ và giải thích các câu hỏi ĐTV cũng đối chiếu với danh sách và đếm số lượng học sinh tham gia điều tra, đồng thời nhắc nhở học sinh kiểm tra kỹ các câu trả lời trước khi thu phiếu hoàn thiện.
C ÁC BIẾN SỐ , CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
Bộ câu hỏi bao gồm 6 nhóm biến số chính (Chi tiết ở Phụ Lục 1 Biến số nghiên cứu):
1 Thông tin nhân khẩu học và thông tin cá nhân của học sinh
2 Các hành vi nguy cơ của học sinh
3 Mối quan hệ và hoàn cảnh gia đình
4 Mối quan hệ với bạn bè
5 Môi trường nhà trường và xã hội
6 Thực trạng BLHĐ (hành vi bạo lực và từng bị bạo lực)
T IÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ
Thang đo bạo lực - Định nghĩa biến số đầu ra chính:
Dựa theo định nghĩa “bạo lực học đường” CDC, biến số đầu ra trong nghiên cứu được định nghĩa như sau:
Học sinh bị bạo lực học đường trong 12 tháng qua được định nghĩa là những người đã trải qua các hành động bạo lực thể chất, sử dụng vũ khí, khống chế bằng sức mạnh cơ thể, bạo lực lời nói, bạo lực xã hội và bạo lực điện tử Cụ thể, họ có thể bị đánh đập, đe dọa, xúc phạm, phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay hoặc bị ép buộc thực hiện các hành vi bạo lực này Những học sinh này được xác định là đã từng là nạn nhân của một hoặc nhiều hành vi bạo lực trong khoảng thời gian 12 tháng trước khi trả lời bộ câu hỏi.
Trong vòng 12 tháng qua, học sinh tham gia BLHĐ đã trực tiếp thực hiện các hành vi bạo lực thể chất như đánh đấm, đá, sử dụng vũ khí, và khống chế bằng sức mạnh cơ thể Ngoài ra, các em cũng đã có hành vi bạo lực bằng lời nói như đe dọa, xúc phạm, cũng như bạo lực xã hội thông qua phân biệt đối xử, cô lập, và tẩy chay Hơn nữa, bạo lực điện tử cũng được thực hiện, bao gồm việc phát tán tin đồn xấu.
Học sinh có bạo lực là học sinh được xác định đã từng tham gia vào một hay nhiều hành vi nào trong các hành vi trên”.
P HƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Dữ liệu được thu thập từ học sinh thông qua phỏng vấn và sau đó được nhập vào phần mềm Epidata 3.1 Quá trình xử lý và phân tích dữ liệu sẽ được thực hiện bằng phần mềm Stata phiên bản 15.0.
Phân tích được thực hiện gồm:
Mô tả đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, các thông tin về yếu tố gia đình, bạn bè, trường học, môi trường sống v.v…
Nghiên cứu này nhằm xác định mối liên quan giữa bạo lực và bị bạo lực thông qua việc kiểm định khi bình phương (\( \chi^2 \)) Mục tiêu là tìm hiểu sự liên hệ giữa bạo lực và các yếu tố cá nhân, gia đình, bạn bè, nhà trường và môi trường xã hội với mức ý nghĩa 5%.
V ẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã được phê duyệt theo quyết định số 89/2022/YTCC-HD3 ngày 8 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng đạo đức tại Trường Đại học Y tế công cộng, và được tiến hành ngay sau khi có quyết định này.
ĐTV nêu rõ mục đích nghiên cứu và nhấn mạnh rằng học sinh chỉ tham gia khi có sự đồng ý của phụ huynh hoặc người chăm sóc Thông tin thu thập được sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và được bảo mật, chỉ có nghiên cứu viên mới có quyền truy cập Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi tới nhà trường và các đơn vị tham gia sau khi được Hội đồng bảo vệ Luận văn thông qua.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đ ẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu “Bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan ở học sinh tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022” đã thu thập dữ liệu từ 635 học sinh lớp 7 đến lớp 9, do học sinh lớp 6 chưa đi học trực tiếp tại trường trong giai đoạn thu thập Dưới đây là các kết quả chính của đề tài.
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của học sinh
Kết quả học tập kì trước
Bảng 3.1 trình bày đặc điểm nhân khẩu học và thông tin chung của 635 học sinh trường THCS Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp, TPHCM Trong đó, tỉ lệ học sinh nam tham gia nghiên cứu là 46,8%, thấp hơn so với 53,2% của học sinh nữ Tỉ lệ học sinh ở khối lớp 7 và lớp 8 là tương đương nhau, mỗi khối chiếm 27% trong tổng số học sinh tham gia.
Lớp 9 chiếm tỉ lệ lớn nhất trong nghiên cứu với 46,5%, do có tới 8 lớp tham gia, trong khi khối lớp 7 và lớp 8 chỉ có 6 lớp tham gia.
Kết quả học tập của học kỳ trước cho thấy hơn 90% học sinh tham gia nghiên cứu đạt học lực giỏi và xuất sắc Về hạnh kiểm, 91% học sinh có hạnh kiểm Tốt, trong khi chỉ 9% có hạnh kiểm Khá và trung bình.
Bảng 3.2 Thông tin về yếu tố gia đình của học sinh
Nữ Nam Tổng n38 % n)7 % Nc5 % Đối tượng sống cùng
Với chỉ bố hoặc mẹ hoặc người thân khác 36 10,7 32 10,8 68 10,7
Nghề nghiệp chính của bố
Nghề nghiệp chính của mẹ
Tần suất trao đổi thông tin và tâm sự với gia đình
Luôn luôn 12 3,6 21 7,1 33 5,2 Điều kiện kinh tế của gia đình
Chứng kiến Không bao giờ 241 71,3 224 75,4 465 73,2
HUPH bạo lực giữa các thành viên trong gia đình
Bảng 3.2 cho thấy rằng 10,7% học sinh sống cùng chỉ một trong hai phụ huynh hoặc người thân khác Về nghề nghiệp chính của phụ huynh, nghề kinh doanh/ buôn bán chiếm tỉ lệ cao nhất với 35,4% cho bố và 38,0% cho mẹ, trong khi lao động tự do cũng chiếm tỉ lệ đáng kể với 27,7% cho bố và 20,9% cho mẹ Những số liệu này phản ánh đúng tình hình tại quận Gò Vấp, nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh chóng ở TPHCM.
Xét về tình trạng kinh tế, hơn 90% học sinh tự đánh giá kinh tế ở mức trung bình (43,5%) và khá (47,6%)
Việc trao đổi thông tin giữa học sinh và bố mẹ vẫn diễn ra với tần suất thấp, khi 49,5% học sinh chỉ thỉnh thoảng trao đổi, trong khi tần suất thường xuyên hoặc luôn luôn chỉ chiếm 23,9% Về tình trạng bạo lực gia đình, 93,1% học sinh cho biết họ không bao giờ hoặc hiếm khi chứng kiến bạo lực trong gia đình, tuy nhiên, vẫn có 6,9% học sinh thừa nhận rằng họ thỉnh thoảng hoặc thường xuyên chứng kiến bạo lực giữa các thành viên trong nhà.
Bảng 3.3 Thông tin về yếu tố bạn bè và trường học
Số lượng bạn thân ở trường
Bạn thân tham gia bạo lực
Mối quan hệ với bạn bè
Từng kể chuyện cá nhân với thầy cô
Nội quy, quy định liên quan đến các hành vi
Hình thức xử phạt vi phạm
Viết bản tự kiểm điểm 67 26,5 98 40,3 165 33,3
Khiển trách và thông báo với gia đình
Tất cả các hình thức trên 14 5,5 10 4,1 24 4,8
Chương trình dạy kỹ năng sống cho học sinh
Bảng 3.3 trình bày thông tin về yếu tố bạn bè và trường học liên quan đến hoạt động học tập Hơn 80% học sinh cho biết họ có từ 2 bạn thân trở lên, trong khi chỉ 6% học sinh cho biết có bạn thân tham gia vào hoạt động học tập Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của mối quan hệ bạn bè và áp lực học tập đối với việc tham gia vào các hoạt động học tập.
Hơn 75% học sinh có mối quan hệ tốt với bạn bè cùng trang lứa, trong đó 42,7% cho biết mối quan hệ rất tốt Tuy nhiên, chỉ có 13,1% học sinh từng chia sẻ chuyện cá nhân với thầy cô.
Tại trường THCS Nguyễn Trãi, 21,9% học sinh tham gia nghiên cứu cho biết họ không nắm rõ các nội quy liên quan đến hành vi bạo lực học đường.
Theo khảo sát, 33,3% và 39,5% học sinh nhận thức được hình thức xử phạt vi phạm Bộ Luật Hình sự, bao gồm việc viết bản tự kiểm điểm và thông báo khiển trách với gia đình Bên cạnh đó, có 66,4% học sinh thường xuyên tham gia các chương trình học kỹ năng sống tại trường.
Bảng 3.4 Thông tin về môi trường – xã hội của học sinh
Chứng kiến các hành vi bạo lực tại nơi sống
Tiếp xúc với các ấn phẩm có nội dung bạo lực
Theo khảo sát, 66% học sinh đã chứng kiến bạo lực tại nơi sinh sống, trong đó 44,4% ghi nhận hiếm khi và 19,2% thỉnh thoảng Bên cạnh đó, 53,4% học sinh đã tiếp xúc với các văn hóa phẩm bạo lực, và 47,6% cho biết họ hiếm khi hoặc thỉnh thoảng tiếp xúc với những nội dung này.
T HỰC TRẠNG BẠO LỰC CỦA HỌC SINH
3.1.1 Hành vi BLHĐ ở học sinh
Biểu đồ 3.1 Tình trạng bạo lực ở học sinh trong 12 tháng qua (nc5)
Nghiên cứu tại trường THCS Nguyễn Trãi cho thấy trong 12 tháng qua, tỉ lệ học sinh liên quan đến bạo lực học đường (BLHĐ) là khá cao, với 93 đối tượng nghiên cứu, chiếm 14,6% (Biểu đồ 3,1) Tuy nhiên, tỉ lệ học sinh từng tham gia vào các hành vi bạo lực lại thấp hơn.
33 em với tỉ lệ 5,2% và tỉ lệ học sinh tham gia cả 2 hình thức bạo lực (bị bạo lực và tham gia bạo lực) là 3,6% với 23 em,
Bị BLHĐ Tham gia BLHĐ Bị BLHĐ và Tham gia
Bảng 3.5 Thực trạng học sinh bị BLHĐ trong vòng 12 tháng qua
Bị bạo lực học đường 40 11,9 53 17,9 93 14,7
Bạo lực thể chất Đánh, đấm, đá, xô đẩy, dứt tóc, kéo tai, xé quần áo 7 2,1 21 7,1 28 4,4
Trấn lột/lấy trộm tiền/đồ vật hoặc bị phá hỏng đồ vật của mình
Bạo lực lời nói Đe doạ, xúc phạm, sỉ nhục, chế nhạo làm tổn thương 14 4,1 17 5,7 31 4,9
Gán/gọi biệt danh/Gọi tên bố mẹ (mục đích xấu) 9 2,7 19 6,4 28 4,4
Dùng lời nói đe doạ, ép buộc làm theo ý mình 3 0,9 16 5,4 19 3,0
Phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay 11 3,3 16 5,4 27 4,3
Tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) 17 5,0 17 5,7 34 5,4
Thông qua việc sử dụng tin nhắn và các nội dung được chia sẻ trên Internet, bao gồm Instagram, Facebook và các mạng xã hội khác, người ta có thể thực hiện hành vi đe dọa, cô lập và tẩy chay đối tượng.
Bảng 3.5 cho thấy tổng số 635 học sinh tham gia nghiên cứu, có 93 em (14,7%) từng bị bạo lực học đường, trong đó nam cao hơn nữ (17,9% so với 11,9%)
Tính tới từng loại bạo lực có thể thấy số học sinh bị bạo lực lời nói là lớn nhất
(78 em), tiếp theo là bạo lực xã hội (61 em), bạo lực thể chất (45 em) và thấp nhất là bạo lực qua mạng (19 em)
Bảng 3.6 Thực trạng tham gia BLHĐ của học sinh trong 12 tháng qua
Nữ Nam Tổng n38 % n)7 % Nc5 % Tham gia bạo lực học đường 10 3,0 23 7,7 33 5,2
Bạo lực thể chất Đánh, đấm, đá, xô đẩy, dứt tóc, kéo tai, xé quần áo 2 0,6 13 4,4 15 2,4
Trấn lột/lấy trộm tiền/đồ vật hoặc bị phá hỏng đồ vật của mình
Bạo lực lời nói Đe doạ, xúc phạm, sỉ nhục, chế nhạo làm tổn thương 2 0,6 5 1,7 7 1,1
Gán/gọi biệt danh/Gọi tên bố mẹ (mục đích xấu) 1 0,3 7 2,4 8 1,3
Dùng lời nói đe doạ, ép buộc làm theo ý mình 0 0 6 2,0 6 0,9
Phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay 3 0,9 4 1,4 7 1,1
Tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) 2 0,6 2 0,7 4 0,6
Thông qua các tin nhắn và nội dung được chia sẻ trên Internet, bao gồm Instagram, Facebook và các mạng xã hội khác, hành vi đe dọa, cô lập và tẩy chay ngày càng trở nên phổ biến.
Bảng 3.6 chỉ ra rằng có 33 em (5,2%) đã từng trải qua bạo lực học đường, trong đó 23 em là nam và 10 em là nữ Cả Bảng 3.5 và 3.6 đều cho thấy học sinh tham gia hoặc bị bạo lực học đường ở nhiều hình thức đa dạng, không chỉ giới hạn ở một loại hình duy nhất.
Bảng 3.7 Tần suất và đối tượng BLHĐ ở học sinh
Bị người khác dùng vũ khí bạo lực trong trường
Tham gia đánh nhau trong trường
Bị thương do đánh nhau
Từng tham gia bạo lực ai lần gần đây nhất
Bảng 3.7 trình bày tần suất và đối tượng BLHĐ trong nghiên cứu Trong đó,
Khoảng 3,3% học sinh đã tham gia vào các vụ đánh nhau tại trường, trong khi 4,8% cho biết họ từng bị thương do đánh nhau Trong số 21 học sinh trả lời về việc tham gia bạo lực, 71,4% (tương đương 15 em) cho biết họ đã bạo lực với người quen trong lần gần nhất.
3.1.2 Các hành vi nguy cơ liên quan đến tình trạng BLHĐ
Bảng 3.8 Thực hiện hành vi nguy cơ về sức khỏe trong 30 ngày qua
Mang theo vũ khí theo người
Chưa bao giờ 331 97,9 296 99,7 627 98,7 Đã từng 7 2,1 1 0,3 8 1,3
Không đến trường do cảm thấy không được an toàn
Chưa bao giờ 334 98,8 294 99 628 98,9 Đã từng 4 1,2 3 1,0 7 1,1
Số lần bị ăn trộm/ phá hoại tài sản trong trường
Chưa bao giờ 300 88,8 252 84,9 552 86,9 Đã từng 38 11,5 45 15,2 83 13,1
Chưa bao giờ 326 96,5 286 96,3 612 96,4 Đã từng 12 3,6 11 3,7 23 3,6
Chưa bao giờ 290 85,8 263 88,6 553 87,1 Đã từng 48 14,5 34 11,4 82 12,9
Sử dụng chất gây nghiện
Chưa bao giờ 337 99,7 297 100 634 99,8 Đã từng 1 0,3 0 0,0 1 0,2
Từng thực sự có ý định tự tử
Chưa bao giờ 280 82,8 285 96 565 89 Đã từng 58 17,5 12 4,0 70 11,0
Trong tổng số 635 học sinh tham gia nghiên cứu, hầu hết (627 học sinh) không
Theo nghiên cứu, 98,7% học sinh mang vũ khí theo người, trong khi chỉ 1,1% cảm thấy không an toàn đến trường và đã từng nghỉ học vì lý do này Tuy nhiên, 13,1% học sinh cho biết họ đã từng bị ăn trộm hoặc phá hoại tài sản tại trường Tỷ lệ học sinh thử hút thuốc và sử dụng rượu bia lần lượt là 3,5% và 12,9%, trong đó có 0,2% học sinh đã từng sử dụng chất gây nghiện Đặc biệt, 11% học sinh tham gia nghiên cứu có ý định tự tử, với tỷ lệ học sinh nữ cao hơn 4 lần so với học sinh nam.
M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI H ÀNH VI BẠO LỰC
3.3.1 Yếu tố liên quan tới bị BLHĐ ở học sinh
Bảng 3.9 Tình trạng bị bạo lực và một số đặc điểm cá nhân của học sinh Đặc điểm Tổng
Kết quả học tập kì trước
Bảng 3.9 chỉ ra rằng giới tính và khối học có mối liên quan đáng kể đến việc bị bạo lực học đường (BLHĐ) ở học sinh Cụ thể, tỷ lệ nam sinh có nguy cơ bị BLHĐ cao hơn nữ sinh, với con số lần lượt là 17,9% và 11,8% Sự khác biệt này được xác định là có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ odds ratio (OR) là 1,62, khoảng tin cậy 95% từ 1,04 đến 2,52, và giá trị p nhỏ hơn 0,05.
Bảng 3.10 Tình trạng bị bạo lực và một số đặc điểm gia đình Đặc điểm Tổng
Bị bạo lực OR 95% CI p
KTC trên n % n % Đối tượng sống cùng
Chỉ bố hoặc mẹ/ cùng họ hàng
Lao động tự do/ nông dân/
Lao động tự do/ nông dân/
Không bao giờ/ Thỉnh 483 406 84,1 77 15,9 Nhóm tham chiếu
HUPH thông tin, với bố mẹ thoảng
Tự đánh giá điều kiện kinh tế gia đình
Trung bình 590 506 85,8 84 14,2 Nhóm tham chiếu
Chứng kiến bạo lực giữa các thành viên**
Không bao giờ/ Thỉnh thoảng
Bảng 3.10 không cho thấy có mối liên quan giữa đặc điểm đặc điểm gia đình của học sinh và mối liên quan tới bị BLHĐ của học sinh
Bảng 3.11 Tình trạng bị bạo lực và yếu tố về bạn bè và trường học Đặc điểm Tổng
Bị bạo lực OR 95% CI p
Số lượng bạn thân ở trường
Có 1- bạn thân 122 102 83,6 20 16,4 Nhóm tham chiếu
Bạn thân tham gia bạo lực
Mối quan hệ với bạn bè
Rất tốt/tốt 481 423 87,9 58 12,1 Nhóm tham chiếu
Từng kể chuyện cá nhân với thầy cô
Hình thức xử phạt vi phạm
Viết bản tự kiểm điểm/
Báo GĐ/ Đình chỉ học
BÀN LUẬN
T HỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THCS
Tỉ lệ học sinh bị bạo lực tại trường THCS Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp, TPHCM là 14,6%, cao hơn so với 11,9% được báo cáo trong nghiên cứu của Dương Minh Đức về học sinh THPT tại Hà Nội năm 2019 Ngoài ra, tỉ lệ này cũng vượt qua mức 10,6% trong nghiên cứu tại trường THPT Tô Hiệu và cao hơn so với tỉ lệ trong nghiên cứu của Trần Thị Huyền Trang tại trường THPT Tô.
Năm 2017, huyện Thường Tín, Hà Nội ghi nhận tỷ lệ học sinh bị bạo lực là 10,42%, thấp hơn so với 20,8% ở Mỹ trong điều tra năm 2014-2015 Nghiên cứu cho thấy chỉ có 5,2% học sinh tham gia bạo lực học đường, thấp hơn nhiều so với 16,7% trong dữ liệu GSHS năm 2013 Tuy nhiên, tỷ lệ này tương đương với kết quả GSHS 2019, cho thấy chỉ hơn 4% học sinh THCS có hành vi bắt nạt Nghiên cứu của chúng tôi áp dụng phương pháp phát vấn để thu thập dữ liệu.
HUPH khác biệt so với các nghiên cứu tại Hà Nội và GSHS khi sử dụng bộ công cụ trực tuyến Đặc biệt, độ tuổi của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi là từ 12-15 tuổi, trong khi độ tuổi chung của các nghiên cứu khác là từ 12-18 tuổi.
Tại trường THCS Nguyễn Trãi, quận Gò Vấp, TPHCM, tỉ lệ học sinh bị bạo lực học đường vẫn còn cao, với 14,7% trong số 93 em từng trải qua tình trạng này Nam sinh có tỉ lệ bị bạo lực cao hơn nữ sinh (17,9% so với 11,9%) Phân tích theo từng loại bạo lực cho thấy bạo lực lời nói là phổ biến nhất với 78 em, tiếp theo là bạo lực xã hội (61 em), bạo lực thể chất (45 em) và bạo lực qua mạng (19 em) Điều này cho thấy học sinh tham gia hoặc bị bạo lực học đường dưới nhiều hình thức khác nhau, không chỉ giới hạn ở một loại duy nhất.
Nghiên cứu về bạo lực thể chất trong học sinh THCS tại miền Nam cho thấy khoảng 1% - 2% học sinh đã trải qua ít nhất một lần bị bạo lực, bao gồm đánh đấm, bị giễu cợt và hủy hoại tài sản cá nhân Đặc biệt, học sinh nam thường phải chịu đựng các hành vi bạo lực nhiều hơn so với học sinh nữ.
Tỉ lệ bạo lực trong trường học hiện nay đang ở mức cao, cho thấy rằng các biện pháp quản lý của ban giám hiệu các trường THCS chưa đạt hiệu quả mong muốn Điều này dẫn đến việc môi trường học tập chưa thực sự an toàn và thân thiện cho tất cả học sinh.
Trong vòng 12 tháng qua, tỉ lệ học sinh tham gia ẩu đả/đánh nhau là 5,2% trong tổng số đối tượng nghiên cứu Tỉ lệ này thấp hơn so với tỉ lệ tham gia đánh nhau của trẻ em tại Hà Nội, được ghi nhận trong báo cáo YRBSS là 7,6%.
Nghiên cứu của Lê Thị Xuân tại Đại học Bà Rịa-Vũng Tàu cho thấy chỉ có 1,3% học sinh từng tham gia đánh nhau Tương tự, nghiên cứu GSHS 2019 của nhóm tác giả trường Đại học Y tế công cộng chỉ ra rằng hơn 4% học sinh THPT có hành vi bắt nạt bạn học Thực trạng này cũng được xác nhận qua khảo sát 482 học sinh THPT tại thành phố.
Tại Huế, tỉ lệ học sinh tham gia bạo lực học đường chiếm tới 2/3 số học sinh từng thực hiện hành vi này Nghiên cứu của Tiến sĩ Dương Thị Thu Hương tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho thấy hơn 20% học sinh THPT Hà Nội đã từng đánh nhau hoặc trấn lột bạn bè Mặc dù các số liệu giữa các nghiên cứu có sự khác biệt, nhưng nhìn chung, tỉ lệ học sinh tham gia bạo lực thấp hơn mức trung bình, đặc biệt là trong các trường hợp bạo lực xảy ra trong trường học.
Tình trạng bạo lực học đường (BLHĐ) đang gia tăng, với 20% học sinh mang vũ khí và thực hiện hành vi bạo lực Mặc dù chỉ 4,3% học sinh mang vũ khí vào trường, nhưng tỉ lệ này ở nhóm bị bạo lực cũng cao (20%) Nhiều học sinh mang vũ khí để tự bảo vệ, với 3 trong số 15 học sinh mang vũ khí vào trường là nạn nhân của bạo lực Hơn nữa, 5,1% học sinh không đến trường vì cảm thấy không an toàn, cho thấy nguy cơ tấn công từ cả bên trong lẫn bên ngoài trường học.
Nghiên cứu SAVY II cho thấy tỉ lệ thanh thiếu niên mang vũ khí là 2,3%, trong khi dự án YRBSS tại Hà Nội ghi nhận tỉ lệ này ở học sinh THCS là 5,5% Điều này phản ánh thực trạng sở hữu và mang vũ khí vẫn là một vấn đề nghiêm trọng hiện nay Tỉ lệ học sinh mang vũ khí không chỉ yêu cầu siết chặt quản lý về vật dụng học sinh mang đến trường, mà còn cần quan tâm đến tình hình của học sinh cả trong và ngoài trường học.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, người thân là đối tượng thường xuyên bị học sinh bạo lực Mặc dù nhiều nghiên cứu về bạo lực gia đình đã được thực hiện cả trên thế giới và tại Việt Nam, nhưng đối tượng chịu ảnh hưởng chủ yếu thường là trẻ vị thành niên Trong khi đó, vai trò của trẻ em trong việc tác động bạo lực lại ít được đề cập.
Hành động bạo lực của trẻ em đối với người thân có thể phản ánh sự ảnh hưởng từ bạo lực mà chúng chứng kiến từ cha mẹ Theo nghiên cứu, có 20,2% học sinh đã từng chứng kiến bạo lực gia đình với tần suất hiếm khi, trong khi 6% cho biết đã thấy bạo lực thỉnh thoảng.
C ÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS N GUYỄN T RÃI
Trong các yếu tố cá nhân của học sinh, giới tính và kết quả học tập kỳ trước có mối liên quan đến tình trạng bạo lực Tỉ lệ bạo lực ở học sinh nam cao hơn nữ, và những học sinh có kết quả học tập trung bình hoặc kém có khả năng thực hiện bạo lực cao hơn nhóm có kết quả xuất sắc Nghiên cứu của Trần Thị Huyền Trang năm 2017 cho thấy học sinh có kết quả học tập trung bình/kém có nguy cơ bạo lực cao hơn với OR=1,4 (95% CI: 1,1 - 2,3) Tương tự, khảo sát tại Hà Nội chỉ ra rằng giới tính nữ là yếu tố bảo vệ hành vi bạo lực, trong khi học sinh nam thường có xu hướng gây hấn và là nạn nhân nhiều hơn Ngoài ra, học sinh có xu hướng bạo lực thường thuộc nhóm tuổi cao hơn và có học lực trung bình hoặc kém Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình tại Bắc Giang cũng chỉ ra rằng giới tính, sự giúp đỡ của bạn bè và tham gia các chương trình kỹ năng sống có ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực ở học sinh.
HUPH của Dương Thị Thu Hương được thực hiện cách đây 2 năm Trong khoảng thời gian này, có thể đã có các can thiệp nhằm giảm thiểu các yếu tố nguy cơ liên quan.
Nghiên cứu cho thấy rằng đặc điểm gia đình không có mối liên quan rõ ràng đến hành vi tham gia hay bị bạo lực học đường Tuy nhiên, học sinh sống trong gia đình có bạo lực giữa các thành viên có xu hướng bị bạo lực hoặc thực hiện bạo lực nhiều hơn so với những em có gia đình hòa thuận John Fantuzzo đã cung cấp bằng chứng cho thấy trẻ em trong các hộ gia đình thường xuyên xích mích có xu hướng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực Ngoài ra, ThS Nguyễn Thị Minh Nguyệt cũng chỉ ra rằng bạo lực gia đình ảnh hưởng xấu đến hình thành nhân cách và hành xử của học sinh trong các mối quan hệ xã hội.
Nghiên cứu của Đỗ Thị Điệp chỉ ra rằng tần suất cãi vã trong gia đình và việc chứng kiến bạo lực là những yếu tố nguy cơ dẫn đến hành vi bạo lực ở học sinh Học sinh sống trong gia đình thiếu cha hoặc mẹ có xu hướng dễ bị bạo lực và thực hiện bạo lực Tổ chức Y tế Thế giới cũng công nhận rằng việc sống xa cha hoặc mẹ ảnh hưởng đến xu hướng bạo lực của trẻ em Khảo sát của Dương Thị Thu Hương trên học sinh THCS tại Hà Nội cho thấy số lượng hành vi nguy cơ gia tăng trong các gia đình có ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực.
Nghiên cứu cho thấy học sinh có bạn thân tham gia bạo lực có xu hướng bị bạo lực cao hơn so với nhóm không tham gia Các nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng bạn bè có hành vi phạm tội liên quan đến bạo lực ở học sinh Điều này cho thấy tác động của bạn bè đến hành vi học sinh, làm tăng nguy cơ bạo lực Ngược lại, học sinh tham gia chương trình tập huấn kỹ năng có nguy cơ thấp hơn về bạo lực Hơn nữa, học sinh kể chuyện cá nhân cho thầy/cô có nguy cơ tham gia bạo lực cao gấp 3,68 lần so với những học sinh không kể Điều này cho thấy cần có can thiệp chuyên sâu về bạo lực học đường, vì học sinh thường xuyên tiếp xúc với bạn bè tại trường Can thiệp trong nhà trường có thể giúp giảm tỷ lệ bạo lực ở học sinh.
Học sinh ngày nay tiếp xúc sớm với các phương tiện giải trí như tivi, truyện tranh và máy tính Nghiên cứu gần đây cho thấy, việc tiếp xúc với các ấn phẩm có nội dung bạo lực ảnh hưởng lớn đến hành vi bạo lực của học sinh Những học sinh thường xuyên tiếp xúc với nội dung bạo lực có tỷ lệ thực hiện hành vi bạo lực cao hơn nhiều so với những học sinh không tiếp xúc.
Các ấn phẩm như phim, clip, áo trên mạng xã hội và trò chơi hành động có ảnh hưởng đến hành vi bạo lực của học sinh Nghiên cứu cho thấy học sinh thường xuyên tiếp xúc với các ấn phẩm bạo lực có xu hướng thực hiện hành vi bạo lực cao hơn so với nhóm đối chứng Tác giả Dương Thị Thu Hương cũng chỉ ra rằng những học sinh chứng kiến hành vi bạo lực tại nơi ở và thường xem phim “kiếm hiệp” có tỷ lệ thực hiện hành vi “đánh nhau” cao hơn nhiều so với các học sinh khác.
HUPH yếu tố tiếp xúc với sản phẩm như súng ống, truyện tranh bạo lực… cũng được Tổ chức
Y tế thế giới đã chỉ ra rằng có một mối liên hệ trực tiếp giữa tình trạng bạo lực và sự quản lý của người lớn đối với trẻ em Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải hạn chế thời gian tiếp xúc của học sinh với các ấn phẩm bạo lực Việc giáo dục và nâng cao nhận thức cho học sinh về vấn đề này là rất quan trọng, giúp các em chủ động tránh xa những nội dung có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của mình.
Nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm học sinh từng mang vũ khí, không đến trường do cảm giác không an toàn, sử dụng chất gây nghiện và có ý định tự tử có nguy cơ cao hơn về bạo lực và thực hiện hành vi bạo lực so với nhóm chưa từng trải qua các hành vi nguy cơ này (p