2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ từ 3-5 tuổi đang học ở các trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Ba hoặc mẹ của trẻ.
+ Tiêu chí lựa cho ̣n:
- Trẻ 3-5 tuổi và ba hoặc mẹ của trẻ đang theo học ở các trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Ba hoặc mẹ của trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu.
+Tiêu chí loại trừ:
- Học sinh có tên trong các lớp được chọn nhưng không đi học vào thời điểm thực hiện nghiên cứu.
- Trẻ bị tàn tật ảnh hưởng đến việc cân đo như vẹo cột sống, dị tật bàn chân.
- Ba hoặc mẹ của trẻ không phản hồi thông tin, trẻ không sống chung với ba, mẹ.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 2.2.1.Thời gian nghiên cứu:
Đã thực hiện từ tháng 01/2018 đến tháng 08/2018 (8 tháng) 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu:
Tại một số Trường mầm non trên địa bàn thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
2.3.Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích.
2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu:
Tính cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lê ̣ 𝑵 =
𝒁(𝟏−∝ 𝟐)
𝟐 × 𝒑(𝟏 − 𝒑)
𝒅𝟐 𝑑𝑒
Trong đó: Chọn khoảng tin cậy 95%
: xác suất sai lầm loại 1 ( = 0,05)
HUPH
Z (1-/2) = 1,96 (tra từ bảng phân phối chuẩn) d: độ chính xác mong muốn (d = 0,05)
p: tỉ lệ béo phì mầm non trong nghiên cứu trước đó de: hệ số thiết kế mẫu, chọn de= 2
Theo đề tài nghiên cứu của Bác sĩ Trần Kim Châu tại trường mầm non Hùng Vương thành phố Mỹ Tho năm học 2016-2017 tại trường có 109/829 (tỉ lệ 13.15%) trẻ dưới 5 tuổi bị thừa cân-béo phì (p=0.1315).
Theo công thức trên, chúng tôi chọn cỡ mẫu tương ứng với: n = 351 trẻ.
Thêm 10% cỡ mẫu dự phòng, như vậy cỡ mẫu tối thiểu cần lấy là:
N = 351 x 1,1 = 386
Tuy nhiên, do cỡ mẫu ở các trường không tương đồng nên tổng số mẫu lựa chọn nghiên cứu là 397.
2.5. Phương pháp chọn mẫu
Lấy mẫu cụm, nhiều giai đoạn. Phương pháp chọn mẫu PPS được tiến hành cụ thể như sau:
Bước 1: Chọn trường: Chọn 4 trường thuộc hai khu vực nội thành và ngoại thành của thành phố Mỹ Tho bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên. Để đánh giá khách quan bắt thăm ngẫu nhiên 2 trường nội thành và 2 trường ngoại thành theo phương pháp PPS như sau :
20 trường nội thành chọn ra 2 trường: Mầm non Hùng Vương 1, mầm non Hoa Hồng.
7 trường xã chọn ra 2 trường: Mầm non Bình Minh, mầm non Phước Thạnh.
Dựa vào tổng số trẻ mầm, chồi, lá ở 4 trường và số trẻ cần nghiên cứu chọn số trẻ ở mỗi trường.
Tổng số trẻ ở 4 trường được chọn từ 3-5 tuổi: 1904 trẻ
Số trẻ cần nghiên cứu: 386. Tỉ lệ: 4.93. Để chọn trẻ nghiên cứu ở mỗi trường ta lấy tổng số trẻ ở mỗi trường/4.93 được kết quả như sau:
Mầm non Hùng Vương 1: 161 trẻ/794.
Mầm non Hoa Hồng: 96 trẻ/483 Mầm non Bình Minh : 67 trẻ/330
HUPH
Mầm non Phước Thạnh : 62 trẻ/297 (Phụ lục 9)
Bước 2: Chọn lớp: Căn cứ theo số lượng học sinh cân đo cần có tại mỗi trường, chọn ngẫu nhiên các lớp tương ứng với 3 bậc học là mầm, chồi và lá bằng cách bắt thăm ngẫu nhiên
→ Kết quả chọn:
Mầm non Hùng Vương 1: Chọn mầm 1, chồi 4, lá 1 và lá 3 Mầm non Hoa Hồng: Mầm 2, chồi 1, lá 3
Mầm non Bình Minh : Mầm 1, chồi 2, lá 5 Mầm non Phước Thạnh : Mầm 2, chồi 1, lá 3
Bước 3: Cân, đo toàn bộ số học sinh được chọn ở các lớp ở mỗi trường để tiến hành đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
→ Kết quả: cân đo 397 trẻ và phỏng vấn 397 cha/mẹ trẻ.
2.6. Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu 2.6.1 Mục tiêu 1
Sử dụng phương pháp nhân trắc học để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Thu thập số đo về cân nặng và chiều cao trẻ.
Số liệu cân nặng và chiều cao của trẻ được thu thập bằng cách người thực hiện nghiên cứu và cộng tác viên đem cân, thước chuẩn tới trường thực hiện nghiên cứu và cân, đo từng trẻ, từng lớp để lấy số liệu vào trước giờ ăn trưa của trẻ (theo lịch đã xếp sẵn cho từng trường).
* Cách tính tuổi, kỹ thuật cân đo, dụng cụ cân đo cho học sinh:
- Cách tính tuổi:
Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày tháng năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ và phân loại theo WHO, 1995.
- Cân trọng lượng cơ thể:
Sử dụng cân điện tử sai số 100g. Trước khi cân, cần kiểm tra cân ở vị trí 0 (hiện số 0 nếu là cân điện tử). Cho trẻ đứng 2 chân đều giữa cân (có thể dán hình bàn chân lên cân để trẻ đặt bàn chân đúng). Đứng yên đến khi số cân hiện cố định.
Đọc số cân nặng tính bằng kg với 1 số lẻ. Khi cân học sinh mặc quần áo nhẹ (cởi áo
HUPH
khoác), không mang giày dép, không để các đồ vật trong túi (đồ ăn, đồ chơi…) để cân được chính xác.
- Đo chiều cao cơ thể:
Dùng các loại thước đo chiều cao là thước kéo đóng cố định vào tường. Khi cố định, thước phải thẳng và vuông góc với sàn nhà với vạch số 0 sát sàn nhà. Học sinh không đội nón, mũ, không mang giày, dép. Đứng thẳng sát tường sao cho 5 điểm chạm tường: (1) phía sau gáy (tháo búi tóc nếu có), (2) bờ sau vai, (3) mông, (4) bắp chân và (5) gót chân chạm tường. Hai gót chân chụm lại hình chữ V, mắt nhìn thẳng, hai tay thả lỏng. Kéo thước áp sát đỉnh đầu vuông góc với thước đo.
Mắt của người đo nhìn trực diện vào vạch của thước nơi tiếp xúc giữa thước và đỉnh đầu và đọc số đo chính xác đến 0,1cm.
2.6.2 Mục tiêu 2
Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để phỏng vấn phụ huynh học sinh.
Nhóm nghiên cứu liên hệ nhờ ban giám hiệu nhà trường và cô chủ nhiệm của trẻ hỗ trợ mời phụ huynh học sinh đến trước giờ đón trẻ 1giờ để phỏng vấn (thực hiện theo từng lớp). Nếu sau 2 lần mời mà phụ huynh không thể đến được sẽ phỏng vấn qua điện thoại, giáo viên lớp là cộng tác viên đã được tập huấn sẽ tiến hành phỏng vấn.
2.6.3. Công cụ thu thập số liệu:
- Mục tiêu 1: Phiếu điều tra nhân trắc gồm các nội dung: trường, lớp, ngày cân đo, ngày, tháng, năm sinh, giới tính và cân nặng, chiều cao của trẻ. Phiếu này được các điều tra viên thu thập tại trường. Cân điện tử TANITA, có khả năng cân được 150kg với độ chính xác 0,1kg, cân được kiểm tra và hiệu chỉnh trước khi cân, Dùng các loại thước đo chiều cao là thước kéo đóng cố định vào tường, độ chính xác 1mm.
- Mục tiêu 2:
Phiếu thứ nhất thu thập các thông tin liên quan đến trẻ bao gồm:
+ Thông tin chung về người chăm sóc và kinh tế gia đình (thông tin về nhân trắc cha mẹ trẻ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình của người chăm sóc chính của trẻ).
HUPH
+ Các thông tin liên quan đến trẻ như cân nặng sơ sinh, là con thứ mấy trong gia đình, thói quen ăn uống và chế độ vận động hiện tại của trẻ.
Phiếu thứ hai thu thập tần suất tiêu thụ thực phẩm trong vòng 1 tháng qua về số lần tiêu thụ từng loại thực phẩm tại nhà. Tần suất tiêu thụ thực phẩm được điều tra bằng cách hỏi phụ huynh về thực phẩm mà trẻ sử dụng trong vòng 1 tháng qua theo bộ câu hỏi sẵn. Nếu phụ huynh không thể trả lời liền thì người điều tra sẽ hướng dẫn sơ bộ và đưa phụ huynh về nhà điền vào khi nộp lại sẽ được điều tra viên kiểm tra và bổ sung những chổ thiếu sót. Khi nhập liệu nếu nghi ngờ không hiểu sẽ người nghiên cứu sẽ điện thoại phỏng vấn trực tiếp phụ huynh hạn chế sai số.
Dựa vào 4 nhóm thực phẩm chính: Protid, Glucid, Lipid, vitamin và khoáng cùng với những thực phẩm sẵn có ở địa phương để đưa thực phẩm vào điều tra tần suất tiêu thụ.
2.7. Xử lý và phân tích dữ liệu
Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính. Số liệu nhân trắc được xử lý bằng phần mềm Anthro 2006:
+ Trẻ từ 36-60 tháng tuổi xử lý bằng phần mềm Who anthro để đánh giá tình trạng thừa cân-béo phì.
+ Trẻ từ trên 60 tháng đến dưới 72 tháng xử lý bằng phần mềm Who anthro plus để đánh giá tình trạng thừa cân-béo phì.
Tất cả số liệu khác được nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0. Phân tích số liệu được tiến hành bằng chương trình SPSS 22.0.
Các số liệu định lượng được kiểm tra phân bố chuẩn trước khi phân tích. Đối với các thông tin chung và thông tin nhân khẩu học sinh, chúng tôi thực hiện mô tả các biến định lượng bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, các biến phân loại được phân tích theo tần số và tỉ lệ phần trăm. Đối với từng mục tiêu:
Mục tiêu 1: thống kê mô tả được thực hiện để tính toán các tần số và tỉ lệ nhằm mô tả tỉ lệ TC- BP theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi đối với trẻ 36 đến 60 tháng tuổi, BMI theo tuổi đối với trẻ >60 tháng tuổi đến <72 tháng tuổi.
Mục tiêu 2: Quan hệ giữa từng yếu tố liên quan với tình trạng dinh dưỡng được phân tích sử dụng test χ2 đểso sánh hai tỉ lệ, test Fisher’ exact được sử dụng
HUPH
khi 20% giá trị kỳ vọng <5. Khoảng tin cậy 95% được áp dụng cho toàn bộ các test, nhận định có sự khác biệt khi giá trị p<0.05. Sử dụng phân tích hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan với tình trạng TC- BP.
Đối với tần suất tiêu thụ thực phẩm được tính toán tần suất tiêu thụ trung bình quy đổi theo ngày của từng nhóm thực phẩm mà trẻ tiêu thụ trong vòng 1 tháng qua. Tần suất tiêu thụ thực phẩm theo nhóm được tính là trung bình tổng hợp của tần suất tiêu thụ thực phẩm của từng loại thực phẩm phổ biến tại địa phương theo từng nhóm. Cách quy đổi tương đương tần suất tiêu thụ hàng ngày dựa theo hướng dẫn phân tích khẩu phần của Hội ung thư Victoria của Úc.
Bảng 2. 1.Quy đổi tần suất tiêu thụ thực phẩm tương đương hàng ngày [99]
STT Tần suất Tần suất tương đương hàng ngày
1 Chưa bao giờ 0
2 1 lần/2 tuần 0.07
3 2-3 lần/2 tuần 0.18
4 1 lần/tuần 0.14
5 2 lần/tuần 0.28
6 3-4 lần/ tuần 0.5
7 5-6 lần/tuần 0.79
8 1 lần/ngày 1
9 >2 lần/ngày 2
2. 8. Vấn đề y đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đảm bảo người tham gia nghiên cứu không chịu sự tổn hại nào về tinh thần hay thể chất. Tham gia của phụ huynh là tự nguyện, người tham gia được quyền chọn lựa tham gia hay từ chối tham gia nghiên cứu, được quyền từ chối trả lời các câu hỏi. Hàng năm, việc cân đo trẻ được thực hiện định kỳ tại trường nên không ảnh hưởng tinh thần cho trẻ hay người thân. Những thông tin liên quan đến trẻ khi tham gia nghiên cứu sẽ được hoàn toàn giữ kín, không vi phạm y đức.
HUPH
Nghiên cứu được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua tại văn bản số 142/YTCC-HD ngày 16/3/2018 của trường Đại học Y tế công cộng về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH
2.9. Hạn chế nghiên cứu, sai số, biện pháp khắc phục
2.9.1. Sai lệch trong việc cân trọng lượng và đo chiều cao của học sinh Khắc phục: Thống nhất chung trong nhóm nghiên cứu về cách cân, đo và dụng cụ cân, đo học sinh.
2.9.2. Sai lệch thông tin từ phía người được điều tra do sai lệch hồi tưởng hoặc không hợp tác
Khắc phục: Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi trên 30 phụ huynh, từ đó chỉnh sửa bảng câu hỏi cho đơn giản và dễ hiểu. Trong phiếu điều tra có xin số điện thoại của đối tượng trả lời phỏng vấn để điều tra lại thông tin khi cần thiết.
Ngoài ra, chúng tôi cung cấp địa chỉ hay điện thoại liên lạc của người thực hiện nghiên cứu để giải đáp thắc mắc (nếu có) của phụ huynh. Sau khi điều tra nếu thấy số liệu còn nghi ngờ sẽ điện thoại cho đối tượng để kiểm tra lại.
2.9.3. Sai số nhớ lại trong điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm
Khắc phục: Điều tra viên phỏng vấn và dùng hình ảnh, ví dụ cụ thể để tránh sai sót.
2.9.4 Sở thích của trẻ được đánh giá khách quan bởi cha, mẹ của trẻ Khắc phục: Điều tra viên phỏng vấn giải thích rõ ràng thế nào là thích và không thích để đánh giá của ba, mẻ trẻ mang tính tương đối
2.9.5 Không điều tra khẩu phần ăn của trẻ
Khắc phục: Điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ. HUPH