1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe và một số yếu tố liên quan của công nhân thu gom rác của công ty môi trường đô thị hà nội năm 2017

132 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe và một số yếu tố liên quan của công nhân thu gom rác của công ty môi trường đô thị Hà Nội năm 2017
Tác giả Nguyễn Thanh Vân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thúy Quỳnh
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 5,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THANH VÂN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG LIÊN QUAN SỨC KHỎE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA CÔNG NHÂN THU GOM RÁC TẠI CÔNG TY MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI, NĂM 2017 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THANH VÂN

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG LIÊN QUAN SỨC KHỎE

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA CÔNG NHÂN THU GOM RÁC TẠI CÔNG TY MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI, NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

Hà Nội-2018

HUPH

Trang 2

NGUYỄN THANH VÂN

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG LIÊN QUAN SỨC KHỎE

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA CÔNG NHÂN THU GOM RÁC TẠI CÔNG TY MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI, NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

PGS.TS NGUYỄN THÚY QUỲNH

Hà Nội-2018

HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe 6

1.3 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống người lao động trên thế giới và Việt Nam 10

1.3.1 Thực trạng về chất lượng cuộc sống người lao động trên thế giới và Việt Nam 10

1.3.2 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống người lao động 12

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu 18

1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mô tả về bộ số liệu gốc 20

2.1.1 Mục tiêu của nghiên cứu gốc 20

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu gốc 20

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu của nghiên cứu gốc 20

2.1.4 Thiết kế nghiên cứu của nghiên cứu gốc 21

2.1.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu của nghiên cứu gốc 21

2.1.6 Biến số nghiên cứu của nghiên cứu gốc 22

2.1.7 Phương pháp thu thập số liệu định lượng của nghiên cứu gốc 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn 26

2.2.1 Giả thuyết nghiên cứu 26

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 26

2.2.3 Đối tượng và thời gian thực hiện nghiên cứu 26

2.2.4 Phương pháp chọn mẫu 27

HUPH

Trang 4

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu định tính 27

2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu 28

2.2.7 Các biến số nghiên cứu 29

2.2.8 Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 và cách tính điểm CLCSSK 30

2.2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Thông tin chung về ĐTNC 39

3.2 Thực trạng CLCSSK của công nhân thu gom rác 46

3.2.1 Thực trạng CLCSSK thể chất của công nhân thu gom rác 47

3.2.2 Thực trạng CLCSSK tinh thần của công nhân thu gom rác 50

3.2.3 Thực trạng CLCSSK chung của công nhân thu gom rác 54

3.3 Một số yếu tố liên quan đến CLCSSK của công nhân thu gom rác 57

3.3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với CLCSSK 57

3.3.2 Mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với CLCSSK 64

3.3.3 Mối liên quan giữa các yếu tố nghề nghiệp với CLCSSK 68

3.3.3 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến thể hiện một số yếu tố liên quan tới CLCSSK của công nhân thu gom rác 73

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 78

4.1 Bàn luận về thực trạng CLCSSK của công nhân thu gom rác 78

4.2 Bàn luận về một số yếu tố liên quan đến CLCSSK của công nhân thu gom rác 80

KẾT LUẬN 87

KHUYẾN NGHỊ 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 1: Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 99

PHỤ LỤC 2: Bộ công cụ phỏng vấn công nhân thu gom rác 102

PHỤ LỤC 3: Bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu công nhân thu gom rác thải 108

PHỤ LỤC 4: Bảng biến số 111

PHỤ LỤC 5: Kế hoạch nghiên cứu 115

HUPH

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CGĐ Cảm giác đau

CLCS Chất lượng cuộc sống

CLCSSK Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

GLM Generalized linear regression model

(Mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát) HĐXH Hoạt động xã hội

HCTC Hạn chế do sức khỏe thể chất

HCTT Hạn chế do sức khỏe tinh thần

PTTH Phổ thông trung học

SD Độ lệch chuẩn

SEM Structural equation model

(Mô hình phương trình cấu trúc) SF-36 Short form – 36

(Bộ Khảo sát Sức khoẻ Tóm tắt 36 mục) SKC Sức khỏe chung

WHOQOL World Health Organization Quality Of Life

(Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế thế giới)

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Cấu trúc bộ câu hỏi SF-36 phiên bản 2 31

Bảng 2.2: Cách chuyển đổi câu hỏi trong bộ công cụ SF36 phiên bản 2 33

Bảng 2.3: Cách cho điểm các câu hỏi của bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 35

Bảng 2.4: Đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 37

Bảng 3.1: Thông tin chung về ĐTNC (n=698) 39

Bảng 3.2: Đặc điểm thâm niên, thời gian làm việc và loại công việc của ĐTNC (n=698) 40

Bảng 3.3: Điều kiện kinh tế của ĐTNC (n=698) 42

Bảng 3.4: Tình trạng mắc các bệnh mạn tính của ĐTNC (n=698) 44

Bảng 3.5: Tình trạng gặp tai nạn lao động trong 1 năm kể từ thời điểm điều tra của ĐTNC (n=698) 45

Bảng 3.6: Mô tả về điểm trung bình CLCSSK của công nhân thu gom rác 46

Bảng 3.7: Điểm trung bình các khía cạnh CLCSSK thể chất của công nhân thu gom rác (n=698) 47

Bảng 3.8: Điểm trung bình SKTC của công nhân thu gom rác theo các nhóm yếu tố cá nhân (n=698) 48

Bảng 3.9: Điểm trung bình SKTC của công nhân thu gom rác theo các vấn đề sức khỏe (n=698) 49

Bảng 3.10: Điểm trung bình các khía cạnh CLCSSK tinh thần của công nhân thu gom rác (n=698) 50

Bảng 3.11: Điểm TB SKTT của công nhân thu gom rác theo các nhóm yếu tố cá nhân (n=698) 51

Bảng 3.12: Điểm TB SKTT của công nhân thu gom rác theo các vấn đề sức khỏe (n=698) 52

Bảng 3.13: Điểm TB CLCSSK chung của công nhân thu gom rác theo các nhóm yếu tố cá nhân (n=698) 54

Bảng 3.14: Điểm trung bình CLCSSK chung của công nhân thu gom rác theo các vấn đề sức khỏe (n=698) 55

Bảng 3.15: Sự khác biệt về điểm TB SKTC của các nhóm công nhân thu gom rác có các yếu tố nhân khẩu học khác nhau (n=698) 57

Bảng 3.16: Sự khác biệt về điểm TB SKTT của các nhóm công nhân thu gom rác có các yếu tố nhân khẩu học khác nhau (n=698) 59

HUPH

Trang 7

Bảng 3.17: Sự khác biệt về điểm TB CLCSSK chung của các nhóm công nhân thu gom rác có các yếu tố nhân khẩu học khác nhau (n=698) 61Bảng 3.18: Sự khác biệt về điểm TB SKTC của các nhóm công nhân thu gom rác có các vấn đề sức khỏe khác nhau (n=698) 64Bảng 3.19: Sự khác biệt về điểm TB SKTT của các nhóm công nhân thu gom rác có các vấn đề sức khỏe khác nhau (n=698) 65Bảng 3.20: Sự khác biệt về điểm TB CLCSSK chung của các nhóm công nhân thu gom rác có các vấn đề sức khỏe khác nhau (n=698) 67Bảng 3.21: Sự khác biệt về điểm TB SKTC của các nhóm công nhân thu gom rác có các yếu tố nghề nghiệp khác nhau 68Bảng 3.22: Sự khác biệt về điểm TB SKTT của các nhóm công nhân thu gom rác có các yếu tố nghề nghiệp khác nhau 69Bảng 3.23: Sự khác biệt về điểm TB CLCSSK chung của các nhóm công nhân thu gom rác có các yếu tố nghề nghiệp khác nhau 70Bảng 3.24: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến thể hiện một số yếu tố liên quan tới điểm TB SKTC của công nhân thu gom rác 73Bảng 3.25: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến thể hiện một số yếu tố liên quan tới điểm TB SKTT của công nhân thu gom rác 75Bảng 3.26: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến thể hiện một số yếu tố liên quan tới điểm TB CLCSSK chung của công nhân thu gom rác 76

Biểu đồ 3.1: Tình trạng gặp các vấn đề về sức khỏe sau ca làm việc của ĐTNC (n=698) 43

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Công việc của công nhân thu gom rác rất vất vả Họ phải trực tiếp tiếp xúc với rác thải chứa nhiều yếu tố có hại như vi sinh vật, hoá chất Bên cạnh đó, khối lượng công việc lớn, điều kiện lao động không thuận lợi, làm việc ngoài trời trong những điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe (CLCSSK) của công nhân Hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đánh giá về CLCSSK của công nhân thu gom rác

Nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe và một số yếu tố liên

quan của công nhân thu gom rác của công ty môi trường đô thị Hà Nội, năm

2017” được thực hiện với 2 mục tiêu: mô tả thực trạng CLCSSK của công nhân thu

gom rác và xác định một số yếu tố liên quan

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính sử dụng số liệu thứ cấp từ đề tài “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp” do Trường Đại học Y

tế công cộng làm chủ trì Số liệu định lượng được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 698 công nhân thu gom rác tại 2 chi nhánh Ba Đình, Hai Bà Trưng của công ty môi trường đô thị Hà Nội bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn gồm thông tin chung và bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 đánh giá CLCSSK, từ tháng 4-5/2017 16 cuộc phỏng vấn sâu công nhân được thực hiện vào tháng 5/2018 để bổ sung thông tin cho phần định lượng

Điểm trung bình sức khỏe thể chất của công nhân là 71,56 ± 11,36; điểm trung bình sức khỏe tinh thần là 74,27 ± 13,12 và điểm trung bình CLCSSK chung là 72,96 ± 10,51 Kết quả phân tích đa biến cho thấy các yếu tố liên quan tới giảm CLCSSK bao gồm: giới tính, mắc bệnh mạn tính, mắc vấn đề sức khỏe sau ca, gặp tai nạn lao động, làm nghề lâu năm; yếu tố làm tăng CLCSSK là thu nhập đảm bảo cuộc sống CLCSSK của công nhân thu gom rác thấp do gặp nhiều vấn đề về sức khỏe Công

ty cần chú trọng các giải pháp giúp nâng cao sức khỏe công nhân Công nhân cũng cần tự chủ động bảo vệ sức khỏe của bản thân, thường xuyên sử dụng bảo hộ lao động đầy đủ và đúng cách

Từ khóa: Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe, công nhân thu gom rác, SF-36 phiên bản 2

HUPH

Trang 9

17 huyện ngoại thành là 2.127 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom đạt 89% [4] Rác thải phát sinh càng nhiều càng tạo áp lực lớn đối với dịch vụ thu gom rác công cộng Khối lượng rác thải lớn như vậy nhưng với nguồn lực hạn chế, hầu hết các quá trình thu gom rác vẫn được thực hiện bằng sức người, với những phương tiện đơn giản [6, 74] Một công nhân thu gom rác cần phải có đủ sức khỏe, vì họ thường xuyên phải nhấc các đồ vật nặng, đẩy xe chở rác đầy và làm việc trong mọi điều kiện thời tiết, tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại trong môi trường lao động Nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra mối nguy hiểm về sức khỏe nghề nghiệp của công nhân thu gom rác [7, 65, 74], cả về thể chất lẫn tinh thần [72] Tất cả các vấn đề nêu trên đều ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và CLCSSK của công nhân thu gom rác Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra tỷ lệ công nhân thu gom rác thải mắc rối loạn

cơ xương khớp nghề nghiệp khá cao dao động với tỷ lệ khoảng 45-70% [37, 39, 41,

45, 70]; tỷ lệ mắc các bệnh đường hô hấp cũng cao hơn so với các nhóm lao động văn phòng khác [16] và tỷ lệ mắc tai nạn thương tích (TNTT) cũng chiếm tỷ lệ cao [24]

Chất lượng cuộc sống (CLCS) được Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa là nhận thức của cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, trong bối cảnh của hệ thống văn hóa và giá trị ở nơi họ sống và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ [78] Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ (CLCSSK) là

sự hài lòng hay hạnh phúc của cá nhân với cuộc sống trong phạm vi ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi "sức khoẻ" [78] Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam được thực hiện để đánh giá CLCSSK của công nhân thu gom

HUPH

Trang 10

rác Đề tài nghiên cứu cấp thành phố “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp”

do trường Đại học Y tế công cộng chủ trì được thực hiện từ năm 2016-2018 với mục tiêu mô tả thực trạng sức khoẻ, phân tích một số yếu tố liên quan nghề nghiệp đối với sức khỏe của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và thử nghiệm một

số giải pháp can thiệp nhằm nâng cao sức khỏe của công nhân CLCSSK của công nhân là một trong số những thông tin được thu thập của đề tài Tuy nhiên, nghiên cứu gốc mới chỉ sử dụng số liệu về CLCSSK của công nhân để mô tả chung mà chưa phân tích sâu trên từng nhóm đối tượng và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến CLCSSK Như vậy, CLCSSK của công nhân thu gom rác như thế nào và những yếu

tố nào liên quan đến CLCSSK của họ? Để trả lời câu hỏi này, học viên thực hiện đề

tài luận văn cao học “Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe và một số yếu tố

liên quan của công nhân thu gom rác của công ty môi trường đô thị Hà Nội, năm 2017” để tìm hiểu những vấn đề trên Bên cạnh việc sử dụng số liệu thứ cấp của đề

tài nghiên cứu gốc, học viên đã thu thập thêm các thông tin định tính nhằm tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố liên quan đến CLCSSK của công nhân thu gom rác

HUPH

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe của công nhân thu gom rác tại công ty môi trường đô thị Hà Nội năm 2017

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe của công nhân thu gom rác tại công ty môi trường đô thị Hà Nội năm

2017

HUPH

Trang 12

Nhìn chung, các định nghĩa đều nhấn mạnh chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào hệ thống phức hợp của trạng thái sức khỏe thể chất, tâm lý hay mức độ độc lập, những mối quan hệ xã hội và môi trường sống của cá nhân Nói cách khác, CLCS mang ý nghĩa tổng thể về sự hài lòng của cá nhân trước tất cả các yếu tố đa dạng của cuộc sống Do đó, CLCS mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi nhiều yếu

tố

Sức khoẻ

Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa “sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện

về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật” [78]

Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe

Tác giả Ware JE Jr (1992) định nghĩa Chất lượng cuộc sống về sức khoẻ là nhận thức về mức độ hài lòng và khả năng thực hiện và kiểm soát các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống của một người [42]

Hiện nay, các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe thường sử dụng định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới: Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ (CLCSSK) là sự hài lòng hay hạnh phúc của cá nhân với cuộc

HUPH

Trang 13

sống trong phạm vi ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi "sức khoẻ" [78]

Công nhân môi trường đô thị

Công nhân môi trường đô thị: Người làm việc cho một doanh nghiệp công lập hoặc tư nhân để thu thập và loại bỏ rác từ dân cư, thương mại, công nghiệp để chế biến tiếp và xử lý Khối lượng công việc của một công nhân môi trường đô thị thường khá lớn Công nhân môi trường đô thị bao gồm người lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Đối với lao động trực tiếp có các loại hình lao động khác nhau như: Thu gom, vận chuyển, xử lý rác

Công nhân thu gom rác thải đô thị là những người trực tiếp thực hiện quét rác, thu gom và vận chuyển rác đến nơi tập kết [44, 77]

Điều kiện lao động

Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế,

xã hội, tự nhiên, môi trường và văn hoá xung quanh con người nơi làm việc Điều kiện lao động thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất [2]

Điều kiện lao động đặc thù của công nhân thu gom rác là làm việc ngoài trời, trực tiếp tiếp xúc với phân rác, làm ca đêm liên tục, không có sự luân chuyển ca, không có ngày nghỉ lễ, nghỉ tết Ngoài ra họ cũng phải đối diện với sự mặc cảm nghề nghiệp, sự khinh miệt do thiếu nhận thức đúng đắn của những người ngoài xã hội Mặc khác, mức độ đô thị hóa ngày càng tăng kéo theo sự gia tăng lớn về khối lượng chất thải cần phải giải quyết Trong khi đó cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chắp

vá, thiếu đồng bộ, nhận thức công tác giữ gìn vệ sinh đô thị của người dân còn hạn chế làm tăng đáng kể cường độ làm việc của công nhân vệ sinh môi trường đô thị, ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của họ Họ thường làm việc một ca 8 giờ, bất kể trong thời tiết nào [6, 16]

Do môi trường làm việc phải tiếp xúc thường xuyên với chất thải nên công

HUPH

Trang 14

nhân thu gom rác phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp như bụi bẩn, vi khuẩn, nấm mốc, các loại độc tố, hóa chất, các vật sắc nhọn, bên cạnh đó là nguy cơ tai nạn thương tích gặp phải trong quá trình thu, gom rác thải, hoặc những tình huống tai nạn ngoài ý muốn do các yếu tố bên ngoài tác động vào [16, 28, 59]

Tai nạn lao động

Tai nạn lao động trong nghiên cứu này được định nghĩa là những thương tổn xảy ra trong quá trình lao động gây ra vết thương chảy máu, bong gân, phù nề, xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước mà cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh

hoạt ít nhất 1 ngày

1.2 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống

liên quan sức khỏe

Chất lượng cuộc sống có thể được đánh giá bằng hai phương pháp trực tiếp

và gián tiếp, trong đó phương pháp đánh giá gián tiếp qua bộ câu hỏi là phương pháp thường được sử dụng nhất Chất lượng cuộc sống của tùy từng đối tượng có những bộ công cụ đánh giá khác nhau Đối với một số đối tượng đặc thù, CLCS được đánh giá thông qua một số bộ công cụ như Wisconsin Quality of Life Index (W-QLI) thường được dùng trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần; Bộ câu hỏi CAT (COPD Assessment Test) áp dụng đo lường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính; bộ câu hỏi QOL – AD đánh giá CLCS bệnh nhân azheimer về các lĩnh vực sức khỏe thể lực, tính tình, trí nhớ, khả năng hoạt động, mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, khả năng tham gia các hoạt động có ý nghĩa, tình trạng tài chính và đánh giá tổng thể về bản thân [5]; Bộ câu hỏi GIQLI đánh giá CLCS của bệnh nhân sỏi túi mật gồm các khía cạnh về sức khỏe thể chất, chức năng ruột già, các hạn chế do xúc động, chức năng đường tiêu hóa trên và khía cạnh chướng bụng [10]; Bộ công cụ EORT QLQ-C30 gồm 28 câu hỏi về thể chất, tinh thần, vận động, nhận thức sự hòa nhập xã hội và triệu chứng điển hình của ung thư trong đánh giá CLCS của các bệnh nhân bị ung thư giai đoạn IV nằm tại bệnh

HUPH

Trang 15

viện [8] Thang đo chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe trẻ em Pediatric Quality of Life (Peds QL) của Bệnh viện Nhi và Trung tâm sức khỏe Sandiego, California [76] Thang điểm này được xây dựng bởi W.Varni và cộng sự công bố năm 2002, đã được sử dụng rộng rãi gần đây trong các nghiên cứu của Reinfjell và cộng sự (2007) [68], Sitaresmi và cộng sự (2008) [71], Sung và cộng sự (2010) [73], Litzelman và cộng sự (2011) [52] PedsQL 4.0 là một công cụ đánh giá đa lĩnh vực đã được xác định tính hiệu quả và độ tin cậy ở trẻ khỏe mạnh và trẻ bị ung thư Peds QL 4.0 gồm 23 mục về 4 lĩnh vực: sức khỏe thể chất; cảm xúc; quan hệ bạn bè

và học tập của trẻ Thang được cho điểm nhằm đánh giá mức độ khó khăn của trẻ về

4 lĩnh vực trong một tháng qua Điểm đánh giá về khó khăn của mỗi lĩnh vực bằng tổng điểm của tất cả các mục trong lĩnh vực đó Tổng điểm càng cao cho thấy mức

độ khó khăn càng cao, đồng nghĩa với chất lượng sống ở lĩnh vực đó càng thấp Chất lượng sống chung được đánh giá bằng tổng điểm của 4 lĩnh vực

Hiện nay, trên thế giới, các nhà khoa học đang sử dụng những bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống chung, áp dụng được cho nhiều đối tượng như Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế thế giới WHOQOL (World Health Organization Quality Of Life) và bản rút gọn WHOQOL-BREF, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe EQ-5D-3L, EQ-5D-5L, bảng hỏi SF-36 và các phiên bản như SF-12, SF-8, SF-36 phiên bản 2, Bộ câu hỏi WHOQOL và bản rút gọn WHOQOL-BREF là một trong những bộ câu hỏi đánh giá CLCS được sử dụng nhiều WHOQOL gồm 100 câu hỏi để đánh giá 24 khía cạnh về mức độ sảng khoái

về thể chất, mức độ sảng khoái về tâm thần, sự thoải mái trong các mối quan hệ xã hội và sự thoải mái về môi trường sống [78] Sau một thời gian, WHOQOL được đánh giá là quá dài để sử dụng trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã xây dựng WHOQOL-BREF với 26 câu hỏi về 24 khía cạnh như WHOQOL và 2 câu hỏi về chất lượng cuộc sống tổng quát và sức khỏe chung [36]

Bộ EQ-5D là một thước đo chuẩn về tình trạng sức khoẻ do Nhóm EuroQol phát triển nhằm cung cấp một cách đo lường sức khoẻ chung cho việc đánh giá lâm sàng và kinh tế EQ-5D được thiết kế để người trả lời có thể tự điền câu trả lời của

HUPH

Trang 16

mình theo những hướng dẫn chi tiết đã ghi trong bộ công hỏi [67] EQ-5D và các phiên bản như EQ-5D-3L, EQ-5D-5L được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá chất lượng sức khỏe của bệnh nhân [15, 22] hay đánh giá sự bất bình đẳng CLCS giữa người đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính và người dị tính [54] EQ-5D và các phiên bản như EQ-5D-3L, EQ-5D-5L đã được chuẩn hóa và dịch

ra nhiều thứ tiếng trên thế giới để sử dụng [67]

Bảng câu hỏi SF-36 được áp dụng nhiều để đánh giá CLCSSK [51] Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu đánh giá bộ công cụ SF-36 [62], ví dụ như J E Brazier

và cộng sự (1992) đã thực hiện nghiên cứu nhằm thử nghiệm và chuẩn hóa bộ công

cụ này Nghiên cứu được thực hiện trên 1980 bệnh nhân tuổi từ 16-74 Kết quả cho thấy SF-36 là một công cụ tốt để đo lường nhận thức về sức khỏe của người dân SF-36 rất dễ sử dụng, được bệnh nhân chấp nhận và đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về độ tin cậy và tính hợp lệ [26] Hay một nghiên cứu khác sử dụng bộ công cụ SF-36 để điều tra trên đối tượng bệnh nhân hen suyễn của J Bousquet (1994) cũng cho thấy đây là bộ công cụ đáng tin cậy và có giá trị trong việc khảo sát chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân mắc và không mắc hen suyễn [25] Một số nghiên cứu khác thực hiện trên đối tượng người lao động, những người thường gặp các nguy cơ về sức khỏe như nghiên cứu của Melba Sheila D’Souza và cộng sự (2013) thực hiện trên nhóm nữ công nhân ngành khai thác mỏ và nữ công nhân ngành nông nghiệp tại Ấn Độ [30], Liu Y và cộng sự (2011) thực hiện trên 529 nông dân và 326 công chức của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc [80], nghiên cứu của Mohammad Agh và cộng sự (2014) thực hiện trên hai nhóm công nhân ngành gỗ (có tai nạn lao động (TNLĐ) và không có TNLĐ) [18], B Qu (2009) cùng cộng sự nghiên cứu trên nhóm công nhân xây dựng ở khu vực đô thị Trung Quốc [64] đã khuyến nghị nên sử dụng bộ công cụ SF-36 để đánh giá CLCSSK SF-36 còn được dùng được đánh giá CLCSSK trên cộng đồng dân cư như trong nghiên cứu của C Jenkinson (1994) điều tra trên 13042 người 18-64 tuổi, được chọn ngẫu nhiên từ danh sách đăng kí online dịch vụ sức khỏe gia đình (Family Health Services Authority) ở Berkshire, Buckinghamshire, Northamptonshire và Oxfordshire Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định tính hợp lệ tiêu chuẩn của SF-36 trong một mẫu cộng đồng lớn,

HUPH

Trang 17

khám phá tính thống nhất nội bộ của công cụ và hiệu lực trong các nhóm báo cáo tình trạng sức khỏe khác nhau Kết quả cho thấy tính thống nhất nội bộ các lĩnh vực trong bộ câu hỏi cao, có thể sử dụng SF-36 khi đánh giá ở các nhóm có tình trạng sức khỏe khác nhau [40]

Đến năm 1995, bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 được giới thiệu với những bổ sung, thay đổi những thiếu sót của phiên bản 1, cụ thể: các câu hỏi ngắn gọn và đơn giản hơn, dễ hiểu hơn, được bố trí theo mẫu tự điền, giúp dễ dàng hơn trong việc đọc và trả lời, giảm bớt việc bỏ trống câu trả lời Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 được đánh giá là thích hợp hơn trong cách bố trí các câu hỏi và câu trả lời, độ tin cậy và hiệu lực cao [46] Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được chuẩn hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới như Ghana [34], Mông Cổ [58], Hàn Quốc [43], Philippin [27], Ba Lan [83] Giống như SF-36 phiên bản trước đó, nhiều nghiên cứu được thực hiện để đánh giá bộ công cụ SF-36 phiên bản

2 cũng như sử dụng bộ công cụ này làm thước đo đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe như nghiên cứu của Muhammad Atif (2013) đánh giá CLCS của người nhà bệnh nhân lao ở Malaysia [20], nghiên cứu của Zhao L và cộng sự (2014) đánh giá CLCS của cư dân đô thị tại thành phố Thành Đô, Trung Quốc [46], nghiên cứu của Motoyuki Nakao (2016) đánh giá tình trạng sức khỏe của người trưởng thành ở Mông Cổ [58]

Hiện nay, tại Việt Nam, bộ công cụ SF-36 được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính như tăng huyết áp [1], viêm khớp dạng thấp [11], suy thận [3] hoặc trên cộng đồng dân cư [50], người cao tuổi Một số nghiên cứu đã sử dụng bộ công cụ SF-36

để đánh giá CLCS của những người lao động có nguy cơ cao về sức khoẻ như của

nữ công nhân tại khu công nghiệp Đà Nẵng [12]

Tổ chức RAND, đơn vị xây dựng bộ công cụ SF-36 và các phiên bản, đồng ý cho các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ mà không cần sự cho phép bằng văn bản để

sử dụng bộ công cụ này, với điều kiện người dùng chấp nhận hoàn toàn trách nhiệm trong việc thay đổi bộ công cụ, tính chính xác của bản dịch sang ngôn ngữ khác,

HUPH

Trang 18

cũng như các vấn đề sai sót, hậu quả phát sinh khác [66]

Đề tài nghiên cứu gốc “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp” do Trường Đại học Y tế công cộng chủ trì thực hiện đề tài sử dụng bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 đã được chuẩn hóa và sử dụng qua các nghiên cứu trong nước và quốc

tế để đánh giá CLCSSK của người lao động thông qua các khía cạnh liên quan chặt chẽ đến sức khỏe [13]

1.3 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống người lao động trên thế giới

Nghiên cứu của Liu Y và cộng sự (2011) thực hiện đánh giá CLCSSK của lao động nông nghiệp ở vùng nông thôn của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc bằng bộ câu hỏi SF36 Nghiên cứu được thực hiện trên 529 nông dân và 326 công chức với nhóm công chức là nhóm so sánh Kiểm định “t” được sử dụng để so sánh điểm trung bình CLCSSK của nông dân với cộng đồng dân cư Trung Quốc và nhóm công chức Kết quả cho thấy điểm CLCSSK của công chức làm việc tại các cơ quan nhà nước cao hơn điểm CLCSSK của lao động nông nghiệp (p<0,05) ở các khía cạnh Cảm giác đau, Sinh lực/năng lượng, Hạn chế do sức khỏe thể chất [80]

Ở Đài Loan, nghiên cứu của Su-Ying Tsai (2012) thực hiện trên 156 nhân viên

là người Đài Loan đang phụ trách quản lý các công ty sản xuất đồ điện tử và đồ nhựa tại Trung Quốc, những người được chỉ định làm việc dâu dài ở Trung Quốc nhằm đánh giá CLCSSK, căng thẳng liên quan đến nghề nghiệp và những yếu tố liên quan bằng bộ câu hỏi SF-36 Kết quả đánh giá cho thấy điểm CLCSSK của người lao động tại đây lần lượt là Khía cạnh SKTC 92,7 ± 13,6; điểm hạn chế do

HUPH

Trang 19

sức khỏe thể chất 80,8 ± 34,3; cảm giác đau 81,1 ± 17,5; tình trạng sức khỏe chung 67,2 ± 17,1; hạn chế do sức khỏe tinh thần 62,4 ± 17,9; sinh lực, năng lượng 80,5 ± 14,4; khía cạnh SKTT 82,6 ± 33,7 và hoạt động xã hội 66,7 ± 15,0 [75]

Tác giả Melba Sheila D’Souza và cộng sự (2013) đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang tìm hiểu về CLCSSK của 145 nữ công nhân ngành khai thác mỏ và 133 nữ công nhân ngành nông nghiệp tại Ấn Độ Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ SF-36 để đánh giá CLCSSK của những công nhân này Nhìn chung CLCSSK của công nhân ngành nông nghiệp cao hơn ngành khai thác mỏ Điều này đúng với thực tế điều kiện làm việc khác nghiệt và áp lực trong môi trường hầm lò khai thác mỏ Tuy nhiên CLCSSK công nhân cả hai ngành đều chỉ ở mức dưới trung bình (điểm trung bình các khía cạnh đều nhỏ hơn 75,00 điểm) Các yếu tố nhân khẩu học, giáo dục, kinh tế, áp lực môi trường…đều ảnh hưởng đến CLCSSK công nhân với mức ý nghĩa thống kê p<0,05 [30]

DeSilva PV và cộng sự (2013) đánh giá tình trạng sức khỏe và CLCS của nữ công nhân may mặc tại Sri Lanka bằng bộ câu hỏi WHOQOL Kết quả cho thấy 15,5% nữ công nhân phàn nàn bị các vấn đề về cơ xương khớp, hơn 5% bị TNTT khi làm việc và 68,3% trong số đó bị kim đâm Với các vấn đề đó thì 18,4% công nhân có CLCS rất tốt, 36% CLCS tốt và 44,9% CLCS bình thường [31]

Một nghiên cứu khác ở Bắc Iran của Mohammad Agh và cộng sự (2014) tìm hiểu CLCSSK bằng bộ công cụ SF-36 trên 114 công nhân ngành gỗ chia làm hai nhóm (có TNLĐ và không có TNLĐ) Kết quả cho thấy điểm trung bình của các khía cạnh khác nhau của chất lượng cuộc sống trong nhóm không gặp TNLĐ và nhóm có gặp TNLĐ là như sau: sức khỏe thể chất 67,23 ± 2,413 và 81,99 ± 2,193; sức khoẻ tâm thần 59,12 ± 16,76 và 71,52 ± 18,14, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05 [18]

Nghiên cứu ở nhóm công nhân đường sắt tại Trung Quốc (2016), thu thập số liệu qua bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 cho thấy điểm CLCS khá thấp, cụ thể nhóm công nhân mặt đất có điểm CLCS thể chất trung bình là 48,33; CLCS tinh thần trung bình là 41,46; nhóm người bán vé có điểm CLCS thể chất trung bình thấp hơn

là 47,41; CLCS tinh thần trung bình là 40,14; và thấp nhất là nhóm lái tàu với điểm

HUPH

Trang 20

CLCS thể chất và tinh thần trung bình lần lượt là 47,01 và 34,86 [82]

CLCS của nữ ngư dân tại Brazil được đánh giá là thấp hơn so với CLCS trung bình của cộng đồng trong nghiên cứu của Juliana dos Santos Müller và cộng sự (2016), sử dụng bộ công cụ SF-36, cụ thể điểm sức khỏe thể chất 65,7; điểm những hạn chế do sức khỏe thể chất 47,3; cảm giác đau 50,44; tình trạng sức khỏe chung 51,2; những hạn chế do sức khỏe tinh thần 54,5; Sinh lực, năng lượng 66,4; Sức khỏe tinh thần 62,4 và Hoạt động xã hội 64,8; so với điểm CLCS trung bình của người dân Brazil từ 66,85 (những hạn chế hoạt động do vấn đề tinh thần) đến 82,45 (chức năng thể lực) [57]

Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người lao động tại Việt Nam chưa có nhiều Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng sự (2016), sử dụng bộ công cụ SF-36, cho thấy công nhân nữ làm việc tại các khu công nghiệp có CLCS ở mức trung bình (74,0±12,2) Xét về từng khía cạnh, các khía cạnh sinh lực/năng lượng, sức khỏe chung có điểm trung bình thấp nhất, lần lượt là 65,9±18,6 và 63,7±16,2, cao nhất là khía cạnh sức khỏe thể chất 87,6±17,0 [9]

1.3.2 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống người lao động

1.3.2.1 Các yếu tố nhân khẩu học

Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của công nhân đã được tiến hành trên nhiều quốc gia và nhiều lĩnh vực trên thế giới, các kết quả cho thấy có nhiều mối liên quan giữa CLCS của công nhân và các yếu tố nhân khẩu học

Tuổi

“Nghiên cứu về căng thẳng công việc và chất lượng cuộc sống của nữ công

nhân phần mềm tại Bangalore, Ấn Độ” của L.Ranjit và cộng sự (2012) thực hiện

trên 201 đối tượng với bộ câu hỏi tự điền Bộ công cụ được dùng để đánh giá CLCS trong nghiên cứu là bộ công cụ của D.L.Dubey, Verma.S.K Kết quả phân tích tuyến tính giữa tuổi và CLCS cho thấy tuổi càng cao thì CLCS càng giảm (r= - 0,35) [47]

Theo Liu Y và cộng sự (2011), các yếu tố liên quan đến CLCSSK của người

HUPH

Trang 21

nông dân được đánh giá qua mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát (GLM) và mô hình phương trình cấu trúc (SEM) Kết quả cho thấy CLCSSK của người nông dân thấp và chủ yếu có liên quan đến tuổi, tuổi càng cao thì CLCSSK càng thấp [80] Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Francisca Aline Arrais Sampaio Santos và cộng sự (2016) đánh giá CLCS của 153 nhân viên y tế cộng đồng ở Brazil (CLCS của nhóm nhân viên trên 40 tuổi thấp hơn so với nhóm dưới

40 tuổi) [69] Nghiên cứu trên nhóm đối tượng kỹ sư điều hành tại Hàn Quốc của Choi, Seung Hee và cộng sự (2012) cũng cho thấy tuổi già có liên quan và làm giảm CLCS của các kỹ sư này [29] Nghiên cứu cắt ngang của Melba Sheila D’Souza về CLCSSK của công nhân ngành khai thác mỏ và ngành nông nghiệp tại Ấn Độ, kết quả phân tích ANOVA, MANOVA và hồi quy tuyến tính tổng quát GLM đã cho thấy CLCS tăng khi tuổi giảm với mức ý nghĩa thống kê p<0,05 [30]

Giới tính

Maxwell O Adibe thực hiện nghiên cứu ở Nigeria (2014) đánh giá chất lượng cuộc sống của công nhân viên chức phi chính phủ và chính phủ bằng bộ công cụ SF-36 cho thấy nhìn chung nam công nhân phi chính phủ có CLCS tinh thần tốt hơn

nữ [17] Tương tự nghiên cứu của Liu Y và cộng sự (2011), cho thấy CLCSSK của người nông dân thấp và có liên quan đến giới tính, nữ giới có CLCSSK thấp hơn so với nam giới [80]

Trình độ học vấn

Theo L.Ranjit và cộng sự (2012) nghiên cứu trên nhóm đối tượng nữ công nhân phần mềm tại Bangalore, Ấn Độ, kết quả kiểm định ANOVA cho thấy có sự khác biệt về điểm CLCS của những nhóm công nhân có trình độ học vấn khác nhau (p<0,01), trình độ học vấn càng cao thì CLCS càng tốt [47] Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Francisca Aline Arrais Sampaio Santos và cộng

sự (2016) đánh giá CLCS của 153 nhân viên y tế cộng đồng ở Brazil (CLCS của nhóm nhân viên có trình độ học vấn từ PTTH trở xuống thấp hơn so với nhóm có trình độ học vấn cao hơn) [69] Juliana dos Santos Müller và cộng sự thực hiện đánh giá CLCSSK trong nhóm nữ ngư dân ở Brazil (2016) bằng bộ công cụ SF-36

HUPH

Trang 22

cũng cho thấy trình độ học vấn thấp làm giảm CLCSSK [57]

Tình trạng hôn nhân

Nghiên cứu của L.Ranjit và cộng sự (2012) cho thấy những người đã kết hôn

có CLCS (66,08) kém hơn những người chưa kết hôn (71,85) (t=2,74), lý do có thể

vì trách nhiệm quản lý gia đình và công việc đã ảnh hưởng lớn đến CLCS của họ [47] Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Maxwell O Adibe thực hiện ở Nigeria (2014) với kết luận công nhân viên phi chính phủ đã kết hôn có CLCS tinh thần thấp hơn so với những người chưa kết hôn [17] Nghiên cứu của Liu Y và cộng

sự (2011) cũng kết luận những người đã kết hôn có CLCSSK kém hơn những người chưa kết hôn [80] Nghiên cứu trên nhóm đối tượng kỹ sư điều hành tại Hàn Quốc của Choi, Seung Hee và cộng sự (2012) cũng cho thấy việc kết hôn có liên quan và làm giảm CLCS của các kỹ sư này [29]

Tuy nhiên trong một nghiên cứu khác của Imhonde, H O và cộng sự (2010), kết quả cho thấy rằng CLCS của công nhân nữ đã kết hôn tốt hơn so với công nhân

nữ chưa kết hôn [38] Giống với kết quả nghiên cứu của Kyungeun Park và cộng sự (2015) thực hiện trên nông dân Hàn Quốc cho thấy những người đã kết hôn có

CLCS tốt hơn [60]

Điều kiện kinh tế

Nghiên cứu của Liming Lu và cộng sự (2016) đánh giá CLCSSK trên nhóm người di cư Trung Quốc làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng bộ công

cụ SF-12, kết quả phân tích SEM cho thấy những người có mức lương cao hơn thì CLCSSK cao hơn [53]

Tình trạng sức khỏe

* Các vấn đề cơ xương khớp:

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tìm thấy mối liên quan giữa việc mắc các vấn đề cơ xương khớp với CLCSSK Nghiên cứu của Johan Hviid Andersen và cộng sự (2002) nhấn mạnh công nhân nữ bị đau cổ vai gáy cao gấp 1,8 lần so với công nhân nam, tuổi từ 45 trở lên có nguy cơ đau cổ vai gáy gấp 0,8 đến 1,5 lần so

HUPH

Trang 23

với tuổi thấp hơn Điều này ảnh hưởng rõ rệt đến CLCS của công nhân Biểu hiện càng đau, CLCS càng giảm mạnh trong tất cả 8 khía cạnh của CLCS [19] Nghiên cứu của McDonald, Margaret và cộng sự (2011) cho tìm ra mối liên quan giữa viêm khớp, đau lưng và đau cơ với CLCS thấp ở mức có ý nghĩa lâm sàng sau khi phân tích số liệu khảo sát sức khỏe của gần 31.000 công nhân Hoa Kỳ [84] Nghiên cứu của Julie Bodin và cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu so sánh CLCSSK của ba nhóm công nhân bị đau vai hoặc không đau vai kéo dào hơn 1 tháng trong 12 tháng trước đó, bao gồm nhóm 1 – không đau vai, nhóm 2 – đau vai nhưng không đau cổ, khuỷu tay và cổ tay kéo dài hơn 1 tháng trong 12 tháng trước đó, nhóm 3 – đau vai

và đau cổ, khuỷu tay và cổ tay kéo dài hơn 1 tháng trong 12 tháng trước đó Kết quả phân tích trung bình điểm SF36 cho thấy công nhân trong nhóm 2 có điểm số SKTC thấp hơn so với nhóm 1, bất kể giới tính Công nhân nhóm 3 có điểm số SKTC và SKTT thấp hơn so với nhóm 1 Như vậy có thể thấy công nhân bị đau vai và đau cổ, khuỷu tay và cổ tay có CLCS kém hơn so với công nhân không bị đau tại các vị trí này [23] Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của T.Morken (2002) trên công nhân khu công nghiệp ở Na Uy [56] và nghiên cứu của Velasco Garrido M (2015) ở công nhân môi trường đô thị tại Đức [77]

* Các bệnh đường hô hấp:

Một trong những bệnh hay gặp khác trong nhóm đối tượng công nhân thu gom rác là các bệnh đường hô hấp do họ phải thường xuyên tiếp xúc với khói bụi Nghiên cứu của Dhamane, Amol D (2016) cho thấy mức độ trầm trọng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của mối liên quan nghịch với CLCS, với p <0,001 Mức độ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính càng trầm trọng thì CLCS của họ càng thấp [32]

* Các bệnh da liễu:

Các vấn đề da liễu cũng ảnh hưởng đến CLCS người lao động Nghiên cứu của Rita Pichardo và cộng sự (2009) kết luận mụn trứng cá làm giảm CLCS của những công nhân nam tại Mỹ [61]

* Sức khỏe tinh thần:

HUPH

Trang 24

P Michel và cộng sự (1997) thực hiện nghiên cứu đánh giá gánh nặng của chứng đau nửa đầu với năng suất công việc và CLCS của người lao động của công

ty điện khí đốt quốc gia Pháp bằng bộ công cụ SF36 Kết quả cho thấy CLCS ở nhóm đau nửa đầu thấp hơn so với nhóm không bị đau nửa đầu Chứng đau nửa đầu

là nguyên nhân chủ yếu làm giảm CLCS của những công nhân này [55] Choi, Seung Hee và cộng sự (2012) đã tìm hiểu và xác định tình trạng có bệnh tật, trầm cảm có liên quan và làm giảm chất lượng cuộc sống của các kỹ sư điều hành tại Hàn Quốc [29] Nghiên cứu của Liu Y và cộng sự (2011) thực hiện trên nhóm nông dân cho thấy những người mệt mỏi nhiều có CLCSSK kém hơn những người ít mệt mỏi [80]

* Tai nạn lao động:

Các vấn đề TNLĐ cũng đã được chứng minh có mối liên quan chặt chẽ đến CLCS Nghiên cứu cắt ngang có nhóm chứng của Fereydoon Laal và cộng sự (2017) thực hiện tại Đông Nam Iran đã cho thấy điểm trung bình CLCS của nhóm

có gặp TNLĐ là 37,61±14,29, thấp hơn hẳn so với nhóm không gặp TNLĐ (74,92 ± 12,95), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001 [48] Một nghiên cứu khác ở Bắc Iran của Mohammad Agh và cộng sự (2014) thực hiện trên hai nhóm công nhân ngành gỗ (có TNLĐ và không có TNLĐ) Kết quả cho thấy điểm trung bình của các khía cạnh khác nhau của CLCS trong nhóm không gặp TNLĐ và nhóm có gặp TNLĐ là như sau: sức khỏe thể chất 67,23 ± 2,413 và 81,99 ± 2,193; sức khoẻ tinh thần 59,12 ± 16,76 và 71,52 ± 18,14, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05 Điều kiện làm việc không an toàn và hành vi nguy cơ cao của người lao động dẫn đến TNLĐ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động và CLCS của họ [18] Tương tự nghiên cứu của Baragaba Basim và cộng sự (2016) cũng cho thấy những công nhân bị TNLĐ có điểm sức khỏe thể chất và tinh thần thấp hơn lần lượt là 3 và

1 điểm so với những công nhân không bị TNLĐ [21]

Như vậy có thể thấy, các vấn đề sức khỏe, tình trạng sức khỏe của người lao động ảnh hưởng rất lớn đến CLCSSK của họ

1.3.2.2 Các yếu tố nghề nghiệp

HUPH

Trang 25

Các yếu tố về công việc, cụ thể là làm việc ca kíp, thời gian làm việc kéo dài, loại hình công việc nặng nhọc, môi trường làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và CLCS của người lao động

Thời gian làm việc

Nghiên cứu của Yu HM và cộng sự (2008) thực hiện trên nhóm công nhân ngành than bụi của Trung Quốc đã tìm thấy yếu tố giờ làm việc có liên quan đến CLCS, cụ thể thời gian làm việc của công nhân càng dài thì CLCS càng giảm (r = - 1,26 đối với CLCS thể chất; r = - 1,49 đối với CLCS xã hội; r = - 1,524 đối với CLCS môi trường) [81]

Thâm niên nghề

Tác giả L.Ranjit (2012) cũng chỉ ra rằng thâm niên nghề nghiệp ảnh hưởng đáng kể đến CLCS của người lao động nữ phần mềm (r = - 0,27), thâm niên nghề càng nhiều thì càng làm giảm CLCS của công nhân nữ [47] Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Francisca Aline Arrais Sampaio Santos và cộng

sự (2016) đánh giá CLCS của 153 nhân viên y tế cộng đồng ở Brazil (CLCS của nhóm nhân viên có thâm niên trên 10 năm thấp hơn so với nhóm có thâm niên ít

hơn) [69]

Công việc ca kíp

WANG Xiao-kai và cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu trên 782 công nhân thép tại Trung Quốc đã tìm thấy mối liên quan của công việc ca kíp đến CLCS của những công nhân tiếp xúc với nhiệt độ cao [79], tương tự kết quả nghiên cứu của Xiaona Zhang trên đối tượng công nhân đường sắt (2016) [82]

Công việc có nhiều nguy cơ sức khỏe

Nghiên cứu của Maxwell O Adibe và cộng sự (2014) thực hiện ở Nigeria đã đánh giá CLCS của công nhân viên phi chính phủ bằng bộ công cụ SF-36 cho thấy những người nhận thấy công việc của họ dẫn đến nhiều nguy cơ sức khỏe thì có CLCS tinh thần thấp hơn so với những người không thấy có nguy cơ sức khỏe trong công việc [17]

HUPH

Trang 26

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu

Qua quá trình tổng quan tài liệu, học viên xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu sau:

1.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc UBND thành phố Hà Nội URENCO là doanh nghiệp chính chịu trách nhiệm quản lý môi trường, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải

đô thị trên địa bàn Hà Nội, cung ứng các dịch vụ vệ sinh môi trường đô thị và khu công nghiệp trên phạm vi toàn quốc Hiện tại, URENCO phụ trách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải ở 4 Quận trung tâm của thành phố Hà Nội là Hoàn Kiếm,

Ba Đình, Đống Đa và Hai Bà Trưng Với khối lượng rác thải sinh hoạt thu gom

CLCSSK của công nhân thu

gom rác

- Chức năng thể lực

- Những hạn chế vận động do vấn đề thể lực

- Cảm giác đau

- Tình trạng sức khỏe chung

- Những hạn chế hoạt động do vấn đề tinh thần

Trang 27

trung bình là 3.500 tấn/ngày Không chỉ phụ trách thu gom rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày URENCO còn là công ty hàng đầu về thu gom, xử lý các loại chất thải khác như chất thải xây dựng, chất thải Công nghiệp, chất thải Y tế nguy hại và phân bùn bể phốt

Đề tài nghiên cứu cấp thành phố “Thực trạng sức khỏe, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp”

do Trường Đại học Y tế công cộng thực hiện nhằm đánh giá thực trạng sức khỏe và một số yếu tố liên quan nghề nghiệp đối với sức khỏe của công nhân môi trường đô thị, đồng thời đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe của công nhân Nghiên cứu được thực hiện tại công ty TNHH URENCO chi nhánh Hai Bà Trưng, Ba Đình, và Hợp tác xã Thành Công Tuy nhiên, đề tài mới chỉ tập trung vào các vấn đề sức khỏe của công nhân, các số liệu về CLCSSK của công nhân chưa được phân tích sâu Theo đánh giá ban đầu, điểm trung bình CLCSSK của công nhân tại hai chi nhánh Hai Bà Trưng và Ba Đình thấp hơn, công nhân gặp nhiều vấn đề về sức khỏe hơn, do đó học viên lựa chọn số liệu tại 2 chi nhánh này để phân tích sâu tìm hiểu về CLCSSK và các yếu tố liên quan

HUPH

Trang 28

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mô tả về bộ số liệu gốc

2.1.1 Mục tiêu của nghiên cứu gốc

Đề tài cấp thành phố “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp” do Trường Đại học Y tế công cộng làm chủ trì được thực hiện từ năm 2016-2018 với các mục tiêu cụ thể 1) Mô tả thực trạng sức khoẻ của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội (2016-2017); 2) Phân tích một số yếu tố liên quan nghề nghiệp đối với sức khoẻ của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và 3) Đề xuất và thử nghiệm giải pháp can thiệp

Đề tài nghiên cứu gốc gồm nhiều cấu phần, các nội dung sau đây học viên xin tập trung trình bày các phần liên quan đến số liệu mà học viên sử dụng trong luận văn, cụ thể là cấu phần mô tả thực trạng sức khỏe và một số yếu tố liên quan nghề nghiệp đối với sức khoẻ của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu gốc

Công nhân môi trường đô thị Hà Nội:

+ Tiêu chí lựa chọn: Có cả 04 tiêu chí: Có hợp đồng lao động, làm việc trực tiếp các công việc thu gom và xử lý rác thải, làm việc tại doanh nghiệp ít

nhất 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu

+ Tiêu chí loại trừ: không đủ sức khỏe để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, công nhân đang trong thời kì nghỉ thai sản, nghỉ phép, nghỉ ốm tại thời điểm điều tra

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu của nghiên cứu gốc

- Thời gian: Từ tháng 06/2016 đến hết tháng 06/2018

- Địa điểm nghiên cứu: Tại hai chi nhánh Ba Đình và Hai Bà Trưng của công

ty URENCO, Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn, Hợp tác xã Thành

HUPH

Trang 29

Công (bao gồm đội thu gom rác tại Thanh Xuân, Nam Từ Liêm và Đan Phượng và khu xử lý rác Xuân Sơn)

2.1.4 Thiết kế nghiên cứu của nghiên cứu gốc

Phần điều tra thực trạng sức khỏe và xác định một số yếu tố liên quan áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.1.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu của nghiên cứu gốc

Cỡ mẫu định lượng: Nghiên cứu gốc tính toán cỡ mẫu theo công thức cho

nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, được tổng cỡ mẫu định lượng cho 2 doanh nghiệp (URENCO và Hợp tác xã Thành Công) là 1610 công nhân

Phương pháp chọn mẫu định lượng: Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm,

nhiều giai đoạn Mỗi doanh nghiệp là một cụm Đơn vị mẫu là công nhân

- Giai đoạn 1: Chọn doanh nghiệp, chọn 1 doanh nghiệp nhà nước (URENCO)

và 1 doanh nghiệp xã hội hóa là Hợp tác xã Thành Công Tại mỗi doanh nghiệp, lựa chọn đơn vị xử lý chất thải và đơn vị thu gom chất thải, cụ thể: + Đối với Hợp tác xã Thành Công: có 15 tổ thu gom rác với tổng số khoảng

778 công nhân và tổ xử lý rác là 28 công nhân, vì vậy chọn toàn bộ số công nhân trên vào nghiên cứu

+ Đối với URENCO:

o Chọn doanh nghiệp xử lý chất thải: URENCO Nam Sơn (Khu công nghiệp xử lý chất thải Nam Sơn) với khoảng 180 công nhân, trong đó

có khoảng 70 công nhân trực tiếp tham gia xử lý rác thải

o Chọn doanh nghiệp thu gom chất thải: chọn ngẫu nhiên 1 chi nhánh

có khoảng 300 công nhân và 1 chi nhánh có hơn 400 công nhân trong

4 chi nhánh (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Bắc Từ Liêm) Cụ thể sau khi xem xét đã lựa chọn chi nhánh Ba Đình và Hai Bà Trưng

- Giai đoạn 2: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu Tại các doanh nghiệp, chọn

HUPH

Trang 30

toàn bộ công nhân trực tiếp thu gom và xử lý chất thải đảm bảo các tiêu chí

đã mô tả trong phần đối tượng nghiên cứu

2.1.6 Biến số nghiên cứu của nghiên cứu gốc

Nhóm biến số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Các biến số về nhân khẩu học, thời gian làm việc, thâm niên nghề, bảo hiểm

y tế, bảo hiểm xã hội

- Môi trường sống và điều kiện kinh tế

- Hành vi sức khỏe lành mạnh: hút thuốc; uống rượu; thể dục thể thao…

Nhóm biến số về tình trạng sức khỏe

- Tỷ lệ bệnh tật của công nhân từ kết quả khám sức khoẻ định kỳ năm 2016 và Khám phát hiện bệnh nghề nghiệp số tích luỹ đến 2016 (Tỷ lệ bệnh tật theo nhóm bệnh; tỷ lệ phân loại sức khoẻ; tỷ lệ bệnh nghề nghiệp)

- Biến số về tình trạng sức khỏe được đánh giá qua phỏng vấn công nhân về triệu chứng sau ca làm việc của công nhân, bệnh mạn tính

- Tai nạn thương tích trong lao động thường gặp 01 năm qua

Nhóm biến số đánh giá một số vấn đề sức khỏe đặc thù nghề nghiệp: Tâm

thần kinh, cơ xương khớp, hô hấp, da liễu

Nhóm biến số đo lường CLCSSK công nhân

CLCSSK được thu thập qua Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 gồm 36 câu hỏi với được chia làm 8 lĩnh vực: 1) Sức khỏe thể chất, 2) Hạn chế do sức khỏe thể chất, 3) Sức khỏe tinh thần, 4) Hạn chế do sức khỏe tinh thần, 5) Sinh lực/năng lượng, 6) Hoạt động xã hội, 7) Cảm giác đau và 8) Sức khỏe chung

Nhóm biến số về điều kiện lao động liên quan đến sức khỏe của công nhân

- Tự đánh giá về các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong môi trường lao động theo các nhóm yếu tố tác hại (vật lý; hóa học; sinh học; tâm sinh lý lao động

và ecgonomy)

HUPH

Trang 31

- Tự đánh giá mức độ tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong môi trường lao động

Nhóm các biến số đánh giá trước và sau can thiệp

- Kiến thức: Kiến thức về quyền và nghĩa vụ của người lao động; kiến thức về yếu tố tác hại nghề nghiệp; về các bệnh liên quan nghề nghiệp; các biện pháp giảm thiểu, phòng chống những nguy cơ sức khỏe có thể gặp phải trong quá trình làm việc

- Thực hành: Thực hành sử dụng bảo hộ lao động; Thực hành về hành vi lối sống lành mạnh an toàn

Các biến số nêu trên đã được sử dụng để mô tả về tình trạng sức khỏe và điều kiện lao động của công nhân môi trường đô thị, làm tiền đề để xây dựng các giải pháp can thiệp giúp nâng cao sức khỏe của công nhân môi trường đô thị Các biến

số về CLCSSK mới chỉ được sử dụng để mô tả về CLCSSK chung của công nhân tại công ty URENCO và Hợp tác xã Thành Công, chưa phân tích sâu về từng khía cạnh CLCSSK cũng như các yếu tố liên quan đến CLCSSK Báo cáo cuối cùng của nghiên cứu gốc sẽ hoàn thiện và bảo vệ tại hội đồng vào khoảng tháng 12/2018 Chính vì thế, học viên lựa chọn các biến số về CLCSSK của công nhân và một số biến số về thông tin nhân khẩu học, yếu tố nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe để phân tích và thực hiện luận văn (cụ thể trong phần 2.7) Đối tượng phân tích chỉ thực hiện trên nhóm công nhân thu gom rác, những người trực tiếp tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp đặc trưng của ngành nghề này

2.1.7 Phương pháp thu thập số liệu định lượng của nghiên cứu gốc

1.6.7.1 Bộ công cụ thu thập số liệu định lượng của nghiên cứu gốc

Sử dụng phiếu điều tra được thiết kế sẵn để thu thập thông tin theo các phần: 1) Thông tin cá nhân và sử dụng dịch vụ y tế;

2) Tình trạng sức khỏe của công nhân: Triệu chứng sau ca làm việc; sức khỏe trong 1 tháng trước điều tra và các bệnh mạn tính; Đánh giá về các bệnh cơ xương khớp; hô hấp và tâm thần kinh;

HUPH

Trang 32

3) Đánh giá về CLCSSK (Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 gồm 36 câu hỏi); 4) Điều kiện làm việc, điều kiện sống và các yếu tố nguy cơ: Điều kiện làm việc với các yếu tố nguy cơ; Điều kiện sống và điều kiện kinh tế; Thói quen lối sống lành mạnh;

5) Kiến thức, thực hành: Kiến thức về quyền và nghĩa vụ của người lao động; kiến thức về yếu tố tác hại nghề nghiệp; về các bệnh liên quan nghề nghiệp; các biện pháp giảm thiểu, phòng chống những nguy cơ sức khỏe có thể gặp phải trong quá trình làm việc; Thực hành sử dụng bảo hộ lao động

1.6.7.2 Tiến hành thu thập số liệu định lượng

- Thu thập số liệu định lượng bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp công nhân tại nơi tập trung của từng tổ công nhân theo địa bàn được phân công, vào 2 thời điểm: (1) 12h trưa – giờ giao ca giữa ca sáng và ca chiều và (2) 16h chiều – trước giờ làm việc của ca chiều

- Nghiên cứu viên liên hệ với lãnh đạo công ty và lãnh đạo hai chi nhánh để giới thiệu về nghiên cứu và kế hoạch thực hiện thu thập số liệu Sau đó thông qua cán bộ phụ trách nhân sự để liên hệ với tổ trưởng, hẹn lịch, sắp xếp thời gian phù hợp nhất, tránh để ảnh hưởng đến công việc của người lao động, để tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi Sau khi kết thúc phỏng vấn, người lao động được nhóm nghiên cứu gửi tặng 1 phần quà nhỏ để cảm ơn

1.6.7.3 Tập huấn điều tra viên thu thập số liệu định lượng

- Nghiên cứu viên, giám sát viên (GSV) là người trực tiếp tập huấn điều tra viên (ĐTV)

- Nhóm ĐTV có 10 người đã được giải thích kỹ lưỡng về nội dung của bộ phiếu phỏng vấn, tập huấn kỹ năng phỏng vấn, phương pháp phỏng vấn theo nội dung bộ phiếu, cách điền phiếu và kiểm soát chất lượng phiếu

- Các ĐTV cùng với GSV tham gia phỏng vấn thử một số công nhân thu gom rác (không phải công nhân của công ty URENCO) để điều chỉnh cách thức

HUPH

Trang 33

phỏng vấn của ĐTV, giải quyết những khó khăn vướng mắc trong quá trình điều tra, rút kinh nghiệm cho các lần điều tra sau

1.6.7.4 Tổ chức điều tra số liệu định lượng

- Bước 1: Sau khi tập trung tại địa điểm đã hẹn, 1 ĐTV giới thiệu về mục đích

ý nghĩa của nghiên cứu và tính bảo mật thông tin với tất cả công nhân của tổ

- Bước 2: ĐTV gửi cho từng công nhân giấy đồng ý tham gia nghiên cứu để

điền thông tin và ký

- Bước 3: Mỗi ĐTV mời 1 công nhân trả lời câu hỏi Khoảng cách giữa các

nhóm đảm bảo để không ảnh hưởng đến nhau ĐTV lần lượt đọc từng câu hỏi trong bảng hỏi cho đối tượng phỏng vấn nghe và trả lời

- Bước 4: Kết thúc cuộc phỏng vấn, ĐTV hỏi lại đối tượng được phỏng vấn có

cần bổ sung hoặc sửa đổi thông tin hay có câu hỏi nào liên quan đến vấn đề nghiên cứu không, nếu có ĐTV phải giải đáp các thắc mắc này trong phạm

vi có thể, nếu không, ghi lại các hỏi và hẹn giải đáp sau

- Bước 5: ĐTV cảm ơn đối tượng và kết thúc cuộc phỏng vấn

1.6.7.5 Quy trình giám sát

- GSV tham gia cùng ĐTV trong suốt quá trình điều tra để quan sát, hỗ trợ việc phỏng vấn của ĐTV và kịp thời rút kinh nghiệm, đồng thời báo cáo với nghiên cứu viên về các ĐTV không đạt yêu cầu để kịp thời thay thế

- Các phiếu đã được phỏng vấn, giám sát viên có nhiệm vụ thu nhận đầy đủ, làm sạch lại 1 lần và mã hóa các câu hỏi theo quy định

Mặc dù trong nghiên cứu gốc có sử dụng bộ công cụ SF-36 để thu thập thông tin về CLCSSK của công nhân môi trường đô thị, nhưng trong quá trình phân tích, viết báo cáo, nghiên cứu gốc mới chỉ phân tích mô tả về CLCSSK nói chung của công nhân tại công ty URENCO và Hợp tác xã Thành Công, chưa mô tả cụ thể, chi tiết CLCSSK của công nhân thu gom rác tại công ty URENCO theo 8 khía cạnh

HUPH

Trang 34

CLCSSK cũng như phân tích các yếu tố liên quan đến CLCSSK của công nhân Đề tài luận văn của học viên sử dụng số liệu định lượng là số liệu thứ cấp của nghiên cứu gốc, bên cạnh đó học viên thực hiện thêm các cuộc phỏng vấn sâu để thu thập thông tin bổ sung cho số liệu định lượng, bổ sung thêm các thông tin sâu hơn mà đề tài gốc chưa đáp ứng

2.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn

2.2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu: Có sự khác nhau về điểm trung bình chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe của các nhóm công nhân có các đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng sức khỏe, yếu tố nghề nghiệp khác nhau

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích, kết hợp định lượng và định tính

2.2.3 Đối tượng và thời gian thực hiện nghiên cứu

- Phần định lượng: Số liệu thứ cấp của nghiên cứu gốc “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp” chỉ phân tích trên đối tượng là công nhân thu gom rác của công ty URENCO chi nhánh Ba Đình và Hai Bà Trưng Số liệu gốc của đề tài bao gồm cả công nhân xử lý rác tại khu xử lý rác và lái xe, phụ xe Tuy nhiên học viên chỉ lựa chọn công nhân thu gom rác là những người trực tiếp tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ từ rác thải, khối lượng công việc nặng nhọc, ca kíp, tư thế lao động không phù hợp các yếu tố nguy cơ sức khỏe đặc thù của công nhân làm công việc này

- Phần định tính (phỏng vấn sâu): Công nhân thu gom rác của công ty URENCO chi nhánh Ba Đình và Hai Bà Trưng đã tham gia vào nghiên cứu gốc “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp” và đồng ý tham gia phỏng vấn sâu

- Thời gian thực hiện đề tài luận văn: từ tháng 10/2017 đến tháng 11/2018

HUPH

Trang 35

2.2.4 Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu định lượng

Thực tế, nghiên cứu gốc đã thực hiện thu thập số liệu trên 726 công nhân thu gom rác tại công ty URENCO chi nhánh Ba Đình và Hai Bà Trưng Dựa trên số liệu

đã có, học viên đã kiểm soát và loại bỏ những trường hợp không được thu thập đầy

đủ thông tin để phục vụ cho mục tiêu của nghiên cứu (bao gồm các thông tin chung, thông tin về tình trạng sức khỏe, chất lượng cuộc sống), số mẫu còn lại để sử dụng phân tích trong nghiên cứu này là: 698 công nhân

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính

Cỡ mẫu định tính: 16 công nhân

Phương pháp chọn: sau khi thực hiện phân tích mô tả cơ bản về CLCSSK của công nhân, tính điểm trung bình CLCSSK của từng công nhân trong nghiên cứu và xác định một số yếu tố liên quan đến điểm trung bình CLCSSK, học viên lựa chọn ngẫu nhiên 8 công nhân mỗi chi nhánh (Ba Đình và Hai Bà Trưng), trong đó 4 công nhân có điểm trung bình CLCSSK dưới 50 điểm và 4 công nhân có điểm trung bình CLCSSK trên 50 điểm (cách tính điểm được nêu trong mục 2.8) để phỏng vấn sâu, tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố liên quan đến CLCSSK của công nhân tại đây Tổng

số 16 cuộc PVS được thực hiện

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu định tính

Công cụ thu thập số liệu định tính

Tiến hành phỏng vấn sâu 16 công nhân làm việc tại 2 chi nhánh công ty bằng

bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 3) Nội dung phỏng vấn không chỉ bó hẹp trong các câu hỏi trong bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu

Tiến hành thu thập số liệu định tính

Sau khi làm sạch và phân tích sơ bộ số liệu định lượng để chọn ra 16 công nhân để phỏng vấn sâu, học viên đã liên hệ với cán bộ nhân sự, cán bộ quản lý để lên lịch hẹn gặp 16 công nhân này Cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện tại nơi có

HUPH

Trang 36

không gian yên tĩnh, do chính công nhân lựa chọn để công nhân thoải mái trò chuyện và bày tỏ quan điểm Học viên là người trực tiếp phỏng vấn các công nhân này

Trước khi bắt đầu phỏng vấn sâu, học viên trình bày về mục đích của cuộc phỏng vấn và xin sự đồng ý ghi âm của đối tượng Các cuộc phỏng vấn sâu đã được ghi âm hoặc ghi chép lại (trong trường hợp đối tượng không muốn ghi âm) Mỗi cuộc phỏng vấn sâu đã được mã hóa để đảm bảo tính bảo mật

2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu định lượng đã được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1

- Số liệu được làm sạch, kiểm tra các giá trị bất thường và lỗi do mã hóa trước khi đưa vào phân tích trên phần mềm SPSS 22.0

- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0 Kết quả phân tích được trình bày theo mục tiêu nghiên cứu:

+ Phân tích mô tả: sử dụng phân tích mô tả tần số, tỷ lệ đối với các biến định tính; sử dụng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn hoặc trung vị, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất đối với các biến định lượng

+ Phân tích độ tin cậy Cronbach’s α của thang đo SF-36 theo 8 khía cạnh CLCS (Sức khỏe thể chất, Hạn chế do sức khỏe thể chất, Hạn chế do sức khỏe tinh thần, Hoạt động xã hội, Cảm giác đau, Sức khỏe tinh thần, Sinh lực/năng lượng, Sức khỏe chung) với mức α >0,6 để đánh giá thang đo đạt tiêu chuẩn Với từng khía cạnh, đánh giá những câu hỏi nhỏ trong từng khía cạnh, những câu hỏi có hệ số tương quan biến tổng < 0,3 được xem xét loại bỏ khỏi phần đánh giá phía sau

+ Thống kê phân tích: Biến phụ thuộc được sử dụng để phân tích là điểm trung bình CLCSSK chung, điểm TB SKTC, TB SKTT của công nhân Sau khi đánh giá phương sai của các biến phụ thuộc, nhận thấy các biến phụ thuộc có phương sai đồng nhất, học viên đã sử dụng các kiểm định T-test để so sánh hai giá trị trung bình, kiểm định ANOVA để so sánh nhiều

HUPH

Trang 37

hơn hai giá trị trung bình để so sánh sự khác biệt về CLCS của công nhân theo các yếu tố liên quan với mức ý nghĩa α < 0,05 để kết luận sự khác biệt giữa các biến nghiên cứu Biến độc lập được sử dụng để phân tích bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, mức thu nhập; các biến về tình trạng sức khỏe bao gồm bị tai nạn lao động, gặp các vấn

đề sức khỏe sau ca làm việc, mắc bệnh mạn tính trong vòng 1 năm từ thời điểm điều tra; thâm niên nghề và số năm làm việc tại công ty

+ Phân tích đa biến: Sau khi phân tích đơn biến, số liệu được phân tích theo

mô hình hồi quy tuyến tính đa biến cho các biến phụ thuộc là điểm trung bình CLCSSK chung, điểm TB SKTT, điểm TB SKTC Các biến độc lập được đưa vào mô hình bằng phương pháp STEPWISE dựa vào kết quả tổng quan nghiên cứu và kết quả phân tích đơn biến Xem xét hiện tượng

đa cộng tuyến qua các giá trị Tolerance và Variance inflation factor (VIF)

để lựa chọn loại bỏ các biến gây đa cộng tuyến

- Số liệu định tính: các băng phỏng vấn sâu được gỡ băng và phân tích theo các chủ đề của nghiên cứu, nhằm bổ sung thêm thông tin cho số liệu định lượng

2.2.7 Các biến số nghiên cứu

Để mô tả thực trạng CLCSSK và một số yếu tố liên quan của công nhân thu gom rác của công ty TNHH URENCO, Hà Nội năm 2017, học viên lựa chọn một phần các biến số từ nghiên cứu gốc như sau:

Nhóm biến số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Các biến số về nhân khẩu học, thời gian làm việc, thâm niên nghề

- Điều kiện kinh tế

Nhóm biến số về tình trạng sức khỏe

- Triệu chứng sau ca làm việc của công nhân trong vòng 1 năm từ thời điểm nghiên cứu

HUPH

Trang 38

- Bệnh mạn tính

- Tai nạn lao động trong vòng 1 năm từ thời điểm nghiên cứu

Nhóm biến số đo lường CLCSSK của công nhân thu gom rác

CLCSSK qua Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 gồm 36 câu hỏi với được chia làm 8 lĩnh vực: (1) Sức khỏe thể chất, (2) Hạn chế do sức khỏe thể chất, (3) Sức khỏe tinh thần, (4) Hạn chế do sức khỏe tinh thần, (5) Sinh lực/năng lượng, (6) Hoạt động xã hội, (7) Cảm giác đau và (8) Sức khỏe chung

(Chi tiết về các biến số định lượng xem tại Phụ lục 4)

 Các chủ đề nghiên cứu định tính được thực hiện sau khi phân tích số liệu định lượng nhằm bổ sung thông tin cho kết quả định lượng:

- Đánh giá về tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần ở thời điểm hiện tại, so với năm trước đây và so với thời điểm trước khi làm công việc hiện tại

- Đánh giá về những hạn chế trong sinh hoạt, công việc, hoạt động xã hội của công nhân do sức khỏe thể chất và tinh thần gây ra

- Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần, CLCSSK của công nhân

- Mức độ hài lòng của công nhân đối với công việc, cuộc sống

- Công tác ATVSLĐ đã được thực hiện tại doanh nghiệp nhằm cải thiện điều kiện lao động và nâng cao sức khoẻ cho công nhân

2.2.8 Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 và cách tính điểm CLCSSK

Bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 gồm 36 câu hỏi với được chia làm 8 khía cạnh

cụ thể, được chia thành 2 thành phần: sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Sức khỏe thể chất gồm các lĩnh vực hoạt động chức năng, giới hạn chức năng, cảm nhận đau đớn và sức khỏe tổng quát Sức khỏe tinh thần gồm các lĩnh vực hoạt động xã hội, giới hạn tâm lý, cảm nhận sức sống và tinh thần tổng quát

36 câu hỏi được tổng hợp trong 11 mục hỏi lớn:

- Mục 1: gồm 1 câu hỏi về tình hình sức khỏe hiện nay

HUPH

Trang 39

- Mục 2: gồm 1 câu hỏi về tình hình sức khỏe so với 1 năm trước đây

- Mục 3: gồm 10 câu hỏi về các hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày

- Mục 4: gồm 4 câu hỏi về ảnh hưởng của sức khỏe thể chất đến sinh hoạt hàng ngày

- Mục 5: gồm 3 câu hỏi về ảnh hưởng của sức khỏe tinh thần đến sinh hoạt hàng ngày

- Mục 6: gồm 1 câu hỏi về ảnh hưởng của sức khỏe đến hoạt động xã hội, gia đình và bạn bè

- Mục 7: gồm 1 câu hỏi về sự đau đớn của cơ thể

- Mục 8: gồm 1 câu hỏi về ảnh hưởng của đau đớn cơ thể đến sinh hoạt hàng ngày

- Mục 9: gồm 9 câu hỏi về cảm nhận những điều xảy ra trong 4 tuần qua

- Mục 10: gồm 1 câu hỏi về ảnh hưởng của sức khỏe thể chất và tinh thần đến hoạt động xã hội bình thường

- Mục 11: gồm 4 câu hỏi về mức độ đúng sai của tình trạng sức khỏe hiện nay

Bảng 2.1: Cấu trúc bộ câu hỏi SF-36 phiên bản 2 [66]

Sức khỏe thể chất

Chức năng thể lực 10 Những hạn chế vận động do vấn đề thể lực 4

HUPH

Trang 40

1) Khía cạnh Sức khỏe thể chất: mô tả những hoạt động sinh hoạt bình thường

có thể thực hiện được liên quan đến thể chất với 3 mức độ hạn chế nhiều, một phần và không hạn chế

2) Khía cạnh Hạn chế do sức khỏe thể chất: phản ánh các mức độ ảnh hưởng của việc giảm sút sức khỏe đến các công việc hàng ngày với 5 thang điểm từ luôn luôn đến không bao giờ ảnh hưởng

3) Khía cạnh Sức khỏe tinh thần: mức độ thường xuyên về sự mệt mỏi tinh thần thường gặp như mệt mỏi, chán nản, lo âu… với 5 thang điểm từ luôn luôn đến không bao giờ gặp phải

4) Khía cạnh Hạn chế do sức khỏe tinh thần: mô tả tần suất từ không bao giờ đến luôn luôn ảnh hưởng của các vấn để tinh thần như lo lắng, buồn rầu, lo

sợ đến sinh hoạt và công việc

5) Khía cạnh Năng lực/sinh lực: mức độ cảm nhận về sức sống của bản thân 6) Khía cạnh hoạt động xã hội: đánh giá tác động của sức khỏe chung gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần ảnh hưởng đến các hoạt động xã hội bình thường như hoạt động đoàn thể, xã hội, gia đình và bạn bè

7) Khía cạnh Cảm giác đau: phản ánh tình trạng đau đớn cơ thể mắc phải trong

4 tuần qua với các mức độ không có, nhẹ, vừa, nhiều và rất nhiều

8) Khía cạnh Sức khỏe chung: đánh giá về tình trạng sức khỏe nói chung cả về sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất

Các bước tính điểm CLCS:

Bước 1: Chuyển đổi các câu hỏi: các câu hỏi trong bộ câu hỏi được sắp xếp

theo các mục hỏi từ 1 đến 11, từ các mục này các câu hỏi cần được chuyển đổi theo thứ tự từ 1 đến 36 để dễ dàng tính điểm và đánh giá các khía cạnh của chất lượng cuộc sống

HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Công Duy và Châu Ngọc Hoa (2014), "Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tăng huyết áp", Tim mạch học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tăng huyết áp
Tác giả: Trần Công Duy, Châu Ngọc Hoa
Nhà XB: Tim mạch học
Năm: 2014
2. Trần Văn Đại (2017), Khái niệm điều kiện lao động và các yếu tố của điều kiện lao động (Phần 1), Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, truy cập ngày 10/12-2017, tại trang web http://nioeh.org.vn/tam-sinh-ly-lao-dong-ecgonomi/khai-niem-dieu-kien-lao-dong-va-cac-yeu-to-cua-dieu-kien-lao-dong-phan-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm điều kiện lao động và các yếu tố của điều kiện lao động (Phần 1)
Tác giả: Trần Văn Đại
Nhà XB: Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường
Năm: 2017
3. Đỗ Thúy Hằng và các cộng sự. (2015), Khảo sát chất lượng cuộc sống bằng bảng điểm SF-36 ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Quân Y 103, Hội nghị Khoa học điều dưỡng, chủ biên, Bệnh viện Quân Y 103, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát chất lượng cuộc sống bằng bảng điểm SF-36 ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Quân Y 103
Tác giả: Đỗ Thúy Hằng, các cộng sự
Nhà XB: Bệnh viện Quân Y 103
Năm: 2015
5. Nguyễn Bích Ngọc (2010), Chất lượng cuộc sống của bệnh ALZHEIMER, người chăm sóc và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp không dùng thuốc, Viện Vệ sinh dịch tế Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của bệnh ALZHEIMER, người chăm sóc và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp không dùng thuốc
Tác giả: Nguyễn Bích Ngọc
Nhà XB: Viện Vệ sinh dịch tế Trung ương
Năm: 2010
6. Đoàn Tuyết Nhung (1995), Nghiên cứu điều kiện lao động của nữ công nhân vệ sinh môi trường đô thị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu điều kiện lao động của nữ công nhân vệ sinh môi trường đô thị
Tác giả: Đoàn Tuyết Nhung
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
7. Ngô Minh Phương (1998), "Vấn đề môi trường lao động và sức khỏe của nữ công nhân qua nghiên cứu xã hội học ở một số cơ sở hiện nay", Tạp chí Xã hội học.3, tr. 81-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề môi trường lao động và sức khỏe của nữ công nhân qua nghiên cứu xã hội học ở một số cơ sở hiện nay
Tác giả: Ngô Minh Phương
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 1998
4. Hồng Khánh (2016), Thực trạng và giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Hà Nội, Tạp chí Môi trường, Hà Nội, truy cập ngày 27/12-2017, tại trang web http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ch%E1%BA%A5t-th%E1%BA%A3i-r%E1%BA%AFn-sinh-ho%E1%BA%A1t-t%E1%BA%A1i-H%C3%A0-N%E1%BB%99i-42133 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w