DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu Bảng 2: Làm việc nhóm trong khoa Bảng3: Quan điểm và hành động của Trưởng khoa Bảng 4: Hoạt động cải tiến trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ THANH THẢO
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ CÁC KHOA LÂM SÀNG
TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HÀ NỘI, 2019
HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ THANH THẢO
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ CÁC KHOA LÂM SÀNG
TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ĐỨC THÀNH
HÀ NỘI, 2019
HUPH
Trang 3Thầy và cô, người đã bỏ nhiều công sức để giúp tôi định hướng và có nhiều góp ý, chỉ bảo cho tôi thực hiện thành công nghiên cứu của mình;
Các thầy cô giáo của Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thiện phương pháp nghiên cứu cho Luận văn của mình;
Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn tất cả!
LÊ THANH THẢO
HUPH
Trang 4i
MỤC LỤC **
2 Thang đo nghiên cứu VHATNB
HUPH
Trang 5ii
3.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Viện Y dược học
Trang 6ĐD-YS-KTV Điều dưỡng- Y sĩ- Kỹ thuật viên
HSOPCS Hospital Survey on patien Safety Culture (Bộ
câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh)
VHATNB Văn hóa an toàn người bệnh
VYDHDT Viện Y dược học dân tộc
HUPH
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 2: Làm việc nhóm trong khoa
Bảng3: Quan điểm và hành động của Trưởng khoa
Bảng 4: Hoạt động cải tiến trong khoa
Bảng 5: Thông báo phản hồi khi có sai sót sự cố
Bảng 6: Sẵn sàng trao đổi thông tin VHATNB trong khoa
Bảng 7: Nhân lực
Bảng 8: Hỗ trợ về VHATNB của người quản lý
Bảng 10: Hỗ trợ của lãnh đạo
Bảng 11: Sự phối hợp giữa các khoa
Bảng 12: Bàn giao ca trực và chuyển tiếp người bệnh giữa các khoa
Bảng 13: Quan điểm của NVYT về ATNB
Bảng 14: Tần suất báo cáo sai sót sự cố
Bảng 15: Số lượng báo cáo sự cố tại bệnh viện
Bảng 16: Kết quả đánh giá mức độ ATNB tại khoa
Bảng 17: Kết quả tỷ lệ đáp ứng 12 yếu tố văn hóa ATNB của VYDHDT
HUPH
Trang 9Viện Y dược học dân tộc cũng mong muốn nâng cao văn hóa an toàn người bệnh, muốn thay đổi những suy nghĩ, nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên y tế theo chiều hướng tích cực như thúc đẩy báo cáo sai sót sự cố, nhân viên y tế thực hiện đúng chuyên môn, đảm bảo an toàn bản thân, đồng nghiệp, người bệnh và khách đến thăm Chính vì vậy, đề tài “Thực trạng văn hóa
an toàn người bệnh của nhân viên y tế các khoa lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc năm 2019” được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 10 năm 2019 giúp tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế các khoa lâm sàng trong bệnh viện
Đề tài thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng là chọn mẫu toàn bộ nhân viên y tế khoa lâm sàng công tác từ 6 tháng trở lên và thực hiện nghiên cứu định tính thông qua hình thức thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu 12 người
Đề tài sử dụng bộ câu hỏi khảo sát “Văn hóa an toàn người bệnh” của “Cơ quan nghiên cứu chất lượng và chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ” (AHRQ) chuyển sang phiên bản tiếng Việt được công nhân do tác giả Tăng Chí Thượng – Phó
HUPH
Trang 10v iii
giám đốc Sở y tế đã thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2014,,
có chỉnh sửa một số cấu trúc cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu và đặc thù thực
tế của nghiên cứu được Hội đồng khoa học công nghệ Bệnh viện chấp thuận tháng 7/2019
Kết quả nghiên cứu đánh giá định lượng: Qua nghiên cứu, khảo sát toàn bộ n=164 nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng từ tháng 3/2019 đến tháng 10/2019 Kết quả tỷ lệ đáp ứng tích cực chung là 81,26 %, Điểm trung bình chung của đối tượng nghiên cứu là 3.94 ± 0,69
* Tỷ lệ đáp ứng tích cực đạt ở 9 yếu tố sau:
1 Làm việc nhóm trong khoa lâm sàng đạt 97,56%
2 Lên kế hoạch và thực hiện của Trưởng khoa đạt 87,93%
3 Hoạt động cải tiến trong khoa lâm sàng 90,04%
4 Sẵn sàng trao đổi thông tin văn hoá an toàn người bệnh đạt 88,41%
5 Thông báo phản hồi khi có sai sót sự cố đạt 90,24%
6 Hỗ trợ của Ban giám đốc đạt 92,48%
7 Sự phối hợp giữa các khoa đạt 91,46%
8 Bàn giao ca trực và chuyển bệnh đạt 79,07%
9 Quan điểm của nhân viên y tế về an toàn người bệnh đạt 89,94%
* Tỷ lệ đáp ứng chưa tích cực đạt ở 3 yếu tố sau:
1 Nguồn nhân lực đạt 63,01%
2 Hành xử buộc tội khi có sai sót sự cố đạt 55,25%
3 Số lần báo cáo sai sót sự cố đạt 49,78%
Kết quả phỏng vấn yếu tố ảnh hưởng nhận định rất tích cực ở câu hỏi hỗ trợ của Ban giám đốc và hoạt động cải tiến trong khoa lâm sàng Nhận đinh chưa tích cực ở các câu hỏi về nguồn nhân lực, hành xử buộc tội khi có sai sót sự cố,
số lần báo cáo sai sót sự cố
Từ những số liệu và nội dung nghiên cứu, kết luận và đưa ra khuyến nghị như sau: Ban giám đốc Viện phải thực hiện cam kết văn hoá an toàn người bệnh
HUPH
Trang 11x
trong bệnh viện, thực hiện cân đối nguồn nhân lực, bổ sung, luân chuyển nhân
sự giữa các khoa phù hợp sẽ tránh lãng phí nhân sự của bệnh viện Ban hành quy định cơ chế thưởng phạt đặc biệt là văn hóa “không trừng phạt”, khuyến khích báo cáo sai sót sự cố Thực hiện cải tiến quy trình, đẩy mạnh hoạt động cải tiến chất lượng, thúc đẩy nhân viên y tế sáng tạo hơn trong công việc, nâng cao nhận thức văn hóa an toàn người bệnh Tăng cường truyền thông văn hóa an toàn người bệnh, giáo dục văn hoá an toàn người bệnh, nhân viên tin tưởng, mạnh dạn báo cáo sai sót, thực hiện phòng ngừa vi phạm lỗi, đảm bảo an toàn người bệnh Thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động văn hóa an toàn người bệnh, đổi mới tư duy của nhân viên y tế: phải năng động hơn, tích cực đóng góp ý kiến cải
thiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Viện
HUPH
Trang 12Xây dựng văn hoá an toàn người bệnh là hoạt động quan trọng nhằm thay đổi theo chiều hướng tích cực về suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên y tế liên quan đến an toàn người bệnh Đây cũng là một yêu cầu cấp thiết cho các bệnh viện trong cả nước và cũng là yêu cầu đòi hỏi chính đáng của người dân trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe [1]
Văn hóa an toàn người bệnh của một bệnh viện là sản phẩm mang giá trị của từng cá nhân và tập thể trong bệnh viện, là thái độ, nhận thức, năng lực và hành vi quyết định sự cam kết, định hình phong cách và trình độ quản lý của bệnh viện Bệnh viện nào có nền văn hóa an toàn người bệnh hiệu quả, uy tín, thì ở đó thông tin kết nối sẽ được triển khai hiệu quả dựa trên sự tin tưởng Nhân viên của bệnh viện sẽ nhận thức và hiểu biết về sự quan trọng của văn hóa an toàn người bệnh trong hệ thống, từ đó tin tưởng, mạnh dạn thực hiện phòng ngừa vi phạm lỗi, đảm bảo an toàn người bệnh (AHRQ, 2004) [15]
WHO (2001) đã đưa ra cách suy nghĩ làm sao để an toàn người bệnh, phòng ngừa các vi phạm lỗi có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình chăm sóc và điều trị WHO cũng đưa ra các khuyến cáo cũng như các giải pháp
HUPH
Trang 13an toàn người bệnh, nhưng các giải pháp này vẫn chưa mang lại hiệu quả mong muốn Thách thức lớn nhất để hướng đến một bệnh viện an toàn là thực hiện văn hóa an toàn người bệnh cho nhân viên y tế Nhân viên y tế bệnh viện phải tích cực báo cáo các lỗi, sai sót sự cố để tìm nguyên nhân, hướng khắc phục làm giảm thiểu sự cố y khoa, giảm tai biến trong điều trị Chính vì vậy bệnh viện phải thay đổi từ xử phạt khi nhân viên vi phạm thành nền văn hóa an toàn cho nhân viên y tế, trong đó lỗi không được xem là thất bại của cá nhân nhân viên y
tế mà đó là cơ hội để nhân viên đó thay đổi, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng hệ thống và phòng ngừa hậu quả có thể xảy ra (IOM, 1999)[32]
Ở nước ngoài, cơ quan nghiên cứu về chất lượng và chăm sóc sức khỏe
Mỹ (AHRQ) đã thực hiện khảo sát, nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của NVYT[15], [17], [18] [20] [25] Các nghiên cứu này đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và lý giải các yếu tố tác động đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế, từ đó giúp nâng cao an toàn cho người bệnh và cải thiện văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng đã được cơ quan AHRQ của Mỹ công nhận bộ công cụ khảo sát ý kiến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế, giúp tìm hiểu thực trạng, đề xuất giải pháp cải tiến văn hóa an toàn người bệnh và văn hóa an toàn cho nhân viên y tế của bệnh viện, giúp các bệnh viện Việt Nam có thể dựa vào bộ câu hỏi phiên bản tiếng Việt tác giả Tăng Chí Thượng để khảo sát về văn hóa an toàn người bệnh trong tất cả bệnh viện [10][11]
Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là VYDHDT) là
bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh chuyên khoa về Y học cổ truyền với 240 giường kế hoạch, 383 giường thực kê và 350 nhân viên y
tế đang hành nghề khám chữa bệnh trong bệnh viện
VYDHDT đang mong muốn kiến tạo một nền văn hóa an toàn người bệnh, từ đó tăng cường mối quan hệ giữa người bệnh và nhân viên y tế của
HUPH
Trang 14Viện, tăng thêm uy tín cho Viện Hiện nay, VYDHDT chưa có đề tài nghiên cứu nào về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện
Câu hỏi được đặt ra:
- Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế các khoa lâm sàng được thực hiện tại Viện như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế các khoa lâm sàng tại Viện ?
Để tìm ra các giải pháp tốt hơn cho văn hóa an toàn người bệnh của nhân
viên y tế các khoa lâm sàng tại Viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực
trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế các khoa lâm sàng tại Viện
Y dược học dân tộc năm 2019”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế các khoa lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc năm 2019
2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế các khoa lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc năm 2019
HUPH
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Khái niệm văn hóa, an toàn người bệnh và văn hóa an toàn người bệnh
1.1 Khái niệm về văn hóa
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất
và tinh thần, vật thể và phi vật thể… do con người sáng tạo, điều chỉnh, cải thiện
và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường
tự nhiên và xã hội của mình Văn hóa có 4 chức năng cơ bản: giao tiếp, điều
chỉnh, giáo dục để trở thành con người hoàn thiện [13]
Trên thế giới, số liệu nghiên cứu có từ 44.000 – 98.000 người dân nước Mỹ chết mỗi năm do các sai sót và các lỗi vi phạm trong quá trình thực hiện khám
và điều trị cho người bệnh, điều này làm thiệt hại cho đất nước: giảm thu nhập, giảm khả năng lao động, khuyết tật, tăng chi phí điều trị … ước tính vào khoảng 37,6 - 50 tỷ đô la USD[1]
1.3 Văn hóa an toàn người bệnh
Văn hóa an toàn cho người bệnh trong bệnh viện là một tập hợp về những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức và những quy tắc, qui phạm về an toàn cho tất cả nhân viên y tế và người bệnh trong bệnh viện [1] Nhân viên y tế trong bệnh viện cần giáo dục thực hiện văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện
HUPH
Trang 16(2) Văn hóa ưu tiên đặt an toàn lên trước mục tiêu về tài chính và hoạt động;
(3) Văn hóa khuyến khích và khen thưởng nỗ lực phát hiện, thông báo và giải quyết các vấn đề an toàn;
(4) Văn hóa trong đó tổ chức có cơ hội rút kinh nghiệm từ sự cố;
(5) Văn hóa cung cấp nguồn lực, cơ cấu và trách nhiệm giải trình phù hợp
để duy trì hiệu quả các hệ thống đảm bảo an toàn
Văn hóa an toàn cho người bệnh trong các khoa lâm sàng là bao gồm người bệnh tại khoa nội trú (nằm viện) và người bệnh ngoại trú (thực hiện khám chữa bệnh rồi về, không nằm điều trị)
Một bệnh viện, tổ chức được xem là có văn hóa an toàn người bệnh khi bất
kỳ cá nhân trong tổ chức ở lĩnh vực hoạt động nào, đều phải thể hiện vai trò chủ động trong phòng ngừa vi phạm lỗi và vai trò chủ động của từng thành viên được sự ủng hộ, khuyến khích hỗ trợ của bệnh viện, tổ chức đó [3], [7], [10], [12]
Văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong nâng cao ATNB Theo báo cáo của Hiệp hội sức khỏe về văn hóa an toàn người bệnh được đo lường và kiểm soát tại Anh Quốc năm 2013, VHATNB ảnh hưởng rất tích cực đến người bệnh cũng như nhân viên y tế Cụ thể, đối với người bệnh, VHATNB giúp giảm các sự cố lâm sàng, giảm tỉ lệ sai sót trong sử dụng thuốc, tỉ lệ tái nhập viện, thời gian nằm viện và biến chứng do phẫu thuật Trong đó, đối với nhân viên, gia tăng tỉ lệ báo cáo sự cố, giảm sự cố cho điều dưỡng và giảm tỉ lệ nghỉ việc của nhân viên [7], [10], [12]
HUPH
Trang 172 Thang đo nghiên cứu văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện
Mục đích của nghiên cứu về VHATNB nhằm cung cấp một chỉ số hữu hình
về thực trạng hoạt động ATNB của từng bệnh viện, đồng thời là cơ sở để theo dõi - can thiệp - đánh giá các giải pháp nâng cao chất lượng [10], [15]
Trên thế giới, có nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB được xây dựng và
sử dụng, nhưng bộ công cụ khảo sát VHATNB tại bệnh viện (Hospital Survey
on patien Safety Culture - HSOPSC) của cơ quan chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) được nhiều bệnh viện trên thế giới sử dụng
Bộ công cụ được xây dựng chuyên dụng cho các bệnh viện, có tính khả thi cao, có thể dùng để so sánh giữa các nước trên thế giới với nhau và đặc biệt,
bộ công cụ này khảo sát toàn bộ hoạt động VHATNB trong bệnh viên, chứ không chỉ khảo sát thái độ an toàn (Safety climate) như nhiều bộ công cụ khác
Bộ câu hỏi HSOPSC của AHRQ gồm 42 câu hỏi đánh giá 12 lĩnh vực chăm sóc, sử dụng thang đo Likert gồm 5 mức độ tương đương từ 1 đến 5 điểm Trong đó, với những câu hỏi tích cực là câu trả lời rất đồng ý được tính 5 điểm
và câu trả lời rất không đồng ý được tính 1 điểm Ngược lại với các câu hỏi nghịch (tiêu cực), câu trả lời rất đồng ý được tính 1 điểm và câu trả lời rất không đồng ý được tính 5 điểm Mỗi câu hỏi được khảo sát theo thang điểm Likert 5 mức độ, nếu kết quả đánh giá từ 4 điểm trở lên (>75%) được qui ước là tích cực cao (phụ lục 1)
Bộ câu hỏi đã được dịch thành mười sáu thứ tiếng và triển khai nghiên cứu, khảo sát tại nhiều quốc gia trên thế giới: tại Pháp năm 2013 [20], [33]; tại Brazil năm 2013 [20]; tại Croatia năm 2014 [21]…
*Bản khảo sát của HSOPSC được Việt hóa tại Việt Nam
Ở Việt Nam, bộ câu hỏi khảo sát này đã được một số tác giả, một số bệnh viện của Việt Nam sử dụng trong nghiên cứu về thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế, kết quả thu thập được đề xuất giải pháp thay đổi tại một số bệnh viện hiện rất có giá trị [7], [10], [12] Đây là một trong những bộ
HUPH
Trang 18câu hỏi khảo sát được sử dụng rộng rãi nhằm khảo sát VHATNB không chỉ ở khuôn khổ trong bệnh viện mà cả ở khuôn khổ từng khoa trong bệnh viện Với mục tiêu lên kế hoạch và triển khai các hoạt động quản lý bệnh viện trong kiến tạo nền VHATNB trong bệnh viện đạt chất lượng, bộ câu hỏi HSOPSC đã được việt hóa và đánh giá tính tin cậy thông qua nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng về khảo sát VHATNB tại bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2014 [10] Do đó, trong đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng bộ công cụ câu hỏi HSOPSC đã được tác giả Tăng Chí Thượng nghiên cứu và được chấp nhận việt hóa để khảo sát
Bộ câu hỏi có chỉnh sửa một số cấu trúc cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu và đặc thù thực tế của nghiên cứu được Hội đồng Khoa học công nghệ bệnh viện chấp thuận bộ câu hỏi theo quyết định 06/HĐKHCN của VYDHDT ngày 16
tháng 07 năm 2019 (phụ lục 1) Trong đó có 12 yếu tố liên quan đến hoạt động
văn hóa an toàn người bệnh là những yếu tố chính để thực hiện khảo sát văn hóa
an toàn người bệnh của nhân viên y tế trong bệnh viện
Phiếu khảo sát: Bảng câu hỏi HSOPSC - VN2015
Bộ thang đo khảo sát văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế gồm bốn mươi hai câu hỏi chia thành 12 yếu tố:
(1) Làm việc theo tập thể trong cùng một khoa/phòng
(2) Làm việc theo tập thể giữa các khoa/phòng
(3) Nguồn nhân lực
(4) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh của NVYT
(5) Quan điểm và hành động của người quản lý về an toàn người bệnh (6) Hỗ trợ về an toàn người bệnh của người lãnh đạo
(7) Sẵn sàng trao đổi thông tin về an toàn người bệnh
(8) Hoạt động cải tiến chất lượng và thực hiện có hệ thống các biện pháp ATNB
(9) Bàn giao và nhận người bệnh giữa các khoa/phòng
(10) Phản hồi và trao đổi về sai sót sự cố/lỗi trong khoa lâm sàng
HUPH
Trang 19(11) Tần suất ghi nhận và báo cáo sự cố/sai sót sự cố của NVYT
(12) Trừng phạt cá nhân khi để xảy ra sự cố/SSSC
Ngoài ra, Bộ câu hỏi có 2 nội dung yêu cầu người được khảo sát đánh giá chung về mức độ ATNB tại khoa/phòng và cho biết số lượng báo cáo SSSC trong 12 tháng vừa qua
3 Các nghiên cứu về khảo sát văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế đang sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC
* Ở các uước trên Thế giới
Năm 2012 qua khảo sát và nghiên cứu của các tác giả R.M Wilson trên
26 bệnh viện thuộc 8 nước Châu Phi (Egypt, Jordan, Kenya, Morocco, Tunisia, Sudan, South Africa và Yemen) cho thấy văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng lên người bệnh, đều có hiện tượng vi phạm lỗi/sai sót xảy ra cho người bệnh trong bệnh viện Nghiên cứu đã được thực hiện trên 15.548 người bệnh cho thấy số liệu tai biến trong điều trị nằm trong khoảng tỷ lệ từ 2,5% - 18,4% tổng số người bệnh nhập viện Trong đó, có 83% ca bệnh bị tai biến nằm trong nhóm có thể hạn chế các SSSC có thể ngăn chặn được, trong khi
có đến 30% ca bệnh bị tai biến dẫn đến chết và có 34% ca bệnh bị tai biến do vi phạm lỗi điều trị trên những ca bệnh không phức tạp Nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân chính của tình trạng này là thiếu sự đào tạo và sự kiểm tra giám sát của nhà quản lý hoặc nhân viên y tế không tuân thủ phác đồ điều trị và thực hiện theo các quy định của bệnh viện [29]
Năm 2010 với 1.745 phiếu khảo sát theo bộ câu hỏi HSOPSC được phát
ra và thu về 1.048 phiếu của tác giả của Andrej Robida tại 3 bệnh viện ở Slovenia cho thấy hai nhóm yếu tố VHATNB của nhân viên làm việc trong bệnh viện được đánh giá tích cực cao ở các nội dung là: làm việc theo tập thể trong khoa lâm sàng, sự hỗ trợ của lãnh đạo khoa và lãnh đạo bệnh viện trong hoạt động thay đổi đảm bảo chất lượng chất lượng ATNB(>68%) Trong khi đó hai
HUPH
Trang 20nội dung về nguồn nhân lực và hoạt động xử lý khi vi phạm sai sót kết quả tỷ lệ đáp ứng tích cực rất thấp(< 42%) [28]
Từ năm 2007 đến năm 2012, tác giả Annemie Vlayen đã nghiên cứu trên
180 bệnh viện tại Bỉ về văn hoá an toàn người bệnh của nhân viên y tế trong bệnh viện cho thấy phần nội dung thấp điểm thuộc về các nhóm yếu tố: sự ủng
hộ của lãnh đạo; văn hóa xử lý khi vi phạm sai sót; nguồn nhân lực, bàn giao và nhận người bệnh và làm việc nhóm giữa các khoa/phòng (< 40%) [31]
Kết quả nghiên cứu của Bà Yanli Nie năm 2013 tại 32 bệnh viện ở 15 thành phố của Trung Quốc trên 1.160 NVYT cho thấy tỷ lệ đáp ứng ở các yếu tố khảo sát từ 36% đến 89%, trong đó ba yếu tố là: làm việc nhóm trong khoa lâm sàng; hoạt động thay đổi đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng liên tục/học tập một cách hệ thống và văn hóa xử lý khi vi phạm sai sót có tỷ lệ đáp ứng cao hơn so với các dữ liệu của AHRQ công bố, dao động 36% -48% [25]
* Ở tại Việt Nam
Năm 2012, nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng đầu tiên sử dụng bộ câu hỏi khảo sát văn hoá an toàn người bệnh tại bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2014 với mẫu nghiên cứu là toàn bộ bác sĩ và điều dưỡng/kỹ thuật viên ở các khoa có khám và điều trị người bệnh, khảo sát theo 12 yếu tố của văn hoá an toàn người bệnh cho thấy: tỷ lệ tích cực chung ở 12 yếu tố là 69% Trong đó tích cực cao tập trung ở các yếu tố: làm việc nhóm trong khoa lâm sàng là 82% ; sự ủng hộ của Ban giám đốc và các lãnh đạo phòng chức năng của VYDHDT trong tạo điều kiện thuận lợi ATNB là 83,6% ; phản hồi, trao đổi về vi phạm lỗi/lỗi < 71,8%, hoạt động thay đổi đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng liên tục/học tập phải theo định hướng, sự phát triển của hệ thống < 90% Ngược lại, có bảy nội dung có câu trả lời đồng ý thấp hơn hẳn so với các nội dung còn lại là: nhận thức của nhân viên
y tế về VHATNB (67%); số lượng báo cáo sự cố (64%); làm việc nhóm giữa các khoa/phòng (61%); bàn giao - giao và nhận người bệnh (57%); trao đổi thoải mái với nhau (55%); nguồn nhân lực (52%) và văn hóa không buộc tội khi có vi
HUPH
Trang 21Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm cùng nhóm khảo sát thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 về văn hoá an toàn người bệnh Việt Nam là quốc gia thứ 66 trên thế giới nghiên cứu về hoạt động văn hoá an toàn người bệnh trong bệnh viện Công trình nghiên cứu lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam và
đã sử dụng bộ câu hỏi phiên bản tiếng Việt về khảo sát ý kiến văn hoá an toàn người bệnh cho nhân viên y tế trong bệnh viện Thông tin số liệu nghiên cứu này
đã giúp các bệnh viện khác có những thay đổi thích hợp trong việc lên kế hoạch
và triển khai những hoạt động khảo sát và nghiên cứu về văn hoá an toàn cho nhân viên y tế trong bệnh viện tương tự [15]
Năm 2015, nghiên cứu của tác giả Trần Nguyễn Như Anh về văn hoá an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài thực hiện khảo sát trên 2.118 NVYT khảo sát cho thấy có 70% nhân viên
y tế nhận định bệnh viện Từ Dũ làm rất tốt công tác VHATNB Tỷ lệ đáp ứng rất cao 95,4% ở các yếu tố: nhân viên y tế trong khoa lâm sàng sẵn sàng tương trợ nhau, làm việc nhóm trong khoa lâm sàng về VHATNB, chiếm tỷ lệ 91,7% ở các yếu tố: lãnh đạo khoa và ban giám đốc Viện luôn động viên, khen ngợi tạo điều kiện hoạt động VHATNB, chiếm tỷ lệ 91,3% ở yếu tố: sự hoạt động thay đổi để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng liên tục, học tập theo định hướng của bệnh viện chiếm tỷ lệ 86,5% Các kết quả có tỷ lệ đáp ứng thấp là: thoải mái góp
ý trưởng khoa, góp ý điều dưỡng trưởng khoa (51,7%); bị thành kiến, ghi nhận
hồ sơ (64,6%) và bàn giao ca trực và giao nhận người bệnh (32,2%) [12]
Năm 2016, tác giả Lê Thanh Chiến khảo sát 768 nhân viên y tế ở bệnh viện Trưng Vương cho thấy người làm việc trên 1 năm chiếm tỷ lệ rất cao 92,9%;
HUPH
Trang 221
còn làm việc khu lâm sàng chiếm tỷ lệ 66,4%; thời gian làm việc từ 40-49 giờ chiếm tỷ lệ 64,4% Tỷ lệ điều dưỡng chiếm tỷ lệ 49,1%, bác sĩ chiếm tỷ lệ 21,9% và trực tiếp gặp người bệnh lâm sàng chiếm tỷ lệ 84,9% Kết quả tích cực tập trung ở các nội dung: trung bình điểm VHATNB chung là 108,38 ± 8,87 điểm gồm làm việc nhóm trong khoa lâm sàng, lãnh đạo khoa tạo điều kiện thuận lợi VHATNB, đào tạo và thực hiện thay đổi đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng liên tục, Ban giám đốc và các lãnh đạo phòng chức năng của bệnh viện hỗ trợ VHATNB Các lĩnh vực có ít ý kiến tích cực là các câu trả lời: cởi mở thông tin về vi phạm lỗi, biện pháp thực hiện khi vi phạm lỗi, nguồn nhân lực, số lượng báo cáo sự cố, nhận thức về ATNB, làm việc nhóm giữa các khoa/phòng Bác sỹ có ý kiến trả lời tích cực thấp hơn điều dưỡng trong bốn lĩnh vực: học tập, hoạt động thay đổi đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng liên tục, nhận thức về ATNB, nguồn nhân lực 59,07%, quá trình bàn giao và nhận bệnh lâm sàng 46,01% Báo cáo sự cố của lãnh đạo khoa cho bệnh viện có 65,72% nhân viên y
tế tham gia nghiên cứu không có báo cáo sự cố[7]
Tóm lại, thông tin kết quả từ các nghiên cứu, các số liệu sau khảo sát về hoạt động VHATNB trong bệnh viện trên là thước đo giúp các bệnh viện khác
có những thay đổi, cải tiến thích hợp trong việc tổ chức và triển khai những hoạt động khảo sát về văn hóa an toàn cho nhân viên y tế trong bệnh viện tương tự trong thời gian sắp tới
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB
4.1 Nguồn nhân lực y tế các khoa lâm sàng
Khoa lâm sàng: bao gồm khoa nội trú và ngoại trú thực hiện hoạt động thăm khám, điều trị, chăm sóc, theo dõi tình trạng sức khỏe cho người bệnh
Nguồn nhân lực y tế các khoa lâm sàng là toàn bộ gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, điều dưỡng, y sĩ, kỹ thuật viên, những người quản lý và nhân viên khác [1]
HUPH
Trang 232
4.2 Yếu tố trao đổi, phản hồi thông tin về SSSC:
Mọi người trao đổi thông tin về các SSSC của bệnh viện với nhau, phải
biết lắng nghe, trung thực, thẳng thắn trao đổi, phản hồi tích cực trao đổi thông
tin y tế với nhau
Trong mô hình của Rogers về sự cởi mở giao tiếp bao gồm ba phần: (1) Giao tiếp với ai (hướng truyền thông);
(2) Theo cách nào (gửi và nhận tin);
(3) Về chủ đề nào (Khiếu nại, ý kiến cá nhân)
Nhân viên có thể thoải mái trao đổi và phản hồi những nguy cơ có thể gây mất an toàn cho người bệnh Để đạt được điều này, bệnh viện cần phải giúp nhân viên “an toàn về mặt tâm lý” [3]
Năm 2016 theo khuyến cáo ATNB của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh: bệnh viện tạo không khí cởi mở cho nhân viên trao đổi về SSSC Hành xử buộc tội không đồng nghĩa với biện pháp trừng phạt nhân viên, bệnh viện cần phải trao đổi, phân tích lỗi do cá nhân hay lỗi hệ thống phản hồi thông tin để khắc kịp thời đảm bảo ATNB [9]
4.3 Các giải pháp thúc đẩy văn hóa ATNB :
Báo cáo những sự cố y khoa trong bệnh viện là những báo cáo sai sót sự
cố xảy ra phải được ghi nhận và phải được báo cáo để đảm bảo ATNB, đảm bảo
uy tín của bệnh viện Bệnh viện phải tạo điều kiện thuận lợi, phải khuyến khích báo cáo sai sót sự cố y khoa và phải quy định hình thức thưởng phạt Báo cáo SSSC phải được ủng hộ, bảo vệ mới phòng ngừa được sự cố y khoa Các báo cáo, hồ sơ của sự cố y khoa bệnh viện phải quản lý theo quy trình bảo mật thông tin, lưu trữ cẩn thận [3]
4.4 Hoạt động cải tiến chất lượng phòng ngừa sự cố
Bệnh viện phải thực hiện cải tiến hoạt động phòng ngừa sự cố y khoa trên
số lần báo cáo sai sót sự cố, điều tra để tìm nguyên nhân, từ đó thực hiện khuyến cáo để ngăn ngừa, tránh trường hợp tái diễn sự cố y khoa tiếp tục nhằm mục
HUPH
Trang 245 Thông tin về bệnh viện đang nghiên cứu
5.1 Giới thiệu tóm tắt bệnh viện
Viện Y dược học dân tộc thành lập theo quyết định số 43/YTXH-TB-TC ngày 24 tháng 12 năm 1975 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ký và cơ quan chủ quản là
Bộ Y tế Xã hội và Thương binh Theo quyết định số 161/BYT-QĐ ngày 02 tháng 3 năm 1985 của Bộ Trưởng Bộ Y tế ký chuyển giao Viện Y dược học dân tộc cho Ủy Ban Nhân dân Thành phố quản lý toàn diện, VYDHDT được chuyển giao cho Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo quyết định số 117/QĐ-
UB ngày 30/5/1985 của Ủy Ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đầu ngành phía Nam về khám chữa bệnh Y học cổ truyền Đồng thời, là bệnh viện hạng I được phân công phụ trách chỉ đạo tuyến công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại tại 24 tỉnh thành phía Nam trong đó có thành phố
Năm 2019 VYDHDT thực hiện tự chủ, nhằm nâng cao chất lượng điều trị
và cũng mong muốn là NVYT phải năng động hơn, tích cực hơn trong công việc, khuyến khích NVYT thực hiện cải tiến chất lượng nhưng vẫn đảm bảo an
HUPH
Trang 254
toàn cho người bệnh Ban giám đốc VYDHDT tạo điều kiện cho nhân viên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, tuy nhiên đi học nhiều nên nhân sự các khoa lâm sàng tại VYDHDT hiện nay chưa cân đối, một số nhân viên còn chưa mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình, chưa có quy định cụ thể về khuyến khích NVYT báo cáo sai sót sự cố tự nguyện VYDHDT rất cần thay đổi nhận thức nhân viên, thay đổi nền văn hóa NVYT phải tham gia tích cực và có đóng góp sáng kiến cỉ tiến của mình trong mọi hoạt động của bệnh viện
5.2 Văn hóa an toàn người bệnh của Viện Y dược học dân tộc
Viện Y dược học dân tộc đang cố gắng triển khai hệ thống y tế an toàn tại Viện Viện đã xây dựng quy trình quản lý sự cố, ban hành các phác đồ điều trị phù hợp mô hình bệnh tật của bệnh viện Hằng năm VYDHDT tổ chức tập huấn các quy trình có giá trị pháp lý đang hiện hành, tổ chức sinh hoạt khoa học kỹ thuật, bình bệnh án hàng tuần Tháng 7 năm 2014, phòng Quản lý chất lượng bệnh viện thành lập để triển khai công tác cải tiến chất lượng bệnh viện Ban giám đốc bệnh viện tổ chức tập huấn, thúc đẩy hoạt động quản lý chất lượng, khuyến khích báo cáo sai sót sự cố để nâng cao công tác quản lý chất lượng bệnh viện Nhưng trong quá trình thực hiện văn hoá báo cáo sai sót sự cố chưa nhiều [4] Vậy làm thế nào để triển khai các hoạt động văn hóa an toàn người bệnh hiệu quả, giáo dục VHATNB cho nhân viên y tế khối lâm sàng, là những người trực tiếp tiếp xúc với người bệnh hàng ngày, trực tiếp liên quan đến tính mạng người bệnh? Để trả lời câu hỏi này cần tìm hiểu thực trạng VHATNB tại Viện, phân tích một số yếu tố ảnh hưởng về VHATNB, tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi, mức hiểu biết về văn hóa an toàn người bệnh của NVYT tại các khoa lâm sàng, để từ đó đề xuất kiến nghị Ban giám đốc VYDHDT đưa ra mục tiêu phù hợp với chiến lược phát triển bệnh viện mà vẫn đảm bảo an toàn cho người bệnh tại các khoa lâm sàng của VYDHDT
5 Khung lý thuyết
HUPH
Trang 264 Số lần báo cáo sai sót sự cố
5 Hoạt động cải tiến trong khoa
Mô tả VHANNB
*VHATNB trong khoa:
1 Làm việc nhóm trong khoa
2 Lên kế hoạch và thực hiện của Trưởng khoa
3 Hoạt động cải tiến trong khoa
4 Thông báo phản hồi khi có SSSC
5 Sẵn sàng trao đổi thông tin VHATNB trong khoa
6 Nguồn nhân lực
7 Hành xử buộc tội khi có sai sót sự
cố
*VHATNB tại VYDHDT
1 Hỗ trợ của Ban giám đốc
2 Sự phối hợp giữa các khoa
Trang 276
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Nhân viên y tế hiện đang công tác tại 7 khoa lâm sàng của VYDHDT bao gồm các Trưởng/phó các khoa lâm sàng, điều dưỡng trưởng/kỹ thuật trưởng khoa, các bác sĩ, điều dưỡng, y sĩ, hộ lý của 7 khoa lâm sàng VYDHDT
2.1.2 Tiêu chuẩn loại ra
- Đang trong thời gian đi học, đi công tác;
- Đang trong thời gian nghỉ bệnh, nghỉ hậu sản;
- Những người từ chối không tham gia trả lời khảo sát
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03 năm 2019 đến hết tháng 10 năm
2019
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Viện Y dược học dân tộc, số 273 Nguyễn Văn Trỗi- Phường 10 Quận Phú
Nhuận, bao gồm các khoa lâm sàng cụ thể như sau:
Khoa Cấp cứu Nội Tim mạch & Thần kinh
Khoa Ngoại tổng hợp
Khoa Nội Ung bướu (hỗ trợ và điều trị)
Khoa Nội Cơ xương khớp
Khoa Nội tổng hợp Châm cứu và Dưỡng sinh
Khoa Khám bệnh đa khoa
Khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng
HUPH
Trang 287
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính
Phương pháp định lượng nhằm tìm hiểu thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại khoa lâm sàng VYDHDT
Phương pháp định tính nhằm phân tích một số yếu tố ảnh hưởng văn hóa
an toàn người bệnh tại khoa lâm sàng VYDHDT
do tác giả Tăng Chí Thượng – Phó giám đốc SYT TP.HCM nghiên cứu năm
2016, tuy nhiên bộ câu hỏi được chỉnh sửa một số cấu trúc cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu và đặc thù thực tế của VYDHDT, bộ câu hỏi khảo sát trong đề tài
HUPH
Trang 298
nghiên cứu được Hội đồng khoa học công nghệ Bệnh viện chấp thuận : Bộ câu
hỏi theo Quyết định 06/HĐKHCN của VYDHDT ngày 16/07/2019 (phụ lục 1).[8]
Theo báo cáo của phòng Tổ chức cán bộ, Viện Y dược học dân tộc có số lượng nhân viên tại 07 khoa lâm sàng là 187 nhân viên Để đảm bảo cỡ mẫu, nghiên cứu viên sử dụng khảo sát toàn bộ NVYT khoa lâm sàng
Trung bình mỗi tuần làm việc nghiên cứu viên khảo sát 1 khoa
2.5.2 Nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu 04 trưởng phòng và 02 người trong thành viên Ban giám đốc Viện Y dược học dân tộc
Thực hiện thảo luận nhóm 2 người/lần
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Khi gặp cá nhân trong danh sách do phòng Tổ chức cán bộ cung cấp vắng mặt vì các lý do trên hoặc không muốn tham gia, không đồng ý trả lời, nghiên cứu viên thực hiện chọn người kế tiếp trong danh sách và tiếp tục khảo sát
2.6.2 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu viên thực hiện phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm (Phụ lục 2,3,4)
Các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm đều được ghi âm trong quá trình phỏng vấn., thảo luận nhóm
Thời gian phỏng vấn: 30 – 45 phút
HUPH
Trang 309
2.7 Biến số nghiên cứu
* Các biến số về thực trạng VHATNB của bệnh viện
Sử dụng phương pháp định lượng : biến số thông tin chung về đặc điểm chung của NVYT tham gia vào nghiên cứu, biến số về VHATNB trong khoa (23 câu), VHATNB trong bệnh viện (17 câu), đánh giá mức độ an toàn người bệnh
(01 câu), số lượng báo cáo sự cố (01 câu) (Phụ lục 5)
* Các biến số về yếu tố ảnh hưởng
Sử dụng phương pháp định tính: tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng về VHATNB tại khoa lâm sàng
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá
Định lượng: Được đo bằng câu trả lời của nhân viên y tế trên bảng câu hỏi Theo thang điểm 5 Liker: tính tỷ lệ tích cực, chưa tích cực Tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn , độ tin cậy Thang điểm được tính như sau:
Rất không đồng ý Không đồng ý Không biết Đồng ý Rất đồng ý
và câu trả lời Rất không đồng ý được 1 điểm Ngược lại với các câu hỏi ngược, câu trả lời Rất đồng ý được tính 1 điểm và câu trả lời rất không đồng ý được 5 điểm và 3 điểm giữ nguyên Từ đó các yếu tố có các câu hỏi dương tính và âm tính trong cùng một thang đo sẽ tổ hợp được với nhau để tính điểm thang đo
Ví dụ 1:
Tiểu mục diễn đạt xuôi “NVYT hỗ trợ lẫn nhau”, nếu trả lời trả lời “Rất
HUPH
Trang 31Định tính: Được đo bằng cách đánh giá cho điểm 12 lĩnh vực theo thang điểm tích cực từ 75% trở lên và xác định điểm yếu cần cải thiệ thấp dưới 75%.sau khi thảo luận và phỏng vấn sâu (phụ lục 2)
2.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Toàn bộ dữ liệu thu thập được mã hóa, nhập liệu và làm sạch với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu viên thực hiện tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức - Trường Đại học Y tế công cộng, được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu
y sinh học Trường Đại học Y tế công cộng chấp thuận tại văn bản số 88/2019 YTCC-HD3 ngày 5/4/2019 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức nghiên cứu y sinh học
Cán bộ, nhân viên y tế các khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu hoàn toàn
tự nguyện Nghiên cứu đảm bảo an toàn trong chăm sóc sức khoẻ cho cộng
HUPH
Trang 321
đồng, không có nguy cơ hay rủi ro gì cho cán bộ, nhân viên y tế các khoa lâm sàng khi tham gia nghiên cứu Cán bộ, nhân viên y tế các khoa lâm sàng khi tham gia trả lời đƣợc giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu và tiến hành khi
họ đồng ý Nếu từ chối tham gia hoặc rút lui ở bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu đều đƣợc chấp nhận và đối xử bình đẳng nhƣ các cán bộ, nhân viên y tế các khoa lâm sàng khác
Các thông tin thu thập đƣợc chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu và đƣợc giữ bí mật chỉ nghiên cứu viên mới đƣợc phép tiếp cận
Thông tin số liệu nghiên cứu sau khi Hội đồng bảo vệ luận văn thông qua
sẽ đƣợc phản hồi tới các khoa, Ban giám đốc VYDHDT, và các phòng chức năng
HUPH
Trang 332
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại 7 khoa lâm sàng
5.Khoa Nội TH Châm cứu và dưởng sinh
Trang 34Trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ 17,1%, trình độ đại học/cao đẳng chiếm
tỷ lệ 32,9%, trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất 37,2%, và trình độ sơ cấp có
tỷ lệ thấp nhất 12,8%
Thâm niên làm việc của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng qua số liệu khảo sát thời gian làm việc từ 1 đến 5 năm là chiếm tỷ lệ cao nhất 62,2%, làm việc > 15 năm và làm việc < 1 năm chiếm tỷ lệ bằng nhau 18,9%
Qua số liệu khảo sát về chức vụ trong đó nhân viên y tế chiếm tỷ lệ nhiều nhất 91,5%, cán bộ lãnh đạo khoa chiếm tỷ lệ 7,7%
Nhân viên trực tiếp tiếp xúc người bệnh là 100%
Số liệu khảo sát về chuyên môn chia thành 3 nhóm: điều dưỡng chiếm tỷ
lệ nhiều nhất 61%, bác sĩ chiếm tỷ lệ 30,5%, hộ lý chiếm tỷ lệ ít nhất 8.5%
3.1.2 Kết quả tỷ lệ đáp ứng 12 yếu tố về VHATNB của NVYT các khoa lâm sàng
3.1.2.1 Kết quả tỷ lệ đáp ứng về VHATNB của NVYT các khoa lâm sàng
Bảng 2: Làm việc nhóm trong khoa lâm sàng
HUPH
Trang 35Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%)
162/164
160/164
A3 NVYT làm việc nhóm khi
công việc cần giải quyết gấp 4,57 0,54
96,34 158/164
Nhận xét:
Điểm trung bình chung của đối tượng nghiên cứu là 4,53 ± 0,55, tỷ lệ đáp ứng tích cực chung rất cao 97,56 % Trong đó tỷ lệ đáp ứng tích cực về câu hỏi
“NVYT hỗ trợ nhau” cao nhất là 98,78%, tỷ lệ đáp ứng tích cực về câu hỏi
“NVYT làm việc nhóm khi công việc cần giải quyết gấp” đạt tỷ lệ là 96,34%
Bảng 3: Lên kế hoạch và thực hiện của Trưởng khoa
(Mean)
Độ lệch chuẩn (Std)
Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%)
A4 NVYT cuống cuồng làm thật nhiều,
66,46 109/164
A5
Trưởng khoa luôn khuyến khích khi
NVYT tuân thủ các quy trình đảm
bảo VHATNB
157/164
A6
Trưởng khoa luôn nghiêm túc khi
NVYT đề xuất cải tiến chất lượng
VHATNB
159/164
HUPH
Trang 365
A7r
Trưởng khoa muốn NVYT làm
nhanh khi người bệnh đông, không
tuân thủ đủ các bước trong quy
Tỷ lệ đáp ứng tích cực của câu hỏi ngược: “Trưởng khoa muốn NVYT làm nhanh khi người bệnh đông, không tuân thủ đủ các bước trong quy trình” và
“Trưởng khoa bỏ qua các vấn đề VHATNB dù biết sai sót sự cố cứ tái diễn” đạt
Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%)
A9 Khoa chủ động triển khai các hoạt
97,56 160/164
A10
Các sai sót sự cố xảy ra đã giúp
khoa có những thay đổi theo chiều
hướng tích cực hơn
156/164
HUPH
Trang 376
A11 Khoa có đánh giá hiệu quả sau khi
thực hiện các thay đổi VHATNB 3,73 0,84
77,44 127/164
Nhận xét:
Điểm trung bình chung của đối tƣợng nghiên cứu là 4,17 ± 0,66 tỷ lệ đáp
ứng tích cực chung 90,04 % Trong đó tỷ lệ đáp ứng tích cực “Khoa chủ động
triển khai các hoạt động để đảm bảo VHATNB” đạt kết quả cao nhất 97,56%, câu hỏi “Khoa có đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện các thay đổi VHATNB” thấp nhất là 77,44%
Bảng 5: Thông báo phản hồi khi có sai sót sự cố
(Mean)
Độ lệch chuẩn (Std)
Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%)
A12
NVYT đƣợc phản hồi về hoạt động
cải tiến chất lƣợng đã đƣợc thực hiện
dựa trên báo cáo sự cố
124/164
A13 NVYT đƣợc thông tin về sự cố xảy ra 4,30 0,57 96,95
159/164
A14r Khoa có tổ chức thảo luận các biện
pháp để phòng ngừa SSSC tái diễn 4,30 0,49
98,17 161/164
Nhận xét:
Điểm trung bình chung của đối tƣợng nghiên cứu là 4,10 ± 0,68 tỷ lệ đáp
ứng tích cực chung 90,24 % Trong đó tỷ lệ đáp ứng tích cực của câu hỏi ngƣợc
“Khoa có tổ chức thảo luận các biện pháp để phòng ngừa SSSC tái diễn” chiếm
tỷ lệ cao nhất 98,17 %, tỷ lệ đáp ứng tích cực “NVYT đƣợc phản hồi về hoạt
HUPH
Trang 38Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%)
Nhận xét:
Điểm trung bình chung của đối tượng nghiên cứu là 4,05 ± 0,59 tỷ lệ đáp
ứng tích cực chung 88,41 % Trong đó tỷ lệ đáp ứng tích cực “NVYT có thể
thoải mái nói ra khi họ thấy có những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến hoạt động VHATNB” cao nhất 96,34% , tỷ lệ đáp ứng tích cực “NVYT không ngại khi hỏi những việc dường như không đúng” thấp nhất 75,%
Bảng 7: Nguồn nhân lực
(Mean)
Độ lệch chuẩn (Std)
Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%) A18 Khoa có đủ người để làm việc 3,58 1,02 65,24
HUPH
Trang 398
107/164
A19 NVYT trong khoa phải làm việc
nhiều thời gian hơn qui định 3,58 1,06
73,17 120/164
A20 Khoa không cần phải sử dụng nhân
50,61 83/164
Nhận xét:
Điểm trung bình chung của đối tượng nghiên cứu là 3,47 ± 1,01 tỷ lệ đáp
ứng tích cực chung 63,01 % Trong đó tỷ lệ đáp ứng tích cực “Khoa có đủ
người để làm việc không” cao nhất 65,24%, tỷ lệ đáp ứng tích cực “Khoa không cần phải sử dụng nhiều học viên” thấp nhất 50,61%, trong đó có 02 câu hỏi NVYT trả lời có nhận định khác nhau: “Khoa có đủ người để làm việc không”,
“NVYT trong khoa phải làm việc nhiều thời gian hơn qui định”
Bảng 8: Hành xử buộc tội khi có sai sót sự cố (SSSC)
(Mean)
Độ lệch chuẩn(Std)
Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%) A21r NVYT cảm thấy bị thành kiến khi
46,25 75/164 A22r Khi có 1 SSSC xảy ra là 1 cá nhân
được nêu tên chứ không phải được
nêu ra để phân tích SSSC
65,24 107/164
A23r NVYT lo lắng các SSSC của họ bị
ghi nhận vào hồ sơ cá nhân 3,30 0,86
54,27 89/164
Nhận xét:
HUPH
Trang 409
Điểm trung bình chung của đối tượng nghiên cứu là 3,21 ± 0,95 tỷ lệ đáp
ứng tích cực chung của câu hỏi ngược đạt 55,25 % Trong đó 3 câu trả lời liên
quan đến câu hỏi đều có tỷ lệ đáp ứng tích cực < 75% Đây là vấn đề cần phân tích thêm
3.1.2.2 Kết quả tỷ lệ đáp ứng của nhân viên y tế về văn hoá an toàn người bệnh trong bệnh viện
Bảng 9: Hỗ trợ của Ban giám đốc ST
Trung bình (Mean)
Độ lệch huẩn (Std)
Tỷ lệ đáp ứng tích cực (%)
B1 Ban giám đốc luôn hướng đến VHATNB 4,35 0,50 98,78
162/164
B2
Hoạt động quản lý bệnh viện cho thấy
VHATNB là ưu tiên hàng đầu của bệnh
viện
159/164
B3r
Ban giám đốc chỉ quan tâm đến an toàn
người bệnh khi có SSSC nghiêm trọng xảy
Điểm trung bình chung của đối tượng nghiên cứu là 4,32 ± 0,56 tỷ lệ đáp
ứng tích cực chung 92,48 % Trong đó kết quả tỷ lệ đáp ứng tích cực Ban giám
đốc luôn hướng đến VHATNB” cao nhất 98,78 %, tỷ lệ đáp ứng tích cực câu hỏi ngược “Ban giám đốc chỉ quan tâm đến an toàn người bệnh khi có SSSC nghiêm trọng xảy ra” đạt 81,71%
Bảng 10: Sự phối hợp giữa các khoa lâm sàng
HUPH