TRƯỜNG KHOA ֎ TÊN ĐỀ TÀI NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH VẬN DỤNG THỰC TIỄN PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌ TÊN. TRƯỜNG:KHOA:֎TÊN ĐỀ TÀI: NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH. VẬN DỤNG THỰC TIỄN PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCHHỌ TÊN : NGUYỄN MINH TÚ MÃ SV 1114010519 LỚP NIÊN CHẾ D14QL08 LỚP TÍN CHỈ HÈ 2021_01 GV HƯỚNG DẪN TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG HCM, tháng năm MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH21.1. Quan điểm về con người( nhân) trong triết học21.2. Bản chất của con người theo quan điểm triết học Mác Lê nin31.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội.31.2.2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội51.3. Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách61.3.1. Khái niệm61.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách7CHƯƠNG II: THỰC TIỄN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHÂN CÁCH112.1. Thực trạng sinh viên hiện nay112.1.1. Những vấn đề đặt ra trong phát triển nhân cách con người Việt Nam thời kỳ hội nhập112.1.2. Thực trạng nhân cách sinh viên132.2. Một số giải pháp rèn luyện nhân cách con người Việt Nam142.2.1. Giải pháp chung142.2.2. Giải pháp đối với sinh viên16PHẦN KẾT LUẬN18TÀI LIỆU THAM KHẢO19 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUCon người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học. Nghiên cứu về con người là một vấn đề không hề mới lạ nhưng lại xoay quanh nhiều khía cạnh tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi ngành khoa học. Con người cũng luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến trung đại.Từ thời xa xưa cho đến thời đại ngày nay con người được xem là vị trí trung tâm và có vai trò quyết định đến sự tồn vong và phát triển của xã hội. Con người được xem là chủ thể của lịch sử xã hội, con người làm ra lịch sử xã hội. Vì vậy phải được tôn trọng, được sống tự do hạnh phúc và được phát triển toàn diện. Song ngày nay con người vẫn đang trong tình trạng bất công, đòi hỏi xã hội phải quan tâm đến sự phát triển của con người.Ở Việt Nam vấn đề con người cũng luôn là một vấn đề thời đại và đang được nhiều ngành khoa học, nhiều cá nhân đặc biệt quan tâm, nhất là vấn đề xây dựng con người từ khi con trong ghế Nhà trường đối với học sinh sinh viên. Đổi mới giáo dục, hay coi giáo dục là quốc sách hàng đầu luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Sau Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI vào tháng 102013, vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được coi như là một trong những nội dung vừa chiến lược, vừa cấp thiết. Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước, Việt Nam đang cần một quyết sách toàn diện, căn bản, xứng tầm với lĩnh vực quan trọng hàng đầu này. Chính vì những lí do đó về mặt lý luận và thực tiễn tác giả quyết định chọn đề tài tiểu luận “Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách. Vận dụng thực tiễn phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách.” PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH1.1. Quan điểm về con người( nhân) trong triết họcCon người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. Tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên, vì vậy bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người. Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai giác ngộ sau: Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Cơ sở khoa học của kết luận này được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài. Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng là “ thân thể vô cơ của con người”. Bản tính xã hội của con người được phân tích từ giác ngộ sau đây: Một là, xét từ giác ngộ nguồn gốc hình thành con người, loài người thì không phải chỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà có nguồn gốc xã hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động. Hai là, xét từ góc độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì sự tồn tại của nó luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các qui luật xã hội. Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi tương ứng và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân là tiền đề cho sự phát triển của xã hội. 1.2. Bản chất của con người theo quan điểm triết học Mác Lê nin1.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội.Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con ngườiTuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình”.Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”.Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.1.2.2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hộiTừ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đén cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người không phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điêu kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Trang 2-MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 2
1.1 Quan điểm về con người( nhân) trong triết học 2
1.2 Bản chất của con người theo quan điểm triết học Mác- Lê nin 3
1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội 3
1.2.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội 5
1.3 Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách 6
1.3.1 Khái niệm 6
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách 7
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHÂN CÁCH 11
2.1 Thực trạng sinh viên hiện nay 11
2.1.1 Những vấn đề đặt ra trong phát triển nhân cách con người Việt Nam thời kỳ hội nhập 11
2.1.2 Thực trạng nhân cách sinh viên 13
2.2 Một số giải pháp rèn luyện nhân cách con người Việt Nam 14
2.2.1 Giải pháp chung 14
2.2.2 Giải pháp đối với sinh viên 16
Trang 3PHẦN KẾT LUẬN 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhaunhư sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học Nghiên cứu về con người làmột vấn đề không hề mới lạ nhưng lại xoay quanh nhiều khía cạnh tùy thuộcvào đặc điểm của mỗi ngành khoa học Con người cũng luôn là chủ đề trungtâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến trung đại
Từ thời xa xưa cho đến thời đại ngày nay con người được xem là vị trítrung tâm và có vai trò quyết định đến sự tồn vong và phát triển của xã hội.Con người được xem là chủ thể của lịch sử xã hội, con người làm ra lịch sử xãhội Vì vậy phải được tôn trọng, được sống tự do hạnh phúc và được pháttriển toàn diện Song ngày nay con người vẫn đang trong tình trạng bất công,đòi hỏi xã hội phải quan tâm đến sự phát triển của con người
Ở Việt Nam vấn đề con người cũng luôn là một vấn đề thời đại và đangđược nhiều ngành khoa học, nhiều cá nhân đặc biệt quan tâm, nhất là vấn đềxây dựng con người từ khi con trong ghế Nhà trường đối với học sinh sinhviên Đổi mới giáo dục, hay coi giáo dục là quốc sách hàng đầu luôn đượcĐảng và Nhà nước quan tâm Sau Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI vào tháng10/2013, vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được coi như
là một trong những nội dung vừa chiến lược, vừa cấp thiết Trước yêu cầu củagiai đoạn phát triển mới của đất nước, Việt Nam đang cần một quyết sáchtoàn diện, căn bản, xứng tầm với lĩnh vực quan trọng hàng đầu này
Chính vì những lí do đó về mặt lý luận và thực tiễn tác giả quyết định
chọn đề tài tiểu luận “Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành
và phát triển nhân cách Vận dụng thực tiễn phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách.”
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1.1 Quan điểm về con người( nhân) trong triết học
Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thốngnhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự hình thành, tồn tại và phát triểncủa con người chính là giới tự nhiên, vì vậy bản tính tự nhiên là một trongnhững phương diện cơ bản của con người, loài người
- Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai giác ngộ sau: Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tựnhiên Cơ sở khoa học của kết luận này được chứng minh bằng toàn bộ sựphát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyếtcủa Đácuyn về sự tiến hóa của các loài
Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới
tự nhiên cũng là “ thân thể vô cơ của con người”
- Bản tính xã hội của con người được phân tích từ giác ngộ sau đây: Một là, xét từ giác ngộ nguồn gốc hình thành con người, loài người thìkhông phải chỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên
mà có nguồn gốc xã hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố laođộng
Hai là, xét từ góc độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì
sự tồn tại của nó luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các qui luật
xã hội Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi
Trang 6tương ứng và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân là tiền đề cho sự pháttriển của xã hội
1.2 Bản chất của con người theo quan điểm triết học Mác- Lê nin
1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triếthọc, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tốsinh học và yếu tố xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm củagiới tự nhiên Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học,tính loài Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sựtồn tại của con người Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”.Con người là một bộ phận của tự nhiên
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sảnphẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Con ngườiphải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên nhưthức ăn, nước uống, hang động để ở Đó là quá trình con người đấu tranh vớithiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn Trải qua hàng chục vạn năm, con người đãthay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các côngtrình nghiên cứu của Đácuyn Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người
đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh họctrong đời sống con người
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duynhất quyết định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa conngười với thế giới loài vật là mặt xã hội Trong lịch sử đã có những quan niệmkhác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sửdụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người làđộng vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh
Trang 7một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồngốc bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đềcon người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của
nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở conngười: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo,nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằngviệc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của conngười quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, conngười đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình”
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cảibiến toàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn conngười thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất;hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của conngười Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất vàtinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tưduy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thànhbản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trongcộng đồng xã hội
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khácnhau, nhưng thống nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật
về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về ditruyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương diện sinh học của con người Hệ
Trang 8thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinhhọc của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệthống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
1.2.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con ngườivượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tựnhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mốiquan hệ đó, suy đén cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữangười với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác vàmọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu
lên một mệnh đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người
không phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiệnthực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát lymọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xácđịnh, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhấtđịnh Trong điêu kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, conngười tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thểlực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan
hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, giađình, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình
Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội không cónghĩa là phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đómuốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết
là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục thiếu sót của các nhà triếthọc trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái
Trang 9bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể làcái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng phong phú và đadạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhântrong cộng đồng xã hội.
1.3 Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
1.3.1 Khái niệm
Khái niệm nhân cách
Nhân cách là một từ Hán - Việt, dùng phổ thông trong giao tiếp củangười Việt Học giả Đào Duy Anh, tác giả cuốn Hán Việt từ điển, xuất bảnnăm 1950 đã giải thích: “Nhân cách: Phẩm cách của con người; cái tính cáchriêng của một người; cái tư cách tự chủ độc lập của người ta ở trên phápluật” Cuốn sách này cũng giải thích: “Tư cách: Thân phận người ta ở trên xãhội; tài khí và trình độ của người vừa đúng theo một việc gì, cũng gọi là tưcách” Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, xuất bản năm 1967cũng giải nghĩa: “Nhân cách: Phẩm chất con người” Như vậy, nhân cách hiểutheo nghĩa phổ thông là phẩm cách hay phẩm chất của con người
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhân cách cho rằng:
- Nhân cách không phải là cái gì trừu tượng, phải đặt nhân cách trongđiều kiện lịch sử cụ thể
- Hình thành và phát triển nhân cách con người phải được rèn luyệntrong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định (Trong lao động và quátrình lao động) Chính trong điều kiện lịch sử xã hội đó mà nhân cách của conngười được hình thành và phát triển
- Nhân cách không phải là định hình không thay đổi mỗi phương thứcsản xuất có một quan niệm nhân cách khác nhau Khi phương thức sản xuấtthay đổi thì quan niệm về nhân cách cũng thay đổi
Trang 10Khái niệm phát triển nhân cách
Phát triển nhân cách là quá trình hình thành nhân cách như là một phẩmchất xã hội của cá nhân, là kết quả của sự xã hội hóa nhân cách và của giáodục
Giai đoạn phát triển nhân cách có thể được xác định trong khoảng thờigian trước tuổi trưởng thành của chủ thể nhân cách
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Các yếu tố bẩm sinh di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên, là cơ sở vậtchất cho sự hình thành và phát triển nhân cách Các yếu tố bẩm sinh di truyềnnhư đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo và hoạtđộng của các giác quan… Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lạihoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh)
Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có ở đờitrước, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩmchất nhất định (sức mạnh bên trong cơ thể, tồn tại dưới sạng nhưng tư chất vànăng lực) đã được ghi lại trong hệ thống gen di truyền
Yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội có tầmquan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất cótính người cũng không thể phát triển được Môi trường là hệ thống các hoàncảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội xung quanh cầnthiết cho hoạt động sống và phát triển của trẻ nhỏ
Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trongmột môi trường nhất định Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ,phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó giúp trẻ
Trang 11chiếm lĩnh được các kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách củamình.
Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sựhình thành và phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào lập trường, quan điểm,thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như tùy thuộc vào xuhướng và năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường
Yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằmthực hiện có hiệu quả các mục đích đã đề ra Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đốivới sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục có thể mang lại nhữngtiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh – di truyền hoặc môi trường, hoàncảnh không thể có được
Giáo dục không chỉ thích ứng mà còn có thể đi trước hiện thực và thúcđẩy nó phát triển Giáo dục có giá trị định hướng sự hình thành phát triểnnhân cách Giáo dục thúc đẩy sức mạnh bên trong khi trẻ nắm bắt được nhucầu, động cơ, hứng thú và nó phù hợp với quy luật phát triển bên trong của cánhân
Bên cạnh đó giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người
bị khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho conngười Giáo dục còn có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho
nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội
Tuy nhiên không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục đối với sự hìnhthành nhân cách Giáo dục không thể tách rời tự giáo dục, tự rèn luyện, tựhoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân
Yếu tố hoạt động cá nhân đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người Hoạt động của conngười là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, cộng đồng, được thực hiện
Trang 12bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định Hoạt động cánhân đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhâncách.
Thông qua hoạt động của bản thân trẻ sẽ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử –
xã hội và biến nó thành nhân cách của mình Hoạt động giúp kích thích hứngthú, niềm say mê sáng tạo và làm nảy sinh những nhu cầu mới, những thuộctính tâm lý mới… ở mỗi các nhân mà nhờ đó nhân cách được hình thành vàphát triển
Sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ phụ thuộc vào hoạt động
ở mỗi thời kì, lứa tuổi nhất đinh Muốn hình thành và phát triển nhân cách thìcha mẹ cần phải tcho con ham gia vào các dạng hoạt động khác nhau và kíchthích yếu tố hoạt động cá nhân
Ngay từ khi còn nhỏ, ở mỗi trẻ đã hình thành những nhân cách khácnhau cũng như chịu chi phối bởi hệ thống gia đình, giáo dục, xã hội,….Trong
đó gia đình được coi là cái nôi của nhân cách, tác động vào hệ thống pháttriển tinh thần và thể chất của trẻ Vì vậy giáo dục nhân cách cho trẻ ngay từnhà là điều rất quan trọng và cần thiết
Yếu tố giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Giao tiếp là hình thức hoạt động đặc trưng cho mối quan hệ giữa conngười với con người, thông qua đó thực hiện sự tiếp xúc tâm lí và được biểuhiện ở 3 quá trình: trao đổi thông tin, hiểu biết lẫn nhau và tác động lẫn nhau
Giao tiếp đóng vai trò cơ bản trong sự hình thành và phát triển nhâncách Bởi vì:
Nó ko thể có tâm lí con bên ngoài mối quan hệ giao tiếp, con ngườikhông thể tồn tại bên ngoài giao tiếp Thông qua giao tiếp để tiếp thu, lĩnh hộinhững kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà các thế hệ trước để lại để trở thànhthành viên của xã hội