ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh viện được lãnh đạo bởi một đội ngũ gồm lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa, phòng và nhân viên y tế tại 8 khoa (bao gồm 6 khoa Lâm sàng, khoa Cận lâm sàng và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn) cùng 2 phòng chuyên môn (phòng chỉ đạo chuyên khoa và phòng Điều dưỡng), bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý và kỹ thuật viên xét nghiệm.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải gồm dụng cụ phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyển, khu vực lưu giữ chất thải y tế
Các tài liệu liên quan đến tổ chức quản lý CTRYT của bệnh viện bao gồm các quyết định, quy trình hướng dẫn và báo cáo tổng kết Đối tượng loại trừ trong quản lý CTRYT cũng cần được xác định rõ ràng.
Viên chức và người lao động trong khối hành chính của bệnh viện, bao gồm nhân viên y tế, sẽ không tham gia nghiên cứu nếu họ đang nghỉ ốm dài ngày, nghỉ thai sản, nghỉ phép hoặc đi học tập trung.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 9 năm 2016
Tại bệnh viện Lao và bệnh Phổi tỉnh Hà Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng kết hợp định lượng và định tính
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.3.2.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng
Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ cán bộ và nhân viên tham gia vào hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải y tế tại 8 khoa và 2 phòng trong bệnh viện, bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý và kỹ thuật viên xét nghiệm, với tổng cỡ mẫu là 107 người.
* Quan sát thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT
Hoạt động phân loại CTRYT của nhân viên y tế tại bệnh viện Lao và bệnh phổi chủ yếu diễn ra trong quá trình tiêm thuốc của điều dưỡng Do đó, nghiên cứu này tập trung vào việc quan sát và phân loại CTRYT thông qua hoạt động tiêm thuốc của điều dưỡng.
+ Đối tượng quan sát : Điều dưỡng tại 6 khoa Lâm sàng
Hoạt động quan sát trong quá trình tiêm thuốc cho bệnh nhân, bao gồm cả tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch, yêu cầu theo dõi 5 hoạt động phân loại CTRYT (Phụ lục 1) mỗi lần tiêm.
Trong nghiên cứu của Phan Thị Thu về thực trạng, kiến thức và thực hành của nhân viên y tế tại các trạm y tế ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An năm 2015, số lượt quan sát hoạt động tiêm thuốc của mỗi điều dưỡng là 4 lần Tổng số lần quan sát phân loại chất thải y tế trong hoạt động tiêm thuốc của 63 điều dưỡng đạt 252 lần.
- Thu gon, vận chuyển CTRYT:
+ Đối tượng quan sát: Hộ lý tại 6 khoa Lâm sàng, 1 khoa Cận Lâm sàng
Hoạt động quan sát bao gồm việc thu gom chất thải y tế (CTRYT) từ nơi phát sinh và chuyển đến các thùng đựng CTRYT được đặt tại khu lưu giữ tạm thời của các khoa Sau đó, CTRYT sẽ được vận chuyển từ khu vực lưu giữ tạm thời về khu vực lưu giữ tập trung.
Trong nghiên cứu, số lần quan sát hoạt động thu gom và vận chuyển chất thải y tế (CTRYT) của 7 hộ lý được thực hiện là 3 lượt thu gom và 3 lượt vận chuyển cho mỗi hộ lý Mỗi hộ lý thực hiện 1 lượt thu gom và 1 lượt vận chuyển trong 3 ngày liên tiếp, dẫn đến tổng số lượt quan sát là 3×7 lần thu gom và 3×7 lần vận chuyển.
Để đánh giá thực hành lưu giữ chất thải y tế (CTRYT), một nghiên cứu đã được thực hiện với cỡ mẫu gồm 7 hộ lý từ 7 khoa (6 khoa Lâm sàng và 1 khoa Cận lâm sàng) cùng 1 nhân viên phụ trách khu vực lưu giữ tập trung Nghiên cứu bao gồm 21 lượt quan sát các thùng chứa CTRYT tại khu vực lưu giữ tạm thời và 3 lượt quan sát tại khu vực lưu giữ tập trung của bệnh viện, với mỗi khu vực được quan sát một lần mỗi ngày trong 3 ngày liên tiếp.
Số lượt quan sát về việc thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, được nghiên cứu bởi Hồ Thị Nga vào năm 2013, cho thấy thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và các yếu tố liên quan.
Cơ sở vật chất và trang thiết bị là yếu tố quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ của 6 khoa Lâm sàng, khoa Cận lâm sàng, cùng với khu vực lưu giữ CTRYT tập trung của bệnh viện.
Khối lượng rác thải y tế tại bệnh viện bao gồm tất cả các loại rác thải phát sinh, được thống kê từ sổ theo dõi của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn trong khoảng thời gian trung bình 3 tháng.
Bảng 2.1 Tổng hợp mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng
Stt Số liệu thu thập Đối tượng Cỡ mẫu Phương pháp thu thập
1 Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn y tế
1.1 Trang thiết bị, dụng cụ
TTB dùng trong quản lý CTRYT tại 7 khoa phát sinh CTRYT
Toàn bộ dụng cụ PL,
TG, VC, LG tại 7 khoa LS, CLS
TTB dùng trong quản lý CTRYT tại khu lưu giữ tập trung
Toàn bộ dụng cụ PL,
TG, VC, LG tại khu lưu giữ tập trung
1.2 Khối lượng CTRYT Khu lưu giữ tập trung
Toàn bộ CTRYT phát sinh
2 Mục tiêu 2: Mô tả kiến thức, thực hành quản lý chất thải rắn y tế
2.1 Phát vấn kiến thức 8 khoa, 2 phòng liên quan 107 đối tượng Phát vấn
Quan sát thực hành phân loại, thu
Phân loại Tại 6 khoa lâm sàng
Thu Tại 6 khoa lâm 7 hộ lý, 21 lần Quan sát
HUPH gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT gom sàng,1 khoa
Tại 6 khoa lâm sàng,1 khoa CLS
Các túi, thùng chứa tại 7 khu lưu giữ tạm thời
Tại khu vực lưu giữ tập trung
Các túi, thùng chứa tại, 1 khu lưu giữ tập trung
2.3.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính
Mẫu phỏng vấn sâu được thực hiện với các đối tượng được chọn có chủ đích, bao gồm: 01 Lãnh đạo bệnh viện, 01 Lãnh đạo khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, 01 Lãnh đạo phòng điều dưỡng, 3 điều dưỡng đại diện từ 3 khoa, 1 hộ lý, 1 KTV xét nghiệm, và 1 nhân viên phụ trách khu vực lưu giữ CTRYT tập trung của Bệnh viện.
Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
Đánh giá cơ sở vật chất và trang thiết bị của CTRYT được thực hiện thông qua phương pháp quan sát, dựa trên bảng kiểm theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Nghiên cứu tập trung vào 4 nhóm nội dung, mỗi nhóm được đánh giá theo 3 tiêu chí: chủng loại, quy cách và số lượng.
Khối lượng rác thải phát sinh được ghi nhận từ sổ theo dõi giao nhận CTRYT khi các khoa bàn giao cho khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Đồng thời, sổ theo dõi bàn giao chất thải thông thường cho Công ty môi trường đô thị của tỉnh cũng được sử dụng Mỗi loại CTRYT được ghi riêng và tổng hợp theo ngày để tính toán khối lượng trung bình.
HUPH lượng CTRYT từng loại để xác định khối lượng CTRYT từng loại trung bình/tháng
2.4.2 Kiến thức, thực hành quản lý CTRYT của nhân viên y tế tại bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải y tế (CTRYT) được thực hiện thông qua phương pháp phát vấn, sử dụng bộ câu hỏi tự điền dựa trên Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế Việc thu thập số liệu diễn ra sau buổi giao ban hàng tuần tại các khoa, phòng có nhân viên tham gia nghiên cứu Trước đó, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm và chỉnh sửa để đảm bảo tính phù hợp và dễ hiểu, đồng thời các điều tra viên đã được tập huấn về quy trình thu thập số liệu.
Quy trình thu thập số liệu bắt đầu sau khi giao ban toàn khoa, với sự giới thiệu của trưởng khoa Điều tra viên và nghiên cứu viên sẽ giải thích rõ mục đích nghiên cứu và xin ý kiến đồng ý tham gia từ các nhân viên y tế Sau đó, các nhân viên y tế sẽ điền số liệu vào bộ câu hỏi phát vấn Giám sát viên sẽ giám sát quá trình điền phiếu và kiểm tra chất lượng ngay sau khi các đối tượng hoàn thành.
Để đảm bảo tính khách quan trong việc quan sát thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải y tế (CTRYT), người quan sát cần chọn vị trí phù hợp để có thể ghi nhận đầy đủ các thao tác mà không làm nhân viên y tế chú ý.
Đánh giá thực hành phân loại CTRYT được thực hiện thông qua việc quan sát quy trình phân loại của điều dưỡng trong hoạt động tiêm thuốc, sử dụng bảng kiểm để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.
Việc thu thập số liệu được thực hiện vào lúc 8h30 sáng hoặc 14h30 chiều, khi điều dưỡng thực hiện y lệnh tiêm thuốc cho bệnh nhân Trong quá trình tiêm thuốc, chỉ quan sát 4 lần tiêm, đảm bảo sử dụng đầy đủ thiết bị, dụng cụ, thuốc và nước cất theo bảng kiểm quan sát Chỉ mũi tiêm được quan sát đối tượng thực hiện.
HUPH hiện đầy đủ các bước trong quy trình quan sát và ghi vào bảng kiểm mới được tính là một lần hoàn thành quan sát một lần tiêm
Quy trình quan sát yêu cầu điều tra viên chọn vị trí thuận lợi để theo dõi mà không gây sự chú ý từ người điều dưỡng trong quá trình tiêm thuốc Trong quy trình này, có năm hành động phân loại chất thải quan trọng: 1 Phân loại bao bơm tiêm; 2 Phân loại bông, gạc sát trùng; 3 Phân loại vỏ lọ thuốc và vỏ ống nước cất; 4 Phân loại bơm tiêm và kim tiêm.
- Thu gom, vận chuyển CTRYT:
Hộ lý thực hiện việc thu gom chất thải y tế (CTRYT) từ nơi phát sinh đến các thùng chứa CTRYT tại khu lưu giữ tạm thời của các khoa, sau đó vận chuyển CTRYT từ khu vực này về khu lưu giữ tập trung Bảng kiểm quan sát thu gom bao gồm 5 nội dung, trong khi bảng kiểm quan sát vận chuyển có 6 nội dung (chi tiết tại phụ lục 2).
Thời gian thu gom và vận chuyển chất thải y tế (CTRYT) theo quy định của bệnh viện diễn ra vào buổi sáng từ 10h-10h30 và buổi chiều từ 16h-16h30 Điều tra viên đã được đào tạo về phương pháp quan sát và thực hiện đánh giá tại nơi lưu giữ tạm thời của khoa cũng như hành lang bệnh viện, sau đó ghi lại kết quả vào phiếu đánh giá.
Quan sát và lưu giữ CTRYT tại các thùng chứa trong 7 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và khu vực lưu giữ tập trung của bệnh viện Bảng kiểm quan sát bao gồm 6 nội dung, trong đó có 4 nội dung liên quan đến lưu giữ tại khoa và 2 nội dung liên quan đến khu vực lưu giữ tập trung của bệnh viện (Phụ lục 3)
2.4.3 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
Dữ liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế (CTRYT) được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu Các đối tượng nghiên cứu được chọn có chủ đích, đại diện cho các bên liên quan đến vấn đề nghiên cứu, theo hướng dẫn phỏng vấn đã được nhóm nghiên cứu soạn thảo và thử nghiệm trước đó.
Điều tra viên HUPH sẽ gặp trực tiếp đối tượng nghiên cứu để trình bày lý do và xin phép phỏng vấn Khi đối tượng đồng ý, phỏng vấn sâu sẽ được tiến hành tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Hà Nam Thời gian dự kiến cho mỗi cuộc phỏng vấn là 30 phút, với sự hỗ trợ của máy ghi âm, giấy và bút.
Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi thu thập, số liệu định lượng sẽ được làm sạch, mã hóa và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0
Các cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm và gỡ băng, sau đó nội dung từng bản ghi được phân tích theo chủ đề Thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu được trích dẫn và sử dụng để hỗ trợ cho kết quả nghiên cứu định lượng.
Biến số nghiên cứu
Tiêu chuẩn quản lý chất thải y tế trong nghiên cứu này được quy định theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế, nhằm đảm bảo việc thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế một cách hiệu quả.
2.6.1 Thực trạng hoạt động quản lý CTRYT
Trang thiết bị, dụng cụ phục vụ hoạt động quản lý CTRYT
+ Trang thiết bị phân loại
+ Trang thiết bị thu gom
+ Trang thiết bị vận chuyển
+ Trang thiết bị lưu giữ
Khối lượng CTRYT phát sinh
2.6.2 Kiến thức, thực hành quản lý CTRYT
Kiến thức quản lý CTRYT
Thực hành quản lý CTRYT
2.6.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quản lý CTRYT (phụ lục 6b)
+ Kiểm tra giám sát hoạt động quản lý CTRYT
+ Nhân lực hoạt động quản lý CTRYT
+ Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động quản lý CTRYT
+ Kinh phí cho hoạt động quản lý chất thải rắn y tế.
Phương pháp đánh giá
Phương pháp đánh giá trong nghiên cứu này được quy định như sau: Mỗi câu trả lời đúng hoặc quan sát thấy sẽ được 1 điểm, trong khi câu trả lời sai, quan sát không có, không đầy đủ hoặc khác với quy trình sẽ nhận 0 điểm Đối với các câu hỏi nhiều lựa chọn hoặc quan sát có nhiều yếu tố, câu trả lời chỉ được coi là đúng và nhận 1 điểm khi tất cả các lựa chọn đều đúng hoặc tất cả các yếu tố quan sát thấy đều có.
Biến tổ hợp được coi là đạt khi tổng điểm đạt từ 70% trở lên, theo tiêu chí đánh giá của Bộ Y tế trong dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện vay vốn từ Ngân hàng Thế giới.
2.7.1 Trang thiết bị, dụng cụ phục vụ hoạt động quản lý CTRYT Đánh giá trang thiết bị, dụng cụ “đủ” hay “thiếu” dựa vào lượng CTRYT thực tế, trang thiết bị, dụng cụ được coi là “đủ” khi quan sát các nhân viên y tế thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT thấy có sẵn trang thiết bị, dụng cụ để sử dụng cho từng hoạt động và nhận định của đối tượng qua kết quả nghiên cứu định tính Trang thiết bị, dụng cụ được đánh giá là “đủ” khi quan sát thấy đủ và qua nghiên cứu định tính là đáp ứng yêu cầu Cách cho điểm cụ thể như sau:
- Biến trang thiết bị dụng cụ phân loại CTRYT có 6 quan sát, mỗi quan sát có được 1 điểm, tổng điểm là 6 điểm, điểm đạt từ 5 điểm trở lên;
- Biến trang thiết bị dụng cụ thu gom CTRYT có 5 quan sát, mỗi quan sát có được 1 điểm, tổng điểm là 5 điểm, điểm đạt từ 4 điểm trở lên;
- Biến trang thiết bị dụng cụ vận chuyển CTRYT có 3 quan sát, mỗi quan sát có được 1 điểm, tổng điểm là 3 điểm, điểm đạt từ 2 điểm trở lên;
- Biến trang thiết bị dụng cụ lưu giữ CTRYT có 2 quan sát, mỗi quan sát có được 1 điểm, tổng điểm là 2 điểm, điểm đạt từ 2 điểm trở lên
2.7.2 Kiến thức quản lý CTRYT
- Biến kiến thức cơ bản về CTRYT có 5 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm là 5 điểm, điểm đạt từ 4 điểm trở lên;
- Biến kiến thức phân loại CTRYT có 12 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được
1 điểm, tổng điểm là 12 điểm, điểm đạt từ 9 điểm trở lên;
- Biến kiến thức thu gom CTRYT có 11 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm là 11 điểm, điểm đạt từ 8 điểm trở lên;
- Biến kiến thức vận chuyện CTRYT có 6 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được
1 điểm, tổng điểm là 6 điểm, điểm đạt từ 5 điểm trở lên;
- Biến kiến thức lưu giữ CTRYT có 3 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm là 3 điểm, điểm đạt từ 2 điểm trở lên
2.7.3 Thực hành quản lý CTRYT
- Biến thực hành phân loại CTRYT được đánh giá qua quan sát các lần tiêm thuốc của điều dưỡng
Một lần tiêm thuốc được coi là đạt tiêu chuẩn phân loại CTRYT khi không có rơi vãi CTRYT ra ngoài và các loại CTRYT được phân loại đúng theo quy định tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Cụ thể, vỏ đựng kim tiêm/bơm tiêm phải được bỏ vào thùng có túi lót màu xanh, bông gạc sau khi sát trùng và găng tay phải được bỏ vào thùng có túi lót màu vàng Kim tiêm cần được đậy nắp, tháo rời khỏi bơm tiêm hoặc lọ thuốc, và lọ nước cất phải được bỏ vào hộp riêng biệt màu vàng có nắp đậy.
Một lần tiêm thuốc không đạt tiêu chuẩn phân loại CTRYT khi có sự rơi vãi của phân loại CTRYT ra ngoài hoặc khi bất kỳ loại CTRYT nào không được phân loại đúng theo mã màu quy định.
Cách cho điểm trong hoạt động tiêm thuốc bao gồm 5 hoạt động phân loại CTRYT, mỗi hoạt động đúng được 1 điểm và sai được 0 điểm, tổng điểm tối đa là 5 Để đạt yêu cầu, một đối tượng cần thực hiện 4 lần tiêm thuốc và phải đạt điểm tối đa trong cả 4 lần để được đánh giá là thực hành phân loại đạt.
Mỗi hộ lý sẽ được quan sát ba lần trong quá trình thực hành thu gom chất thải y tế (CTRYT) Một lần thực hành thu gom được xác định khi tất cả CTRYT tại nơi phát sinh, sau khi đã được phân loại, được thu gom vào thùng chứa tạm thời của khoa.
Có 5 tiêu chí quan sát (Phụ lục 2), mỗi quan sát thấy đúng được 1 điểm, tổng điểm là 5 điểm, tổng số điểm tối đa 3 lần quan sát thực hành thu gom là 15 điểm, trong nghiên cứu này, điểm đạt được tính từ 11 điểm trở lên;
Mỗi hộ lý sẽ được quan sát 3 lần trong quá trình thực hành vận chuyển CTRYT, với mỗi lần thực hành được tính khi tất cả CTRYT tại nơi lưu giữ tạm thời của các khoa được chuyển về nơi lưu giữ tập trung của bệnh viện Có 4 tiêu chí quan sát, mỗi tiêu chí đúng sẽ được 1 điểm, tổng điểm tối đa cho 3 lần quan sát là 12 điểm Trong nghiên cứu này, điểm đạt được được xác định từ 9 điểm trở lên.
- Biến thực hành lưu giữ CTRYT: Đánh giá thực hành lưu giữ CTRYT qua
Trong nghiên cứu về khu vực lưu giữ tạm thời và khu vực lưu giữ tập trung của bệnh viện, có 6 quan sát được thực hiện Tại khu lưu giữ tạm thời, 4 quan sát cho thấy mỗi quan sát đạt 1 điểm, với tổng điểm tối đa cho 3 lần quan sát thực hành thu gom là 12 điểm; điểm đạt yêu cầu là từ 9 điểm trở lên Trong khi đó, tại khu vực lưu giữ tập trung, 2 quan sát cũng đạt 1 điểm mỗi lần, với tổng điểm tối đa cho 3 lần quan sát là 4 điểm, và điểm đạt yêu cầu là 3 điểm.
Đạo đức nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi tuân thủ các nội dung về đạo đức nghiên cứu của trường Đại học y tế công cộng:
Các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, cũng như những lợi ích và rủi ro có thể xảy ra Họ có quyền từ chối tham gia mà không gặp bất kỳ trở ngại nào Tất cả thông tin mà các đối tượng cung cấp sẽ được bảo mật.
HUPH cam kết giữ bí mật thông tin, trình bày kết quả nghiên cứu một cách phù hợp để không ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu hoàn toàn là bảo vệ môi trường, sức khỏe của cán bộ y tế, bệnh nhân, cộng đồng và môi trường xung quanh.
Nghiên cứu này chỉ triển khai khi được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua (Văn bản số 112/2016/YTCC-HD3 ngày 18 tháng 3 năm 2016).
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu, sai số
Nghiên cứu này bắt đầu từ tháng 11 năm 2015 và không đánh giá các nội dung mới về quản lý CTRYT theo Thông tư liên bộ số 58/TTLT-BYT-BTNMT, có hiệu lực từ ngày 01/4/2016, so với quy định tại Quyết định 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế.
Nghiên cứu được thực hiện tại một bệnh viện, do đó, kết quả có thể không phản ánh đầy đủ tình hình tại các bệnh viện cùng hạng trong tỉnh hoặc khu vực khác.
Thời gian thu thập số liệu khoảng 3 tháng nên chưa phản ánh thực sự chính xác toàn cảnh hoạt động quản lý chất thải rắn y tế trong năm
Học viên công tác tại Sở Y tế thực hiện nghiên cứu tại một đơn vị trực thuộc, tham gia vào quá trình thu thập số liệu Tuy nhiên, việc thu thập số liệu, đặc biệt là qua quan sát, có thể không phản ánh trung thực hoạt động quản lý CTRYT, thường dẫn đến kết quả tốt hơn thực tế.
Trong nghiên cứu, có thể gặp phải một số sai số khác do kỹ năng phỏng vấn không đồng nhất, quá trình quan sát không chính xác, sai số trong việc nhớ lại thông tin, hoặc sự lựa chọn không phù hợp của đối tượng phỏng vấn.
2.9.2 Biện pháp khắc phục sai số
Xây dựng bộ câu hỏi đảm bảo tính logic và tổ chức tập huấn, hướng dẫn cụ thể cho điều tra viên
Hướng dẫn điều tra viên đứng quan sát tại vị trí không gây chú ý đối với nhân viên y tế
Tăng cường giám sát trong thu thập số liệu đảm bảo số liệu được thu thập một cách chính xác, khách quan nhất
Thời điểm quan sát khi các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT diễn ra nhiều nhất
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả thực trạng hoạt động quản lý CTRYT tại bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
3.1.1 Khối lượng CTRYT phát sinh tại bệnh viện
Theo nghiên cứu về số liệu theo dõi CTRYT của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, khối lượng CTRYT từng loại được ghi chép bởi Hộ lý của các khoa và chất thải đã được bàn giao cho Công ty Môi trường đô thị Kết quả cho thấy:
Bảng 3.1 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện
Stt Các loại chất thải Đơn vị Khối lượng trung bình/tháng
1 Chất thải lây nhiễm kg 271,17
2 Chất thải hóa học kg 0,2
3 Chất thải phóng xạ kg 0
4 Chất thải bình áp suất kg 0,67
5 Chất thải thông thường kg 1.759,3
3.1.2 Trang thiết bị, dụng cụ phục vụ hoạt động quản lý CTRYT
3.1.2.1 Trang thiết bị, dung cụ phân loại CTRYT tại khoa
Bảng 3.2 Trang thiết bị, dụng cụ phân loại chất thải rắn y tế tại khoa
TT Nội dung quan sát
Tổng số khoa quan sát (N=7 khoa)
Số khoa đạt (n) Tỷ lệ (%) Phương tiện phân loại CTRYT
1 Khoa có đủ túi nilon đựng CTRYT 7 100
2 Chất lượng túi nilon có đủ màu sắc, điều kiện quy định:
TT Nội dung quan sát
Tổng số khoa quan sát (N=7 khoa)
Số khoa đạt (n) Tỷ lệ (%)
2.6 Túi nilon có thể tích tối đa 0,1m 3 7 100
Bờn ngoài tỳi cú đường kẻ ngang ở mức ắ và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG
2.8 Biểu tượng chỉ loại chất thải 0 0
3 Có đủ hộp đựng chất thải sắc nhọn 7 100
4 Chất lượng hộp đựng chất thải sắc nhọn đảm bảo các điều kiện
4.1 Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng 7 100
4.2 Có khả năng chống thấm 7 100
4.4 Có nắp đóng mở dễ dàng 7 100
4.5 Miệng hộp đủ lớn để cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy 7 100
Có dòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI
SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ở mức
3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
4.8 Có quai hoặc kèm hệ thống cố định 0 0
4.9 Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài 7 100
5 Có dụng cụ, hoá chất xử lý ban đầu
CTRYT có nguy cơ lây nhiễm cao 7 100
Bảng 3.8 cho thấy bệnh viện đã trang bị đầy đủ thiết bị và dụng cụ cho hoạt động phân loại chất thải rắn y tế về số lượng Tuy nhiên, chất lượng và quy cách của các trang thiết bị này chưa đảm bảo, đặc biệt là túi đựng chất thải vẫn thiếu đường kẻ ngang.
Bệnh viện HUPH chưa trang bị túi đựng CTRYT màu trắng và biểu tượng chỉ loại chất thải Hộp đựng chất thải sắc nhọn không có quai đeo và chưa được cố định, đồng thời có mức ắ và cú dũng chữ “KHỎNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”.
3.1.2.2 Trang thiết bị, dung cụ thu gom lưu giữ CTRYT tại khoa
Bảng 3.3 Trang thiết bị, dụng cụ thu gom, lưu giữ chất thải rắn y tế tại khoa
TT Nội dung quan sát
Tổng số khoa quan sát
Số khoa đạt (n) Tỷ lệ (%) Phương tiện thu gom CTRYT tại khoa
1 Có nơi thu gom tập trung CTRYT tại khoa 7 100
2 Có đủ thùng đựng CTRYT 7 100
3 Chất lượng thùng đựng CTRYT
3.1 Thùng có đủ mã màu:
3.2 Thùng có đủ điều kiện
- Có nắp đậy mở bằng đạp chân 0 0
- Có vạch báo hiệu ở mức 3/4 thùng và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG
- Biểu tượng chỉ loại chất thải 0 0
- Phù hợp với loại CTRYT tại khoa 7 100
- Có hướng dẫn thu gom 7 100
Phương tiện lưu giữ CTRYT tạm thời tại khoa
2.1 Có khu lưu giữ CTRYT tạm thời tại khoa 7 100
TT Nội dung quan sát
Tổng số khoa quan sát
Số khoa đạt (n) Tỷ lệ (%)
2.2 Có đủ thùng đựng CTRYT tạm thời 7 100
2.3 Thùng đựng CTRYT đảm bảo chất lượng 7 100
2.4 Thùng đựng CTRYT đảm bảo hình thức 0 0
Bệnh viện đã bố trí các khoa để thu gom và lưu trữ tạm thời chất thải, cung cấp thùng đựng có thành dày, cứng và có vạch báo hiệu mức 3/4 thùng với dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY” Tuy nhiên, một số tiêu chí theo quy định của Bộ Y tế vẫn chưa được đáp ứng, bao gồm việc thiếu nắp mở bằng đạp chân, biểu tượng chỉ loại chất thải, và thùng máu trắng chưa được trang bị cho các khoa.
3.1.2.3 Trang thiết bị, dung cụ vận chuyển CTRYT về khu lưu giữ tạp trung
Qua quan sát, tất cả 7 khoa có phát sinh chất thải y tế (CTRYT) đều chưa được trang bị xe vận chuyển chuyên dụng, dẫn đến việc vận chuyển phải thực hiện bằng tay và bàn giao cho khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện cũng chưa có đường riêng để vận chuyển CTRYT theo quy định Lãnh đạo khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn cho biết: “Chúng tôi chưa được trang bị xe vận chuyển chuyên dụng theo quy định, mặc dù đã có đề xuất nhưng vẫn chưa thấy kết quả.” Nhìn chung, trang thiết bị và dụng cụ vận chuyển của các khoa không đáp ứng yêu cầu theo quy định.
3.1.2.4 Trang thiết bị, dung cụ lưu giữ CTRYT tại khu vực lưu giữ tập trung
Bảng 3.4 Trang thiết bị, dụng cụ lưu giữ chất thải rắn y tế tại khu vực lưu giữ tập trung
TT Tiêu chí Đạt/Có Không đạt/
1 Có nhà lưu giữ CTRYT tập trung X
2 Nhà lưu giữ CTRYT đáp ứng tiêu chuẩn:
TT Tiêu chí Đạt/Có Không đạt/
2.1 Cách xa nhà ăn, buồng bệnh tối thiểu 10m
2.2 Có đường để xe chuyên trở chất thải từ bên ngoài đến X
2.4 Có hàng rào bảo vệ, cửa, khóa X
2.5 Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh X
2.6 Có phương tiện rửa tay X
2.7 Có phương tiện bảo hộ cho nhân viên X
2.8 Có dụng cụ, hóa chất làm vệ sinh X
2.9 Có phương tiện bảo hộ cho nhân viên X
2.10 Có hệ thống cống thoát nước X
2.11 Tường và nền chống thấm X
2.13 Có hệ thống bảo quản lạnh X
2.14 Có các khu vực lưu giữ riêng X
Nhà lưu giữ chất thải rắn y tế tập trung của bệnh viện, được xây dựng từ năm 2013, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về diện tích, khoảng cách an toàn, rào chắn, cửa có khóa, hệ thống thoát nước và bảo quản lạnh theo quy định của Bộ Y tế Tuy nhiên, hiện tại khu vực này vẫn thiếu phương tiện rửa tay cho nhân viên phụ trách Tổng thể, khu vực lưu giữ chất thải rắn y tế của bệnh viện đã đáp ứng khá tốt các yêu cầu quy định.
Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý CTRYT
3.2.1 Kiến thức quản lý CTRYT
3.2.1.1 Thông tin chung của đối tượng
Bảng 3.5 Thông tin chung của đối tượng
Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Vị trí, công việc chuyên trách
Khám/điều trị/chăm sóc
Khác 9 8,42 Được tập huấn về
Trong nghiên cứu với 107 đối tượng, nhóm tuổi dưới 35 chiếm 39,26% với 42 người, nhóm từ 36 đến 45 tuổi chiếm 47,66% với 51 người, và nhóm trên 45 tuổi chỉ chiếm 13,08% với 14 người.
Giới tính: Số lượng đối tượng là nữ giới là 86 đối tượng chiếm tỷ lệ 83,2%, tỷ lệ nam giới chỉ chiếm 16,8% với 21 đối tượng
Trong nghiên cứu về cán bộ y tế, điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,35% (71 đối tượng), trong khi bác sỹ chỉ chiếm 12,14% (13 đối tượng) và y sỹ có tỷ lệ 1,86% (2 đối tượng).
Trình độ đào tạo: Phần lớn đối tượng có trình độ đào tạo từ trung cấp trở lên:
54 đối tượng trình độ cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ 50,46%; 46 đối tượng có trình
HUPH độ trung cấp chiếm tỷ lệ 42,99%; tuy vậy vẫn còn 7 đối tượng, chiếm 6,55% có trình độ sơ cấp
Trong nghiên cứu, có 86 đối tượng thực hiện công việc khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân, chiếm 80,37% Số đối tượng thực hiện công việc vệ sinh phòng bệnh là 12, chiếm 11,21%, trong khi 9 đối tượng thực hiện các công việc khác, chiếm 8,42% Về đào tạo, 81 đối tượng (75,7%) cho biết đã được đào tạo về chất thải rắn y tế, trong khi 26 đối tượng (24,3%) chưa được đào tạo.
3.2.2.2 Kiến thức cơ bản của nhân viên y tế về CTRYT
Bảng 3.6 Kiến thức cơ bản về chất thải rắn y tế
Số lượng(n) Tỷ lệ (%) Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Kiến thức cơ bản về CTRYT 41 38,32 66 61,68
Hầu hết đối tượng nghiên cứu (97,2%) nhận thức đúng về nguy cơ của chất thải y tế (CTRYT) đối với sức khỏe con người Tuy nhiên, chỉ có 55,14% trong số 107 đối tượng có kiến thức đúng về các dạng CTRYT, trong khi 44,86% còn lại không đạt yêu cầu Kiến thức về nguồn phát sinh CTRYT và các nhóm CTRYT vẫn còn thấp, với tỷ lệ nhận thức đúng chỉ từ 23,37% đến 30,84%, trong khi 69,16% đến 76,63% chưa có nhận thức đúng Một lãnh đạo khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn cho biết rằng việc tổ chức tập huấn cho bác sĩ và lãnh đạo khoa, phòng không hiệu quả do họ ít khi thực hiện phân loại thu gom, dẫn đến việc không nhớ lâu.
3.2.2.3 Kiến thức của nhân viên y tế về phân loại CTRYT
Bảng 3.7 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế
Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
1 Kiến thức về người thực hiện phân loại 40 37,38 67 62,72
2 Kiến thức về thời điểm thực hiện phân loại 83 77,57 24 22,43
3 Kiến thức về phân loại
Kiến thức về phân loại chất thải hóa học nguy hại
5 Kiến thức về phân loại chất thải phóng xạ 35 32,71 72 67,29
6 Kiến thức về phân loại bình chứa áp xuất 31 28,97 76 71,03
7 Kiến thức về phân loại chất thải thông thường 84 78,5 23 21,5
8 Kiến thức về phân loại màu sắc đựng CTRYT 105 98,13 2 1,87
Kiến thức về phân loại màu sắc túi, hộp đựng chất thải lây nhiễm
Kiến thức về phân loại màu sắc túi, hộp đựng chất thải hóa học
Kiến thức về phân loại màu sắc túi, hộp đựng chất thải thông thường
Kiến thức về phân loại màu sắc túi, hộp đựng chất thải tái chế
Kiến thức về phân loại
Trong nghiên cứu về phân loại chất thải rắn, kiến thức về phân loại màu sắc dụng cụ đựng chất thải rắn có tỷ lệ trả lời đúng cao nhất, với 105 đối tượng đạt 98,13% Kiến thức về phân loại màu sắc túi và hộp đựng chất thải tái chế cũng đạt tỷ lệ cao, với 97 đối tượng, tương đương 90,65% Ngược lại, kiến thức về phân loại màu sắc túi và hộp đựng chất thải thông thường có tỷ lệ trả lời đúng thấp nhất, chỉ đạt 1,87%.
3.2.2.4 Kiến thức của nhân viên y tế về thu gom CTRYT
Bảng 3.8 Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế
1 Người có trách nhiệm thu gom CTRYT 51 47,7 56 52,3
2 Mức chất thải y tế đựng trong túi, hộp tối đa 85 79,4 22 20,6
Xử lý khi chất thải lây nhiễm bỏ lẫn vào chất thải thông thường
4 Tác dụng của túi, hộp có màu vàng 93 86,9 14 13,1
5 Tác dụng của túi, hộp có màu đen 97 90,7 10 9,3
6 Tác dụng của túi, hộp có màu xanh 100 93,5 7 6,5
7 Tác dụng của túi, hộp có màu trắng 102 95,3 5 4,7
8 Mức chất thải y tế đựng trong thùng tối đa 62 57,9 45 42,1
9 Tần suất làm vệ sinh thùng đựng rác 45 42,1 62 57,9
10 Tần suất thu gom rác tối thiểu 36 33,6 71 66,4
11 Về chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao? 87 81,3 20 18,7
Kiến thức về thu gom CTRYT 70 67,5 37 32,5
Tỷ lệ đối tượng đạt yêu cầu về kiến thức thu gom CTRYT là 65,7%, trong khi 34,3% không đạt Các câu hỏi liên quan đến tác dụng của các túi hộp theo mã màu vàng, đen, xanh, trắng có tỷ lệ trả lời cao lần lượt là 86,9%, 90,7%, 93,5% và 95,3% Tuy nhiên, câu hỏi về cách xử lý khi phân loại nhầm chỉ đạt tỷ lệ trả lời đúng 34,6%.
3.2.2.5 Kiến thức của nhân viên y tế về vận chuyển CTRYT
Bảng 3.9 Kiến thức về vận chuyển chất thải rắn y tế
Hình thức chuyển CTRYT nguy hại và chất thải thông thường
Tần suất thu gom, vận chuyển
CTRYT về nơi tập trung
Kiến thức về vận chuyển CTRYT 65 61,4 42 38,6
Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu có kiến thức đúng về trách nhiệm vận chuyển và đường vận chuyển đạt 82,2% và 85% Tuy nhiên, tỷ lệ trả lời đúng về hình thức chuyển CTRYT nguy hại và CTRYT thông thường lại thấp, chỉ đạt 32,7%.
3.2.2.6 Kiến thức của nhân viên y tế về lưu giữ CTRYT
Bảng 3.10 Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế
Khoảng cách ly giữa khu lưu giữ CTRYT của bệnh viện và các khu vực khác
Thời gian lưu giữ CTRYT tối đa tại nơi lưu giữ của bệnh viện trong điều kiện bình thường
3 Hình thức lưu giữ CTRYTNH và chất thải thông thường 93 86,9 14 13,1
Kiến thức về lưu giữ CTRYT 82 76,3 25 23,7
3.2.2.7 Tổng hợp kiến thức về quản lý CTRYT
Bảng 3.11 Tổng hợp kiến thức về chất thải rắn y tế
1 Kiến thức cơ bản về CTRYT 41 38,3 66 61,7
2 Kiến thức về phân loại
3 Kiến thức về thu gom CTRYT 70 65,7 37 34,3
4 Kiến thức về vận chuyển
5 Kiến thức về lưu giữ CTRYT 82 76,3 25 23,7
Kiến thức về 5 nội dung trên 55 52,1 52 47,9
Tỷ lệ đối tượng có kiến thức đạt về phân loại CTRYT chỉ đạt 18,7%, trong khi tỷ lệ kiến thức lưu giữ CTRYT cao hơn, với 76,3% câu trả lời đúng Trung bình, tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức ở tất cả các nội dung là 52,1%.
3.2.2 Thực hành quản lý CTRYT
3.2.2.1 Thực hành phân loại CTRYT
* Đặc điểm của các điều dưỡng thực hiện hoạt động tiêm thuốc cho bệnh nhân
HUPH Đạt Không đạt Tổng số
Stt Thông tin Chỉ số Tần số (n)
Trung cấp 104 83,9 20 16,1 124 49,2 Cao đẳng, đại học 101 78,9 27 21,1 128 50,8
3 Được tập huấn về quản lý
Khoa Hồi sức cấp cứu 25 69,4 11 30,6 36 14,3
Khoa Lao- HIV-Kháng thuốc
Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thực hành phân loại của điều dưỡng nữ đạt 83,4%, cao hơn nhiều so với 31,4% của điều dưỡng nam Tỷ lệ thực hành phân loại đạt yêu cầu giữa các đối tượng có trình độ trung cấp (83,9%) và cao đẳng, đại học (78,9%) khá tương đương Đặc biệt, 81,4% đối tượng đã được tập huấn về quản lý CTRYT thực hành phân loại đạt yêu cầu, trong khi 18,6% đã được tập huấn nhưng không đạt Tỷ lệ điều dưỡng ở từng khoa phân loại đạt yêu cầu tương đối đồng đều, với khoa Bệnh phổi và Lao có tỷ lệ thấp nhất.
HUPH ngoài phổi, mỗi khoa 10 đối tượng chiếm tỷ lệ 62,5% và cao nhất là khoa Khám bệnh với tỷ lệ 77,5%
Kết quả đánh giá hoạt động phân loại CTRYT trong tiêm thuốc được thực hiện qua việc quan sát các hoạt động như phân loại vỏ bao, bơm kim tiêm, bông, gạc sát trùng, vỏ lọ thuốc, vỏ ống nước cất, bơm tiêm, kim tiêm và găng tay trong các lần tiêm cho bệnh nhân.
Bảng 3.14 Kết quả từng bước thực hành phân loại CTRYT trong hoạt động tiêm thuốc
Stt Thực hành phân loại
1 Thực hành phân loại vỏ bao, bơm kim tiêm
1.2 Phân loại vỏ bơm kim tiêm 182 72,2 70 27,8
2 Thực hành phân loại bông, gạc sát trùng
Phân loại bông, gạc sát trùng 132 52,4 120 47,6
3 Thực hành phân loại vỏ lọ thuốc, vỏ ống nước cất
3.1 Phân loại vỏ lọ thuốc 152 60,3 100 39,7
3.2 Phân loại vỏ ống nước cất 124 49,2 128 50,8
4 Thực hành phân loại bơm tiêm, kim tiêm
5 Thực hành phân loại găng tay
Kết quả quan sát cho thấy tỷ lệ phân loại vỏ bao và vỏ bơm kim tiêm đúng lần lượt đạt 63,5% và 72,2% Ngược lại, tỷ lệ phân loại không đạt là 36,5% và 27,7%.
Trong quá trình điều dưỡng, số lần thực hành phân loại bông, gạc sát trùng đạt được là 132 lần, tương ứng với tỷ lệ 52,4% Tuy nhiên, tỷ lệ phân loại sai lên tới 46,7%.
Tỷ lệ phân loại vỏ lọ thuốc đạt yêu cầu là 60,3%, trong khi tỷ lệ phân loại vỏ ống nước cất chỉ đạt 49,2%.
Trong tổng số 252 lần phân loại bơm tiêm và kim tiêm, có 164 lần phân loại bơm tiêm đạt, chiếm 65,1%, trong khi 88 lần không đạt, chiếm 34,9% Đối với kim tiêm, 92 lần phân loại đạt chiếm 36,5%, còn 160 lần không đạt chiếm 63,5%.
Kết quả phân loại găng tay cho thấy có 144 lượt đạt yêu cầu, chiếm 57,1%, trong khi đó, 108 lượt không đạt yêu cầu, chiếm 42,9%.
Bảng 3.12 Tổng hợp chung về thực hành phân loại chất thải rắn y tế
1 Phân loại vỏ bao, bơm kim tiêm 160 63,5 92 36,5
2 Phân loại lọ thuốc, lọ nước cất 124 49,2 128 50,8
3 Phân loại bông, gạc sát trùng 132 52,4 120 47,6
4 Phân loại bơm, kim tiêm 92 36,5 160 63,5
6 Thực hành phân loại CRTYT đạt 92 36,5 160 63,5
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quản lý CTRYT tại Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quản lý CTRYT tại bệnh viện bao gồm kiểm tra giám sát, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và tài chính.
3.3.1 Hoạt động kiểm tra giám sát hoạt động quản lý CTRYT
Kết quả phỏng vấn cho thấy bệnh viện đã thực hiện các hoạt động kiểm tra giám sát hàng ngày đối với quản lý CTRYT Tuy nhiên, các biện pháp sau giám sát như nhắc nhở, khiển trách, kỷ luật và đào tạo lại chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc Biện pháp chủ yếu là nhắc nhở, chưa tạo động lực thay đổi cho đối tượng Nhiều nội dung phát hiện sau giám sát vẫn chưa được bệnh viện đáp ứng, đặc biệt là những vấn đề cần kinh phí để khắc phục.
Trong quá trình giám sát, nếu cán bộ y tế phân loại sai, sẽ được nhắc nhở tại khoa trong các buổi kiểm tra hàng ngày Đến nay, chưa có trường hợp nào bị xử lý kỷ luật và hiện tại cũng chưa tổ chức lớp đào tạo lại cho nhân viên.
Trong môi trường làm việc, nếu phát hiện vấn đề, điều dưỡng trưởng thường nhắc nhở hộ lý Nếu hộ lý không có mặt, điều dưỡng trưởng sẽ được nhắc nhở Mặc dù tôi đã làm việc ở đây một thời gian dài, nhưng chưa thấy ai bị kiểm điểm.
Chúng tôi chủ yếu vận chuyển bằng tay, mặc dù việc này đã được báo cáo và thảo luận trong các cuộc họp giao ban với lãnh đạo Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa được trang bị xe vận chuyển, điều này gây khó khăn trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và phòng điều dưỡng.
3.3.2 Nhân lực cho hoạt động quản lý CTRYT
Nghiên cứu cho thấy nhân lực thu gom và vận chuyển chất thải y tế (CTRYT) đang gặp quá tải, đặc biệt vào buổi sáng khi có nhiều hoạt động chuyên môn diễn ra và lượng CTRYT phát sinh tăng cao Thời gian thu gom và vận chuyển theo quy định của bệnh viện từ 10h đến 10h30 cũng góp phần vào tình trạng này Hiện tại, mỗi khoa lâm sàng và cận lâm sàng chỉ có một hộ lý phụ trách thu gom và vận chuyển CTRYT, đồng thời còn phải thực hiện vệ sinh toàn khoa, buồng bệnh và vệ sinh ngoại cảnh khi có yêu cầu.
Công việc hàng ngày của chúng tôi bao gồm vệ sinh và lau dọn toàn bộ khoa, cũng như thu gom rác thải từ khu vực ngoại cảnh Với chỉ một mình tôi đảm nhận nhiệm vụ này, công việc trở nên rất vất vả, đặc biệt khi lãnh đạo yêu cầu các phòng và buồng bệnh luôn phải sạch sẽ để phục vụ tốt nhất cho bệnh nhân Thỉnh thoảng, tôi cũng gặp khó khăn trong việc thu gom đúng thời gian.
Hiện tại, do cơ chế tinh giảm biên chế, tôi không thể đề xuất nhiều Nếu có thể, tôi chỉ đề xuất thành lập một khoa với 2 hộ lý để giảm bớt vất vả trong công việc.
Vệ sinh cơ quan và vệ sinh ngoại cảnh là công việc đơn giản, có thể thực hiện bởi lao động phổ thông Nếu có thêm nhân viên hoặc thuê ngoài, chúng tôi sẽ có nhiều thời gian hơn để tập trung vào chuyên môn của mình.
Hiện nay, bệnh viện thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu về môi trường, điều này ảnh hưởng đáng kể đến công tác quản lý chất thải y tế và bảo vệ môi trường.
Để xử lý vấn đề môi trường hiệu quả, cần có những chuyên gia được đào tạo bài bản trong lĩnh vực này Trước đây, môi trường không được chú trọng nhiều, nhưng hiện tại, việc tuân thủ quy định về môi trường đòi hỏi sự tham gia của những người có kiến thức chuyên sâu Những người học ngành y cũng nhận thức được rằng việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường không hề đơn giản.
3.3.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động quản lý CTRYT Để nhân viên y tế thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT đạt yêu cầu theo quy định thì yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ đóng vai trò rất quan trọng, qua kết quả phỏng vấn sâu về vấn đề này cho thấy, nhiều khâu trong hoạt động quản lý CTRYT của bệnh viện không thể thực hiện được hoặc thực hiện được nhưng rất khó khăn nếu muốn đảm bảo đúng quy định Tại các khoa Lâm sàng và Cận lâm sàng 100% chưa có xe vận chuyển CTRYT; 100% túi đựng CTRYT chưa có vạch giới hạn mức CTRYT tối đa, 100% các thùng đựng chưa có cơ cấu mở nắp bằng đạp chân, 100% túi, thùng đựng CTRYT không có biểu tượng chỉ loại chất thải… Các thiếu sót trên có thể dẫn đến sai sót trong thực hành quản lý CTRYT:
Các anh đã đi quan sát và nhận thấy rằng túi đựng chất thải ở đây không tuân thủ quy định Nói chung, nếu không có vạch chỉ định, chúng ta chỉ có thể ước lượng mức độ đầy của túi.
Chúng tôi cung cấp đầy đủ các màu sắc, nhưng hiện tại chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn khác Như anh đã nói, việc mua hàng tại chợ thì khó có thể đảm bảo những tiêu chuẩn đó.
Hiện tại, việc thu gom và vận chuyển CTRYT chủ yếu vẫn được thực hiện bằng tay, do chưa có xe chuyên dụng Nhân viên y tế chỉ có dụng cụ để xách đi, và họ tự vận chuyển từ khoa xuống Đặc biệt, đường vận chuyển CTRYT trong bệnh viện không được thiết kế riêng biệt, nhất là đối với các khoa ở tầng 2 trở lên, dẫn đến việc vận chuyển CTRYT phải đi qua các khoa và phòng khác.
BÀN LUẬN
Thực trạng hoạt động quản lý CTRYT tại bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà
4.1.1 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý CTRYT
- Cơ sở vật chất phục vụ phân loại CTRYT:
Bệnh viện đã đầu tư vào trang thiết bị và dụng cụ cho hoạt động lâm sàng và cận lâm sàng, đảm bảo số lượng và chủng loại phù hợp với loại CTRYT Tuy nhiên, chất lượng và quy cách theo tiêu chuẩn Bộ Y tế vẫn chưa được đáp ứng, khi 7/7 khoa vẫn sử dụng túi đa dụng không đạt yêu cầu Các túi này có đặc điểm như đường kẻ ngang và dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”, nhưng biểu tượng chỉ loại chất thải không phù hợp Việc mua túi đa dụng từ thị trường bên ngoài dẫn đến việc không kiểm soát được chất liệu túi theo quy định của Bộ Y tế.
Bệnh viện đã trang bị hộp đựng chất thải sắc nhọn theo tiêu chuẩn, nhưng vẫn có nguy cơ hộp bị đổ ra ngoài do chưa được cố định chắc chắn vào xe tiêm Tình trạng túi đựng chất thải y tế (CTRYT) chưa đáp ứng đủ tiêu chí chuyên dụng, tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Duy Bảo tại một số bệnh viện phía Bắc, với tỷ lệ sử dụng túi có vạch báo và biểu tượng chỉ loại chất thải chỉ đạt 21%, chủ yếu ở các bệnh viện tuyến trung ương Điều này cho thấy vấn đề không chỉ tồn tại tại Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam mà còn phổ biến ở nhiều bệnh viện khác.
Túi đựng CTRYT không có vạch báo có thể dẫn đến việc chứa quá nhiều rác thải, gây khó khăn trong việc buộc túi khi di chuyển và làm tăng nguy cơ rơi vãi CTRYT ra ngoài.
- Cơ sở vật chất phục vụ thu gom, vận chuyển CTRYT:
Tất cả 7 khoa thực hiện quan sát đều có thùng thu gom CTRYT với vạch báo hiệu ở mức 3/4 và dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY” Mặc dù các thùng này không phải là thùng chuyên dụng mà chỉ là xô đa dụng, nhưng bệnh viện không tái chế CTRYT, do đó việc thiếu thùng máu trắng vẫn được coi là đạt yêu cầu.
Trong quá trình vận chuyển tại bệnh viện, quan sát cho thấy 100% các khoa chưa được trang bị xe vận chuyển CTRYT Các hộ lý phải vận chuyển bằng tay và nhiều lần để đưa xuống khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, điều này phản ánh một thiếu sót trong quản lý CTRYT của bệnh viện.
- Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động lưu giữ CTRYT:
Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam đã đầu tư xây dựng nhà lưu giữ chất thải và tủ bao quản lạnh CTRYT, đáp ứng hầu hết các tiêu chí về diện tích, khoảng cách an toàn, rào, cửa có khóa, thoát nước theo quy định của Bộ Y tế Tuy nhiên, phương tiện rửa tay cho nhân viên vẫn chưa đạt yêu cầu Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Bảo, nhiều nhà lưu giữ chất thải tại các bệnh viện khu vực phía Bắc không đảm bảo ngăn ngừa loài gặm nhấm xâm nhập, và 50% trong số đó không có buồng lưu trữ riêng cho CTRYTNH, chất thải thông thường và chất thải tái chế.
Cơ sở vật chất tại bệnh viện cho các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải y tế (CTRYT) hiện đáp ứng khá tốt về số lượng, nhưng chất lượng và quy cách theo quy định vẫn còn nhiều thiếu sót.
Tổng khối lượng chất thải y tế của bệnh viện trung bình đạt 2.031,34 kg/tháng, trong đó chất thải thông thường chiếm 1.759,3 kg/tháng và chất thải rắn nguy hại là 272,04 kg/tháng Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn có khối lượng trung bình 191,47 kg/tháng, là nhóm chất thải nguy hại cao nhất Trong thời gian thu thập số liệu, không ghi nhận phát sinh chất thải phóng xạ Lượng chất thải hóa học nguy hại và bình chứa áp suất phát sinh rất thấp, với khối lượng trung bình lần lượt là 0,2 kg/tháng và 0,67 kg/tháng, do hầu hết các sản phẩm như thuốc quá hạn, dung dịch và dung môi không đạt tiêu chuẩn đều được gửi trả lại nhà sản xuất.
Nghiên cứu của Đinh Tấn Hùng đã chỉ ra thực trạng và các yếu tố liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa.
Năm 2013, khối lượng chất thải phát sinh trung bình là 50.986 kg/tháng, trong đó chất thải y tế thông thường là 35.648 kg/tháng và chất thải y tế nguy hại là 15.338 kg/tháng Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy lượng chất thải chung, chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại đều thấp hơn nhiều so với số liệu này Điều này có thể giải thích do đặc điểm của bệnh viện truyền nhiễm, quy mô tương đối nhỏ và chủ yếu điều trị nội khoa, dẫn đến lượng chất thải phát sinh thấp hơn.
Kiến thức, thực hành quản lý CTRYT của nhân viên y tế
4.2.1 Kiến thức quản lý CTRYT
4.2.1.1 Thông tin chung của đối tượng
Phần lớn đối tượng nghiên cứu thuộc độ tuổi dưới 45, chiếm 86,92%, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Hồ Thị Nga (74,1%) và Phan Thị Thu (66,7%) về quản lý chất thải rắn y tế Điều này cho thấy nhóm tuổi trẻ dưới 45 là một lợi thế trong nghiên cứu.
Bệnh viện HUPH có đội ngũ nhân lực khỏe mạnh và ổn định, cùng với khả năng học hỏi và nâng cao trình độ, giúp họ tiếp cận những kiến thức mới trong quản lý chất thải rắn y tế.
Trong nghiên cứu, đối tượng tham gia chủ yếu là nữ giới, với 89 người, chiếm 83,2% tổng số Ngược lại, chỉ có 18 nam giới, chiếm 16,8% Theo nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ về kiến thức và thực hành tuân thủ quy định quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi năm 2013, tỷ lệ nữ giới là 78,7% và nam giới là 21,3%.
[24], tương tự, tỷ lệ này tại nghiên cứu của Hồ Thị Nga tại Bệnh viện đa khoa Gia lộc tỉnh Hải dương năm 2013 là 87,7 % nữ giới, 12,3 % nam giới [18]
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ điều dưỡng chiếm 66,35% (71 đối tượng), cao hơn so với nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ (48%) nhưng thấp hơn so với Hồ Thị Nga (72,8%) Tỷ lệ điều dưỡng cao giúp quản lý và phân loại chất thải y tế (CTRYT) hiệu quả hơn, giảm áp lực công việc và nguy cơ sai sót Tuy nhiên, chỉ có 7 hộ lý tại 7 khoa thực hiện nhiệm vụ vệ sinh và thu gom CTRYT, cho thấy việc bố trí 1 hộ lý/1 khoa là chưa đủ.
Theo kết quả điều tra, 6,55% đối tượng có trình độ sơ cấp, 42,99% có trình độ trung cấp và 50,46% có trình độ cao đẳng, đại học Tỷ lệ đối tượng chỉ có trình độ sơ cấp trong nghiên cứu này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây, như của Trịnh Tuấn Sỹ (9,1%) và Hồ Thị Nga (21%) Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2021 sẽ ngừng tuyển dụng điều dưỡng, kỹ thuật viên, dược sỹ, hộ.
HUPH lý trình độ trung cấp, thực tế kết quả nghiên cứu tỷ lệ đối tượng có trình độ trung cấp của bệnh viện còn tương đối cao
Tỷ lệ đối tượng tham gia vào công tác khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân đạt 80,37%, tương ứng với 86 trên 107 đối tượng nghiên cứu, cho thấy đặc điểm nổi bật của đơn vị thực hiện công việc này.
Về việc tập huấn và đào tạo quản lý CTRYT cho cán bộ y tế, hiện vẫn còn 24,3% đối tượng chưa được đào tạo, con số này cao hơn so với nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi năm 2013, khi tỷ lệ chưa được tập huấn chỉ là 18,5%.
Theo bảng 3.10, 97,2% đối tượng nhận thức đúng về nguy cơ của chất thải y tế (CTRYT) đối với sức khỏe con người khi tiếp xúc Tuy nhiên, tỷ lệ trả lời đúng về các nhóm CTRYT nguy hại và nguồn phát sinh CTRYT chỉ đạt 23,37%, 30,84% và 30,84%, thấp hơn so với nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi (38,6%, 55% và 46,2%) và nghiên cứu của Hoàng Thị Thúy tại Bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh (27,2% và 4,4%) Mặc dù các tỷ lệ này gần tương đương và đồng đều hơn, nhưng kiến thức cơ bản về CTRYT vẫn chưa được nhân viên y tế nắm vững, gây khó khăn trong việc thực hành phân loại CTRYT.
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu trả lời đúng các câu hỏi về nhóm CTRYT nguy hại và nguồn phát sinh CTRYT rất thấp sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hành phân loại CTRYT Kết quả phân loại không chính xác sẽ dẫn đến việc thu gom, vận chuyển và xử lý không hiệu quả, làm giảm giá trị của toàn bộ quy trình.
Cán bộ y tế chưa nắm vững kiến thức quản lý CTRYT chủ yếu do thiếu đào tạo và tập huấn từ bệnh viện.
Hệ thống HUPH hiện chưa đạt hiệu quả cao, trong khi ý thức học tập của cán bộ y tế vẫn còn hạn chế Thêm vào đó, việc nhận biết CTRYT theo quy định của Bộ Y tế cũng gặp nhiều khó khăn và dễ gây nhầm lẫn.
Có 5 nhóm chất thải y tế (CTYT), mỗi nhóm bao gồm nhiều loại khác nhau như chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, và chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao Sự tương đồng giữa các nhóm và loại CTYT này có thể gây khó khăn trong việc phân biệt chúng.
4.2.1.3 Kiến thức về phân loại CTRYT
Tỷ lệ đối tượng có câu trả lời đạt yêu cầu về kiến thức phân loại CTRYT là 53,27%, với 57 đối tượng tham gia Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi (78,1%) và của Hoàng Thị Thúy tại Bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh (63,2%).
Trong từng nội dung về phân loại CTRYT, tỷ lệ trả lời đúng các câu hỏi cũng khác nhau và chênh lệch khá nhiều như:
Tỷ lệ trả lời đúng về kiến thức phân loại các loại chất thải y tế (CTRYT) cho thấy sự khác biệt rõ rệt: 75,7% cho chất thải thông thường, 71,3% cho chất thải lây nhiễm, 44,86% cho chất thải hóa học nguy hại, 32,71% cho chất thải phóng xạ, và 28,97% cho bình chứa áp suất Kết quả cho thấy tỷ lệ trả lời đúng giảm dần theo mức độ tiếp xúc, với nhân viên y tế thường xuyên tiếp xúc nhiều nhất với chất thải thông thường và lây nhiễm Do đó, việc tổ chức tập huấn về quản lý chất thải y tế cần được thực hiện thường xuyên để tránh tình trạng quên hoặc nhầm lẫn Nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi năm 2013 cho thấy tỷ lệ đúng về kiến thức phân loại CTRYT lây nhiễm cao nhất là 78,1%, chất thải thông thường là 74,2%, và bình áp suất là 59%.
Kiến thức về người có trách nhiệm phân loại CTRYT của nhân viên y tế tại bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam còn hạn chế, với chỉ 40 người, chiếm 37,38%, nhận thức đúng về đối tượng thực hiện phân loại CTRYT Việc phần lớn nhân viên y tế hiểu sai về trách nhiệm này có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng trong công tác phân loại và quản lý bệnh nhân.
Một số yếu ảnh hưởng đến thực hành quản lý CTRYT tại Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy các yếu tố như cơ chế chính sách, kiểm tra giám sát, nhân lực, cơ sở vật chất và tài chính của bệnh viện đều ảnh hưởng đến việc thực hành quản lý CTRYT theo quy định.
- Kiểm tra giám sát hoạt động quản lý CTRYT
Việc kiểm tra giám sát các hoạt động quản lý chất thải y tế (CTRYT) từ phân loại, thu gom, vận chuyển đến xử lý là cần thiết và diễn ra thường xuyên Chất lượng của từng hoạt động có sự ảnh hưởng lẫn nhau và chịu tác động từ nhiều yếu tố, do đó cần được giám sát chặt chẽ Mặc dù hoạt động này đã được thực hiện thường xuyên, nhưng các biện pháp xử lý sau giám sát chủ yếu chỉ dừng lại ở mức nhắc nhở Các hoạt động bổ sung như đào tạo lại và trang bị đầy đủ dụng cụ theo quy định vẫn chưa được thực hiện đầy đủ Thực trạng này cũng được phản ánh trong nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ năm 2013, cho thấy rằng việc kiểm tra là cần thiết, nhưng nếu không có biện pháp xử lý phù hợp cho những sai sót thì hiệu quả công tác kiểm tra sẽ không cao.
- Nhân lực cho hoạt động quản lý CTRYT
Trong quản lý chất thải y tế (CTRYT) tại các cơ sở y tế, đặc biệt là bệnh viện Lao và bệnh phổi, yếu tố nhân lực, bao gồm số lượng và trình độ đào tạo chuyên ngành về môi trường, đóng vai trò quan trọng Hiện nay, ngoài việc thu gom và vận chuyển CTRYT, các hộ lý còn phải đảm nhiệm công việc vệ sinh bệnh viện, dẫn đến khối lượng công việc lớn và dễ gây nhầm lẫn Nghiên cứu cho thấy, việc có cán bộ chuyên trách được đào tạo về môi trường là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế và bảo vệ môi trường xung quanh bệnh viện.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động quản lý CTRYT
Yếu tố cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong quản lý chất thải y tế (CTRYT) tại bệnh viện Trang thiết bị và dụng cụ hiện có chưa đáp ứng đầy đủ các quy định trong các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ Nhiều loại dụng cụ cần thiết như xe vận chuyển và thùng đựng CTRYT có nắp mở kiểu đạp chân vẫn chưa được trang bị, trong khi đó, các dụng cụ đã có phần lớn không phải là loại chuyên dụng, không được thiết kế tối ưu để hỗ trợ hiệu quả cho nhân viên.
HUPH viên y tế thực hành quản lý chất thải y tế (CTRYT) theo quy định của Bộ Y tế, nhưng tỷ lệ thực hành đạt yêu cầu vẫn chưa cao Nghiên cứu của Trịnh Tuấn Sỹ năm 2013 cho thấy dụng cụ và phương tiện phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT chưa đồng bộ và không tuân thủ quy định tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Các cuộc phỏng vấn cho thấy nhân viên y tế nhận thức được sự không đúng quy định trong hoạt động của họ, nhưng do thiếu trang thiết bị và dụng cụ thiết kế không hợp lý, họ gặp khó khăn trong việc thực hiện Việc quy định đường vận chuyển riêng cho CTRYT trong nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bố trí đường vận chuyển ngay từ khâu quy hoạch và thiết kế cơ sở hạ tầng bệnh viện, đặc biệt trong bối cảnh thiết kế bệnh viện cao tầng hiện nay.
- Kinh phí cho hoạt động quản lý CTRYT
Yếu tố kinh phí là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu trang thiết bị và dụng cụ y tế tại bệnh viện Lao và bệnh phổi, cũng như các cơ sở khám chữa bệnh truyền nhiễm Hiện tại, phần lớn kinh phí hoạt động của các cơ sở này phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, trong khi thu từ viện phí rất thấp Các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút bệnh nhân và tăng nguồn thu thường không hiệu quả Hơn nữa, cơ chế tài chính cho hoạt động quản lý y tế chưa rõ ràng Nghiên cứu của Nguyễn Bá Tòng (2015) chỉ ra rằng mặc dù có tự chủ tài chính, nhưng do thiếu nguồn bổ sung, tình hình tài chính sẽ còn khó khăn hơn trong tương lai Tương tự, nghiên cứu của Châu Võ Diễm Thúy (2015) cho thấy kinh phí cho quản lý chất thải trong bệnh viện rất lớn, với chi phí trang bị túi và thùng đựng chất thải hàng năm rất tốn kém.
Nhiều bệnh viện sử dụng ngân sách nhà nước đang gặp khó khăn trong việc bố trí đủ kinh phí cho đầu tư và mua sắm trang thiết bị.
HUPH cung cấp thiết bị và dụng cụ đảm bảo chất lượng và số lượng, tuy nhiên việc duy trì hoạt động đầy đủ và thường xuyên là một thách thức lớn.
Hiện nay, các bệnh viện không có nguồn kinh phí riêng để xử lý chất thải y tế và chưa được phép thu phí xử lý theo giường bệnh hoặc dịch vụ khám chữa bệnh Cục Quản lý môi trường Y tế đã yêu cầu các bệnh viện báo cáo tình hình sử dụng kinh phí cho quản lý chất thải y tế nhằm tìm ra giải pháp tài chính cho hoạt động này Để giải quyết vấn đề, cần có sự phối hợp giữa các cấp, từ trung ương đến địa phương.
Từ kết quả nghiên cứu và những ý kiến bàn luận trên của luận văn có thể kết luận những nội dung chính như sau:
1 Thực trạng hoạt động quản lý CTRYT tại bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
Tổng khối lượng CTRYT của bệnh viện trung bình 2.031,34 kg/tháng, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại 272,04 kg/tháng
Tại các khoa Lâm sàng và Cận lâm sàng, trang thiết bị phục vụ quản lý chất thải y tế (CTRYT) đang gặp nhiều thiếu sót Cụ thể, 100% các khoa chưa có xe vận chuyển CTRYT, túi đựng CTRYT không có vạch giới hạn mức tối đa, và tất cả các thùng đựng đều thiếu cơ cấu mở nắp bằng đạp chân Hơn nữa, túi và thùng đựng CTRYT cũng không có biểu tượng chỉ loại chất thải, điều này gây khó khăn trong việc phân loại và xử lý chất thải y tế một cách an toàn và hiệu quả.
Bệnh viện chưa bố trí đường vận chuyển CTRYT riêng biệt;
2 Kiến thức, thực hành quản lý CTRYT của nhân viên y tế
Tỷ lệ đối tượng có kiến thức đạt yêu cầu về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và kiến thức chung về CTRYT còn thấp, với các mức lần lượt là 53,27%, 67,5%, 61,4%, 76,3% và 52,1%.
Tỷ lệ thực hiện phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế (CTRYT) của nhân viên y tế còn thấp, với mức thực hiện lần lượt là 36,5% và 71,4% Việc vận chuyển CTRYT hiện nay chưa tuân thủ đúng quy định.
Tại các khu vực lưu giữ CTRYT, 100% đều thực hiện lưu giữ CTRYT đạt yêu cầu quy định
3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quản lý CTRYT
Cơ sở vật chất tại Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam không đáp ứng đủ về số lượng và quy cách, trong khi công tác kiểm tra giám sát chưa hiệu quả và còn mang tính hình thức Nhân lực thu gom và vận chuyển đang gặp tình trạng quá tải, dẫn đến khả năng xảy ra sai sót trong công việc Hơn nữa, kinh phí cho hoạt động quản lý chất thải rắn y tế (CTRYT) không đủ và phân bổ chưa hợp lý, khiến cho việc thực hiện các quy định về quản lý CTRYT tại bệnh viện chưa được đầy đủ.
1 Đối với Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam
Bệnh viện cần xem xét việc bố trí kinh phí để mua sắm các trang thiết bị còn thiếu, bao gồm xe vận chuyển chất thải y tế (CTRYT), túi đựng CTRYT chưa có vạch giới hạn mức tối đa, và thùng đựng chưa có cơ cấu mở nắp bằng đạp chân Ngoài ra, cần bổ sung biểu tượng chỉ loại chất thải cho các túi và thùng đựng CTRYT.
Bệnh viện cần xây dựng kế hoạch hợp lý cho việc bố trí đường vận chuyển CTRYT nhằm ngăn chặn sự phát tán tác nhân gây bệnh và bảo đảm an toàn cho môi trường trong bệnh viện.