Một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm ở người bệnh Lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ, năm 2022 ..... Nghiên cứu tập trung vào 03 mục ti
Trang 1NGUYỄN THỊ THU TRÂM
LO ÂU, CĂNG THẲNG, TRẦM CẢM
VÀ CÁCH ỨNG PHÓ Ở NGƯỜI BỆNH LAO ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRONG BỐI CẢNH COVID-19, NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 2NGUYỄN THỊ THU TRÂM
LO ÂU, CĂNG THẲNG, TRẦM CẢM
VÀ CÁCH ỨNG PHÓ Ở NGƯỜI BỆNH LAO ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRONG BỐI CẢNH COVID-19, NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ vii
TÓM TẮT 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
Chương 1 6
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.1.1 Sức khỏe tâm thần 6
1.1.2 Lo âu, căng thẳng, trầm cảm 6
1.1.3 Khái niệm ứng phó 7
1.2 Các thang đo lo âu, căng thẳng, trầm cảm 8
1.3 Sức khỏe tâm thần và bệnh lao 10
1.4 Thực trạng lo âu, căng thăng, trầm cảm ở người bệnh lao 11
1.5 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm ở người bệnh lao 12 1.5.1 Bối cảnh COVID-19 13
1.5.2 Yếu tố cá nhân 14
1.5.3 Yếu tố môi trường 17
1.5.4 Yếu tố kinh tế, xã hội 17
1.6 Ứng phó với lo âu, căng thẳng, trầm cảm và thang đo ứng phó 18
1.6.1 Ứng phó với lo âu, căng thẳng, trầm cảm 18
1.6.2 Thang đo ứng phó 20
1.7 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 23
1.8 Khung lý thuyết 24
Chương 2 26
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
HUPH
Trang 42.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu 26
2.4 Cỡ mẫu 26
2.5 Phương pháp chọn mẫu 27
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 27
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.6.3 Quy trình thu thập số liệu 28
2.7 Biến số nghiên cứu 29
2.8 Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá 29
2.8.1 Thang đo đánh giá lo âu, căng thẳng, trầm cảm (DASS 21) 29
2.8.2 Thang đo khả năng ứng phó Brief-COPE 30
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 32
Chương 3 33
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 33
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2 Thực trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ 37
3.2 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm 41
3.2.1 Các yếu tố liên quan đến lo âu 41
3.2.2 Các yếu tố liên quan đến căng thẳng 45
3.2.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm 49
3.3 Cách ứng phó với căng thẳng, lo âu, trầm cảm của người bệnh lao 53
CHƯƠNG 4 58
BÀN LUẬN 58
4.1 Thực trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh lao trong bối cảnh COVID-19 58
HUPH
Trang 54.2 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm ở người bệnh Lao
đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ, năm 2022 61
4.3 Cách ứng phó với căng thẳng, lo âu, trầm cảm của người bệnh lao 65
4.5 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 68
KẾT LUẬN 70
KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Đặc điểm cá nhân của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 33
Bảng 3.2 Đặc điểm về điều kiện sống của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 34
Bảng 3.3 Tình hình bệnh trạng của người bệnh lao khi nhập viện (n=107) 35
Bảng 3.4 Thực trạng tiêm ngừa và cách ly của đối tượng nghiên cứu (n=107) 35
Bảng 3.5 Bảng kết quả mức độ lo âu theo thang đo DASS 21 (n=107) 37
Bảng 3.6 Bảng kết quả mức độ căng thẳng theo thang đo DASS 21 (n=107) 38
Bảng 3.7 Bảng kết quả mức độ trầm cảm theo thang đo DASS 21 (n=107) 39
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và tình trạng lo âu của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 41
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa điều kiện sống và tình trạng lo âu của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 42
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tình hình bệnh trạng và tình trạng lo âu của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 42
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa các yếu tố môi trường và tình trạng lo âu của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 43
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế - xã hội và tình trạng lo âu của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 43
Bảng 3.13 Phân tích hồi quy logistic đa biến giữa các yếu tố liên quan và lo âu (n=107) 44
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và tình trạng căng thẳng của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 45
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa điều kiện sống và tình trạng căng thẳng của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 46
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tình hình bệnh trạng và tình trạng căng thẳng của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 46
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa các yếu tố môi trường và tình trạng căng thẳng của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 47
HUPH
Trang 8Bảng 3.18 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế - xã hội và tình trạng căng thẳng
của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 47
Bảng 3.19 Phân tích hồi quy logistic đa biến giữa các yếu tố liên quan và căng thẳng 48
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và tình trạng trầm cảm của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 49
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa điều kiện sống và tình trạng trầm cảm của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 50
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và tình trạng trầm cảm của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 50
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa các yếu tố môi trường và tình trạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu (n=107) 51
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế - xã hội và tình trạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu (n=107) 51
Bảng 3.25 Phân tích hồi quy logistic đa biến giữa các yếu tố liên quan và trầm cảm 52
Bảng 3.26 Bảng mô tả kết quả ứng phó tập trung vào vấn đề (n=107) 53
Bảng 3.27 Bảng mô tả kết quả ứng phó tập trung vào cảm xúc (n=107) 54
Bảng 3.28 Bảng mô tả kết quả hành vi né tránh (n=107) 55
Bảng 3.29 Các loại chiến lược ứng phó của người bệnh lao (n=107) 56
HUPH
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thực trạng người bệnh lao được tiếp cận và chăm sóc y tế (n=107) 36Biểu đồ 3.2 Các yếu tố kinh tế, xã hội của người bệnh lao trong nghiên cứu (n=107) 36Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh lao (n=107) 40Biểu đồ 3.4 Mức độ lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh lao (n=107) 40Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ mắc đồng thời lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh lao (n=107) 41Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ khả năng ứng phó của người bệnh lao (n=107) 57
HUPH
Trang 10Nghiên cứu tập trung vào 03 mục tiêu chính: (1) Mô tả thực trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm; (2) xác định một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm và (3) mô tả cách ứng phó với lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh Lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ trong bối cảnh COVID-19, năm 2022
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang, chọn mẫu liên tục với
cỡ mẫu 107 người bệnh lao đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ từ tháng 01-04/2022 Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá mức độ lo âu, căng thẳng, trầm cảm và thang đo BriefCOPE để đánh giá khả năng ứng phó Các đặc điểm, các yếu tố liên quan được thu thập bằng cách phát vấn sau khi người bệnh nhập viện điều trị tại các khoa lâm sàng từ 1-2 ngày Nhập liệu và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và SPSS phiên bản 20.0 Phân tích mối liên quan bằng mô hình hồi quy logistic đa biến
Kết quả nghiên cứu: 58,9% người bệnh lao có lo âu, 40,2% có căng thẳng và 41,1% có biểu hiện trầm cảm Tỉ lệ người bệnh lao biểu hiện ít nhất một trạng rối loạn tâm thần (lo âu, căng thẳng, trầm cảm) là 19,6%, hai trạng thái là 16,8% và có đồng thời cả ba trạng thái là 29%
So với nhóm tuổi từ 18-34 thì người người bệnh lao ở nhóm tuổi từ 35 trở lên có nguy cơ biểu hiện lo âu gấp 3,0 lần (OR: 3,0; 95% CI: 1,1-8,0); nguy cơ biểu hiện căng thẳng gấp 3,5 lần (OR: 3,5; 95% CI: 1,1-11,7); nguy cơ biểu hiện trầm cảm cao gấp 4,4 lần (OR: 4,4; 95% CI: 1,3-14,3) Nhóm người bệnh có có trình độ tiểu học có nguy cơ biểu hiện căng thẳng cao gấp 3,0 lần so với nhóm người bệnh
HUPH
Trang 11có trình độ từ trung học cơ sở trở lên (OR: 3,9; 95% CI: 1,3-12,3) Người bệnh lao
có thu nhập từ 3 triệu trở lên có nguy cơ biểu hiện lo âu cao gấp 3,0 lần so với
người bệnh lao có thu nhập dưới 3 triệu (OR: 3,0; 95% CI: 1,1-8,3) So với nhóm
nhóm người bệnh đến khám lao, người bệnh đến khám vì bệnh khác có nguy cơ
biểu hiện lo âu cao gấp 2,6 lần (OR: 2,6; 95% CI: 1,1-6,7); có nguy cơ biểu hiện
trầm cảm cao gấp 2,9 lần (OR: 2,9; 95% CI: 1,2-7,4) Người bệnh lao đã tiêm ngừa
dưới 3 mũi vắc xin có nguy cơ biểu hiện trầm cảm cao gấp 2,6 lần so với người đã
tiêm từ 3 mũi vắc xin trở lên (OR: 2,6; 95% CI: 1,1-6,4) So với người bệnh lao
không gặp khó khăn trong việc tiếp cận với dịch vụ y tế thì người bệnh lao gặp khó
khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế có nguy cơ biểu hiện căng thẳng cao
gấp 3,0 lần (OR: 3,0; 95% CI: 1,1-8,1); nguy cơ biểu hiện trầm cảm gấp 4,9 lần
(OR: 4,9; 95% CI: 1,9-12,5) Người bệnh cho rằng chất lượng chăm sóc của nhân
viên y tế không như mong đợi có nguy cơ biểu hiện căng thẳng cao gấp 2,7 lần so
với người bệnh cho rằng chất lượng chăm sóc của nhân viên y tế như mong đợi
(OR: 2,7; 95% CI: 1,1-6,6)
Khả năng ứng phó ở người bệnh lao ở mức trung bình (2,8% có khả năng
ứng phó cao, 49,5% có khả năng ứng phó vừa)
Qua nghiên cứu, chúng tôi có một số kiến nghị: tăng cường tư vấn, phát hiện
sớm biểu hiện lo âu, căng thẳng, trầm cảm và có hướng can thiệp phù hợp nhất cho
người bệnh và người nhà người bệnh Nghiên cứu mối liên quan giữa lo âu, căng
thẳng trầm cảm với các chiến lược ứng phó ở người bệnh lao, từ đó xây dựng các
chương trình, kế hoạch để hỗ trợ người bệnh ứng phó với các vấn đề tâm lý của họ HUPH
Trang 12Trầm cảm và lo lắng là những bệnh lý tâm thần thường gặp nhất ở người bệnh lao Lo lắng và trầm cảm đồng thời xảy ra ở người bệnh lao sẽ ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị, điều này dẫn đến tỉ lệ điều trị thành công thấp hơn và gia tăng
tỉ lệ mắc bệnh và tử vong (3) Theo một số nghiên cứu, tỉ lệ trầm cảm và lo âu ở người bệnh lao đang điều trị lần lượt là 55,9% và 54,6%, người bệnh trầm cảm có thể có nguy cơ không tuân thủ điều trị cao gấp ba lần so với người bệnh không trầm cảm (3, 4) Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Đặng Việt Hùng và các cộng sự, tỉ lệ trầm cảm ở người bệnh lao phổi là 45,55%, trong đó trầm cảm nhẹ 32,73%, trầm cảm vừa 10,91%, trầm cảm nặng 0,91%; rối loạn lo âu là 36,36% (5)
Một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thằng, trầm cảm của người bệnh lao
đã được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu như tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình
độ học vấn, thu nhập, nghề nghiệp, quy mô hộ gia đình, tình trạng bệnh Bên cạnh
đó, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cũng cho thấy tác động của đại dịch COVID-19 đến sức khỏe tâm thần của người bệnh lao Một kết quả nghiên cứu tại Ethiopia trên nhiều đối tượng người bệnh như lao, ung thư, HIV/AIDS trong bối cảnh COVID-19 cho thấy: hơn 2/3 số người tham gia nghiên cứu (68,4%) bị căng thẳng vừa phải, 13,9% bị căng thẳng nghiêm trọng và 17,8% có mức độ cảm nhận căng thẳng thấp Sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã đưa ra mối đe dọa lớn đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của đối tượng nghiên cứu bởi họ dễ bị ảnh hưởng bởi điều kiện cuộc sống căng thẳng Sự gián đoạn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ làm cho tình trạng của họ trở nên trầm trọng và căng thẳng hơn, do việc chuyển dịch
vụ y tế khẩn cấp sang những người bệnh COVID-19 (6) Nghiên cứu đánh giá tác động của COVID-19 tới sức khỏe, tâm lý và xã hội trên 360 người sống chung với
HUPH
Trang 13HIV, Lao và khuyết tật tại Việt Nam cũng cho thấy COVID-19 có tác động đến sức khỏe tâm thần của đối tượng nghiên cứu (7)
Ứng phó là những chiến thuật giúp đối mặt với căng thẳng hoặc tổn thương tâm lý nhằm kiểm soát những cảm xúc tiêu cực tốt hơn và giữ được sự ổn định về mặt tâm lý Ứng phó bao gồm thái độ và hành vi mà con người dùng để tự bảo bệ bản thân khỏi những điều kiện bất lợi trong hoàn cảnh mới Việc ứng phó làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố gây căng thẳng lên sức khỏe con người Rất nhiều chiến lược ứng phó cả tích cực và tiêu cực được đưa ra nhằm giải quyết căng thẳng, lo âu
và trầm cảm (8, 9)
Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ là bệnh viện hạng II chuyên khoa Lao và Bệnh phổi với quy mô 200 giường Năm 2021, trước ảnh hưởng của dịch bệnh, bệnh viện được phân công tiếp nhận, điều trị người bệnh COVID-19 nên lượng bệnh giảm đi rất nhiều so với năm 2020 Người bệnh lao và bệnh phổi dưới ảnh hưởng của dịch bệnh hầu như không đến khám tại Bệnh viện
Dịch bệnh COVID-19 đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống cũng như việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người bệnh lao, tăng thêm nguy cơ phát sinh các biểu hiện lo âu, căng thẳng, trầm cảm và làm bệnh nghiêm trọng hơn Chính vì thế, mô tả thực trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm, đồng thời xác định các yếu tố liên quan và cách ứng phó của người bệnh lao đang điều trị là rất quan trọng nhằm giảm thiểu các hậu quả về sức khỏe tâm thần liên quan đến việc bùng phát
dịch Do đó, học viên tiến hành đề tài nghiên cứu: "Lo âu, căng thẳng, trầm cảm
và cách ứng phó ở người bệnh Lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm ở người bệnh Lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ trong bối cảnh COVID-19, năm 2022
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm ở người bệnh Lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ trong bối cảnh COVID-19, năm 2022
3 Mô tả cách ứng phó với lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh Lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ trong bối cảnh COVID-19, năm 2022
HUPH
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Sức khỏe tâm thần
Theo Tổ chức Y tế thế giới, Sức khỏe tâm thần là một bộ phận không thể tách rời của sức khỏe Sức khỏe tâm thần không chỉ là không mắc các rối loạn tâm thần, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, nặng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân Ngoài ra, sức khỏe tâm thần có thể định nghĩa là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng cho mình (10)
1.1.2 Lo âu, căng thẳng, trầm cảm
Lo âu (anxiety): là hiện tượng phản ứng của con người trước những khó khăn
và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua và tồn tại Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa (11) Sự lo âu, lo lắng quá mức xảy ra trong nhiều ngày, kéo dài ít nhất 6 tháng ở nhiều sự kiện hoặc hoạt động ( như công việc, học tập) Rối loạn lo âu bao gồm các rối loạn đặc trưng bởi sự
sợ hãi hoặc lo lắng quá mức, và có liên quan đến những rối loạn nhiều về hành vi (12)
Căng thẳng (stress): là trạng thái của cơ thể khi phản ứng để đương đầu với những hoàn cảnh mới Căng thẳng là kết quả của một sự kiện không mong muốn hay đe dọa từ phía môi trường, và một số điều chỉnh đối với cuộc sống cần được thiết lập để ứng phó với căng thẳng Suy nghĩ, cảm giác, hành vi và tác động thể chất tất cả đều tham gia vào quá trình ứng phó với căng thẳng (9) Rối loạn căng thẳng cấp là một khoảng thời gian ngắn xuất hiện các hồi tưởng mang tính thâm nhập xảy ra trong vòng 4 tuần chứng kiến hoặc trải qua một sự kiện sang chấn rất mạnh (12)
Trầm cảm (depression) là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ
HUPH
Trang 1610, trầm cảm điển hình thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất là 2 tuần Ngoài ra, còn có các triệu chứng khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc
tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng (11)
1.1.3 Khái niệm ứng phó
Ứng phó theo Lazarus và Folkman (1984) là sự thay đổi nhận thức và nỗ lực của cá nhân nhằm phản ứng lại với hoàn cảnh có những thách thức mà cá nhân đánh giá là vượt quá nguồn lực của họ Hai tác giả cho rằng, có hai chiến lược ứng phó
cơ bản là chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề và ứng phó tập trung vào cảm xúc (8) Sau các tác giả trên, Roth và Cohen (1986) đề xuất thêm khái niệm ứng phó
Ứng phó tập trung vào cảm xúc là một chiến thuật nhằm làm giảm nhẹ mức
độ gây hại/gây tổn thương do các tác nhân căng thẳng gây ra Các chiến lược ứng phó tập trung vào cảm xúc phổ biến là: kiểm soát cảm xúc, đánh giá lại ý nghĩa của tình huống khó khăn/căng thẳng; chấp nhận tình huống và trách nhiệm của bản thân; thư giãn/giải trí; chia sẻ cảm xúc, tìm sự an ủi/động viên từ người khác; tìm đến với tôn giáo/tâm linh (8)
Ứng phó né tránh theo Endler và Parker (2000) là sự tránh đối đầu với tình huống khó khăn, căng thẳng thông qua hành vi hoặc thay đổi nhận thức làm phân tâm, sao nhãng sự chú ý của chủ thể đến tình huống khó khăn/căng thẳng Các chiến thuật phổ biến của kiểu ứng phó này là sử dụng các chất kích thích; tránh nói về vấn đề/khó khăn; phủ nhận sự tồn tại của vấn đề; đổ lỗi; tự trách bản thân; giữ khoảng
HUPH
Trang 17cách với tình huống khó khăn/căng thẳng; đầu tư thời gian và sức lực quá mức (nghiện) vào các hoạt động như chơi game, quan hệ tình dục, mua sắm hay làm việc Ứng phó né tránh chỉ có tác dụng tạm thời (8)
1.2 Các thang đo lo âu, căng thẳng, trầm cảm
Hiện nay, có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá các vấn đề về sức khỏe tâm thần trên thế giới Một số bộ công cụ được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học như bộ câu hỏi đánh giá cảm nhận về stress (PSS 10); thang đánh giá lo âu của Beck (13); thang lo âu Zung; thang đánh giá trầm cảm và
lo âu (AKUADS); thang đánh giá trầm cảm, lo âu ở bệnh viện (HADS); thang đánh giá lo âu, căng thẳng, trầm cảm của Lovibond (DASS 21 và DASS 42);…
- Thang đo PSS 10
Thang đo gồm 10 câu dễ hiểu và đơn giản nhằm đo lường mức độ mà chủ thể nhận thấy cuộc sống của họ trong một tháng qua là không thể dự đoán trước, không kiểm soát được và quá tải Điểm số được tính từ 1 đến 50, điểm càng cao cho thấy mức độ stress càng nặng Dưới 34 điểm: stress cấp tính, có thể kiểm soát được;
từ 34 - 40 điểm: bắt đầu quá tải vì stress, không đủ năng lực kiểm soát các trở ngại gặp phải, cần được hỗ trợ để vượt qua; trên 41 - 50 điểm: bị stress nặng, cần được khám và điều trị Thang đo PSS 10 với hệ số Cronbach's Alpha trong khoảng từ 0,67-0,91, là công cụ có độ tin cậy cao (14) Tuy nhiên, hạn chế của thang đo này là vẫn chưa được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam
- Thang đánh giá trầm cảm của Beck (13)
Thang đánh giá trầm cảm Beck (13) được xây dựng bởi Aaron T Beck và các cộng sự vào năm 1961 Đây là một thang tự đánh giá gồm 21 câu hỏi, về cảm xúc bản thân trong vòng 1 tuần trở lại và là một trong những trắc nghiệm tâm lý được sử dụng rộng rãi nhất được sử dụng để đo mức độ nghiêm trọng của chứng rối loạn trầm cảm Mỗi câu hỏi gồm bốn câu lựa chọn, được ấn định thang điểm từ 0-3 tương ứng mức độ của triệu chứng Các câu hỏi từ 1 đến 13 đánh giá các triệu chứng về mặt tâm lý, trong khi các câu từ 14 đến 21 là về các triệu chứng cơ thể (15) Thang đo đã được chuẩn hóa và sử dụng phổ biến tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia từ năm 1989 (16)
HUPH
Trang 18- Thang đánh giá trầm cảm, lo âu ở bệnh viện (HADS)
Thang đánh giá trầm cảm, lo âu ở bệnh viện (HADS) được đề xuất bởi Zigmond và Snaith vào năm 1983, sau đó được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trên thế giới Thang đo có 14 câu, trong đó 7 câu đánh giá về lo âu, 7 câu đánh giá về trầm cảm Thang đo tập trung ở các triệu chứng chủ yếu liên quan tới lo âu, trầm cảm Kết quả được phân tích theo tổng điểm các câu theo 3 mức độ: Không (≤7 điểm), Có triệu chứng của trầm cảm / lo âu (8 - 10 điểm), Trầm cảm / Lo âu (≥11 điểm) (17) Thang đo đã được dịch sang tiếng Việt và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam
- Thang đánh giá trầm cảm PHQ-9 (Patient Health Questionnaire-9)
Thang đánh giá trầm cảm PHQ-9 là một thang có giá trị trong việc tầm soát
và theo dõi triệu chứng trầm cảm Thang đo phù hợp để sử dụng với người lớn và hỏi về các triệu chứng trong hai tuần trước đó Thang đo có 9 câu hỏi dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm của DSM-IV Điểm của các câu hỏi trong thang đo dao động từ 0 đến 3 (0 - không có, 1 - vài ngày, 2 - hơn một nửa số ngày và 3 - hầu như hàng ngày) Tổng điểm PHQ-9 dao động từ 0 đến 27, trong đó điểm số lần lượt
là 5, 10, 15 và 20 tương ứng với trầm cảm nhẹ, trung bình, nặng vừa phải và trầm trọng Thang đo PHQ-9 được sử dụng như là một công cụ kép, vừa phát hiện trầm cảm và vừa phản ánh được mức độ nặng của trầm cảm Tổng điểm PHQ-9 ≥ 10 có
độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 88% đối với trầm cảm điển hình (18) Thang đo PHQ-9
đã được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam (19)
- Thang đo căng thẳng, lo âu, trầm cảm - DASS
Thang đo DASS 42 đã được Lovibond xây dựng vào năm 1995, phiên bản DASS 21 là bản rút gọn được xây dựng vào năm 1997 Thang đo DASS 21 cho phép nhà nghiên cứu tổng lượt về tình hình thực tế của cả ba vấn đề là căng thẳng,
lo âu và trầm cảm Thang đo DASS 21 đã được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu
về sức khỏe tâm thần trên nhiều nhóm đối tượng, trong đó có người bệnh lao, như nghiên cứu của Merina Widyastuti và các cộng sự về mối tương quan giữa tình trạng tinh thần và mức độ lo lắng ở người bệnh lao phổi tại Trung tâm Y tế Perak Timur Surabaya, Indonesia (20); nghiên cứu của Gregory Efosa Erhabor và các
HUPH
Trang 19cộng sự về sự kỳ thị và mối quan hệ của nó với lo âu, trầm cảm, căng thẳng trên người bệnh lao phổi ở Ile-ife, Nigeria (21)
Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia biên dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng nghề nghiệp khác nhau Thang đo DASS 21 đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị, độ tin cậy (hệ số Cronbach’s Alpha DASS
- lo âu là 0,77, DASS - căng thẳng là 0,7 và DASS - trầm cảm là 0,72) và khẳng định có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hóa (22)
Từ những lý do trên, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn thang đo DASS 21 để đánh giá lo âu, căng thẳng, trầm cảm của người bệnh lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ
1.3 Sức khỏe tâm thần và bệnh lao
Người bệnh lao không chỉ đối mặt với các vấn đề về y tế mà còn phải đối mặt với các các vấn đề kinh tế, xã hội Nỗi lo về bệnh tật làm suy giảm chức năng hoạt động xã hội và nghề nghiệp gây ra những căng thẳng đáng kể cho người bệnh lao (23)
Mặc dù bệnh lao có thể chữa khỏi, nhưng nhận thức của phần lớn người dân
về căn bệnh này vẫn chưa đầy đủ Chẩn đoán bệnh lao có thể dẫn đến sốc, lo lắng
và xấu hổ với mức độ cao (23) Chính cảm giác sợ hãi và lo âu về sự lây truyền của bệnh lao đã dẫn đến sự kì thị trong xã hội Từ tác động kì thị bệnh của những người xung quanh đã khiến cho người bệnh lao trở nên e ngại, giấu bệnh, do đó có thể dẫn đến ảnh hưởng về mặt tâm lý
Khi mắc lao, đặc biệt là bệnh lao phổi, người bệnh phải tuân thủ một số nguyên tắc để tránh lây truyền bệnh trong khoảng 2 - 3 tuần sử dụng thuốc điều trị như tách bản thân ra khỏi những người khác và tránh tiếp xúc gần gũi với bất kì ai; ngủ trong phòng ngủ cách xa các thành viên khác trong gia đình; tránh tiếp khách đến thăm nhà (24) Việc hạn chế tiếp xúc và nỗi lo truyền bệnh cho người xung quanh có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của người bệnh lao (25)
Ngoài ra, điều trị lao kéo dài và mệt mỏi về tinh thần với nhiều tác dụng phụ Một số tác dụng phụ ở mức độ nhẹ như buồn nôn, đau đầu, sưng khớp… cho đến mức độ nặng như sốc phản vệ, ù tai, suy thận cấp… (26) Khi hệ thống y tế không
HUPH
Trang 20giải quyết những vấn đề này, người bệnh sẽ giảm khả năng tiếp tục điều trị, họ bị cô lập, mất tự tin và thậm chí có thể tự làm hại bản thân (17, 27)
Việt Nam hiện vẫn nằm trong 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao và lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới Bệnh lao vẫn là một trong những căn bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao trên thế giới Mỗi ngày có gần 28.000 người mắc và hơn 4.100 người tử vong vì bệnh lao (28) Trong đó, 63% người bệnh lao thường, 98% người bệnh lao kháng thuốc và gia đình đối mặt với những chi phí thảm họa - nghĩa
là chi phí cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh lao vượt quá 20% thu nhập hàng năm của cả hộ gia đình; 70% người mắc lao ở trong độ tuổi lao động (29) Trong khi đó, người bệnh chỉ có thể trở lại làm việc hoặc trở lại trường học khi không còn khả năng lây truyền lao cho người khác nữa, điều này có thể dẫn đến những lo lắng về kinh tế, thu nhập, mất việc làm, ảnh hưởng kết quả học tập (24)
1.4 Thực trạng lo âu, căng thăng, trầm cảm ở người bệnh lao
Tỉ lệ trầm cảm ở người bệnh lao được báo cáo thay đổi từ các nghiên cứu khác nhau ở Nigeria (41,1%), Cameron (61,1%) và Pakistan (56%) Ở Wolaita Sodo (Nam Ethiopia), tỉ lệ trầm cảm ở người bệnh lao được thống kê bằng thang đánh giá trầm cảm cộng đồng (PHQ - 9) với kết quả là 43,4% và 54% ở các khu vực khác nhau ở Nam Ethiopia (30) Tại Malaysia, nghiên cứu trên 336 người bệnh lao cho thấy tỉ lệ trầm cảm là 67,1%; tại Philippines, tỉ lệ này là 16,8% trên cỡ mẫu 561 và
ở Đài Loan là 1,71% với cỡ mẫu 4629 người bệnh lao (31)
Năm 2016, tại Ấn Độ, Kunal Kumar và các cộng sự thực hiện nghiên cứu về
tỉ lệ trầm cảm, lo âu ở người bệnh mắc bệnh lao bằng bảng câu hỏi sức khỏe tổng quát 12 (GHQ-12), thang đo Beck (BDI-II) và thang đánh giá mức độ lo âu Hamilton (HARS) Kết quả trong số 100 trường hợp, 74 trường hợp được phát hiện
có các triệu chứng tâm thần, trong đó 35 trường hợp bị trầm cảm (47,3%) và 39 trường hợp bị lo âu (52,7%) (32)
Một nghiên cứu của Mustefa Mohammedhussein và các cộng sự (năm 2020) trên 410 người bệnh lao phổi đang điều trị tại các cơ sở y tế công cộng ở Tây Nam Ethiopia bằng thang đo HADS cho thấy: hơn một nửa số người tham gia nghiên cứu
HUPH
Trang 21được phát hiện có khả năng bị trầm cảm và lo lắng Tỉ lệ trầm cảm và lo âu ở người bệnh lao phổi đang điều trị lần lượt là 229 (55,9%) và 224 (54,6%) (3)
Theo nghiên cứu của Gregory Efosa Erhabor và các cộng sự trên 202 người bệnh lao phổi ở Bệnh viện Đại học Obafemi Awolowo, Ile-ife, Nigeria (năm 2020) bằng bộ công cụ DASS 21, tỉ lệ lo âu là 56,4%, trầm cảm 14,4% và căng thẳng là 17,3% (21)
Nghiên cứu năm 2018 tại Trung Quốc trên 1.342 người bệnh lao đã được tuyển chọn bằng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn và phỏng vấn bằng thang
đo trầm cảm của Trung tâm Nghiên cứu Dịch tễ học (CES-D) Trong số 1.342 người tham gia nghiên cứu này, 48,0% có các triệu chứng trầm cảm Trong số này, 34,8% và 13,2% có các triệu chứng trầm cảm nhẹ và trung bình đến nặng (33)
Từ một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy, hầu hết các nghiên cứu đều mô
tả tỉ lệ biểu hiện của lo âu, căng thẳng và trầm cảm Tỉ lệ trầm cảm ở người bệnh lao dao động từ 1,71% đến 87,5% và lo âu từ 7,14% đến 74% Khác biệt có thể là do sự không giống nhau trong thiết kế nghiên cứu, công cụ thu thập dữ liệu, cỡ mẫu và sự khác biệt về người tham gia và dân số quốc gia
Mặc dù tỉ lệ mắc bệnh lao cao, tuy nhiên tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về các biến chứng tâm thần của nó Trong khả năng tìm tài liệu, chúng tôi chỉ tìm thấy nghiên cứu của Đặng Việt Hùng và các cộng sự (2004); nghiên cứu một số đặc điểm rối loạn tâm lý ở 110 người bệnh lao phổi tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Hải Phòng bằng thang đo lo âu Zung, nhóm chứng là 50 người khỏe mạnh từ 6/2002 đến 2/2003 Kết quả: 36,36% người bệnh có thay đổi tính tình; 28,18% rối loạn ám ảnh; 4,55% ý tưởng bị chi phối; 2,73% có ảo thanh và 1,82% có ảo thị Tỉ lệ trầm cảm: người bệnh lao phổi là 45,55%, nhóm chứng là 14% Trầm cảm nhẹ 32,73%, trầm cảm vừa 10,91%, trầm cảm nặng 0,91% Rối loạn lo âu là 36,36% (5)
1.5 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm ở người bệnh lao
Cũng như các rối loạn tâm thần khác, mặc dù nhiều nghiên cứu đã chỉ ra một
số dữ liệu, tuy nhiên cho đến nay khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra lo âu, căng thẳng, trầm cảm Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được một số yếu tố liên quan đến các rối loạn đó, bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố môi
HUPH
Trang 22trường, yếu tố xã hội Sự phân chia chỉ có tính tương đối, bởi lo âu, căng thẳng, trầm cảm có thể xuất hiện khi có sự tác động của nhiều yếu tố
1.5.1 Bối cảnh COVID-19
Kể từ khi được WHO công bố là “Đại dịch toàn cầu” vào cuối tháng 01/2020, virus SARS-CoV-2 đã có tác động tiêu cực rất lớn đến sự phát triển của toàn xã hội, không chỉ Việt Nam mà trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến kinh tế xã hội, tâm lý người dân và các dịch vụ Tính đến 22h42 ngày 19/9/2022 (giờ Việt Nam), toàn thế giới đã ghi nhận 617.417.815 ca COVID-19, trong đó có 6.531.369
ca tử vong Số người bệnh được điều trị khỏi là 597.132.522 người (34)
Kể từ đầu dịch đến 18h30 ngày 19/9/2022, Việt Nam ghi nhận 11.460.227 ca nhiễm, đứng thứ 13/230 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỉ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 115/230 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 115.814 ca nhiễm) (34) Riêng tại thành phố Cần Thơ, tính đến 18h ngày 19/9/2022, toàn thành phố ghi nhận 58.663 ca nhiễm COVID-19, trong đó có
911 trường hợp tử vong
Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước mô tả thực trạng và các yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm nhiều nhóm đối tượng như người dân, sinh viên, cán bộ y tế, những người mắc các bệnh cần chữa trị dài ngày… trong bối cảnh COVID-19, có thể kể đến các nghiên cứu:
- Trên thế giới:
Nghiên cứu của Valentina Delle Donne và các cộng sự (2020) về tác động tâm lý của đại dịch COVID-19 trong một nhóm thuần tập những người sống chung với HIV cho thấy: trong số 98 người tham gia nghiên cứu, 45% có mức độ ảnh hưởng tâm lý từ nhẹ đến nặng do COVID-19; tỉ lệ trầm cảm 14%, lo lắng 11% và căng thẳng 6% (35) Nghiên cứu của Erfan Ayubi và các cộng sự (2021) về trầm cảm và lo âu ở người bệnh ung thư trong bối cảnh COVID-19 cho thấy: người bệnh ung thư có thể lo lắng về COVID-19 và ảnh hưởng của nó đối với việc điều trị, tái phát và tiến triển của bệnh; tỉ lệ lo âu, trầm cảm nhẹ - trung bình - nặng có thể vượt quá 30% và những người bệnh này lo lắng nhiều hơn so với nhóm chứng khỏe mạnh trong đại dịch COVID-19 (36) Hay một nghiên cứu của Michael L Tee và
HUPH
Trang 23các cộng sự (2020) đánh giá tác động tâm lý của đại dịch COVID-19 bằng thang đo DASS 21 ở Phillipines cho thấy: trong tổng số 1879 cuộc khảo sát trực tuyến, 16,3% số người được hỏi đánh giá tác động tâm lý của đợt bùng phát là trung bình đến nghiêm trọng; 16,9% cho biết có các triệu chứng trầm cảm từ trung bình đến nặng; 28,8% có mức độ lo lắng từ trung bình đến nặng; và 13,4% có mức độ căng thẳng từ trung bình đến nặng Trong đó các yếu tố liên quan được xác định bao gồm giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng giãn cách xã hội, lo lắng cho các thành viên trong gia đình, sự phân biệt đối xử có liên quan đáng kể đến tác động tâm lý và mức độ căng thẳng, lo âu, trầm cảm (37)
- Tại Việt Nam:
Một nghiên cứu đánh giá tác động của COVID-19 tới sức khỏe, tâm lý và xã hội trên 360 người sống chung với HIV, Lao và khuyết tật tại Việt Nam cho thấy COVID-19 có tác động đến sức khỏe tâm thần của đối tượng nghiên cứu Đại dịch
đã ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu và các hoạt động dự phòng Đồng thời, những người tham gia phải đối mặt với những thách thức về sức khỏe tâm thần chủ yếu do thu nhập của họ giảm mạnh vì mất việc làm, phải tự bỏ tiền mua thuốc hỗ trợ, việc điều trị bị gián đoạn hoặc thậm chí bị dừng lại vì lo sợ nhiễm COVID-19 (7)
1.5.2 Yếu tố cá nhân
Tuổi:
Ở nhóm người bệnh lao dưới 25 tuổi, tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm thấp hơn 50%
so với nhóm trên 35 tuổi (50% tác dụng bảo vệ không phát triển bệnh trầm cảm) [AOR = 0,5; 95% CI 0,26-0,99] Những người có độ tuổi lớn hơn thường có nguy
cơ lo âu, căng thẳng, trầm cảm cao hơn, các triệu chứng tâm thần xuất hiện nhiều hơn ở các trường hợp cao tuổi bị bệnh lao (30) Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Wang Xiao-bo và các cộng sự (2018) tại Trung Quốc lại xác định rằng, tuổi trẻ (18-
30 tuổi) có nguy cơ mắc trầm cảm cao hơn Nguy cơ gia tăng trầm cảm ở người trẻ tuổi có thể do áp lực xã hội và cảm giác xấu hổ khi được chẩn đoán mắc bệnh lao (27) Mặt khác, nghiên cứu trong bối cảnh COVID-19 tại Ethiopia của Sisay Gedamu Addis và các cộng sự (2020) chỉ ra rằng tuổi từ 35 đến 54 (AOR = 2,4;
HUPH
Trang 2495% CI: 1,2-5,1) và ≥55 tuổi (AOR = 2,9; 95%CI: 1,4-6,0) liên quan đáng kể đến tác động tâm lý đối với người bệnh mắc các bệnh phải điều trị dài ngày (38)
nữ được phát hiện mắc trầm cảm là 132 (66,3%), cao hơn so với nam là 97 (46,0%); phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy tỉ lệ lo âu ở nữ cao hơn 2,4 lần (AOR = 2,4; 95% CI: 1,4-4,2) so với nam (3) Cũng trong nghiên cứu của Sisay Gedamu Addis và các cộng sự, nữ giới có tác động tâm lý bất thường cao hơn trong bối cảnh COVID-19
Trình độ học vấn
Nghiên cứu của Erhabor và các cộng sự đã chỉ ra rằng, trình độ học vấn thấp
có thể ngăn cản một cá nhân tiếp cận với hầu hết các công việc chuyên môn và do
đó có nguồn thu nhập thấp Hơn nữa, cả hai đều có thể dẫn đến tổn thương kinh tế
và bất lợi xã hội, và do đó làm tăng nguy cơ và tạo ra tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của người bệnh (21) Người bệnh có trình độ học vấn thấp hơn có nhiều khả năng bị các triệu chứng trầm cảm và đau khổ tâm lý (23)
Thu nhập
Thu nhập thấp ở người bệnh lao có thể dẫn đến trầm cảm (30) Thu nhập thấp sẽ dẫn đến khó trang trải chi phí điều trị, ngay cả khi thuốc chống lao được cung cấp miễn phí Các chi phí cho nhu cầu dinh dưỡng bổ sung, đi lại và những
HUPH
Trang 25ngày nghỉ làm do mệt mỏi, đau ngực và các triệu chứng của bệnh lao dẫn đến thu nhập thấp hơn và thu nhập thấp hơn sẽ dẫn đến đau khổ tâm lý do không thể đáp ứng nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình của họ
Nghề nghiệp
Nghề nghiệp có liên quan đến tỉ lệ trầm cảm ở người bệnh lao Nông dân, nội trợ, người làm nghề tự do có triệu chứng trầm cảm cao hơn ở nhóm sinh viên, những người làm việc ở các cơ quan nhà nước (30) Điều đó cho thấy, những người
có công việc không ổn định hoặc thất nghiệp có các vấn đề về sức khỏe tâm thần cao hơn những người có công việc ổn định
Quy mô hộ gia đình
Kết quả nghiên cứu của Abel Girma và các cộng sự về biểu hiện căng thẳng trong bối cảnh COVID-19 ở những người mắc các bệnh phải điều trị dài ngày bằng
bộ công cụ PSS cho thấy: những người trả lời khảo sát có năm thành viên gia đình trở lên có mức độ căng thẳng liên quan đến COVID-19 cao hơn đáng kể so với những người có ít hơn năm thành viên trong gia đình (6) Theo nghiên cứu của Almamy Amara Touré và các cộng sự về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của người bệnh lao trong Đại dịch COVID-19 ở Conakry, Guinea sử dụng thang đo tác động quy mô sự kiện (IES-R) và thang đo chất lượng cuộc sống (EQ-5D-3L), trong phân tích đơn biến, quy mô hộ gia đình có liên quan đáng kể đến lo
âu, căng thẳng và trầm cảm Kết quả phân tích đa biến của nghiên cứu cho thấy, khi quy mô hộ gia đình tăng một đơn vị, nguy cơ biểu hiện căng thẳng lớn hơn 1,08 lần (OR = 1,08, 95% CI: 1,03-1,14, p = 0,002 (25)
Tình trạng bệnh
Theo nghiên cứu của Tamirat Tesfaye Dasa và cộng sự, những người bệnh mới được chẩn đoán mắc lao có liên quan đến trầm cảm (AOR = 0,39; 95% CI: 0,2-0,7) Điều này có thể liên quan đến các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lao, đặc biệt là trong 3 tháng đầu mà người bệnh chưa quen với tình trạng bệnh và các can thiệp tâm lý hầu như không có (30) Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng đang điều trị lao (AOR = 11,2; 95% CI: 5,2-31,1) và đã ngừng điều trị (AOR = 8,2; 95% CI: 1,1-23,3) là các yếu tố liên quan đến khả năng bị trầm cảm cao hơn (39)
HUPH
Trang 261.5.3 Yếu tố môi trường
Kể từ thời điểm cuối tháng 4 năm 2021, bắt đầu giai đoạn 4 của Đại dịch COVID-19 tại Việt Nam, với quy mô đại dịch lớn nhất từ trước đến nay tại nước ta,
sự ảnh hưởng là không thể tránh khỏi và đã làm gián đoạn hoạt động của Chương trình chống lao Quốc gia nhiều nhất kể từ đầu năm 2020 Một số cơ sở điều trị lao phải chuyển đổi công năng một phần hoặc hoàn toàn để tiếp nhận cách ly, điều trị người bệnh COVID-19, do đó nhiều đơn vị lâm vào tình trạng thiếu nhân lực cho các hoạt động thường quy, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh Các hoạt động tại cộng đồng không thể triển khai do không được phép tập trung đông người (1) Cùng với nỗi sợ nhiễm COVID-19 trong đại dịch, những thay đổi đáng kể trong cuộc sống hàng ngày như giãn cách xã hội, hạn chế đi lại, khó tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh hay việc đã/chưa được tiêm vaccine ngừa COVID-19… là các nguyên nhân có thể dẫn đến các biểu hiện lo âu, căng thẳng, trầm cảm (40, 41) Bên cạnh đó, theo Rie Lambæk Mikkelsen và cộng sự về trầm cảm và lo lắng của nhóm người bệnh COPD trong bối cảnh COVID-19 năm 2020, tình trạng cách ly có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần trên nhóm đối tượng này (42)
1.5.4 Yếu tố kinh tế, xã hội
Thiếu sự hỗ trợ
Trong phân tích đa biến ở nghiên cứu của Sisay Gedamu Addis và các cộng
sự (2020), đánh giá tác động về mặt tâm lý của COVID-19 trên 413 người bệnh mắc các bệnh như lao, HIV/AIDS, ung thư… ở Đông Bắc Ethiopia, việc không có hỗ trợ
xã hội có liên quan đáng kể đến tác động tâm lý bất thường của COVID-19 trên đối tượng nghiên cứu (38) Nghiên cứu tương tự của Hajure M và các cộng sự cũng chỉ
ra sự thiếu hỗ trợ xã hội có tác động đến lo âu, trầm cảm trên người bệnh đang điều trị trong bối cảnh COVID-19 (43)
Sự kì thị
Sự kỳ thị của xã hội có liên quan đến chứng trầm cảm và lo lắng ở người bệnh lao Kỳ thị và phân biệt đối xử khiến mức độ tiếp nhận các dịch vụ y tế thấp, chẩn đoán muộn và tuân thủ điều trị không đầy đủ; tăng nguy cơ kháng thuốc (31)
HUPH
Trang 27Kết quả nghiên cứu của Mustefa Mohammedhussein về tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến trầm cảm và lo âu ở người bệnh lao phổi tại Ethiopia cho thấy sự kì thị có liên quan đến tình trạng trầm cảm ở người bệnh lao phổi (AOR = 3,6; 95% CI: 1,99-6,53) Theo kết quả nghiên cứu của Almamy Amara Touré và các cộng sự, người bệnh lao thường gặp phải sự kì thị và đại dịch COVID-19 đã làm tăng số lượng kì thị đối với những người có các triệu chứng có thể gợi ý đến COVID-19 (25) Theo nghiên cứu của Li-Yun Lee RN trên 84 người bệnh lao bằng thang đo trầm cảm BECK-II và các cộng sự vào năm kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến chỉ
ra rằng sự kì thị về bệnh lao và chỉ số khối cơ thể của người bệnh chiếm 34% sự biến thiên của bệnh trầm cảm (44)
Khó khăn khi tìm việc
Kết quả nghiên cứu của T.H Holmes và các cộng sự, tình trạng thất nghiệp
có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của người bệnh lao (45) Mặt khác, theo Rie Lambæk Mikkelsen và cộng sự nghiên cứu về trầm cảm và lo lắng của nhóm người bệnh COPD - nhóm bệnh điều trị dài ngày, tình trạng khó khăn khi tìm việc trong bối cảnh COVID-19 có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần trên nhóm đối tượng này (42)
1.6 Ứng phó với lo âu, căng thẳng, trầm cảm và thang đo ứng phó
1.6.1 Ứng phó với lo âu, căng thẳng, trầm cảm
Căng thẳng là cách mà cơ thể phản ứng về mặt sinh lý, cảm xúc, tâm lý; qua
đó báo hiệu cho chúng ta những thay đổi đang vượt quá khả năng chịu đựng Lo âu, căng thẳng là một phần tất yếu trong cuộc sống, tuy nhiên căng thẳng kéo dài có thể
là nguyên nhân thúc đẩy rối loạn lo âu và trầm cảm (11) Do đó, ứng phó là những chiến thuật giúp đối mặt với căng thẳng hoặc tổn thương tâm lý nhằm kiểm soát những cảm xúc tiêu cực tốt hơn và giữ được sự ổn định về mặt tâm lý Ứng phó bao gồm thái độ và hành vi mà con người dùng để tự bảo bệ bản thân khỏi những điều kiện bất lợi trong hoàn cảnh mới Việc ứng phó làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố gây căng thẳng lên sức khỏe con người (8, 9)
Ứng phó là một quá trình chủ động Mỗi cá nhân sẽ áp dụng một vài chiến lược khác nhau, và khi một chiến lược nào đó thành công thì người đó sẽ tiếp tục sử
HUPH
Trang 28dụng chiến lược đó Còn nếu thất bại thì người đó sẽ cố gắng thử những cách khác hoặc có thể là sẽ bỏ cuộc
Rất nhiều chiến lược ứng phó cả tích cực và tiêu cực được đưa ra nhằm giải quyết căng thẳng, lo âu và trầm cảm Việc tham gia vào các hoạt động giải trí, ví dụ như thể thao, đọc sách, xem phim… và có những mạng lưới xã hội gắn bó Hỗ trợ
xã hội bao gồm sự thoải mái, quan tâm, quý trọng, sự ủng hộ và giúp đỡ mà một người nhận được từ bạn bè, gia đình, và từ các mối quan hệ Hỗ trợ xã hội là một yếu tố quan trọng giúp ứng phó với lo âu, căng thẳng, trầm cảm vì sẽ nhìn nhận các
sự kiện/tình huống ít nghiêm trọng hơn
Ứng phó tập trung vào vấn đề thường bắt đầu bằng sự đánh giá, xác định vấn đề/nguyên nhân gây ra căng thẳng/cảm xúc tiêu cực Sau khi đã xác định được vấn
đề thì chủ thể sẽ nghĩ đến các cách thức khác nhau để giải quyết vấn đề đó Giai đoạn tiếp theo là chủ thể lựa chọn một hay vài cách thức tối ưu nhất để giải quyết vấn đề Các cách giải quyết thường gặp là loại bỏ hoàn toàn vấn đề; hóa giải vấn đề (biến nó thành một dạng khác không còn gây hại cho bản thân) hoặc thay đổi một số yếu tố của vấn đề làm giảm tính đe dọa/gây hại của nó Tuy vậy, các tình huống khách quan gây gây căng thẳng hay các cảm xúc tiêu cực khác không phải dễ thay đổi hoặc không phải lúc nào cũng có thể thay đổi Vì thế, ứng phó bằng cách giải quyết vấn đề không phải lúc nào cũng hiệu quả, do vậy con người cần đến cách ứng phó tập trung vào cảm xúc
Ứng phó tập trung vào cảm xúc bao gồm những cố gắng trong việc điều chỉnh, làm giảm tác động về mặt cảm xúc của các sự kiện/tình huống lo âu, căng thẳng Khi phản ứng với các sự kiện căng thẳng, cách ứng phó tập trung vào cảm xúc cũng bao gồm những hành động đánh giá lại tình huống đó, tìm kiếm sự giúp
đỡ về mặt tình cảm hay tìm sự yên tâm từ những người khác, cố gắng chấp nhận vấn đề nếu như không thể làm gì hơn, và giãi bày cảm xúc (bằng cách khóc hay trêu đùa) Cách ứng phó tập trung vào cảm xúc thường được sử dụng khi sự kiện căng thẳng đã qua, hay khi không thể thay đổi được tình huống
HUPH
Trang 29Hành vi né tránh được chứng minh là phong cách ứng phó dễ sai lầm nhất vì
nó có liên quan đến việc gia tăng căng thẳng, lo lắng và trầm cảm, trong khi ứng phó tập trung vào vấn đề dường như làm giảm các triệu chứng trầm cảm
1.6.2 Thang đo ứng phó
Trên thế giới có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá các vấn đề về sức khỏe tâm thần Một số bộ công cụ được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học như Bộ câu hỏi về các phản ứng với căng thẳng (Responses to Stress Questionaire), Thang đo Ứng phó với các tình huống căng thẳng (CISS), Định hướng đối phó với trải nghiệm vấn đề của thanh thiếu niên (Adolescent Coping Orientation for Problem Experiences), Thang đo Brief-COPE…
a) Bộ câu hỏi về các phản ứng với căng thẳng (Responses to Stress Questionaire)
Bộ câu hỏi về các phản ứng với căng thẳng gồm 10 tiểu mục được sử dụng nhằm đo lường mức độ thường xuyên sử dụng 30 cách ứng phó với điểm số từ 1 đến 4 (1-Không bao giờ, 2-Thỉnh thoảng, 3-Thường xuyên và 4-Rất thường xuyên) Mỗi tiểu mục có 3 tiểu thang, tương ứng với 10 chiến lược ứng phó bao gồm Giải quyết vấn đề, Điều hòa cảm xúc, Bộc lộ cảm xúc, Chấp nhận, Sao nhãng, Thay đổi nhận thức, Suy nghĩ tích cực, Chối bỏ, Né tránh, Mong ước Điểm trung bình của các mục trong một tiểu thang phản ánh mức độ thường xuyên sử dụng chiến lược ứng phó tương ứng Điểm trung bình của một tiểu thang càng cao thì mức độ thường xuyên sử dụng chiến lược ứng phó tương ứng càng cao và ngược lại Độ nhất quán bên trong của toàn thang đo và mỗi tiểu thang theo chỉ số Cronbach’s Alpha lần lượt là 0,79, 0,51, 0,27, 0,37, 0,61, 0,52, 0,50, 0,38, 0,54, 0,47, 0,68 (46) Tại Việt Nam, thang đo được sử dụng trong một số nghiên cứu về ứng phó với căng thẳng học tập ở đối tượng học sinh, sinh viên
b) Thang đo Ứng phó với các tình huống căng thẳng (CISS)
Endler và Parker (1990) đã phát triển thang đo Ứng phó với các tình huống căng thẳng (CISS) gồm 48 mục bao gồm 16 tiểu mục Các chiến lược ứng phó bao gồm Ứng phó tập trung vào nhiệm vụ (Task-oriented coping), Ứng phó tập trung vào cảm xúc (Emotion-oriented coping) và Ứng phó né tránh (Avoidance-oriented
HUPH
Trang 30coping) Những người được hỏi đánh giá tần suất họ sử dụng từng chiến lược được liệt kê trong công cụ trên thang điểm năm, từ 1- “Không bao giờ” đến 5- “Rất nhiều” Nghiên cứu của Endler và Parker (1994) đã đánh giá các thuộc tính của CISS đồng thời chứng minh tính nhất quán nội tại cao (trong khoảng từ 0,83 đến 0,90) CISS cũng đã được chuẩn hóa ở các quốc gia khác nhau như Nhật Bản và thể hiện tính nhất quán bên trong tương tự trong các bối cảnh này Tuy nhiên, các nghiên cứu kiểm chứng về CISS đã gợi ý rằng cấu trúc nhân tố có thể khác nhau tùy theo bối cảnh văn hóa (47, 48) Tại Việt Nam, thang đo được sử dụng ở phiên bản rút gọn trong một số nghiên cứu trên nhóm đối tượng thanh thiếu niên và người trưởng thành
c) Thang đo Brief-COPE
Thang đo Brief-COPE của Carver và cộng sự, bao gồm 28 mục, đã được dịch sang tiếng Việt bởi Shoko Matsumoto và các cộng sự (49) được thiết kế để đo lường những cách ứng phó hiệu quả và không hiệu quả với một sự kiện căng thẳng trong cuộc sống Thang đo thường được sử dụng trong các cơ sở y tế để xác định xem người bệnh đang phản ứng như thế nào về mặt cảm xúc đối với một tình huống nghiêm trọng
Thang đo khả năng ứng phó Brief-COPE gồm 28 câu hỏi thuộc 14 khía cạnh, đánh giá khả năng ứng phó cá nhân tương đối ổn định trên các loại yếu tố gây căng thẳng khác nhau Brief-COPE có thể xác định cách ứng phó của một cá nhân trên ba nhóm: tập trung vào vấn đề (8 mục), tập trung vào cảm xúc (12 mục), hành vi né tránh (8 mục) Thang điểm được tính Có 4 mức độ khả năng ứng phó: không có khả năng ứng phó (≤28 điểm), có khả năng ứng phó thấp (29 - 56 điểm), có khả năng ứng phó vừa (57 - 84 điểm), có khả năng ứng phó cao (≥85 điểm) Điểm số được tính dưới dạng trung bình tương ứng với từng biến số (tổng điểm của mục chia cho
số mục), cho biết mức độ mà người tham gia đã sử dụng cách ứng phó đó (50, 51)
- Ứng phó tập trung vào vấn đề (mục 2, 7, 10, 12, 14, 17, 23, 25): đặc trưng bởi các khía cạnh ứng phó tích cực, lập kế hoạch và tìm kiếm nguồn hỗ trợ Điểm khảo sát cao cho thấy các chiến lược ứng phó nhằm thay đổi tình hình căng thẳng;
HUPH
Trang 31thể hiện sức mạnh tâm lý, sự gan dạ, một cách tiếp cận thực tế để giải quyết vấn đề
và dự đoán kết quả tích cực
- Ứng phó tập trung vào cảm xúc (Mục 5, 9, 13, 15, 18, 20, 21, 22, 24, 26,
27, 28): đặc trưng bởi các khía cạnh trút giận, chia sẻ cảm xúc, hài hước, chấp nhận,
tự trách bản thân và tôn giáo Điểm khảo sát cao cho thấy các chiến lược ứng phó nhằm điều chỉnh cảm xúc liên quan đến tình huống căng thẳng
- Hành vi né tránh (mục 1, 3, 4, 6, 8, 11, 16, 19): đặc trưng bởi các khía cạnh của sự mất tập trung, từ chối, sử dụng chất kích thích và hành vi buông thả Điểm cao cho thấy nỗ lực về thể chất hoặc nhận thức để thoát khỏi tác nhân gây căng thẳng Điểm thấp thường là biểu hiện của khả năng ứng phó thích nghi
Trong phạm vi thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng thang đo Brief-COPE để
đo lường cách ứng phó với căng thẳng, lo âu, trầm cảm của người bệnh lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ
Thang đo BriefCOPE được thiết kế để đo lường những cách ứng phó hiệu quả và không hiệu quả với một sự kiện căng thẳng trong cuộc sống Theo một nghiên cứu về mối quan hệ giữa lo lắng, chiến lược ứng phó và đặc điểm của người bệnh tiểu đường tại Thổ Nhĩ Kỳ, các chiến lược ứng phó được sử dụng thường xuyên nhất là chấp nhận, tôn giáo, lập kế hoạch, tìm kiếm nguồn hỗ trợ, tự đánh lạc hướng bản thân và trút giận (52) Kết quả nghiên cứu của Pashtoon Murtaza Kasi và các cộng sự tại Pakistan cũng cho thấy ở những người bệnh có lo âu và trầm cảm, tôn giáo là chiến lược ứng phó phổ biến nhất được sử dụng, tiếp theo là chấp nhận, tìm kiếm nguồn hỗ trợ và ứng phó tích cực (53)
Tại Việt Nam, thang đo BriefCOPE đã được chuẩn hóa, sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đo lường cách ứng phó với căng thẳng, lo âu, trầm cảm (49) Kết quả nghiên cứu về mối liên hệ giữa chiến lược ứng phó và mức độ stress của giáo viên can thiệp trẻ rối loạn phổ tự kỷ của Nguyễn Thị Bích Tuyền và cộng sự tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cho thấy chiến lược ứng phó với stress phổ biến nhất của đối tượng nghiên cứu là tập trung vào vấn đề (ĐTB = 2,02), tiếp theo là tập trung vào cảm xúc (ĐTB = 1,793) và cuối cùng là hành vi né tránh (ĐTB = 0,912) (54) Trong nghiên cứu của Võ Ý Lan về khả năng ứng phó với chẩn đoán - điều trị
HUPH
Trang 32và các yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư vú tại Bệnh viện Ung bướu thành phố
Hồ Chí Minh, 88,51% đối tượng có khả năng ứng phó vừa, 11,11% khả năng ứng phó thấp và 0,38% khả năng ứng phó cao (55)
Thang đo Brief-COPE đã được chuẩn hóa và sử dụng trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam (49), đồng thời phù hợp với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu chúng tôi Do đó, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn thang đo Brief-COPF để đánh giá, mô tả các chiến lược ứng phó của người bệnh lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ
1.7 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ là bệnh viện hạng II chuyên khoa lao và bệnh phổi với quy mô 200 giường, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế thành phố Bệnh viện chịu sự quản lý toàn diện của Sở Y tế về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành Y
tế thành phố Cần Thơ; đồng thời chịu sự quản lý và chỉ đạo về chuyên môn kỹ thuật của Bệnh viện phổi Trung ương Bệnh viện thực hiện hai chức năng khám và điều trị nội trú lao và bệnh phổi cho người bệnh tại thành phố Cần Thơ và các tỉnh lân cận; quản lý điều trị ngoại trú, giám sát hoạt động chương trình mục tiêu quốc gia (Chương trình chống lao, Chương trình hen phế quản và COPD) Bên cạnh công tác khám, chữa bệnh, Bệnh viện còn là cơ sở thực hành của trường Đại học Y Dược Cần Thơ và trường Đại học Võ Trường Toản Bệnh viện đang từng bước hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng kỹ thuật và chăm sóc người bệnh, định hướng phát triển là bệnh viện chuyên khoa lao và bệnh phổi hiện đại, chuyên sâu và trở thành Bệnh viện của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Năm 2021, trước ảnh hưởng của dịch bệnh, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi được phân công tiếp nhận, điều trị người bệnh COVID-19 theo phân loại tầng 2 và tầng 3 với cơ số 150 giường (50 giường hồi sức), đồng thời duy trì công tác khám chữa bệnh thường quy Từ ngày 08/7/2021 đến ngày 17/11/2021, bệnh viện đã tiếp nhận 594 người bệnh Covid -19, trong đó có 130 người bệnh phân mức tầng 3 và
464 người bệnh phân mức tầng 2 Bệnh viện sắp xếp các ekip luân phiên vào khu
HUPH
Trang 33điều trị; bên cạnh đó triển khai các kỹ thuật mới đáp ứng kịp thời công tác theo dõi điều trị tại bệnh viện và hỗ trợ xét nghiệm tầm soát cộng đồng cho thành phố
Năm 2020, với 100 giường kế hoạch được giao, bệnh viện tiếp nhận 4.766 lượt người bệnh điều trị nội trú (chiếm tỉ lệ 170,21% so với kế hoạch năm), trong đó lao các thể là 2.642 lượt, lao phổi 1.535 lượt (2) Năm 2021, trước ảnh hưởng của dịch bệnh, trong 6 tháng đầu năm 2021, bệnh viện tiếp nhận 2.314 lượt người bệnh điều trị nội trú (chiếm tỉ lệ 68,06% kế hoạch năm) với 1024 người bệnh lao các thể
Từ tháng 7-9/2021, bệnh viện phần lớn chỉ tiếp nhận điều trị người bệnh
COVID-19, người bệnh lao và bệnh phổi dưới ảnh hưởng của dịch bệnh hầu như không đến khám tại bệnh viện Đến tháng 10/2021, ở trạng thái bình thường mới, bệnh viện điều trị song song người bệnh COVID-19 (cơ số 150 giường) và người bệnh lao (cơ
Trang 34- Ứng phó tập trung vào vấn đề
- Ứng phó tập trung vào cảm xúc
- Hành vi né tránh
Thực trạng
lo âu, căng thẳng, trầm cảm
- Tình trạng tiêm ngừa COVID-19
Yếu tố môi trường
- Tình trạng tiếp cận với dịch vụ y tế
- Chất lượng chăm sóc của nhân viên y
tế
- Tình trạng cách ly/theo dõi sức khỏe
của đối tượng nghiên cứu
Yếu tố kinh tế, xã hội
- Thiếu sự hỗ trợ
- Bị kì thị, xa lánh
- Khó khăn trong tìm việc
HUPH
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh Lao đang điều trị nội trú (là người bệnh làm thủ tục nhập viện vào các khoa lâm sàng trong bệnh viện) tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ
* Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Người bệnh ≥18 tuổi, đang điều trị tại các khoa lâm sàng trong bệnh viện
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh đang phải điều trị hồi sức tích cực
- Người bệnh không biết chữ
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 10/2021-10/2022
- Thời gian thu thập số liệu: từ 27/01-20/4/2022
- Địa điểm nghiên cứu: tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu
Để ước tính cỡ mẫu cho mục tiêu nghiên cứu 1 - thực trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm ở người bệnh Lao đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ trong bối cảnh COVID-19, năm 2022 Áp dụng công thức ước lượng 1 tỉ lệ:
2
2 2 /
d
p p z
d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,1
HUPH
Trang 36Thay số vào công thức trên ta được cỡ mẫu ước lượng tối thiểu là n = 96 Với tỉ lệ không phản hồi là 10%, số đối tượng cần tiếp cận là 107
Để ước tính cỡ mẫu đáp ứng mục tiêu nghiên cứu 3 - số người bệnh lao có
ứng phó với các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong bối cảnh COVID-19 - ta áp dụng công thức ước lượng 1 tỉ lệ:
2
2 2 /
d
p p z
d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,1
Thay số vào công thức trên ta được cỡ mẫu ước lượng tối thiểu là n = 38 Với tỉ lệ không phản hồi là 10%, số đối tượng cần tiếp cận là 42
So sánh hai cỡ mẫu của mục tiêu 1 và mục tiêu 3, nhóm nghiên cứu chọn cỡ mẫu tính theo mục tiêu 1 là 107
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Từ tháng 01-9/2021 bệnh viện tiếp nhận 1053 người bệnh lao các thể đến điều trị nội trú, đủ điều kiện tham gia nghiên cứu Trung bình 1 tháng có 117 người bệnh thỏa tiêu chí chọn mẫu Do tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp ở thời điểm lấy mẫu, nhóm nghiên cứu đã chọn liên tiếp người bệnh từ 27/01-20/4/2022 cho đến khi đủ mẫu
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên lược khảo tài liệu nội dung nghiên cứu các yếu tố liên quan đến lo âu, căng thẳng, trầm cảm và cách ứng phó của người bệnh lao, gồm 3 phần:
- Phần 1: Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm
HUPH
Trang 37- Phần 2: câu hỏi về tình trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm (thang đo DASS 21)
- Phần 3: câu hỏi về cách ứng phó với khó khăn trong cuộc sống (bộ công cụ Brief-COPE)
Bộ công cụ được tiến hành thử nghiệm trên 10 người bệnh để kiểm tra tính phù hợp và khả thi trước khi thu thập số liệu chính thức Sau khi thử nghiệm, bộ công cụ được chỉnh sửa cho phù hợp và in ấn phục vụ tập huấn và điều tra
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
Các đặc điểm, các yếu tố liên quan được thu thập bằng cách phát vấn Phiếu được phát sau khi người bệnh nhập viện điều trị tại các khoa lâm sàng từ 1-2 ngày
2.6.3 Quy trình thu thập số liệu
- Nhóm nghiên cứu đã trao đổi với Ban Giám đốc Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ để được phép tiến hành và phối hợp với các khoa lâm sàng triển khai nghiên cứu từ ngày 27/01/2022
- Thống nhất kế hoạch với các khoa lâm sàng về thời gian thu thập số liệu, tập huấn cho người thu thập số liệu Nhóm nghiên cứu được tập huấn trong 01 ngày
về mục đích, kế hoạch, thời gian nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu Nội dung tập huấn bao gồm:
+ Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu được học viên chọn bằng cách theo dõi thông tin nhập viện hàng ngày trên phần mềm quản lý nội bộ DHG và thông báo cho thành viên nhóm nghiên cứu Người bệnh thỏa điều kiện được chọn tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích,
ý nghĩa của nghiên cứu và việc tham gia nghiên cứu là tự nguyện
+ Thảo luận thống nhất nội dung bộ câu hỏi
+ Cách tiến hành thu thập số liệu: đối tượng nghiên cứu khi đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được mời sang phòng trống, thoải mái hoặc thực hiện bộ câu hỏi tại phòng bệnh (nếu ít người) Người thu thập số liệu sẽ giải thích, hướng dẫn đối tượng nghiên cứu thực hiện bộ câu hỏi, sau đó dành thời gian cho đối tượng tự điền câu trả lời Thông tin về tình huống phát hiện bệnh và tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu được thu thập qua hồ sơ bệnh án
HUPH
Trang 382.7 Biến số nghiên cứu
Các biến số độc lập:
- Biến về yếu tố cá nhân: tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân , nghề nghiệp, nơi cư trú, thu nhập, quy mô hộ gia đình, tình huống phát hiện bệnh (đến khám lao/đến khám bệnh khác), tình trạng bệnh (mới/tái phát)
- Biến về yếu tố môi trường: Tình trạng tiêm ngừa COVID-19, Tình trạng tiếp cận với dịch vụ y tế, Chất lượng chăm sóc của nhân viên y tế, Tình trạng cách ly/theo dõi sức khỏe của đối tượng nghiên cứu
- Biến số về yếu tố xã hội: thiếu sự hỗ trợ, bị kì thị, xa lánh, khó tìm việc Các biến phụ thuộc bao gồm các biến về lo âu, căng thẳng, trầm cảm và cách ứng phó
(Chi tiết xem tại Phụ lục 1 - Bảng biến số nghiên cứu)
2.8 Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Thang đo đánh giá lo âu, căng thẳng, trầm cảm (DASS 21)
Thang đo DASS 21 là bộ câu hỏi tự điền, bao gồm 21 tiểu mục, chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm có 7 mục đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị, độ tin cậy (hệ số Cronbach’s Alpha DASS - lo âu là 0,77, DASS - căng thẳng là 0,7 và DASS - trầm cảm là 0,72) Trong đó:
- Lo âu: A2, A4, A7, A9, A15, A19, A20
- Căng thẳng: S1, S6, S8, S11, S12, S14, S18
- Trầm cảm: D3, D5, D10, D13, D16, D17, D21
Mức độ đánh giá của của các câu hỏi trong thang đo DASS 21 chia theo bốn mức từ 0 đến 3, tương ứng với tình trạng mà người tham gia khảo sát cảm thấy trong vòng 7 ngày vừa qua:
0 điểm - Hoàn toàn không đúng với tôi
1 điểm - Thỉnh thoảng đúng với tôi
2 điểm - Phần nhiều thời gian đúng với tôi
3 điểm - Hoàn toàn đúng với tôi Tổng số điểm sau khi hoàn thành tất cả các câu hỏi được nhân với hệ số 2 và
so sánh với bảng đánh giá (57):
HUPH
Trang 392.8.2 Thang đo khả năng ứng phó Brief-COPE
Thang đo khả năng ứng phó Brief-COPE gồm 28 câu hỏi thuộc 14 khía cạnh, đánh giá khả năng ứng phó cá nhân tương đối ổn định trên các loại yếu tố gây căng thẳng khác nhau Có 4 mức độ khả năng ứng phó: không có khả năng ứng phó (≤28 điểm), có khả năng ứng phó thấp (29 - 56 điểm), có khả năng ứng phó vừa (57 - 84 điểm), có khả năng ứng phó cao (≥85 điểm) (51) Hệ số Cronbach's alpha tổng thể của thang đo là 0,86 cho thấy tính nhất quán nội tại cao (49)
Điểm số của thang đo được tính dưới dạng trung bình tương ứng với từng biến số (tổng điểm của mục chia cho số mục), cho biết mức độ mà người tham gia
3 điểm - Thường xuyên
4 điểm - Rất thường xuyên Điểm được trình bày cho từng khía cạnh sau:
HUPH
Trang 40Mức quy đổi điểm trung bình các chiến lược ứng phó (54):
- Hoàn toàn không làm điều này: điểm trung bình < 0,75;
- Hiếm khi làm điều này: 0,75 ≤ Điểm trung bình < 1,5;
- Thỉnh thoảng làm điều này: 1,5 ≤ Điểm trung bình < 2,25;
- Thường xuyên làm điều này: Điểm trung bình ≥ 2,25
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
Xử lý số liệu:
- Nhập liệu và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và SPSS phiên bản 20.0
Phân tích số liệu:
- Các thông tin được thể hiện dưới dạng tần suất, số liệu và đồ thị
- Các biến phụ thuộc về tình trạng lo âu, căng thẳng, trầm cảm được chia thành hai nhóm mức độ: 1/ Có dấu hiệu của bệnh, bao gồm tất cả các mức độ từ nhẹ đến rất nặng; 2/ Không có dấu hiệu của bệnh, bao gồm các kết quả bình thường
HUPH