ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đơn vị tiếp nhận đào tạo chuyển giao kỹ thuật
2.1.1.1 Nghiên cứu định lượng Đối tượng nghiên cứu được xác định là những nhóm có liên quan trực tiếp tới nhận đào tạo chuyển giao kỹ thuật của 10 BVL&BP tuyến tỉnh mà BVPTƯ đã thực hiện năm 2014-2015, bao gồm :
- Lãnh đạo khoa/phòng của 10 bệnh viện trực tiếp tham gia đào tạo chuyển giao kỹ thuật cho BVL&BP tuyến tỉnh
- Cán bộ y tế khoa/phòng của 10 bệnh viện được cử đi đào tạo chuyển giao kỹ thuật của BVL&BP tuyến tỉnh
- Trực tiếp tham gia đào tạo chuyển giao kỹ thuật cho BVL&BP tuyến tỉnh năm 2014 - 2015 do BVPTƯ thực hiện
- Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
- Những đối tượng đi học, nghỉ thai sản, đi công tác, nghỉ ốm trong thời gian nghiên cứu
- Lãnh đạo khoa phòng của 06 BVL&BP tuyến tỉnh nhận chuyển giao
2.1.2 Đơn vị triển khai đào tạo chuyển giao kỹ thuật Đối tượng nghiên cứu được xác định là những nhóm có liên quan trực tiếp tới việc đào tạo chuyển giao kỹ thuật của BVPTƯ, bao gồm :
- Lãnh đạo Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến – BVPTƯ
- Báo cáo hoạt động chỉ đạo tuyến, thực hiện đề án 1816 của Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014-2015
- Báo cáo công tác chỉ đạo tuyến của các Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tuyến tỉnh năm 2014-2015.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 02 đến tháng 08 năm 2016
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Phổi Trung ương và 10 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tuyến tỉnh năm 2014 – 2015 bao gồm:
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Lạng Sơn;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Quảng Ninh;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hưng Yên;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nam Định;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Bình;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Ninh Bình;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thanh Hóa;
- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Đà Nẵng;
- Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Quảng Nam.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 C ỡ m ẫ u nghiên c ứ u đị nh l ượ ng
Cỡ mẫu gồm toàn bộ các cán bộ đào tạo chuyển giao kỹ thuật của 10 BVL&BP tuyến tỉnh: tổng số 112 cán bộ
- Phỏng vấn sâu (PVS) cán bộ lãnh đạo, quản lý: 07 cuộc, gồm:
+ Chọn chủ đích Lãnh đạo Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến thuộc Bệnh viện Phổi Trung ương: 01 cuộc
Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến của BVL&BP tuyến tỉnh cho biết, do hạn chế về thời gian và kinh phí, nghiên cứu viên đã tham khảo các báo cáo từ 10 bệnh viện trong 2 năm 2014 và 2015 để lựa chọn 6 bệnh viện tham gia nghiên cứu định lượng Các báo cáo cho thấy Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Lạng Sơn, Thái Nguyên, Nam Định, Hưng Yên, Ninh Bình và Thanh Hóa đã nêu rõ những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhân viên y tế trong chương trình chuyển giao kỹ thuật theo đề án 1816 do BVPTW triển khai Tổng cộng có 06 cuộc khảo sát được thực hiện.
Các cán bộ của đơn vị đào tạo chuyển giao kỹ thuật đã tham gia thảo luận nhóm về các chuyên khoa như phục hồi chức năng hô hấp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tràn dịch màng phổi, viêm phổi, và phẫu thuật lồng ngực Thảo luận cũng bao gồm thăm dò chức năng hô hấp, chẩn đoán và điều trị lao ngoài phổi, cũng như xử trí hen và COPD Các kỹ thuật như nội soi màng phổi ống mềm, nội soi màng phổi, và nội soi phế quản huỳnh quang cũng được đề cập Cuộc thảo luận nhóm có sự tham gia của 12 cán bộ, mỗi chuyên khoa chọn ngẫu nhiên 01 cán bộ, và tổng số thảo luận nhóm là 01 cuộc.
- Báo cáo hoạt động chỉ đạo tuyến, thực hiện đề án 1816 của Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014-2015
- Báo cáo công tác chỉ đạo tuyến của các Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tuyến tỉnh năm 2014-2015.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu th ậ p s ố li ệ u đị nh l ượ ng
2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ phát vấn tự điền dành cho cán bộ tiếp nhận hoạt động đào tạo CGKT của BVL&BP tuyến tỉnh được xây dựng dựa trên hướng dẫn quy trình chuyển giao kỹ thuật trong Đề án 1816 (số 2950/KCB – BYT ngày 10/05/2010) và bộ công cụ đào tạo CGKT của BVPTƯ và BV Việt Đức.
2.5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp phát vấn tự điền đã được áp dụng cho toàn bộ cán bộ nhận đào tạo chuyển giao kỹ thuật tại 10 BVL&BP tuyến tỉnh Dữ liệu được thu thập và giám sát thông qua đầu mối phụ trách công tác đào tạo, chỉ đạo tuyến của 10 BVL&BP, những người đã được tập huấn trước khi thực hiện.
- Nghiên cứu viên (NCV) lập danh sách cán bộ chuyển giao và nhận chuyển giao tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu viên liên hệ với cán bộ chuyển giao để thu thập số liệu tại đơn vị nghiên cứu sau khi được lãnh đạo khoa/phòng BVPTƯ và BVL&BP tuyến tỉnh đồng ý Lãnh đạo các khoa/phòng tập trung cán bộ chuyển giao vào buổi chiều trước khi chăm sóc bệnh nhân Nghiên cứu viên mời họ tham gia khảo sát bằng cách điền vào bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn Nghiên cứu viên thông báo mục đích nghiên cứu, hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát và nhắc nhở không trao đổi thông tin trong quá trình điền Sau khi hoàn thành, nghiên cứu viên rà soát phiếu và hỏi lại những thông tin chưa hợp lý để ĐTNC bổ sung hoặc điều chỉnh.
Sau mỗi ngày, NCV tiến hành thu thập và kiểm tra phiếu phát vấn tự điền, đảm bảo số lượng và chất lượng bộ câu hỏi Đồng thời, NCV cũng kiểm tra xác suất của một số đối tượng, cam kết không có phiếu nào không đạt yêu cầu.
2.5.2 Thu th ậ p s ố li ệ u đị nh tính
Bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm phiếu hướng dẫn PVS, được sử dụng để phỏng vấn Lãnh đạo Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, cũng như Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến của các BVL&BP tuyến tỉnh Các tài liệu này được phân loại rõ ràng trong Phụ lục 2, với các mục 2.1 dành cho lãnh đạo BVPTƯ và 2.2 cho BVL&BP tuyến tỉnh.
- Nghiên cứu viên đặt lịch hẹn người được phỏng vấn, dựa vào hướng dẫn
PVS đã thực hiện phỏng vấn với Lãnh đạo Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến cùng với Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến các BVL&BP tại các tỉnh Các cuộc phỏng vấn diễn ra theo lịch hẹn tại phòng làm việc của người được phỏng vấn và được ghi âm Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài trung bình 30 phút Dữ liệu này được thu thập bởi học viên, những người trực tiếp thực hiện phỏng vấn, ghi biên bản và xử lý băng ghi âm.
Bộ công cụ phỏng vấn được phát triển dựa trên hướng dẫn xây dựng quy trình chuyển giao kỹ thuật theo Đề án 1816 (số 2950/KCB).
BYT ngày 10/05/2010) và bộ công cụ đào tạo CGKT của BVPTƯ và Bệnh viện
- Bộ công cụ thu thập số liệu: Phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm (TLN) tham gia nghiên cứu (Phụ lục 3)
- TLN tập trung được thực hiện với các lãnh đạo khoa với khoảng thời gian là 60 phút
Cuộc thảo luận được tổ chức tại Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến – BVPTƯ, với nghiên cứu viên giữ vai trò chủ trì Một nhân viên của trung tâm được mời làm thư ký để ghi chép và ghi âm lại diễn biến của cuộc thảo luận.
2.5.3 Thu th ậ p và phân tích s ố li ệ u th ứ c ấ p Được học viên trực tiếp thu thập tất cả các tài liệu, số liệu liên quan tại BVPTƯ, BVL&BP tuyến tỉnh năm 2014 – 2015 gồm:
- Các báo cáo, văn bản chỉ đạo của đơn vị chuyển giao và nhận chuyển giao
- Các báo cáo sơ kết, tổng kết Chỉ đạo tuyến của BVPTƯ, BVL&BP tuyến tỉnh về Đề án 1816 năm 2014 – 2015
- Các tài liệu về đào tạo chuyển giao kỹ thuật từ các hoạt động chuyển giao năm 2014 – 2015: Bài giảng, chương trình, danh sách học viên
Kết quả thực hiện tại các bệnh viện trong giai đoạn 2014 – 2015 cho thấy sự thành công trong việc đào tạo và chuyển giao kỹ thuật Số lượng và danh mục các kỹ thuật được chuyển giao đã được thực hiện một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Tất cả tài liệu, báo cáo và văn bản chỉ đạo tuyến của các BVL&BP tại tỉnh được tổng hợp theo hoạt động chỉ đạo tuyến hàng tháng, quý và năm Những tài liệu này sau đó được gửi về để tổng hợp và báo cáo cho lãnh đạo Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến Bệnh viện.
Các biến số nghiên cứu (Chi tiết biến số tại Phụ lục 4)
- Nhóm biến số thông tin chung
- Nhóm biến số thực trạng thực hiện quy trình đào tạo chuyển giao kỹ thuật + Khảo sát đào tạo chuyển giao kỹ thuật
+ Xây dựng đề và thông qua đề cương
+ Tổ chức thực hiện Đào tạo chuyển giao kỹ thuật
+ Hỗ trợ sau đào tạo chuyển giao kỹ thuật
- Nhóm biến số thuận lợi, khó khăn
+ Đơn vị đào tạo chuyển giao kỹ thuật
+ Đơn vị tiếp nhận đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Phương pháp phân tích số liệu và xử lý số liệu
Sau khi thu thập, số liệu định lượng được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1, sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0.
+ Các thông tin từ các cuộc PVS và TLN được ghi âm và ghi biên bản, sau đó tiến hành gỡ băng
+ Mã hóa và phân tích theo chủ đề.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Trước khi tiến hành phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Chỉ khi nhận được sự chấp thuận hợp tác từ đối tượng, quá trình phỏng vấn mới được thực hiện.
Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu tuân thủ các quy định đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng, được thực hiện sau khi có Quyết định số 104/2016/YTCC-HD3, cho phép Hội đồng Đạo đức nhà trường phê duyệt các vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu.
- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương quan tâm và ủng hộ.
Hạn chế của nghiên cứu
Phiếu phỏng vấn tự điền dành cho cán bộ nhận chuyển giao kỹ thuật được thực hiện cách xa thời điểm nhận chuyển giao, do đó có thể xảy ra sai số trong việc hồi tưởng thông tin.
Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn với nhiều nội dung và đối tượng cần đánh giá, yêu cầu sự hợp tác từ nhiều bệnh viện và lãnh đạo quản lý số liệu Tuy nhiên, việc tiếp cận đối tượng hưởng lợi từ hoạt động đào tạo chuyển giao gặp khó khăn.
Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đánh giá khó khăn và thuận lợi trong việc triển khai quy trình đào tạo chuyển giao kỹ thuật của Đề án 1816 tại hệ thống bệnh viện lao và bệnh phổi Do đó, nghiên cứu viên đã so sánh với các bệnh viện tuyến Trung ương khác cũng thực hiện Đề án 1816 nhưng ở các kỹ thuật và chuyên ngành khác nhau.
Cách khắc phục
Nghiên cứu này áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính, do đó có thể xảy ra sai số Để khắc phục, cần đảm bảo tính trung thực trong việc thu thập thông tin, kiểm tra nguồn số liệu và lưu giữ dữ liệu thực tế Sự phối hợp chặt chẽ giữa Bệnh viện Phụ sản Trung ương và các Bệnh viện và Bệnh viện tuyến tỉnh là rất quan trọng.
Có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình tổ chức, thực hiện giữa BVPTƯ và các BVL&BP tuyến tỉnh trong phạm vi nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung
Bảng 3.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu tham gia đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Thông tin chung Số người
Tham gia đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật chuyên khoa lao và bệnh phổi yêu cầu cán bộ y tế có trình độ và năng lực chuyên môn cao Độ tuổi trung bình của cán bộ tham gia là 28,5, với độ tuổi cao nhất là 57 và thấp nhất là 24 Nhóm tuổi từ 30 - 35 chiếm tỷ lệ cao nhất (39,3%), trong khi nhóm trên 40 tuổi chiếm 23,2% Trong tổng số 112 cán bộ nhận chuyển giao, nữ chiếm 46,4% và nam chiếm 53,6% Tỷ lệ tham gia đào tạo chuyển giao kỹ thuật lần lượt là 57,1% vào năm 2014 và 42,9% vào năm 2015 Cán bộ nhận chuyển giao có trình độ chuyên môn từ Thạc sĩ, bác sĩ chiếm 54,4%, trong khi nhóm Điều dưỡng và Kỹ thuật viên chiếm 45,6%.
Bảng 3.2 Phân bố vị trí công tác của cán bộ nhận kỹ thuật chuyển giao
Thông tin chung Số người
Phó Trưởng khoa 9 8 ĐD/KTV trưởng 4 3,6
Trong tổng số nhân viên y tế tham gia nhận chuyển giao kỹ thuật, bác sĩ, kỹ thuật viên và điều dưỡng chiếm 80,4% Trong khi đó, Trưởng khoa và Phó Trưởng khoa cùng với Điều Dưỡng và Kỹ thuật viên Trưởng chỉ chiếm khoảng 8% Phó Trưởng khoa cũng chiếm 8%, trong khi Điều Dưỡng/Kỹ thuật viên Trưởng chỉ chiếm 3,6%.
Bảng 3.3 Số lượng kỹ thuật đào tạo chuyển giao năm 2014 – 2015
Kỹ thuật nhận chuyển giao
Kỹ thuật nhận chuyển giao
Phục hồi chức năng hô hấp là một phần quan trọng trong việc điều trị các bệnh lý như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tràn dịch màng phổi, viêm phổi, áp xe phổi và sau phẫu thuật lồng ngực Các phương pháp phục hồi giúp cải thiện khả năng hô hấp, tăng cường sức khỏe phổi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
- Hồi sức cấp cứu các bệnh hô hấp thường gặp
- Nội soi phế quản ống mềm
- Phục hồi chức năng hô hấp trong các bệnh thường
- Phẫu thuật lồng ngực cơ bản
- Gây mê hồi sức trong phẫu thuật lồng ngực
2 gặp: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tràn dịch màng phổi, viêm phổi, áp xe phổi, phẫu thuật lồng ngực
Nam Định 01 Nội soi màng phổi ống mềm 0
Hưng Yên 01 Nội soi phế quản huỳnh quang 0
Ninh Bình 01 Phục hồi chức năng hô hấp, thăm dò chức năng hô hấp
6 BVL&BP Đà Nẵng 0 01 Phục hồi chức năng hô hấp
Thái Bình 0 01 Hồi sức cấp cứu
Thái Nguyên 0 01 Nội soi PQ chẩn đoán và can thiệp
- Kỹ thuật Nội soi phế quản huỳnh quang chẩn đoán sớm ung thư phổi
- Kỹ thuật Sinh thiết màng phổi
- Sử dụng các thiết bị Hồi sức cấp cứu 0
Trong 10 BVL&BP tuyến tỉnh tiếp nhận kỹ thuật đào tạo có 05 đơn vị đào tạo 07 kỹ thuật năm 2014 và 04 đơn vị được đào tạo 05 kỹ thuật năm 2015 riêng BVL&BP Thanh Hóa đăng ký đào tạo cả hai năm cho 04 kỹ thuật khác nhau
Thực trạng thực hiện quy trình chuyển giao kỹ thuật của Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014-2015
Theo quy định của Bộ Y tế về hướng dẫn xây dựng tổ chức đào tạo chuyển giao kỹ thuật trong thực hiện Đề án 1816, thành phần khảo sát bao gồm lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo khoa/phòng liên quan và đại diện kíp kỹ thuật của đơn vị nhận chuyển giao.
3.2.1 Kh ả o sát xác đị nh nhu c ầ u đ ào t ạ o chuy ể n giao k ỹ thu ậ t
Biểu đồ 3.1: Phân bố tỷ lệ đối tượng được tham gia khảo sát trước đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Qua khảo sát 112 đối tượng, chúng tôi phát hiện rằng 71,4% cán bộ y tế (80 người) chưa từng tham gia khảo sát về đào tạo chuyển giao kỹ thuật, trong khi 28,6% (32 người) đã tham gia khảo sát trước đào tạo Nghiên cứu định tính cho thấy cán bộ chuyển giao còn thiếu kiến thức về khảo sát trước đào tạo chuyển giao kỹ thuật, với ý kiến cho rằng "Quy trình khảo sát đào tạo CGKT là rất cần thiết và thực tế, giúp cán bộ y tế tại tuyến tỉnh nắm bắt tình hình chuyên môn của đơn vị nhận chuyển giao."
Có tham gia Không tham gia
Bảng 3.4 Phân bố tỷ lệ nội dung được khảo sát trước đào tạo CGKT
Kỹ thuật chuyển giao mong muốn được nhận 14 44
Kết quả khảo sát cho thấy 32/112 ĐTNC đã được khảo sát trước đào tạo chuyển giao kỹ thuật, trong đó cơ sở vật chất và nguồn nhân lực là mối quan tâm hàng đầu (chiếm 72%), tiếp theo là kỹ thuật chuyển giao của BVL&BP tuyến tỉnh (chiếm 44%) và 15,6% cho năng lực CBYT Mặc dù cơ chế chính sách và thời gian đào tạo cũng được khảo sát, nhưng không có ý kiến nào từ ĐTNC Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng BVPTƯ luôn chú trọng các nội dung khảo sát để lập kế hoạch triển khai, với lãnh đạo BVPTƯ trực tiếp đến từng BVL&BP tỉnh để nắm bắt tình hình Nội dung khảo sát có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động, giúp đánh giá nhu cầu đào tạo và ghi nhận điểm mạnh, điểm yếu của BV tỉnh, từ đó xây dựng kế hoạch sát với thực tế và tránh tình trạng kỹ thuật không được thực hiện do thiếu trang thiết bị và nguồn bệnh.
Bảng 3.5 Phân bố tỷ lệ hình thức khảo sát trước đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Cán bộ y tế BVPTƯ về BVL&BP tuyến tỉnh khảo sát trực tiếp
BVPTƯ gửi bộ phiếu khảo sát về BVL&BP tuyến tỉnh
Kết quả khảo sát của BVPTƯ cho thấy 75% cán bộ y tế tuyến tỉnh được khảo sát trước đào tạo chuyển giao kỹ thuật, trong khi 12,5% sử dụng phiếu khảo sát và 12,5% áp dụng hình thức khảo sát khác Các cuộc khảo sát này nhằm đánh giá năng lực và khả năng đáp ứng của BVL&BP tuyến tỉnh, từ đó giúp cán bộ y tế BVPTƯ xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với nhu cầu thực tế Một cán bộ y tế cho biết: “BVPTƯ đã có các cuộc khảo sát tại bệnh viện tỉnh về hoạt động chỉ đạo tuyến, trong đó có hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật 1816, giúp xây dựng kế hoạch đào tạo và chuyển giao khả thi cho kỹ thuật Phục hồi chức năng hô hấp.”
3.2.2 Xây d ự ng và thông qua đề c ươ ng đ ào t ạ o chuy ể n giao k ỹ thu ậ t Đề cương đào tạo CGKT là do các chuyên gia của BVPTƯ xây dựng dựa trên kết quả khảo sát được thực hiện tại các BVL&BP tuyến tỉnh, TTĐT&CĐT thuộc BVPTƯ đề xuất lãnh đạo BV thành lập ban soạn thảo cho 16 đề cương chuyển giao kỹ thuật bao gồm 28 chuyên gia về lâm sàng biên soạn cho từng kỹ thuật chuyển giao dựa trên kết quả khảo sát và nhu cầu của BVL&BP tuyến tỉnh,
HUPH phù hợp với quy định của BYT theo công văn số 2950/BYT-KCB Năm 2014 -
2015 Hội đồng Khoa học và Hội đồng Đạo đức Y sinh học của BVPTƯ thông qua
Đề cương CGKT theo Đề án 1816 bao gồm các nội dung quan trọng như mục tiêu, đối tượng đào tạo, thời gian, yêu cầu về cơ sở vật chất, giảng viên, trang thiết bị và chỉ tiêu cần đạt cho từng kỹ thuật Các thành viên tham gia xây dựng Đề cương chuyển giao kỹ thuật đều có kinh nghiệm khảo sát tại các BVL&BP tuyến tỉnh, do đó họ nắm rõ tình hình của từng đơn vị, năng lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị Điều này giúp họ xây dựng đề cương phù hợp với kỹ thuật đào tạo của đơn vị nhận chuyển giao.
Bảng 3.6 Danh sách các Đề cương được thông qua của
Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014 - 2015
Nội dung Số lượng Đề cương
Số lượng Đề cương thông qua n %
Kỹ thuật nội soi phế quản ống mềm 01 01 100
Nội soi phế quản huỳnh quang 01 01 100
Phục hồi chức năng hô hấp 01 01 100
Chẩn đoán và điều trị lao, bệnh phổi 01 01 100
Kỹ thuật đo chức năng hô hấp 01 01 100
Xử trí tràn khí màng phổi 01 01 100
Hướng dẫn chẩn đoán lao phổi AFB(-) 01 01 100
Hồi sức cấp cứu cơ bản 01 01 100
Mở khí quản khai thông đường thở 01 01 100 Đào tạo chẩn đoán điều trị COPD 01 01 100
Quy trình phê duyệt Đề cương đào tạo CGKT tuân thủ yêu cầu của Hội đồng khoa học BVPTƯ, trong đó Hội đồng xây dựng đề cương dựa trên đề xuất của Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, được Giám đốc phê duyệt Mỗi thành viên Hội đồng viết đề cương theo nhu cầu và khả năng tiếp nhận của từng kỹ thuật, nhằm xây dựng đề cương phù hợp với BVL&BP tuyến tỉnh Từ năm 2014 - 2015, đã có 12 đề cương CGKT được phê duyệt, đảm bảo quy trình điều trị được thực hiện đúng Sau khi hoàn thiện đề cương và đề án chuyển giao, các tài liệu này sẽ được trình lãnh đạo BYT phê duyệt kinh phí triển khai.
Quá trình xây dựng đề cương CGKT được thực hiện bởi các nhà khoa học và bác sĩ tại BVPTƯ, dựa trên kinh nghiệm thực tế Tài liệu này đã được biên soạn và áp dụng tại các BVL&BP tuyến tỉnh, giúp đánh giá chất lượng đào tạo của cán bộ y tế tuyến dưới Tuy nhiên, trong quá trình triển khai đào tạo CGKT, vẫn có 35,7% ĐTNC bày tỏ sự không hài lòng về tài liệu chuyển giao kỹ thuật (Bảng 3.10).
Nhiều học viên tại các bệnh viện tỉnh quan tâm đến nội dung thực hành và kỹ thuật chuyển giao, cũng như khả năng đáp ứng và tính phù hợp của tài liệu chuyển giao Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng giảng viên chưa đáp ứng được mong đợi và tài liệu nặng về lý thuyết Đến nay, vẫn chưa có đánh giá cụ thể về nội dung tài liệu và đội ngũ giảng viên.
3.2.3 T ổ ch ứ c th ự c hi ệ n đ ào t ạ o chuy ể n giao k ỹ thu ậ t
3.2.3.1 Bệnh viện Phổi Trung ương
Trong giai đoạn 2014-2015, Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPTƯ) đã thực hiện đào tạo 12 kỹ thuật chuyển giao thông qua hình thức kết hợp với Bệnh viện Đa khoa và Bệnh viện Phụ sản tuyến tỉnh Cán bộ y tế hoặc kíp chuyên môn được cử đến BVPTƯ để tiếp nhận kỹ thuật theo phương pháp “cầm tay chỉ việc” Sau đó, BVPTƯ đã cử kíp kỹ thuật về đào tạo chuyển giao kỹ thuật cho Bệnh viện Đa khoa và Bệnh viện Phụ sản tuyến tỉnh theo đúng hợp đồng đã ký kết giữa hai bên.
Bảng 3.7 Đánh giá của cán bộ y tế nhận KTCG về phương pháp giảng dạy, trình độ chuyên môn, hỗ trợ của giảng viên
Phương pháp giảng dạy dễ hiểu Có 108 99,1
Trình độ chuyên môn của giảng viên Rất tốt 35 31,2
Giảng viên hỗ trợ trong quá trình đào tạo
Kết quả khảo sát cho thấy 99,1% cán bộ nhận chuyển giao kỹ thuật đánh giá phương pháp giảng dạy dễ hiểu, 82,1% cho rằng giảng viên có trình độ chuyên môn tốt, trong khi 17,9% nhận xét phương pháp giảng dạy ở mức bình thường Đặc biệt, 90,2% cán bộ cho biết học viên được giảng viên hỗ trợ trong quá trình đào tạo.
Kết quả định tính các cán bộ tham gia đào tạo chuyển kỹ thuật cho rằng:
Khóa học đào tạo CGKT trang bị cho học viên kiến thức lâm sàng thông qua phương pháp ca bệnh lâm sàng hữu ích Học viên có cơ hội tiếp cận kinh nghiệm quý báu từ giảng viên, cùng với sự hỗ trợ nhiệt tình trong suốt quá trình đào tạo.
3.2.3.2 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tuyến tỉnh
Qua 12 kỹ thuật được tổ chức tại BVPTƯ và được áp dụng tại các BVL&BP tuyến tỉnh đều nhận thấy các kíp cán bộ chuyên môn phù hợp tiếp nhận kỹ thuật tại đơn vị nhận chuyển giao
Bảng 3.8 Đánh giá của cán bộ y tế nhận kỹ thuật chuyển giao về thực hành lâm sàng, nội dung đào tạo
Thường xuyên được thực hành lâm sàng
Lý do chưa được thực hành lâm sàng thường xuyên
Cán bộ y tế BVPTƯ chưa tin tưởng để học viên thực hiện kỹ thuật
Số lượng người bệnh ít 9 75
Thiếu trang thiết bị dùng cho kỹ thuật chuyển giao
Giảng vên cung cấp tài liệu đào tạo
Rất đầy đủ/ đầy đủ 22 19,6
Nội dung kiểm tra đánh giá đúng năng lực
Khóa đào tạo kết thúc đúng theo kế hoạch
Kết quả cho thấy 89,3% cán bộ thường xuyên thực hành lâm sàng trong quá trình chuyển giao, trong khi 10,7% còn lại gặp khó khăn do các yếu tố như kỹ thuật chuyên sâu, số lượng bệnh nhân ít tại tuyến cơ sở và thiếu trang thiết bị Do đó, cần ưu tiên đào tạo thực hành trên mô hình cho những trường hợp không được thực hành lâm sàng.
HUPH nhấn mạnh rằng việc thực hành thường xuyên là cần thiết cho các kỹ thuật chuyên sâu, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc triển khai và duy trì bền vững các kỹ thuật sau chuyển giao Kết quả cho thấy 92,9% khóa đào tạo hoàn thành đúng kế hoạch, trong khi 78,5% nội dung kiểm tra cuối kỳ phù hợp với năng lực học viên và 76% tài liệu đào tạo được cung cấp đầy đủ Các cán bộ tham gia đào tạo chuyển kỹ thuật của BVPTƯ cho rằng cần đào tạo đúng đối tượng và phù hợp với nhu cầu của BVL&BP tuyến tỉnh Hiện tại, việc chú trọng vào đào tạo chuyên môn kỹ thuật mà thiếu thực hành lâm sàng đã dẫn đến việc giảng viên phải chờ có bệnh nhân để đào tạo, làm cho học viên thiếu tự tin Đề xuất là BVPTƯ nên cho học viên thực hành lâm sàng tại bệnh viện cho đến khi họ thuần thục, từ đó nâng cao khả năng tự tin về tay nghề khi trở về đơn vị.
Bảng 3.9 Phân bố tỷ lệ các kỹ thuật đào tạo chuyển giao tại các
BVL&BP tuyến tỉnh năm 2014 - 2015
Kỹ thuật nội soi phế quản ống mềm 7 6,3
Nội soi phế quản huỳnh quang 9 8
Phục hồi chức năng hô hấp 26 23,2
Chẩn đoán và điều trị lao, bệnh phổi 5 4,5
Kỹ thuật đo chức năng hô hấp 18 16,1
Xử trí tràn khí màng phổi 12 10,7
Hướng dẫn chẩn đoán lao phổi AFB(-) 7 6,3
Hồi sức cấp cứu cơ bản 36 32,1
Mở khí quản khai thông đường thở 5 4,5 Đào tạo chẩn đoán điều trị COPD 10 8,9
Những thuận lợi, khó khăn của hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Hoạt động đào tạo CGKT đã nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giúp giải quyết nhiều ca bệnh nặng và giảm tỷ lệ bệnh nhân chuyển lên tuyến trên Để đạt được điều này, đơn vị nhận chuyển giao đã nhận được sự ủng hộ từ các cấp chính quyền về nguồn lực cơ sở vật chất và trang thiết bị, cùng với sự hỗ trợ nhiệt tình từ đơn vị chuyển giao trong công tác đào tạo chuyên môn, góp phần cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân.
3.3.1.1 Sự ủng hộ của các cấp, ban, ngành về hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới cũng như đầu tư về cơ cở vật chất, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng cho đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Ngành y tế Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh (KCB) và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Bộ Y tế đã đề xuất nhiều dự án để cải thiện cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho các bệnh viện tuyến huyện và tỉnh, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa Các hoạt động như đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các đề án như 47/930 và 1816 đã giúp cải thiện rõ rệt cơ sở vật chất cho các bệnh viện tuyến dưới Đề án 1816, được triển khai sớm, rất cần thiết cho việc phát triển chuyên môn của cán bộ y tế tuyến dưới, giúp họ khám chữa bệnh hiệu quả hơn Hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh đều nhận được sự quan tâm đầu tư từ lãnh đạo tỉnh, với nhiều dự án mua sắm trang thiết bị và nâng cấp cơ sở hạ tầng Một ví dụ điển hình là bệnh viện Lao và Bệnh phổi, đã đầu tư máy chụp cộng hưởng từ 16 dãy nhờ vào nguồn vốn xã hội hóa.
Chính phủ và Bộ Y tế đã ban hành nhiều thông tư nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn cho cán bộ y tế, bao gồm cả cán bộ chuyển giao kỹ thuật Đặc biệt, Thông tư 139/2010/TT-BTC quy định hỗ trợ cho cán bộ nhận chuyển giao kỹ thuật về học phí, tài liệu học tập và chi phí ăn ở.
HUPH đã tổ chức các hoạt động chuyển giao kỹ thuật cho học viên và cán bộ y tế, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển kỹ năng chuyên môn.
Lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh và Sở Y tế đã chú trọng đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân thông qua việc đầu tư trang thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực cho các bệnh viện Cụ thể, các bệnh viện tuyến tỉnh đã chủ động đề xuất với lãnh đạo tỉnh nhằm cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế UBND tỉnh Đà Nẵng đã triển khai cơ chế đãi ngộ để thu hút các bác sĩ có trình độ chuyên môn cao về làm việc tại bệnh viện tỉnh.
3.3.1.2 Trình độ chuyên môn, sự ủng hộ của đơn vị chuyển giao tạo điều kiện cho hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật bệnh viện tuyến tỉnh
BVPTƯ là đơn vị hàng đầu trong điều trị lao và bệnh phổi, với đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn cao và kinh nghiệm phong phú Bệnh viện không chỉ là cơ sở thực hành cho các trường Đại học trên toàn quốc mà còn thành lập Trung tâm Đào tạo Chỉ đạo tuyến, nơi tập trung các hoạt động liên quan đến đào tạo chuyên ngành lao và bệnh phổi Trung tâm này có nhiệm vụ đề xuất các cơ chế, chính sách và đào tạo nguồn nhân lực cho mọi đối tượng trên cả nước, đáp ứng nhu cầu của chuyên ngành.
Đội ngũ cán bộ giảng dạy và chuyển giao kỹ thuật cho các BVL&BP tuyến tỉnh được khuyến khích và đãi ngộ bởi bệnh viện, với cơ chế khen thưởng cho những cán bộ tham gia công tác chỉ đạo tuyến, bao gồm cả đào tạo và chuyển giao kỹ thuật.
Các cán bộ chuyển giao kỹ thuật tham gia đào tạo tại các bệnh viện tuyến tỉnh không chỉ nhận được chi phí công tác theo quy định mà còn được Bệnh viện Phụ sản Trung ương hỗ trợ thêm Đặc biệt, những cán bộ có Bằng khen hoặc Giấy khen từ đơn vị tiếp nhận sẽ được xem xét tăng lương trước thời hạn.
Cán bộ tiếp nhận tại các BVL&BP tuyến tỉnh đánh giá cao sự nhiệt tình và nhiệt huyết của các thầy Họ sử dụng kinh nghiệm của mình để hướng dẫn từng bước kỹ thuật một cách chi tiết.
HUPH tạo điều kiện cho sinh viên thực hành kỹ thuật dưới sự giám sát của giảng viên, cho thấy cán bộ của BVPTƯ là những chuyên gia có kinh nghiệm và khả năng xử lý ca bệnh khó Điều này giúp sinh viên thực hiện tốt các kỹ thuật trong quá trình học tập.
Mặc dù Đề án 1816 mang lại nhiều thuận lợi cho các bệnh viện tuyến tỉnh, Bệnh viện Phổi Trung ương vẫn gặp không ít khó khăn trong việc triển khai tại các BVL&BP tuyến tỉnh Cụ thể, chính sách đãi ngộ cán bộ chuyển giao và nhận chuyển giao chưa thỏa đáng, dẫn đến tình trạng thiếu hụt và không ổn định nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ y tế có trình độ cao và chuyên khoa sâu Hơn nữa, một số cơ sở hạ tầng đã xuống cấp và trang thiết bị y tế chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, ảnh hưởng đến quá trình đào tạo chuyển giao và phát triển các kỹ thuật.
3.3.2.1 Chính sách dành cho chuyển giao còn hạn chế, thiếu hướng dẫn thực hiện và duy trì hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật
Danh mục kỹ thuật được phê duyệt theo phân tuyến hạn chế hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật, khi nhiều kỹ thuật chỉ được thanh toán tại bệnh viện đa khoa tỉnh mà không được bảo hiểm y tế thanh toán tại BVL&BP tuyến tỉnh Phân tuyến kỹ thuật đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa, ví dụ như BVL&BP tỉnh Bắc Ninh có khả năng thực hiện kỹ thuật Thăm dò Phục hồi chức năng nhưng không được BHYT thanh toán, điều này gây cản trở cho quá trình chuyển giao kỹ thuật.
Cơ chế chính sách đãi ngộ đối với học viên đi học chuyển giao hiện chưa thỏa đáng, gây khó khăn trong việc thu hút và giữ chân những nhân tài tâm huyết với bệnh viện Nguồn kinh phí hạn hẹp và mức chi trả thấp khiến học viên khó tập trung vào việc học, khi họ còn phải lo toan cho cuộc sống gia đình Các học viên chỉ yêu cầu bệnh viện tỉnh chi trả đủ lương và chi phí công tác theo quy định của nhà nước mà không nhận được hỗ trợ nào khác.
(PVS_BVL&BP tuyến tỉnh_3)
3.3.2.2 Xây dựng đề cương đào tạo chuyển giao kỹ thuật là một vấn đề khó khăn trong quá trình thực hiện
Một trong những thách thức trong quá trình chuyển giao là xây dựng đề cương đào tạo CGKT của BVPTƯ, khi các bác sĩ chủ yếu tập trung vào điều trị lâm sàng và thiếu kinh nghiệm viết tài liệu Điều này dẫn đến việc họ không tuân thủ đúng quy định của BYT và không kịp tiến độ theo hợp đồng với các BVL&BP tuyến tỉnh Các bác sĩ cho biết: “Chúng tôi chỉ tập trung cho điều trị lâm sàng, và việc chuyển tải ngôn ngữ nói thành văn bản một cách dễ hiểu và logic là rất khó khăn Hơn nữa, nhiều ca bệnh cần phải dựa trên các bằng chứng khoa học.”
Thực trạng thực hiện quy trình đào tạo chuyển giao kỹ thuật
4.2.1 Kh ả o sát xác đị nh nhu c ầ u đ ào t ạ o chuy ể n giao k ỹ thu ậ t
Hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật (CGKT) của Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPTƯ) đã tuân thủ quy trình của Bộ Y tế Kết quả khảo sát nhu cầu đào tạo cho thấy 81% trong số 112 đối tượng được khảo sát đã khẳng định vai trò của khảo sát trong việc phản ánh thực trạng và nhu cầu kỹ thuật chuyển giao Khảo sát thực tế là yếu tố quyết định đến sự thành công và hiệu quả của hoạt động đào tạo, giúp cán bộ chuyển giao nắm bắt năng lực chuyên môn và cơ sở vật chất của cán bộ nhận chuyển giao Từ đó, kế hoạch đào tạo CGKT có thể được xây dựng phù hợp với thực tế Kết quả từ cán bộ tham gia chuyển giao cũng cho thấy đây là bước quan trọng giúp bệnh viện tuyến tỉnh nâng cao khả năng hỗ trợ.
Để nâng cao chuyên môn trong đào tạo CGKT, BVPTƯ chú trọng khảo sát nhu cầu đào tạo Quá trình này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chuyển giao và đơn vị nhận chuyển giao, cùng với việc đánh giá thực tế chuyên môn tại bệnh viện tỉnh Kết quả khảo sát này phù hợp với hướng dẫn xây dựng quy trình CGKT theo Đề án 1816 của Bộ Y tế, cụ thể là Công văn số 2950/BYT-KCB.
Theo khảo sát tại các BVL&BP tuyến tỉnh, 72% cán bộ nhận KTCG quan tâm đến cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để triển khai kỹ thuật Điều này cho thấy sự phụ thuộc vào ngân sách đầu tư của tỉnh, trong khi nhu cầu đào tạo rất lớn nhưng cần có nguồn lực và kinh phí Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đừng (2014), cho thấy nhu cầu sử dụng kỹ thuật đa khoa tại bệnh viện Việt Đức rất cao Điều này phù hợp với chủ trương của Bộ Y tế về Đề án 1816 và Ban Lãnh đạo BVPTƯ, nhằm hỗ trợ hơn 19.000 cán bộ chống lao trên cả nước Đội ngũ chuyên gia của BVPTƯ có thể quyết định các điều kiện cần thiết cho việc tiếp nhận kỹ thuật và tư vấn cho các đơn vị lựa chọn kỹ thuật phù hợp Việc lựa chọn kỹ thuật chuyển giao là yếu tố quyết định cho sự thành công của hoạt động này.
Trong nhiều năm qua, BVPTƯ và Ban Chỉ đạo 1816 đã thực hiện nhiều hình thức khảo sát để thu thập ý kiến, bao gồm việc cử cán bộ trực tiếp đến các tỉnh, khảo sát qua điện thoại, và tổ chức hội nghị giao ban để thăm dò ý kiến lãnh đạo các đơn vị nhận đào tạo.
Trong nghiên cứu này, 75% cán bộ y tế tại BVPTƯ đã thực hiện khảo sát trực tiếp tại các BVL&BP tỉnh, cho thấy kết quả này phù hợp với tình hình triển khai thực tế tại các đơn vị chuyển giao khác đang áp dụng.
Kết quả nghiên cứu tại BV Việt Đức, BV Bạch Mai, BV Phạm Ngọc Thạch, và BV Đa khoa Trung ương Cần Thơ tương đương với nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (2009) về Đề án 1816 giai đoạn 2008 - 2011, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đừng (2014) tại 10 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, cho thấy khảo sát trực tiếp đạt 100% Điều này có thể do BV Việt Đức là đơn vị đa khoa đầu tiên thực hiện mô hình bệnh viện vệ tinh với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngoại khoa và chỉ áp dụng hình thức khảo sát trực tiếp Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả giữa các hình thức khảo sát trong chuyên ngành lao và bệnh phổi Kết quả từ quy trình khảo sát này cho thấy việc xác định nhu cầu là rất quan trọng để đề xuất kịp thời và tổ chức đào tạo hàng năm cho đơn vị nhận chuyển giao và đơn vị chuyển giao.
4.2.2 Xây d ự ng và thông qua đề c ươ ng đ ào t ạ o chuy ể n giao k ỹ thu ậ t
Nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn 2014 – 2015, BVPTƯ đã thông qua nhiều kỹ thuật cho các Dự án khác nhau, trong đó Đề án 1816 có 12 kỹ thuật chuyển giao được Hội đồng khoa học phê duyệt và áp dụng tại 10 BVL&BP tuyến tỉnh Những kỹ thuật này được biên soạn thành tài liệu lâm sàng bởi các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực lao và bệnh phổi, được cập nhật hàng năm để phục vụ tốt nhất cho cán bộ y tế tuyến tỉnh Tuy nhiên, 35,7% đánh giá về đề cương chuyển giao kỹ thuật trong nghiên cứu này cho thấy chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế của các đơn vị nhận chuyển giao.
HUPH đề cương của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Bệnh viện Bạch Mai
Năm 2010, Bệnh viện Phục hồi Chức năng Trung ương (BVPTƯ) đã xây dựng 91 đề cương sau khi có kết quả khảo sát, điều này tạo ra thách thức về thời gian hoàn chỉnh theo quy định của Bộ Y tế (BYT) Việc này là điều kiện bắt buộc trong hồ sơ phê duyệt danh mục kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến tỉnh tiếp nhận kỹ thuật chuyển giao Do đó, việc xây dựng đề cương đào tạo Chuyên gia Kỹ thuật (CGKT) cần sự cập nhật và chỉnh sửa thường xuyên từ các chuyên gia, đồng thời triển khai đào tạo thực hành cho cán bộ y tế tại các bệnh viện tuyến tỉnh.
4.2.3 T ổ ch ứ c th ự c hi ệ n đ ào t ạ o chuy ể n giao k ỹ thu ậ t
Nghiên cứu cho thấy có 12 kỹ thuật được triển khai theo hình thức kết hợp giữa BVL&BP tuyến tỉnh, cử cán bộ hoặc kíp kỹ thuật học tập tại BVPTƯ từ 3-6 tháng, bao gồm lý thuyết và thực hành Hình thức này phù hợp với thực tế của từng đơn vị và hướng dẫn của BYT về đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo Đề án 1816, yêu cầu cán bộ y tế phải được đào tạo nâng cao năng lực trước khi tiếp nhận kỹ thuật Giảng viên chỉ xuống địa phương 1 tháng/kỹ thuật, với điều kiện đơn vị nhận chuyển giao phải chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị, nhân lực và nguồn bệnh nhân Trong thời gian này, học viên thực hành nhiều hơn dưới sự hướng dẫn của giảng viên So với Quyết định 1816/QĐ-BYT, hình thức này hiệu quả hơn, giảm thời gian, chi phí và nguồn lực cho cán bộ tham gia chuyển giao kỹ thuật.
Bảng 3.10 chỉ ra rằng 89,3% cán bộ thường xuyên thực hành lâm sàng trong quá trình chuyển giao, trong khi 10,7% còn lại gặp khó khăn do các yếu tố như kỹ thuật chuyên sâu, số lượng bệnh nhân ít tại tuyến cơ sở và thiếu trang thiết bị, dẫn đến tần suất thực hành trên bệnh nhân thấp hơn.
HUPH không thực hành lâm sàng, do đó cần ưu tiên đào tạo thực hành trên mô hình cho các kỹ thuật chuyên sâu Việc không thực hành thường xuyên có thể ảnh hưởng đến việc triển khai và duy trì bền vững các kỹ thuật sau khi chuyển giao.
4.2.4 Theo dõi h ỗ tr ợ , giám sát ho ạ t độ ng sau đ ào t ạ o chuy ể n giao k ỹ thu ậ t
Hoạt động hỗ trợ giám sát sau đào tạo chuyển giao kỹ thuật đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả và duy trì tính bền vững của các kỹ thuật đã được chuyển giao Qua hoạt động này, đơn vị nhận chuyển giao có thể theo dõi tình hình triển khai các kỹ thuật, đảm bảo tuân thủ quy trình điều trị và đánh giá sự tự tin của cán bộ trong thực hành lâm sàng Từ đó, chúng ta có thể đề xuất các giải pháp hỗ trợ cho tuyến dưới, giúp họ thực hiện chuyên môn một cách thành thạo, nhằm đảm bảo kỹ thuật được áp dụng bền vững và hiệu quả.
Theo bảng 3.15, 98,2% cán bộ y tế nhận KTCG cho rằng cần sự hỗ trợ sau khi kết thúc khóa học, với 42% mong muốn được hỗ trợ trực tiếp tại bệnh viện tuyến tỉnh Điều này cho thấy cán bộ nhận chuyển giao cần sự hỗ trợ kịp thời trong quá trình triển khai, đặc biệt khi họ chưa đủ tự tin với các kỹ thuật khó Kết quả này phù hợp với báo cáo của Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế về giám sát và hỗ trợ sau chuyển giao kỹ thuật.
Theo khảo sát, 80,4% cán bộ nhận KTCG cho rằng học viên cần hỗ trợ thường xuyên sau khóa học, đặc biệt qua điện thoại, và một số ca bệnh khó cần chẩn đoán chuyên môn gấp từ các chuyên gia Nguyên nhân có thể do tâm lý, thiếu tự tin hoặc áp lực từ lãnh đạo Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đừng năm 2014, chỉ đạt 63,1% Các kỹ thuật của BVPTƯ chủ yếu tập trung vào chuyên khoa lao và bệnh phổi, khác với các kỹ thuật đa khoa.
HUPH của Bệnh viện Việt Đức được triển khai thường xuyên với thời gian từ 3 tháng đến 2 năm, phù hợp với thực tế tại các BVL&BP tuyến tỉnh Sự quan tâm của lãnh đạo và quyết tâm thực hiện các kỹ thuật chuyển giao, đặc biệt là kỹ thuật vượt tuyến, ngày càng gia tăng Xu hướng này phản ánh sự phát triển của xã hội về chất lượng dịch vụ kỹ thuật cao, nhằm đáp ứng sự hài lòng của người bệnh.
Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện đào tạo chuyển giao kỹ thuật
4.3.1.1 Sự ủng hộ của các cấp, ban ngành về hỗ trợ công tác chuyển giao kỹ thuật
Ngành y tế Việt Nam đã nâng cao chất lượng khám chữa bệnh nhờ sự hỗ trợ từ chính quyền Trung ương đến địa phương, thông qua việc đầu tư và nâng cấp cơ sở hạ tầng cho các bệnh viện Các quyết định 47 đã góp phần quan trọng trong quá trình này.
Nghị quyết 930 của Chính phủ đã cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng y tế, với việc đầu tư mới vào thiết bị y tế Bộ Y tế cũng đã đề xuất nhiều dự án nhằm nâng cao năng lực khám chữa bệnh cho cán bộ y tế, giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng, đồng thời giảm tải cho các bệnh viện tuyến Trung ương.
Bệnh viện Phổi Trung ương là đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực Lao và Bệnh phổi, cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị bệnh lao và bệnh phổi với các kỹ thuật hiện đại Bệnh viện cam kết nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho các bệnh viện tuyến tỉnh, đặc biệt ở những vùng núi, vùng sâu, vùng xa thông qua việc chuyển giao kỹ thuật Ban Giám đốc bệnh viện cũng đã triển khai nhiều chính sách khuyến khích cán bộ tham gia đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến tỉnh.
Theo báo cáo thứ cấp, phần lớn các BVL&BP tuyến tỉnh nhận được sự ủng hộ từ các cấp, ngành Nhiều dự án và đề án của Chính phủ cùng Bộ Y tế đã được hỗ trợ đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và trang thiết bị khám chữa bệnh Một số đơn vị cũng đã ban hành chính sách ưu đãi để thu hút nhân lực có trình độ chuyên môn về làm việc tại bệnh viện tỉnh Điều này phù hợp với Nghị định 43/NĐ-TTg, nhấn mạnh quyền tự chủ tài chính và giảm tải cho các bệnh viện tuyến Trung ương, từ đó nâng cao chất lượng chuyên môn cho tuyến dưới.
Bệnh viện Bạch Mai, một bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt và tuyến cao nhất trong khám chữa bệnh, đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện đa khoa tại các tỉnh phía Bắc Ban giám đốc và lãnh đạo bệnh viện luôn hỗ trợ trang thiết bị và cơ sở vật chất đầy đủ cho các bệnh viện tuyến dưới Nhân lực được cử đi học và nhận sự hỗ trợ từ Bệnh viện Bạch Mai trong việc đào tạo kỹ thuật, cùng với sự giúp đỡ từ đồng nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kỹ thuật chuyển giao Thêm vào đó, số lượng bệnh nhân lớn tại bệnh viện cũng là yếu tố quan trọng giúp cán bộ y tế thực hiện các kỹ thuật được chuyển giao hiệu quả.
4.3.2.1 Về cơ chế chính sách
Hiện nay, việc áp dụng Quy định phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh đang gây khó khăn cho hoạt động đào tạo CGKT Các đơn vị mong muốn triển khai kỹ thuật cao và nâng cao nguồn nhân lực để cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cho người dân Tuy nhiên, rào cản từ việc Hội đồng chuyên môn phê duyệt danh mục thuốc và chi trả của BHYT đã hạn chế hiệu quả điều trị tại các cơ sở y tế tuyến trên Nhiều kỹ thuật không nằm trong danh mục BHYT, dẫn đến tình trạng bệnh nhân phải vượt tuyến lên các bệnh viện Trung ương Điều này cũng tạo ra khó khăn cho cán bộ trong quá trình thực hiện kỹ thuật chuyển giao.
Kinh phí cho Đề án 1816 ngày càng hạn chế, ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến tỉnh và đơn vị chuyển giao Bộ Y tế đã triển khai nhiều cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này.
HUPH hỗ trợ các đơn vị chuyển giao, nhưng nguồn vốn hạn chế do phụ thuộc vào ngân sách, dẫn đến số lượng đơn vị nhận chuyển giao bị giới hạn và chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng Để nâng cao hiệu quả đào tạo CGKT, cần có cơ chế chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho các gói giải pháp về chính sách BHYT, cập nhật thường xuyên danh mục kỹ thuật, và đảm bảo ngân sách đầu tư ổn định cho hoạt động này.
4.3.2.2 Về phía đơn vị chuyển giao
Ngành Y tế hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, ảnh hưởng đến hiệu quả trong việc tăng cường bác sĩ tại cơ sở Chính sách đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn để thu hút nhân lực có trình độ, đặc biệt là bác sĩ Các bệnh viện tuyến dưới vẫn chưa đủ trang thiết bị, phương tiện và nhân lực để tiếp nhận chuyển giao từ tuyến trên, dẫn đến việc không thể tiếp nhận các chuyên khoa sâu do thiếu hụt về cơ sở vật chất và nhân lực.
BVPTƯ luôn gặp phải tình trạng đông học viên, dẫn đến việc giảng viên không thể kèm cặp đầy đủ, ảnh hưởng đến chất lượng kiến thức thu được Bên cạnh đó, trang thiết bị thực hành chưa đáp ứng đủ cho số lượng lớn học viên Hơn nữa, đơn vị chuyển giao thường xuyên phải đối mặt với tiến độ triển khai Đề án và các vấn đề liên quan đến kinh phí, như chậm thanh quyết toán chứng từ cho các kỹ thuật đào tạo.
Báo cáo Chỉ đạo tuyến thực hiện Đề án 1816 của Bệnh viện Bạch Mai chỉ ra rằng các cơ sở đa khoa miền Bắc đang gặp phải nhiều khó khăn tương tự như đề tài của chúng tôi Cụ thể, họ thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, thuốc và vật tư y tế Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cán bộ y tế cũng thiếu hụt, trình độ chuyên môn không đồng đều và còn thiếu kinh nghiệm.
HUPH đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc triển khai các kỹ thuật cao do tài liệu chuyên ngành hạn chế và một số kỹ thuật như tiêu sợi huyết với Alteplase chưa được bảo hiểm y tế thanh toán Bệnh nhân thường được đưa đến muộn, và nhận thức của người nhà còn hạn chế, dẫn đến sự không hợp tác Địa hình phức tạp cũng gây khó khăn trong việc di chuyển Đối với giảng viên tham gia đào tạo chuyển giao kỹ thuật, nhiều người thiếu kinh nghiệm sư phạm, ảnh hưởng đến phương pháp giảng dạy Tài liệu đào tạo chủ yếu được biên soạn từ kinh nghiệm cá nhân của bác sĩ, dẫn đến sự không đồng nhất trong chất lượng Những vấn đề này đã được nêu tại Hội nghị giao ban Chỉ đạo tuyến Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế, BYT đang triển khai giải pháp đào tạo cho các bệnh viện từ trung ương đến địa phương, trong đó BVPTƯ và BVL&BP tỉnh đang thực hiện nghiêm túc Việc tăng cường đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên và hỗ trợ cập nhật tài liệu là cần thiết cho sự phát triển trong đào tạo chuyển giao kỹ thuật trong tương lai.
4.3.2.3 Về phía đơn vị tiếp nhận Đối với các BVL&BP tuyến tỉnh đều gặp tình trạng thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao đặc biệt là bác sĩ do vậy đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo chuyển giao kỹ thuật Có những bệnh viện bác sĩ phải kiêm nhiệm thêm 1-2 khoa điều trị, năng lực cán bộ y tế cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến quá trình đào tạo
Phần lớn cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện tại đang xuống cấp và thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến việc triển khai kỹ thuật (chiếm 30,4%) Ngoài ra, các BVL&BP tuyến tỉnh còn gặp khó khăn do nguồn người bệnh ít, trong khi một số kỹ thuật đã được chuyển giao và triển khai xong.
Hội nghị tổng kết hoạt động Chỉ đạo tuyến năm 2015 của Bộ Y tế đã chỉ ra rằng 47,6% bệnh nhân không có mặt khi triển khai các kỹ thuật, phản ánh những khó khăn trong việc thực hiện Đề án 1816 Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch tại thành phố Hồ Chí Minh cũng ghi nhận tình trạng thiếu bác sĩ chuyên môn giỏi và tình hình quá tải tại các bệnh viện miền Nam Nhiều bệnh nhân không cần kỹ thuật cao vẫn vượt tuyến đến khám chữa bệnh tại bệnh viện thành phố, trong khi các trường hợp này có thể được điều trị tại tuyến cơ sở nếu tổ chức tốt Mặc dù đã triển khai nhiều kỹ thuật mới, sức thu hút bệnh nhân tại các bệnh viện tuyến huyện, xã vẫn thấp, dẫn đến tỷ lệ vượt tuyến cao do nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng Trình độ cán bộ và trang thiết bị tại các bệnh viện chưa đáp ứng yêu cầu, gây hạn chế trong việc hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật.