Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những mặt hạn chế trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ như: thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu về môi trường, 6
Trang 1HOÀNG PHƯƠNG LIÊN
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN PHÖC THỌ NĂM 2016
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TCQLYT
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62727605
HÀ NỘI, 2016
HUPH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG PHƯƠNG LIÊN
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN PHÖC THỌ NĂM 2016
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TCQLYT
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62727605
PGS.TS Đỗ Mai Hoa
Hà Nội, 2016
HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn đòi hỏi nỗ lực và những cố gắng không chỉ của riêng bản thân tôi mà còn cần rất nhiều sự hỗ trợ và giúp đỡ từ phía các Thầy Cô giáo, gia đình và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Mai Hoa, người Thầy đã tận tình giúp đỡ và theo sát tôi trong toàn bộ quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường; Các thầy giáo, cô giáo; Các phòng ban trường Đại học Y tế Công cộng đã góp nhiều công sức đào tạo, giúp
đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Lãnh đạo Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ đã tạo điều kiện và nhiệt tình cộng tác với tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu tại bệnh viện
Tôi xin được cảm ơn các điều tra viên của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ vì sự hỗ trợ trong việc thu thập số liệu Đề tài này không thể hoàn thành nếu không có sự đóng góp của các đối tượng nghiên cứu tại địa bàn huyện Phúc Thọ, tôi xin chân thành cảm ơn họ
Sau cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã luôn dành cho tôi những tình cảm quý báu, chia sẻ khó khăn, chăm sóc động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Hà Nội, tháng 8 năm 2016
Hoàng Phương Liên
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.1.3 Một số ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe 6
1.1.4 Một số ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường 8
1.2 Quy định về quản lý chất thải y tế 8
1.2.1 Một số văn bản quy định về quản lý chất thải y tế 8
1.2.2 Quy định về quản lý CTYT thực hiện theo thông tư liên tịch 58/2015 10
1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới 16
1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 19
1.5 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Mục đích của từng loại phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Đối với nghiên cứu định lượng: 22
2.4.2 Đối với nghiên cứu định tính: 22
2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.6.1 Đối với nghiên cứu định lượng 24
2.6.2 Đối với nghiên cứu định tính 26
2.6.3 Yêu cầu bộ công cụ 26
2.7 Biến số nghiên cứu 27
2.7.1 Nhóm biến số về thực trạng hoạt động quản lý CTRYT 27
2.7.2 Nhóm biến số về một số yếu tố ảnh hưởng 30
HUPH
Trang 52.8 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 30
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 32
2.9.1 Số liệu định lượng 32
2.9.2 Số liệu định tính 32
2.10 Đạo đức nghiên cứu 32
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 33
2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu, sai số 33
2.11.2 Biện pháp khắc phục sai số 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Thực trạng công tác quản lý CTRYT tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ 35
3.2.1 Công tác quản lý chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện 35
3.2.2 Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện 36
3.2.3 Văn bản hướng dẫn về dụng cụ phục vụ hoạt động quản lý CTRYT 37
3.2.4 Thực trạng dụng cụ phục vụ công tác quản lý CTRYT 38
3.2.5 Thực trạng hoạt động phân loại CTRYT khi tiêm 40
3.2.6 Thực trạng hoạt động thu gom chất thải rắn y tế 45
3.2.7 Thực trạng hoạt động vận chuyển chất thải rắn y tế 48
3.2.8 Thực trạng lưu giữ chất thải rắn y tế 52
3.2.9 Thực trạng xử lý CTRYT 55
3.2.10 Khối lượng, thành phần CTRYT phát sinh và kinh phí cho các hoạt động quản lý CTRYT 55
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTRYT tại Bệnh viện 57
3.3.1 Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện 57
3.3.2 Quy định và văn bản hướng dẫn ảnh hưởng đến quản lý CTRYT 58
3.3.3 Cơ sở vật chất ảnh hưởng đến quy trình quản lý CTRYT 59
3.3.4 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phân loại CTRYT tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ 60
3.3.5 Đánh giá hoạt động quản lý chất thải rắn bằng ma trận SWOT 61
Chương 4: BÀN LUẬN 68
HUPH
Trang 64.1 Thực trạng hoạt động quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Phúc Thọ 68
4.1.1 Thực trạng văn bản hướng dẫn và cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý CTRYT 68
4.1.2 Thực trạng phân loại CTRYT 69
4.1.3 Thực trạng thu gom CTRYT 70
4.1.4 Thực trạng vận chuyển CTRYT 70
4.1.5 Thực trạng lưu giữ CTRYT 71
4.1.6 Thực trạng xử lý CTRYT 71
4.2 Đánh giá, phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTRYT và đề xuất giải pháp phù hợp 71
4.2.1 Hoạt động quản lý của bệnh viện, sự quan tâm của lãnh đạo 71
4.2.2 Cơ chế chính sách 72
4.2.3 Nhân lực, Tài chính 73
4.2.4 Một số yếu tố liên quan khác 73
4.2.5 Phân tích bảng ma trận SWOT để đề ra được các giải pháp phù hợp với thực tiễn bệnh viện 73
KẾT LUẬN 75
KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 82
Phụ lục 1A: Khung lý thuyết 82
Phụ lục 1B: Cơ cấu khoa, phòng và nhân lực tại Bệnh viện 83
Phụ lục 2A: Bảng kiểm quan sát thực trạng trang thiết bị, dụng cụ phục vụ hoạt động phân loại CTRYT 85
Phụ lục 2B: Bảng kiểm quan sát thực trạng thu gom vận chuyển CTRYT tại Bệnh viện 87
Phụ lục 2C: Bảng kiểm quan sát thực trạng lưu giữa CTRYT tại Bệnh viện 88
Phụ lục 2D: Bảng kiểm quan sát thực trạng phân loại CTRYT trong hoạt động tiêm tại các khoa/phòng bệnh viện 89
HUPH
Trang 7Phụ lục 2E: Bảng kiểm quan sát thực trạng thu gom – vận chuyển CTRYT tại các khoa/phòng bệnh viện 91 Phụ lục 3A: Hướng dẫn Phỏng vấn sâu dành cho Giám đốc và Trưởng khoa, phòng Bệnh viện 95 Phụ lục 3B: Hướng dẫn Thảo luận nhóm dành cho Điều dưỡng trưởng khoa 95 Phụ lục 3C: Hướng dẫn Thảo luận nhóm giữa nhân viên ISC các khoa 97 Phụ lục 3D: Hướng dẫn Phỏng vấn sâu Hộ lý, KTV xét nghiệm, nhân viên quản lý khu vực lưu giữ chung về quản lý CTRYT 98 Phụ lục 4: Các hình ảnh trong nghiên cứu 99
HUPH
Trang 8KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu 27
Bảng 2.2 Phân loại các biến tổ hợp 31
Bảng 3.1: Thông tin chung về nhóm đối tượng thực hiện phân loại CTRYT 34
Bảng 3.2: Thông tin chung về nhóm đối tượng thực hiện thu gom, vận chuyển CTRYT 35 Bảng 3.3: Bảng kiểm dụng cụ phục vụ công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện 39
Bảng 3.4: Thực trạng hoạt động phân loại CTRYT của từng khoa 40
Bảng 3.5 Bảng mô tả điểm quan sát thuộc hoạt động phân loại CTRYT 41
Bảng 3.6: Thực trạng hoạt động phân loại CTRYT của từng khoa theo các tiêu chí cụ thể 42
Bảng 3.7: Thực trạng hoạt động phân loại CTRYT chung của bệnh viện 43
Bảng 3.8: Hoạt động thu gom CTRYT 45
Bảng 3.9: Thực trạng hoạt động thu gom CTRYT của từng khoa theo các tiêu chí cụ thể 47
Bảng 3.10: Hoạt động vận chuyển chất thải rắn y tế 48
Bảng 3.11: Thực trạng hoạt động vận chuyển CTRYT của từng khoa theo các tiêu chí cụ thể 50
Bảng 3.12 Hoạt động lưu giữ chất thải rắn y tế 52
Bảng 3.13 Chi phí cho hoạt động quản lý CTRYT tại Bệnh viện 55
Bảng 3.14: Sự quan tâm của lãnh đạo và quy chế quản lý CTRYT 57 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thực hành phân loại CTRYT với tuổi, giới, thâm niên công tác và trình độ của đối tượng nghiên cứu 60HUPH
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế 44 Biểu đồ 2 Thực trạng thu gom chất thải rắn y tế 46 Biểu đồ 3 Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế 48
HUPH
Trang 11TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Hiện nay, chất thải rắn y tế (CTRYT) phát sinh tại các cơ sở y tế có chiều hướng ngày càng gia tăng do tốc độ phát triển của ngành y, dược học, cùng với sự gia tăng số giường bệnh điều trị Nghiên cứu này được tiến hành tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ - Thành phố Hà Nội nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT
Trong thời gian qua, Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ đã tích cực củng cố hoạt động xử lý CTRYT, nhưng tại các khoa phòng trong bệnh viện việc thực hiện quản lý CTRYT còn hết sức lỏng lẻo Do vậy,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại
bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ năm 2016 ” mô tả thực trạng và phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ, từ đó
đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện bệnh viện Nghiên cứu này áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những mặt hạn chế trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ như: thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu về môi trường, 6/11 khoa chưa đáp ứng các yêu cầu về phân loại CTRYT, 4/11 khoa không đạt yêu cầu trong công tác thu gom Đồng thời nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Qua nghiên cứu tác giả đưa ra một số khuyến nghị như sau: 1) Cấp kinh phí chi thường xuyên để thực hiện các hoạt động quản lý chất thải y tế (CTYT) bảo vệ môi trường trong bệnh viện; 2) Tổ chức cho cán bộ y tế học tập kiến thức chuyên môn về quản lý CTRYT; 3) Tăng cường giám sát hỗ trợ, thi đua giữa các khoa thực hiện nghiêm các quy định về quản lý CTYT, đặc biệt là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYT
HUPH
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự gia tăng dân số và phát triển về kinh tế, CTRYT phát sinh tại các
cơ sở y tế có chiều hướng ngày càng gia tăng do tốc độ phát triển của ngành y, dược học, cùng với sự gia tăng số giường bệnh điều trị Theo thống kê tại các cơ sở y tế trên cả nước phát sinh khoảng 450 tấn CTR/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là CTRYT nguy hại [8] Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, mức tăng CTYT hiện nay là 7,6%/năm ước tính năm 2015 lượng CTYT phát sinh là 600 tấn/ngày và dự kiến năm 2020 là 800 tấn/ngày [2]
Về hoạt động quản lý CTRYT, tính đến hết năm 2015, tỷ lệ CTRYT được thu gom đạt trên 75%, tỷ lệ CTRYT nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng 65% Hầu hết các bệnh viện đều tiến hành phân loại, thu gom chất thải nhưng phương tiện thu gom còn thiếu, chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn [2]
Chất thải rắn y tế là loại chất thải đặc biệt, các tác nhân gây bệnh, độc hại cho con người và môi trường, nếu các hoạt động quản lý CTRYT như phân loại, thu gom, lưu giữ, xử lý… không đúng quy định sẽ tiềm ẩn những nguy cơ cho sức khỏe con người, môi trường và cơ sở y tế với chức năng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh cũng sẽ là nơi phát tán các tác nhân gây bệnh ra môi trường
Từ ngày 01/4/2016, Bộ Y Tế - Bộ Tài Nguyên Môi Trường đã có thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản
lý CTYT thay thế Quyết định số 43/2008/QĐ-BYT, quy định cụ thể các nội dung cần thực hiện trong hoạt động quản lý CTYT, quy chế này là cơ sở chủ yếu để các cấp y tế ở cơ sở tại địa phương thực hiện hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý và các nội dung khác trong hoạt động quản lý CTYT
Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ có 180 giường bệnh với 191 cán bộ y tế,
11 khoa lâm sàng , 03 khoa cận lâm sàng, 07 phòng chức năng Mỗi ngày khám khoảng 300 - 500 bệnh nhân ngoại trú và điều trị khoảng 200 - 300 bệnh nhân nội trú, lượng CTRYT phát sinh/ngày khoảng 50kg
HUPH
Trang 13Do điều kiện kỹ thuật, cơ sở vật chất của bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn hiện chưa đủ xe thu gom vận chuyển rác thải y tế từ khoa, phòng về kho tập kết, lưu trữ và xử lý tại khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, kinh phí vận hành và bào trì cho lò đốt rác còn hạn chế Bên cạnh đó nhận thức về thực hành xử lý chất thải trong cán bộ y
tế, nhân viên làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao
Tác giả công tác tại khoa KSNK mong muốn bệnh viện thực hiện tốt quy chế quản lý CTYT theo thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, nghiên cứu
được triển khai với mong muốn trả lời cho các câu hỏi: Công tác quản lý, thu gom,
phân loại, lưu trữ, vận chuyển và xử lý CTRYT tại các khoa phòng trong bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý, thu gom, phân loại, lưu trữ và vận chuyển CTRYT tại đây và giải pháp khắc phục hiệu quả nhất là gì?
Nghiên cứu sẽ giúp đưa ra một số giải pháp phù hợp với điều kiện bệnh viện nhằm nâng cao công tác quản lý CTRYT: phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển
và xử lý CTRYT từ các khoa phòng trong bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ về khoa KSNK để xử lý một cách hợp lý, an toàn góp phần giảm thiểu tác hại của CTRYT với môi trường bệnh viện và cộng đồng
HUPH
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện
Phúc Thọ năm 2016
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý chất thải rắn y tế và
đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với điều kiện bệnh viện
HUPH
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế
1.1.1 Các khái niệm
Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y
tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc
tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
Quản lý chất thải y tế: là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom,
lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện
Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất
thải y tế
Thu gom chất thải y tế: là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và
vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế
Vận chuyển chất thải y tế: là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu
giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở
xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế
Cơ sở y tế: bao gồm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia
đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của liên Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y
tế, phân định chất thải y tế như sau:
HUPH
Trang 161.1.2.1 Chất thải lây nhiễm, bao gồm:
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật
truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm
Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
1.1.2.2 Chất thải nguy hại không lây nhiễm, bao gồm:
Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại
Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất
Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; Chất hàn răng amalgam thải bỏ
Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số
quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)
1.1.2.3 Chất thải y tế thông thường, bao gồm:
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người
và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế; Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tại Điểm a, Khoản 4 Điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại
HUPH
Trang 171.1.2.4 Danh mục và mã chất thải y tế nguy hại bao gồm:
Danh mục và mã chất thải nguy hại quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT được quy định cụ thể cho chất thải y tế nguy hại tại Phụ lục số 01 (A) ban hành kèm theo Thông tư này
Danh mục chất thải y tế thông thường được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế quy định tại Phụ lục số 01 (B) ban hành kèm theo Thông tư này
1.1.3 Một số ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe
1.1.3.1 Đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng
Tất cả các cá nhân tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với chất thải y tế nguy hại ở bên trong hay bên ngoài khuôn viên bệnh viện tại tất cả các công đoạn từ phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý đều chịu tác động xấu tới sức khỏe, nếu chất thải y tế không được quản lý đúng quy định và các vấn đề an toàn không được quan tâm đúng mức, các đối tượng chịu ảnh hưởng chính [12] Bao gồm:
- Cán bộ, nhân viên y tế: bác sĩ, y sĩ, y tá, kỹ thuật viên, hộ lý, sinh viên thực tập công nhân vận hành các công trình xử lý chất thải,….v.v
- Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong cơ sở y tế: nhân viên công ty vệ sinh công nghiệp; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi
- Các đối tượng khác: Người tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên bệnh viện; người liên quan đến xử lý rác và người nhặt rác; bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú; người nhà bệnh nhân và khách thăm; học sinh, học viên học tập/thực tập tại các CSYT; cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế; cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con sông tiếp nhận các nguồn chất thải của các cơ sở y
tế chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu
1.1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe
Theo Cục Quản lý môi trường y tế, ảnh hưởng của từng loại chất thải rắn y tế tới sức khỏe như sau [12]:
HUPH
Trang 18 Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm:
Trong thành phần của chất thải lây nhiễm có thể chứa đựng một lượng rất lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B,….các tác
nhân truyền nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức:
- Qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da);
- Qua các niêm mạc (màng nhầy);
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải);
- Qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải)
Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải rất nguy hiểm, gây tổn thương kép tới sức khỏe con người: vừa gây chấn thương: vết cắt, vết đâm, , vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV, Năm 2012, số nhân viên y tế bị tai nạn nghề nghiệp do vật sắc nhọn là 64,8%, trong đó điều dưỡng có tần suất bị tổn thương cao nhất (19/100 người/năm) Số trường hợp xảy ra khi tiến hành vứt bỏ và thu gom rác
là 8,8% Tỷ lệ mới mắc viêm gan B do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế nói chung là
50 ca/100.000 người/năm, ở điều dưỡng là 65 ca/100.000 người/năm Tỷ lệ mới mắc HIV do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế nói chung là 0,2 ca/100.000 người/năm,
ở điều dưỡng là 0,3 ca/100.000 người/năm [12]
Ảnh hưởng của chất thải hóa học nguy hại:
Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,…
Các chất khử trùng, thuốc tẩy như clo, các hợp chất natri hypoclorua có tính
ăn mòn cao, thủy ngân khi xâm nhập vào cơ thể có thể liên kết với những phân tử như nucleic acid, protein làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tế bào Nhiễm độc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với triệu chứng run rẩy, khó diễn đạt, giảm sút trí nhớ,… và nặng hơn nữa có thể gây liệt, nghễnh ngãng, với liều lượng cao có thể gây tử vong
HUPH
Trang 19Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: tiếp xúc trực tiếp, hít phải bụi và các sol khí, qua da, qua đường tiêu hóa, tiếp xúc trực tiếp với chất thải dính thuốc gây độc tế bào, tiếp xúc với các chất tiết
ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu
Tuy nhiên mức độ nguy hiểm còn phụ thuộc nhiều vào hình thức phơi nhiễm Một số chất gây độc tế bào gây tác hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc đặc biệt là da và mắt với các triệu chứng thường gặp như chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da Đây là loại chất thải y tế cần được xử lý đặc biệt để tránh ảnh hưởng xấu của chúng tới môi trường và con người
1.1.4 Một số ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường
Đối với môi trường đất: Quản lý CTYT không đúng quy trình, xử lý CTYT
không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn [12]
Đối với môi trường không khí:CTYT từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng
đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, Trong khâu xử lý, CTYT có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như dioxin, furan, … từ lò đốt và CH , NH , H S,… từ bãi chôn lấp [12]
Đối với môi trường nước: CTYT chứa nhiều chất độc hại và các tác nhân gây
bệnh có khả năng lây nhiễm cao như: chất hữu cơ, hóa chất độc hại, kim loại nặng
và các vi khuẩn Samonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng,… Nếu không được xử lý trước khi xả thải sẽ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A,…[12]
1.2 Quy định về quản lý chất thải y tế
1.2.1 Một số văn bản quy định về quản lý chất thải y tế
Các văn bản pháp luật dưới đây là cơ sở cho việc nghiên cứu mô tả thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Phúc Thọ, các văn bản đó bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 12/12/2005;
- Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm ngày 21/11/2007;
HUPH
Trang 20- Luật Bảo vệ môi trường ngày 23 tháng 6 năm 2014;
- Luật Khám chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý CTR;
- Thông tư 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/10/2011 về quy chế quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh;
- Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 hướng dẫn tổ thực hiện quản
lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện;
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản
lý CTYT;
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lâp hồ sơ, đăng ký, cấp giấy phép hành nghề, mã số quản lý;
- Quyết định số 1014/QĐ-BYT ngày 30/3/2012 về kế hoạch hành đông quốc gia về tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn;
- Các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn Quốc gia về quản lý chất thải y tế, QCVN 02: 2008/BTNMT;
- Quyết định số 2149/QĐ-TTg, ngày 17/12/2009, phê duyệt Chiến lược Quốc gia về quy hoạch và kế hoạch tổng thể về quản lý chất thải y tế;
- Quyết định số 1873/QĐ-BYT, ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Y Tế về cơ
sở xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế;
- Quyết định số 3671/QĐ-BYT, ngày 27/9/2012, hướng dẫn công tác kiểm soát nhiễm khuẩn;
- Quyết định số 4858/QĐ-BYT, ngày 03/12/2013, ban hành bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện;
- Quy định, quy trình hướng dẫn thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ do Giám đốc bệnh viện ban hành, được xây dựng và
có bổ sung hàng năm phù hợp với thực tế tại bệnh viện
HUPH
Trang 21Như vậy, chất thải y tế đã và đang là vấn đề được Quốc hội, Chính phủ và các
Bộ, Ngành liên quan hết sức quan tâm Các quy định trên đã cung cấp hành lang pháp
lý tương đối đầy đủ cho hoạt động quản lý, xử lý chất thải nói chung và chất thải y tế nói riêng hiện nay
1.2.2 Quy định về quản lý CTYT thực hiện theo thông tư liên tịch 58/2015
1.2.2.1 Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế
Bao bì (túi), dụng cụ (thùng, hộp, can), thiết bị lưu chứa CTYT thực hiện theo quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và Khoản 7 Điều này Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phải có biểu tượng theo quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này Cơ sở y tế không phải thực hiện các quy định có liên quan về bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa quy định tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và có kích thước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa
Màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT quy định như sau:
- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm;
- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm;
- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT thông thường;
- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế
Bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế sử dụng phương pháp đốt không làm bằng nhựa PVC
Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng Ngoài các quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều này, thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng Thùng, hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưu chứa sau khi đã được làm sạch
và để khô
1.2.2.2 Quy định về quản lý chất thải y tế
Về phân loại chất thải y tế:
Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:
HUPH
Trang 22Chất thải y tế nguy hại và CTYT thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh
Từng loại CTYT phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định tại Thông tư 58/2015 Trường hợp các CTYT nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp
xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa
Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải: Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải
bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại CTYT Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại CTYT phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải
Phân loại chất thải y tế:
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi
và có màu vàng;
Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi màu vàng; Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng
có lót túi và có màu đen;
Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp đậy kín;
Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;
Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng
Về thu gom chất thải y tế:
Thu gom chất thải lây nhiễm:
Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải
HUPH
Trang 23phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò
rỉ chất thải trong quá trình thu gom
Cơ sở y tế quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong cơ sở y tế Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 lần/ngày Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khu lưu giữ tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế hoặc đưa
đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu là 01 (một) lần/tháng
Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:
Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế Đối với các chất thải hàn răng amalgam
và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không bị
rò rỉ hay phát tán ra môi trường
Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục
đích tái chế và CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng
Về lưu giữ chất thải y tế:
Cơ sở y tế bố trí khu vực lưu giữ CTYT trong khuôn viên cơ sở y tế đáp ứng các yêu cầu: Cơ sở y tế thực hiện xử lý CTYT nguy hại cho cụm cơ sở y tế và bệnh
viện phải có khu vực lưu giữ CTYT nguy hại đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định tại Phụ lục số 03 (A) ban hành kèm theo Thông tư Cơ sở y tế không thuộc đối tượng quy định tại Điểm a Khoản này phải có khu vực lưu giữ CTYT nguy hại đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định tại Phụ lục số 03 (B) ban hành kèm theo Thông tư 58/2015
Dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT nguy hại tại khu lưu giữ chất thải trong cơ sở
y tế thực hiện thống nhất theo quy định của Thông tư 58/2015 và phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu
HUPH
Trang 24giữ chất thải; Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư
Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín và chống được sự xâm nhập của các loài động vật Dụng cụ, thiết bị lưu chứa hóa chất thải phải được làm bằng vật liệu không có phản ứng với chất thải lưu chứa và có khả năng chống được sự ăn mòn nếu lưu chứa chất thải có tính ăn mòn Trường hợp lưu chứa hóa chất thải ở dạng lỏng phải có nắp đậy kín để chống bay hơi và tràn đổ chất thải
Chất thải y tế thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải
trong khuôn viên cơ sở y tế
Chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng
trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý
Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng
Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh
tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày Đối với cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá
03 ngày trong điều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín
Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về để xử lý theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu tiên xử lý trong ngày Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày
Cơ sở y tế thực hiện các quy định có liên quan đến lưu giữ, khu vực lưu giữ CTYT nguy hại theo quy định tại Thông tư này và không phải thực hiện các quy định tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
Giảm thiểu chất thải y tế:Cơ sở y tế phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu
phát sinh CTYT theo thứ tự ưu tiên sau:
HUPH
Trang 25i) Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh CTYT
ii) Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế giảm thiểu phát sinh CTYT iii) Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả
Quản lý chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Chỉ được phép
tái chế CTYT thông thường và chất thải quy định tại Khoản 3 Điều này Không được sử dụng vật liệu tái chế từ CTYT để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như CTYT thông thường
Ngoài các quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, khi chuyển giao chất thải quy định tại Khoản 3 Điều này để phục vụ mục đích tái chế, cơ sở y tế phải thực hiện các quy định sau: Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này; Ghi đầy đủ thông tin vào Sổ bàn giao chất thải phục vụ mục đích tái chế theo mẫu quy định tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này
Về vận chuyển và xử lý chất thải y tế:
a) Vận chuyển chất thải y tế nguy hại để xử lý theo mô hình cụm cơ sở y tế:
Việc vận chuyển CTYT nguy hại từ các cơ sở y tế trong cụm đến cơ sở xử lý cho cụm phải thực hiện bằng các hình thức sau:
Cơ sở y tế trong cụm thuê đơn vị bên ngoài có giấy phép xử lý chất thải nguy
hại hoặc giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại để thực hiện vận chuyển chất thải của cơ sở y tế đến cơ sở xử lý cho cụm Đối với chủ xử lý chất thải nguy hại, chủ hành nghề quản lý chất thải nguy hại tham gia vận chuyển CTYT trong cụm nhưng nằm ngoài phạm vi của giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phải báo cáo cơ quan cấp giấy phép trước khi thực hiện theo quy định tại Khoản
5 Điều 23 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
Cơ sở y tế trong cụm tự vận chuyển hoặc thuê đơn vị khác không thuộc đối
tượng quy định tại Điểm a Khoản này để vận chuyển CTYT nguy hại từ cơ sở y tế đến cơ sở xử lý cho cụm phải đáp ứng các quy định tại Khoản 2, 3 và Khoản 4 Điều này và phải được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
HUPH
Trang 26gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phê duyệt tại kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử
lý CTYT trên địa bàn tỉnh
Phương tiện vận chuyển: Cơ sở y tế, đơn vị được thuê vận chuyển CTYT nguy hại sử dụng xe thùng kín hoặc xe bảo ôn chuyên dụng để vận chuyển hoặc sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác để vận chuyển CTYT nguy hại từ cơ sở y tế đến cơ sở xử lý cho cụm nhưng phải đáp ứng yêu cầu tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này Dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT nguy hại trên phương tiện vận chuyển phải đáp ứng các yêu cầu sau: Có thành, đáy, nắp kín, kết cấu cứng, chịu được va chạm, không bị rách vỡ bởi trọng lượng chất thải, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển; Có biểu tượng về loại chất thải lưu chứa theo quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này với kích thước phù hợp, được in rõ ràng, dễ đọc, không bị mờ và phai màu trên thiết bị lưu chứa chất thải; Được lắp cố định hoặc có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển và bảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải
Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển Trong quá trình vận chuyển CTYT từ cơ sở y tế về cơ sở xử lý CTYT cho cụm, khi xảy ra tràn đổ, cháy, nổ CTYT hoặc các sự cố khác phải thực hiện ngay các biện pháp ứng phó, khắc phục sự cố môi trường theo quy định của pháp luật
b) Vận chuyển chất thải y tế để xử lý theo mô hình tập trung:
Vận chuyển chất thải nguy hại không lây nhiễm: thực hiện theo quy định
tại Điều 8 Thông tư số 36/2015
Vận chuyển chất thải lây nhiễm: thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này
và phải đáp ứng các yêu cầu sau: Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các bao bì, dụng cụ kín, bảo đảm không bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển Thùng của phương tiện chuyên dụng để vận chuyển chất thải lây nhiễm là loại thùng kín hoặc thùng được bảo ôn Đối với các khu vực không sử dụng được phương tiện vận chuyển chuyên dụng để vận chuyển CTYT nguy hại, được sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhưng phải đáp ứng các quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 11 Thông tư này và được ghi
HUPH
Trang 27trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Thông tư số 36/2015
Vận chuyển CTYT thông thường thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý
chất thải thông thường
Về xử lý chất thải y tế nguy hại:
Chất thải y tế nguy hại phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
môi trường Ưu tiên lựa chọn các công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường
và bảo đảm xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường do Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường ban hành
Hình thức xử lý CTYT nguy hại theo thứ tự ưu tiên sau:
i) Xử lý tại cơ sở xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc tại cơ sở xử lý chất thải
nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT
ii) Xử lý CTYT nguy hại theo mô hình cụm cơ sở y tế (CTYT của một cụm cơ sở
y tế được thu gom và xử lý chung tại hệ thống, thiết bị xử lý của một cơ sở trong cụm) iii) Tự xử lý tại công trình xử lý CTYT nguy hại trong khuôn viên cơ sở y tế Hình thức xử lý CTYT nguy hại theo mô hình cụm cơ sở y tế phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý CTYT nguy hại trên địa bàn tỉnh bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới
Về quản lý và xử lý chất thải bệnh viện đã được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ lâu, một loạt các chính sách, quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại rác thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại trong đó có chất thải bệnh viện cũng
đã được công nhận và thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Nghiên cứu về CTRYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt
ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Đề cập đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh, phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường và sức khoẻ Đề xuất các biện
HUPH
Trang 28pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng; sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới cộng đồng; ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; các
trường hợp phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở NVYT
Với mục tiêu bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ, các nước đang phát triển như Mỹ và Châu Âu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTYT Trong tình hình như vậy, nhiều loại lò đốt được sản xuất tại Mỹ và Châu Âu cũng không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường và tìm cách xuất khẩu sang các nước đang phát triển, nơi mà các tiêu chuẩn môi trường còn lỏng lẻo hoặc chưa có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ Tại Mỹ, vào năm 1988, cả nước có 6200 lò đốt CTYT nhưng đến năm 2006 chỉ còn lại 62 lò đốt hoạt động Tại Canada, năm 1995 có 219
lò đốt nhưng đến năm 2003 chỉ còn 56 lò đốt vận hành Tại châu Âu, nhiều nước
đã đóng cửa nhiều lò đốt CTYT Tại Đức, năm 1984 có 554 lò đốt hoạt động nhưng
đến năm 2002 không còn lò đốt nào vận hành Tại Bồ Đào Nha, năm 1995 có 40 lò đốt nhưng năm 2004 chỉ còn một lò đốt hoạt động Ai-len có 150 lò đốt hoạt động
năm 1990 nhưng đến năm 2005 đã ngưng hoạt động toàn bộ các lò đốt CTYT [44]
Các nước phát triển đã thay thế lò đốt bằng các công nghệ khác thân thiện với môi trường Ở nước ta, nhiều lò đốt hiện nay không được vận hành do gặp phải sự phản đối của người dân Hiện nay, trên thế giới, các công nghệ không đốt phổ biến
bao gồm: Quy trình nhiệt:khử khuẩn bằng nhiệt ướt như nồi hấp (autoclave) hay hệ
thống hấp ướt tiên tiến (advanced steam), khử khuẩn bằng nhiệt khô (dry heat),
công nghệ vi sóng (microwave), plasma ; Quy trình hoá học: không dùng clo chlorine), thuỷ phân kiềm (alkaline hydrolysis); Quy trình bức xạ: tia cực tím, cobalt; Quy trình sinh học: xử lý bằng enzym Trong số các công nghệ trên, quy
(non-trình nhiệt là phổ biến nhất
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Zang Yong năm 2009 tại Nam Kinh, Trung Quốc đối với 15 bệnh viện, 3 công ty xử lý và 200 bệnh nhân Kết quả cho thấy lượng CTRYT là từ 0,5-0,8 kg/giường, trung bình 0,68 kg/ngày giường Việc
HUPH
Trang 29tách riêng các loại rác thải y tế đã được thực hiện tại 73% các bệnh viện; 20% bệnh viện vẫn sử dụng nhân viên không đủ điều kiện thu gom CTYT; 93,3% các bệnh viện có khu vực lưu trữ tạm thời Ngoài ra, 93,3% bệnh viện đã cung cấp các khóa đào tạo cho nhân viên; Tuy nhiên, chỉ có 20% bệnh viện thực hiện đào tạo liên tục Các hệ thống xử lý tập trung sử dụng công nghệ thiêu đốt với chi phí xử lý CTYT là khoảng 580 US $/ tấn Kết quả cũng cho thấy 77% số người được hỏi nghĩ rằng
quản lý CTYT là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn dịch vụ bệnh viện [41]
Tại Hy Lạp, nghiên cứu tại 132 cơ sở y tế, các tính toán dựa trên lượng CTRYT chuyển giao lò đốt CTYT duy nhất tại Athens trong khoảng thời gian 22 tháng trong năm 2009 và năm 2010 Kết quả cho thấy rằng có một sự biến đổi lớn
về lượng CTYT các bệnh viện Tổng lượng CTYT trung bình dao động từ 0.012 kg/GB/ngày của bệnh viện tâm thần lên đến 0,72 kg/GB/ngày, đối với bệnh viện đại học công lập Trong các bệnh viện tư nhân, lượng CTYT trung bình dao động từ 0,0012 kg/GB/ngày, lên đến 0,49 kg/GB/ngày, đối với các phòng khám thai Các cơ
sở tư nhân phát sinh chất thải ít hơn so với các bệnh viện công tương ứng Các CTYT lây nhiễm/độc hại phát sinh là 10% và 50% tổng số CTYT nguy hại được tạo
ra bởi các bệnh viện điều trị ung thư và các trường đại học công tương ứng [38] Một nghiên cứu của Anong Hansakul và cộng sự năm 2007 tại 12 bệnh viện ở vùng Đông Bắc Thái Lan cho kết quả việc quản lý chất thải tại các bệnh viện này do công ty tư nhân đảm nhiệm, tuy nhiên vẫn còn thiếu đường và phương tiện vận chuyển, khu vực lưu giữ CTYT chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ sức khỏe công cộng; thiếu phương tiện bảo hộ cho công nhân; kiến thức quản lý CTYT của công nhân công ty tư nhân còn hạn chế [37]
Hoạt động quản lý CTRYT tại một số nước Châu Á chưa được thực hiện tốt Nghiên cứu của C Visvanathan cho thấy CTYT chưa cô lập riêng vẫn còn tình trạng lẫn lộn với chất thải thông thường và được xử lý chung với những loại CTR
đô thị khác, dược phẩm hỏng, chất thải lây nhiễm được xử lý chung với CTR đô thị (tại Nonthburi, Thái Lan; Bangladesh…) Phương pháp đốt là phương pháp tiêu hủy CTRYT phổ biến tại Việt Nam cũng như một số nước trong khu vực Châu Á [40]
HUPH
Trang 30Một nghiên cứu tại Angola cho thấy, việc phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và tiêu hủy CTRYT chưa được thực hiện nghiêm túc, CTRYT được phân loại, đựng trong các thùng nhựa hoặc carton, vật sắc nhọn đựng trong chai, hộp tuy nhiên việc thực hiện chưa nghiêm túc; lưu giữ chất thải tạm thời, vận chuyển chất thải không đảm bảo an toàn, chất thải được lưu giữ lẫn lộn [43]
Hoạt động quản lý CTRYT tại một số nước có điều kiện tương tự như Việt Nam chưa được thực hiện triệt để, mặc dù quy định cụ thể về quản lý CTYT tại các nước là khác nhau, tuy nhiên theo những kết quả nghiên cứu trên thì công tác quản
lý CTRYT còn nhiều bất cập và vẫn là nguy cơ lớn đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường
1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Hầu hết các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải, trong đó có 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh, và nhận xét của đoàn kiểm tra liên bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý [8]
Phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa đạt tiêu chuẩn Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế Trong vận chuyển CTRYT, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển CTYT nguy hại; 53,4% bệnh viện
có mái che để lưu CTR [8]
Nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm năm 2007 tại 11 bệnh viện huyện thuộc tỉnh Hải Dương cho kết quả 100% bệnh viện phân loại ngay tại nguồn phát sinh, 4/11 bệnh viện để chung chất thải lâm sàng với chất thải sinh hoạt 8/11 bệnh viện dụng cụ đựng chất thải có màu sắc không đúng quy định; 100% bệnh viện không có phương tiện vận chuyển chất thải chuyên dụng; nơi lưu giữ chất thải không đảm bảo
vệ sinh Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về quản lý CTYT
HUPH
Trang 31còn thấp: 50,5% hiểu đúng về màu sắc dụng cụ đựng CTRYT; 49,9% biết đầy đủ các loại CTRYT [36]
Hoạt động vận chuyển CTYT nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn [36]
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng tại Bệnh viện
đa khoa Đông Anh cho thấy, có 99,3% các NVYT trả lời đã được hướng dẫn về quy chế quản lý CTYT nhưng tỷ lệ chất thải được thu gom, phân loại đúng là thấp (từ 30-60%), tỷ lệ NVYT hiểu biết về 5 nhóm CTRYT là 27,2% [23]
Theo nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng của Đinh Tấn Hùng, năm 2013 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa 100% các khoa có túi, thùng thu gom CTRYT riêng biệt theo đúng tiêu chuẩn và được đặt đúng nơi quy định; 96% các khoa đều có thùng đựng vật sắc nhọn Tuy nhiên các dụng cụ thu gom chưa tuân thủ màu sắc theo quy định của Bộ Y tế [22]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự về kiến thức, thái độ thực hành trên các đối tượng là hộ lý, y tá, bác sỹ, y sỹ và dược sỹ tại các khoa Lâm sàng
và Cận lâm sàng của 10 bệnh viện khu vực phía bắc cho thấy kiến thức, thực hành quản lý, xử lý chất thải bệnh viện của NVYT tại 10 bệnh viện nghiên cứu còn hạn chế, việc phân loại chưa được thực hiện triệt để, tình trạng thu gom sai, thu gom nhầm vẫn còn xảy ra, tỷ lệ NVYT có kiến thức đạt chiếm 79,4%, trong đó tại các bệnh viện hạng II chỉ đạt 71,1%, thực hành cũng chỉ chiếm tỷ lệ 71,9% [28] Nghiên cứu này cũng chỉ ra được một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành quản lý CTYT là trình độ học vấn, thâm niên công tác, tập huấn về quản lý CTYT Nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu trên những đối tượng nghiên cứu rộng, có thể đại diện cho cả khu vực, kết quả nghiên cứu có giá trị cao Tuy nhiên, việc sử dụng bộ câu hỏi phát vấn để thu thập thông tin, điều này sẽ hạn chế khi đánh giá thực hành quản lý CTYT của đối tượng nghiên cứu khó xác định được một số yếu tố tác động khác như áp lực công việc, các kỹ thuật…v.v
HUPH
Trang 32Một đánh giá về tình hình quản lý CTYT trên địa bàn huyện Long Thành năm
2010 cho thấy chỉ có 54,4% NVYT có kiến thức chung đúng, 51,6% NVYT có thái độ chung đúng, 46% NVYT có hành vi đúng [21]
Các nghiên cứu trên cho thấy, nhìn chung tại các bệnh viện các tuyến đều còn những tồn tại, hạn chế về phương tiện, trang thiết bị quản lý CTYT, kiến thức, thực hành quản lý CTYT nói chung chưa cao và không đồng đều
1.5 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ
Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ là bệnh viện hạng III được thành lập từ tháng 10 năm 1966, quy mô của bệnh viện là 180 giường bệnh kế hoạch và số giường bệnh thực kê là 310 giường, công suất sử dụng giường bệnh hàng năm đat 100% Lưu lượng bệnh nhân đến khám hàng ngày trung bình 300 - 500 lượt; Tổng số xét nghiệm hàng ngày khoảng 500 lần; tổng số ngày điều trị nội trú trung bình là 6 ngày
Tổng số cán bộ, viên chức, người lao động của bệnh viện là 191 người, với tổng số 22 khoa, phòng bao gồm: 07 phòng chức năng, tổng số 22 người; 15 khoa
Lâm sàng và cận lâm sàng (Khoa Khám bệnh, khoa Nội tổng hợp, khoa Đông y –
phục hồi chức năng, khoa Ngoại tổng hợp, khoa Liên chuyên khoa, khoa Sản, khoa Nhi, khoa Hồi sức tích cực và chống độc, khoa truyền nhiễm, khoa Xét nghiệm, khoa Chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng, khoa Dược, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, khoa Dinh dưỡng), tổng số 169 người (Chi tiết xem Phụ lục 1b)
Trong tổng số 22 khoa, phòng của bệnh viện, có 11 khoa lâm sàng và cận lâm sàng liên quan trực tiếp đến phát sinh CTRYT tổng số là 169 cán bộ, còn lại là các khoa phòng gián tiếp liên quan đến CTRYT
Hoạt động quản lý CTRYT chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, do nguồn lực có hạn, trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập chung nghiên cứu đánh giá kiến thức thực hành của NVYT về quản lý CTRYT và sự tuân thủ của NVYT trong các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYT
HUPH
Trang 33Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các nội quy, quy định, văn bản hướng dẫn nội bộ liên quan đến quản lý chất
thải tại bệnh viện
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải gồm dụng cụ phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyển, khu vực lưu giữ CTYT
- Lãnh đạo quản lý bệnh viện; trưởng khoa, phòng, các bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động phân loại, thu gom,vận
chuyển, lưu giữ CTYT
Đối tượng loại trừ:
Viên chức, người lao động thuộc khối hành chính của bệnh viện; NVYT nghỉ
ốm dài ngày, nghỉ thai sản, nghỉ phép, đi học tập trung; những đối tượng không
đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2016 đến 31/8/2016
- Địa điểm nghiên cứu: Tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ Thành phố Hà Nội 2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng với định tính
2.4 Mục đích của từng loại phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Đối với nghiên cứu định lượng:
- Mục đích: Điều tra thực trạng quản lý CTRYT (nhân lực, các hoạt động
phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý và trang thiết bị, kiến thức thực hành hoạt động quản lý CTRYT)
2.4.2 Đối với nghiên cứu định tính:
- Mục đích: Đối với lãnh đạo bệnh viện: Tìm hiểu cách thức tổ chức thực hiện
và chiến lược của ban Lãnh đạo bệnh viện trong việc quản lý CTRYT hiện tại và
tương lai, những yếu tố ảnh hưởng về vấn đề quản lý CTRYT của bệnh
+ Đối với lãnh đạo các khoa phòng: Thu thập các thông tin có liên quan,
những thuận lợi, khó khăn về vấn đề quản lý CTRYT tại Bệnh viện
HUPH
Trang 34+ Đối với các NVYT: Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý CTRYT tại 11 khoa và bệnh viện, xác định những yếu tố ảnh hưởng thuận lợi, khó khăn trong quá trình trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý CTRYT, tìm những giải pháp đề xuất, kiến nghị cụ thể đối với cấp trên nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý
CTRYT trong hiện tại và tương lai
2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu quan sát: NVYT tham gia ít nhất một trong các hoạt động quản lý CTRYT tại 11 khoa lâm sàng tại thời điểm điều tra
STT Nội dung Đối tượng và địa
1 Quan sát phân loại
CTRYT khi tiêm cho
bệnh nhân tại khoa
lâm sàng
Điều dưỡng tham gia tiêm cho bệnh nhân tại 11 khoa
3 người/khoa *
3 lần *11 khoa
= 99 lượt quan sát (33 người)
Phụ lục 2A, 2D
2 Quan sát thực hành
thu gom, vận chuyển
CTRYT tại khoa lâm
sàng
Hộ lý, nhân viên vệ sinh (ISC) tại 11 khoa
1 lần/ngày * 3 ngày*11 khoa =
33 lượt quan sát (11 người)
Phụ lục 2B, 2E
3 Quan sát việc lưu
giữ và xử lý CTRYT
Quang cảnh và các thùng chứa trong các khoa và khu vực lưu giữ tập trung của bệnh viện
Không ứng dụng
Phụ lục 2C
Danh sách 11 khoa lâm sàng và cận lâm sàng: Khoa khám bệnh, khoa Nội tổng hợp, khoa Đông y – Phục hồi chức năng, khoa Ngoại tổng hợp, khoa Liên chuyên khoa, khoa Phụ sản, khoa Nhi, khoa hồi sức tích cực và chống độc, khoa truyền nhiễm, khoa Xét nghiệm, khoa Chẩn đoán hình ảnh – thăm dò chức năng (các khoa này được chọn do CTRYT của 11 khoa này có tính chất lây nhiễm cao)
HUPH
Trang 35- Chọn mẫu định tính: Phỏng vấn sâu: 5 người; Thảo luận nhóm: 2 nhóm x 11 người/nhóm
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Đối với nghiên cứu định lượng
2.6.1.1 Quan sát phân loại CTRYT khi tiêm cho bệnh nhân:
- Trang thiết bị, dụng cụ, thực hành của NVYT về phân loại CTYT
- Thực hành phân loại chất thải trong hoạt động tiêm cơ bản tại 11 khoa (Khoa
khám bệnh, khoa Nội tổng hợp, khoa Đông y – Phục hồi chức năng, khoa Ngoại tổng hợp, khoa Liên chuyên khoa, khoa Phụ sản, khoa Nhi, khoa hồi sức tích cực và chống độc, khoa truyền nhiễm, khoa Xét nghiệm, khoa Chẩn đoán hình ảnh – thăm
dò chức năng) quan sát trong 3 ngày, mỗi ngày quan sát 3 lần dự kiến 99 lượt quan
sát
Quan sát phân loại CTRYT thông qua quan sát hoạt động tiêm tại các buồng bệnh trong 11 khoa để quan sát các đối tượng thực hiện phân loại CTRYT Người quan sát là học viên và toàn bộ khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, có 7 người quan sát, mỗi người quan sát một khoa Thời điểm quan sát vào 1 trong 2 thời điểm từ buổi sáng từ 8h30-10h, buổi chiều từ 14h-16h là lúc điều dưỡng thực hiện hoạt động tiêm cho bệnh nhân cường độ cao nhất Đối tượng quan sát: người quan sát đứng ở vị trí người được quán
sát không biết, mỗi người quan sát 3 người và 3 lần quan sát liên tục trong 3 ngày (Phụ
lục 2A, 2D)
2.6.1.2 Quan sát thực hành thu gom, vận chuyển CTRYT:
Toàn bộ hộ lý, nhân viên vệ sinh (ISC) 11 khoa, mỗi khoa quan sát 1 lần trong
3 ngày với tổng số là 11 khoa thì tổng số lượt quan sát dự kiến là 33 lượt Số lượt quan sát và số ngày quan sát thu gom vận chuyển CTRYT tham khảo nghiên cứu của Hồ Thị Nga về thực trạng quản lý CTRYT và một số yếu tố liên quan tại bệnh
viện đa khoa Gia Lộc tỉnh Hải Dương năm 2013 [25]
Quan sát thu gom và vận chuyển CTRYT tại nơi lưu giữ tạm thời của khoa, hành lang bệnh viện vào 1 trong 2 thời điểm Hộ lý thực hiện thu gom CTRYT: Buổi sáng từ 10h30-11h, buổi chiều từ 16h-16h30 là thời điểm thu gom và vận chuyển
CTRYT theo quy định của bệnh viện [6] (Phụ lục 2B, 2E)
HUPH
Trang 362.6.1.3 Quan sát việc lưu giữ và xử lý CTRYT:
Toàn bộ khu vực lưu giữ tạm thời tại 11 khoa trong bệnh viện và khu vực lưu giữ tập trung của bệnh viện
Quan sát lưu giữ CTRYT tại các thùng chứa trong các khoa và khu vực lưu
giữ tập trung của bệnh viện (Phụ lục 2C)
2.6.1.4 Thu thập số liệu thứ cấp về nội quy, quy định, hướng dẫn trong quy trình thực hành quản lý CTRYT tại bệnh viện:
Các bảng hướng dẫn quy trình thực hành quản lý CTRYT tại 11 khoa phát sinh CTRYT Tìm hiểu các tài liệu liên quan đến nội quy, quy định, văn bản hướng dẫn nội bộ liên quan đến quản lý CTRYT, sổ sách ghi chép giao ban định kỳ hàng tháng, hàng quý của bệnh viện; sổ sách theo dõi việc thực hiện quản lý CTRYT, thu
thập các báo cáo tổng kết và kế hoạch hàng năm của bệnh viện
2.6.1.5 Thu thập số liệu về khối lượng rác thải:
Gồm toàn bộ rác thải y tế phát sinh của bệnh viện
Quan sát và cân khối lượng CTRYT phát sinh hàng ngày của các khoa đã
được phân loại lưu giữ tại khu vực lưu giữ của bệnh viện (thời gian từ 16h-16h30)
Mỗi lần cân, cân từng túi rác thải đã phân loại của các khoa đến khi hết lượng CTRYT được thu gom về nơi lưu giữ chung của bệnh viện trong ngày, kết quả khối lượng CTRYT từng loại được ghi riêng và tổng hợp theo ngày và lấy trung bình
khối lượng CTRYT từng loại
2.6.1.6 Thu thập số liệu về kinh phí hoạt động quản lý CTRYT:
Tổng số tiền bệnh viện sử dụng để phục vụ hoạt động quản lý CTRYT không bao gồm chi phí lương cán bộ biên chế và đầu tư hệ thống xử lý CTYT
Thu thập số liệu về kinh phí thực hiện quản lý CTRYT của bệnh viện từ báo cáo tài chính các năm từ 2013-2015 và tổng kinh phí chi cho hoạt động quản lý CTRYT Quý 1 năm 2016 tại phòng Tổ chức Hành chính và Tài chính Kế toán của
bệnh viện
HUPH
Trang 372.6.2 Đối với nghiên cứu định tính
02 Thảo luận nhóm (TLN): được thực hiện như sau:
- 11 Điều dưỡng trưởng khoa của 11 khoa lâm sàng;
- 11 hộ lý hoặc nhân viên ISC của 11 khoa
Phỏng vấn sâu (PVS) được thực hiện được chọn mẫu có chủ đích đại diện
cho các nhóm bao gồm:
- 01 Lãnh đạo bệnh viện (Giám đốc);
- 01 Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn (Là khoa có nhiệm vụ chỉ đạo thực
hiện quy chế kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, giám sát việc xử lý chất thải cho toàn bệnh viện, vệ sinh bệnh viện…);
- 01 Trưởng phòng điều dưỡng (Là phòng có nhiệm vụ kiểm tra công tác vệ
sinh, kiểm soát nhiễm khuẩn tại các buồng bệnh và các khoa Đôn đốc, kiểm tra điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên và hộ lý thực hiện đúng các quy định kỹ thuật bệnh viện và quy chế bệnh viện…) [3];
- 01 kỹ thuật viên xét nghiệm của khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh;
- 01 nhân viên thuộc khoa KSNK quản lý khu vực lưu giữ CTRYT của bệnh viện và trực tiếp xử lý CTRYT nguy hại của bệnh viện;
Số liệu định tính được thu thập bằng phương pháp TLN và PVS các đối tượng nghiên cứu được chọn có chủ đích là đại diện các bên liên quan đến vấn đề nghiên cứu theo hướng dẫn phỏng vấn đã được nhóm nghiên cứu soạn thảo và thử nghiệm từ trước
Điều tra viên gặp trực tiếp đối tượng nghiên cứu trình bày lý do và xin phép được phỏng vấn khi đối tượng nghiên cứu đồng ý thì điều tra viên bắt đầu thực hiện PVS Địa điểm phỏng vấn tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ, thời gian trung bình cho 1 cuộc phỏng vấn là 30 phút; công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm, giấy, bút
2.6.3 Yêu cầu bộ công cụ
Tất cả phiếu TLN, PVS, Bảng kiểm đều được nhóm nghiên cứu tham khảo, thiết kế, thử nghiệm và được giảng viên hướng dẫn chính, giảng viên hỗ trợ thông qua trước khi sử dụng Bộ câu hỏi phát vấn tham khảo có chỉnh sửa từ nghiên cứu của Hồ Thị Nga [25]
HUPH
Trang 382.7 Biến số nghiên cứu
2.7.1 Nhóm biến số về thực trạng hoạt động quản lý CTRYT
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu
biến
Phương pháp thu thập Mục tiêu 1: Hoạt động quản lý CTRYT
Phần 1: Thiết bị, dụng cụ phục vụ hoạt động quản lý CTRYT
* Thiết bị, dụng cụ phân loại CTRYT
1 Dụng cụ bao bì
phân loại CTRYT
Là các túi, thùng có kích thước, hình dạng, màu sắc đúng hay không đúng theo quy định để phân loại CTRYT
Nhị phân Quan sát
2 Chất lượng túi
đựng CTRYT
Đảm bảo đúng về vật liệu sản xuất, độ dày, thể tích tối đa, hình thức theo quy định
4
Chất lượng hộp
đựng vật sắc nhọn
Đảm bảo đúng về chất lượng và, hình thức theo quy định
Nhị phân Quan sát
HUPH
Trang 398
Chất lượng thùng
đựng CTRYT
Thùng đựng CTRYT có đảm bảo đúng về vật liệu sản xuất, thiết kế đúng theo quy định
* Thiết bị, dụng cụ lưu giữ CTRYT
13 Nhà lưu giữ
CTRYT
Có đủ xe vận chuyển CTRYT chuyên dụng Nhị phân Quan sát
14 Thiết kế đảm bảo
quy định
Đảm bảo đúng thiết kế quy
Phần 2: Hoạt động phân loại chất thải rắn y tế (trong hoạt động tiêm)
15 Phân loại túi đựng
bơm kim tiêm
Túi đựng BKT được phân loại ngay khi phát sinh Nhị phân Quan sát
Trang 40được phân loại ngay khi phát sinh
18 Phân loại bơm
kim tiêm
BKT được phân loại ngay khi phát sinh Nhị phân Quan sát
19 Phân loại găng tay Găng tay được phân loại
ngay khi phát sinh Nhị phân Quan sát
Phần 3: Hoạt động thu gom chất thải rắn y tế
20 Có thùng thu gom
riêng
Có thùng khác nhau để thu gom các loại chất thải khác nhau theo quy định
buồng riêng biệt
Các loại chất thải lây nhiễm, thông thường, tái chế được lưu giữ trong các buồng khác nhau tại khu lưu giữ tập trung của bệnh viện
Nhị phân Quan sát
HUPH