1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại bệnh viện đa khoa thị xã sa pa, tỉnh lào cai

83 15 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại bệnh viện đa khoa thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Tác giả Phạm Xuân Tuệ
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thành Trung
Trường học Đại Học Y Dược Thái Nguyên
Chuyên ngành Y học Nhi khoa
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC PHẠM XUÂN TUỆ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN TIÊU CHẢY CẤP TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

PHẠM XUÂN TUỆ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, ĐIỀU TRỊ

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN

TIÊU CHẢY CẤP TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA THỊ XÃ SA PA, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

PHẠM XUÂN TUỆ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, ĐIỀU TRỊ

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN

TIÊU CHẢY CẤP TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA THỊ XÃ SA PA, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Nhi khoa

Mã số: 87.20.106

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THÀNH TRUNG

THÁI NGUYÊN - NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Phạm Xuân Tuệ, Học viên Cao học khoá 23 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, chuyên ngành Nhi khoa, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thành Trung

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2021

Người viết cam đoan

Phạm Xuân Tuệ

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô

Bộ môn Nhi – Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc và Tập thể cán bộ nhân viên khoa Nhi – Bệnh viện thị xã Sa Pa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài, học tập và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng khoa học đã dành thời gian đọc và đưa ra những ý kiến quý báu để bản luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2021

Học viên

Phạm Xuân Tuệ

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCĐNTT : Bạch cầu đa nhân trung tính

E coli : Escherichia coli

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

WHO : Tổ chức Y tế thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Đặc điểm chung về bệnh tiêu chảy cấp 3

1.1.1 Một số định nghĩa liên quan đến tiêu chảy cấp 3

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tiêu chảy cấp trẻ em 3

1.1.3 Tác nhân gây bệnh tiêu chảy cấp trẻ em 4

1.1.4 Cơ chế bệnh sinh tiêu chảy 5

1.2 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh tiêu chảy cấp 7

1.2.1 Triệu chứng lâm sàng bệnh tiêu chảy cấp 7

1.2.2 Cận lâm sàng bệnh tiêu chảy cấp 11

1.3 Điều trị bệnh tiêu chảy cấp 13

1.3.1 Mục tiêu điều trị 13

1.3.2 Quyết định điều trị 13

1.3.3 Một số khuyến cáo mới trong điều trị tiêu chảy 14

1.4 Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy 19

1.4.1 Tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy 19

1.4.2 Các yếu tố làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy 21

1.4.3 Tính chất mùa 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 24

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

Trang 7

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 24

2.4 Chỉ số nghiên cứu 25

2.5 Tiêu chuẩn đánh giá các biến số nghiên cứu 26

2.6 Kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu 28

2.7 Sai số và khống chế sai số 29

2.8 Phân tích số liệu 29

2.9 Đạo đức trong nhiên cứu 29

Chương 3: KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của trẻ TCC 31

3.3 Một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sapa 37

3.3.1 Các yếu tố làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy 37

3.3.2 Các yếu tố đặc điểm chung của mẹ trẻ và tập quán chăm sóc trẻ của bà mẹ liên quan đến tiêu chảy cấp 41

Chương 4 BÀN LUẬN 44

4.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân tiêu chảy cấp tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa năm 2020 44

4.1.1 Đặc điểm lâm sàng của trẻ bị tiêu chảy cấp 44

4.1.2 Đặc điểm cận lâm sàng của trẻ bị tiêu chảy cấp 48

4.2 Một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa 50

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 55

KẾT LUẬN 57

Trang 8

KHUYẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU

DANH SÁCH BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Đánh giá tình trạng mất nước của bệnh nhân tiêu chảy cấp 9

Bảng 2.1 Đánh giá tình trạng mất nước của bệnh nhân tiêu chảy cấp 27

Bảng 3.1 Đặc điểm của trẻ bị TCC theo giới và tuổi 30

Bảng 3.2 Đặc điểm của trẻ TCC theo dân tộc và địa dư 30

Bảng 3.3 Phân bố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp của mẹ trẻ 31

Bảng 3.4 Đặc điểm đi ngoài phân lỏng của trẻ bị tiêu chảy cấp 31

Bảng 3.5 Tiền sử được mẹ cho uống thuốc tây không biết tên/ thuốc nam trước khi vào viện 33

Bảng 3.6 Các triệu chứng cơ năng của trẻ khi nhập viện 34

Bảng 3.7 Tỉ lệ rối loạn Kali và Natri của trẻ bị tiêu chảy cấp 35

Bảng 3.9 Đánh giá kết quả điều trị tiêu chảy cấp tại bệnh viện 36

Bảng 3.10 Số lượng dịch bù của trẻ bị tiêu chảy cấp 37

Bảng 3 11 Liên quan giữa tuổi và giới tính của trẻ với mức độ mất nước 37

Bảng 3.12 Liên quan giữa một số yếu tố của trẻ đến kết quả điều trị tiêu chảy cấp 38 Bảng 3.13 Liên quan giữa tuổi và các triệu chứng lâm sàng của trẻ 38

Bảng 3.14 Liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và mức độ tiêu chảy của trẻ 39

Bảng 3.15 Liên quan giữa số lần tiêu chảy/ ngày trước khi nhập viện và mức độ tiêu chảy của trẻ 39

Bảng 3.16 Liên quan giữa tỷ lệ rối loạn Natri và mức độ mất nước của trẻ 40

Bảng 3.17 Liên quan giữa tỷ lệ rối loạn Kali và mức độ mất nước của trẻ 40

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa một số yếu tố của mẹ đến mức độ mất nước ở trẻ tiêu chảy cấp 41

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa một số yếu tố của mẹ đến thời gian khỏi bệnh của trẻ 42

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa một số yếu tố chăm sóc trẻ của bà mẹ đến thời gian khỏi bệnh của trẻ 43

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Đặc điểm tính chất phân của trẻ bị tiêu chảy cấp 32

Biểu đồ 3.2 Phân bố triệu chứng cơ năng theo nhóm tuổi của trẻ 34

Biểu đồ 3.3 Phân loại mức độ mất nước của trẻ bị tiêu chảy cấp 35

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ rối loạn điện giải ở trẻ bị tiêu chảy cấp 36

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêu chảy cấp là tình trạng trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước ≥ 3 lần/24 giờ và kéo dài không quá 14 ngày, phân không có máu [1] Tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi là bệnh phổ biến và là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở trẻ thuộc độ tuổi này Ước tính trên toàn thế giới hằng năm có khoảng 1,7 tỷ trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp với khoảng 525.000 trẻ tử vong [42]

Trong số trẻ dưới 5 tuổi, 15% sẽ phải nhập viện do tiêu chảy và 50% cần tới phòng khám Tiêu chảy, nếu không được điều trị đúng và kịp thời sẽ gây ra các tình trạng mất nước, mất muối, nhiễm toan chuyển hóa và thiếu kali; thậm chí tử vong Ngoài ra, tiêu chảy còn gây những tổn hại về chi phí y

tế trực tiếp cho điều trị bệnh nhi và các chi phí gián tiếp khác [1]

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân tiêu chảy cấp là tiêu chảy 80,2% phân có máu 31,5% sốt 84,7%, rối lọan điện giải 9% [20] Nghiên cứu cũng cho thấy tỉ lệ bệnh nhân tiêu chảy cấp có tăng bạch cầu 59,0%, Hematocrit tăng chiếm tỉ lệ 22,0% [19] Nguyên nhân của tiêu chảy bao gồm do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng Nguyên nhân do virus thường gặp nhất và chủ yếu là rota virus Nghiên cứu thấy tác nhân gây bệnh tiêu chảy

cấp thường gặp là: Shigella, Salmonella, Entamoeba histolytica, Escherichia coli, Burkholderia cepacia [3]

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây tiêu chảy cấp của trẻ em, có thể được chia thành 3 nhóm như: các yếu tố liên quan đến thói quen, tập quán; các yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy và tính chất mùa Nghiên cứu tình hình tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tỉnh Quảng Ngãi, Phạm Thị Bích Ngọc và cs (2009) thấy: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn của mẹ; mức kinh

tế gia đình; nguồn nước sinh hoạt; tính chất vệ sinh hố xí; thói quen vệ sinh; dinh dưỡng; mức hiểu biết chung về phũng chống tiêu chảy của mẹ đều có

Trang 12

liên quan đến tiêu chảy của trẻ [13] Nghiên cứu của Nguyễn Diệu Chi Mai và

cs (2017) cho kết quả: nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus ở nhóm trẻ chưa uống vắc xin phòng Rotavirus cao gấp 7,2 lần so với những trẻ đã được uống vắc xin này [12]

Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sapa là bệnh viện Đa khoa hạng II đóng trên địa bàn thị xã Sapa Hằng năm, bệnh viện thực hiện khám chữa bệnh cho hàng nghìn trẻ em, trong đó có rất nhiều trẻ bị tiêu chảy Số lượng trẻ bị tiêu chảy thay đổi theo mùa trong năm Nhiều trẻ bị tiêu chảy lại đến viện muộn trong tình trạng đã mất nước Nhận thức được tầm quan trọng của các yếu tố nguy

cơ giúp người thầy thuốc lâm sàng đưa ra những tư vấn xác đáng, khoa học phù hợp cho mỗi bệnh nhân nhằm giảm được tỉ lệ mắc và nâng cao được kiến

thức về bệnh tiêu chảy Chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa

Pa, tỉnh Lào Cai” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị của bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tiêu chảy cấp của trẻ ở nhóm nghiên cứu trên

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm chung về bệnh tiêu chảy cấp

1.1.1 Một số định nghĩa liên quan đến tiêu chảy cấp

Tiêu chảy cấp là tình trạng trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước ≥ 3 lần/24 giờ và kéo dài không quá 14 ngày, phân không có máu [1]

Đợt tiêu chảy được xác định từ ngày đầu tiên trẻ bị tiêu chảy cho đến ngày sau đó 2 ngày phân bình thường Sau khi hết tiêu chảy hai ngày mà trẻ mắc tiêu chảy lại thì được tính là đợt tiêu chảy mới Sau khi hết tiêu chảy một ngày mà trẻ mắc tiêu chảy thì vẫn tính là đợt tiêu chảy cũ [41]

Hội chứng lỵ là tiêu chảy có máu trong phân Bệnh nhân đau quặn bụng mót rặn, phân nhày máu do vi khuẩn xâm nhập gây tổn thương niêm mạc ruột

Tiêu chảy kéo dài là đợt tiêu chảy khởi đầu cấp tính nhưng kéo dài trên

14 ngày Bắt đầu mỗi đợt có thể là tiêu chảy cấp hoặc hội chứng lỵ [1]

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tiêu chảy cấp trẻ em

1.1.2.1 Tần suất mắc bệnh tiêu chảy cấp trẻ em

Tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi là bệnh phổ biến có thể phòng và điều trị được, bệnh là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở trẻ nhỏ Ước tính trên toàn thế giới hằng năm có khoảng 1,7 tỷ trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp với khoảng 525.000 trẻ tử vong Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây ra suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi [42]

Theo thống kê của Viện Nhi Việt Nam - Thụy Điển, các bệnh nhi bị bệnh về đường tiêu hóa chiếm 18,08% tổng số bệnh nhi vào viện trong đó tiêu chảy chiếm 72,39%

1.1.2.2 Đường lây truyền bệnh tiêu chảy

Các tác nhân gây bệnh tiêu chảy thường lây truyền bằng đường phân -

Trang 14

miệng: Phân trẻ bị tiêu chảy là nguồn nhiễm bệnh cho thức ăn, nước uống Trẻ bị tiêu chảy khi ăn phải thức ăn, nước uống bị nhiễm bệnh hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây [33]

1.1.3 Tác nhân gây bệnh tiêu chảy cấp trẻ em

Tác nhân gây bệnh phân lập được từ 75% các trường hợp tiêu chảy trong bệnh viện và 50% các trường hợp tại cộng đồng [33]

* Tác nhân do virus:

- Rota virus: là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe dọa tính mạng trẻ em dưới 2 tuổi Rota virus có 4 týp huyết thanh gây bệnh Khoảng 1/3 số trẻ em dưới 2 tuổi ít nhất bị 1 đợt tiêu chảy do Rota virus, tiêu chảy do virus Rota chiếm 50% - 65% tiêu chảy cấp ở trẻ em trong bệnh viện [30]

- Các virus khác: Adeno virus, Norwalk virus cũng gây tiêu chảy… [28]

* Tác nhân do vi khuẩn

- Coli đường ruột Escherichia coli (E coli) gây ra 25% trường hợp tiêu

chảy cấp, gồm có 5 týp gây bệnh Loại bệnh thường gặp nhất là E.coli gây bệnh đường ruột (50,0%), tiếp theo là E.coli sinh ruột (20,4%), E.coli độc tố ruột (14,8%), E.coli xâm lấn đường ruột (3,7%) và Shiga E.coli (3,7%) [44]

- Trực khuẩn lỵ (Shigela) là tác nhân gây lỵ trong 60% các đợt lỵ Có 4 nhóm huyết thanh: S flexneri, S dysenteriae, S body, S sonei Một nghiên

cứu phân lập Shigella từ 26 trẻ em, tất cả đều bị tiêu chảy cấp (10,4%): S flexneri là 21 (80,8%) và S sonnei là 5 (19,2%) [37]

- Campylobacter jejuni: gây bệnh chủ yếu ở trẻ nhỏ, lây qua tiếp xúc với phần, uống nước bẩn, ăn sữa và thực phẩm bị ô nhiễm C jejuni gây tiêu

chảy tóe nước 2/3 trường hợp và 1/3 trường hợp gây hội chứng lỵ và sốt Bệnh thường diễn biến nhẹ và chỉ kéo dài 2 - 5 ngày, khó phân biệt với tiêu chảy do các nguyên nhân khác [28]

- Samonella không gây thương hàn: do lây từ súc vật nhiễm trùng hoặc

Trang 15

thức ăn động vật bị ô nhiễm Nghiên cứu trên 895 trường hợp trẻ nhập viện mắc bệnh viêm dạ dày ruột cấp tính, tác nhân gây bệnh phổ biến nhất trong các trường hợp viêm ruột do Salmonella là nhóm huyết thanh B, cũng là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất và kháng ampicillin [40]

- Vi khuấn Vibrio cholerae: Có 2 týp sinh vật (týp cổ điển và Eltor) và

týp huyết thanh (Ogawa và Inaba) Vi khuẩn tả gây tiêu chảy xuất tiết qua trung gian độc tố tả, gây xuất tiết mất nước và điện giải ở ruột non Tiêu chảy

có thể nặng dân tới mất nước, điện giải nặng trong vài giờ [38]

* Tác nhân do ký sinh trùng

- Entamoeba histolytica (Amip): gây bệnh qua xâm nhập vào liên bào

đại tràng hay hồi tràng gây các ổ áp xe nhỏ và loét (90% số người bị nhiễm

các chứng amip không gây độc lực [26]

- Giardia lamblia là một ký sinh trùng đơn bào bám dính lên liên bào

ruột non, làm teo các nhung mao ruột gây tiêu chảy, kém hấp thụ [24]

- Cryptosporidium: là một ký sinh trung thuộc họ Coccidian gây tiêu

chảy ở trẻ nhỏ, ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch và ở nhiều loại gia súc Tiêu chảy thường nặng và kéo dài khi xảy ra ở trẻ suy dinh và người mắc bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải [23]

1.1.4 Cơ chế bệnh sinh tiêu chảy

- Trong tình trạng bệnh lý, sự hấp thu nước và muối ở ruột non bị rối loạn, nhiều nước xuống đại tràng , không có khả năng hấp thu và gây tiêu chảy

- Cơ chế tiêu chảy có thể phân chia làm hai loại:

* Tiêu chảy xâm nhập (Invasive diarrhoes)

Các yếu tố gây bệnh xâm nhập vào trong tế bào liên bào ruột non, ruột già, nhân lên trong đó và phá huỷ tế bào, làm bong tế bào và gây phản ứng viêm Những sản phẩm phá huỷ tế bào, viêm bài tiết vào trong lòng ruột gây nên tiêu chảy [27]

Trang 16

Vi khuẩn gây xâm nhập gồm: Shigella, Coli xâm nhập, Coli xuất huyết, Campylobactejejuni, Salmo-nella, Yersinia, Vibrio hema, Jrarahemolytica và Entamoeba histolitica [33]

Mức độ làn tràn của tổn thương tổ chức thay đổi tuỳ theo nguyên nhân

và sức đề kháng của vặt chủ Người ta biết ít về vai trò của độc tố làm vi khuẩn xâm nhập, nhân lên trong tế bào trước khi phá huỷ tế bào

Đối với Shigella màng protein lipopolysaccharid bên ngoài ở thành tế

bào dường như là yếu tố cần thiết Nhiều bệnh nguyên nhân gây ỉa chảy do cơ chế xâm nhập được tìm thấy cơ chế tạo các độc tố tế bào [33]

Thương hàn và phó thương hàn: Là những ví dụ xâm nhập viêm ở ruột,

từ đó vi khuẩn có thể lan vào máu đi khắp cơ thể gây sốt thương hàn

Đối với các nguyên nhân khác như: Enteropathogenic E coli, Enteroadherent E coli, Rotavirus, Cryptosporidium, Giardia lambria: Bám

chặt vào niêm mạc ruột, gây tổn thương diềm bàn chải của các tế bào hấp thu ruột non không xâm nhập vào tế bào [28]

* Tiêu chảy do cơ chế xuất tiết

Sau khi qua dạ dày, vi khuẩn tả cư trú ở phần dưới hồi tràng và sản sinh

ra độc tố ruột cholera toxin: đơn vị B của độc tố gắn vào bộ phận tiếp nhận đặc hiệu của tế bào giải phóng ra đơn vị A của độc tố Đơn vị này đi vào tế bào ruột hoạt hoá Adenylcyclase, làm ATP trở thành AMP vòng Sự tăng AMP vòng trong tế bào làm ức chế hoặc ngăn cản sự hấp thu natri theo cơ chế gắn với chi ở ruột (nhưng không ức chế đối với cơ chế hấp thu natri gắn với glucose và các chất vận chuyển trung gian khác), tăng sự bài tiết chỉ ở các tế bào hẽm tuyến vào trong lòng ruột do làm tăng tính thấm của màng tế bào phía lòng ruột

Đối với tả nhóm không phải 01, những độc tố cũng tương tự như độc tố

tả nhưng chỉ có một vài chủng sinh độc tố với số lượng ít

Trang 17

E coli: Độc tố chịu không nhiệt (heat labile toxin) tác dụng như độc tố

tả Độc tố kháng nhiệt (heat stable toxin) tác dụng trên ruột như tả nhưng thông qua GMP Nhưng chỉ có một vài chủng sinh độc tố ở số lượng nhỏ Yếu

tố cư trú được tìm thấy ở một vài chủng Entero Toxigenic Escherichia coli giúp cho coli cư trú ở ruột Ở phẩy khuẩn tả người ta chưa phát hiện thấy

những yếu tố cư trú hoặc bám dính Trong một phân tích với 437 mẫu, thấy rằng khả năng kháng ampicillin đã được chứng minh ở 100 (47%) phân lập E coli [39]

1.2 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh tiêu chảy cấp

1.2.1 Triệu chứng lâm sàng bệnh tiêu chảy cấp

* Triệu chứng tiêu hóa

Qua tài liệu nghiên cứu về tiêu chảy cấp tính ở trẻ em cho thấy: bất kể sinh vật gây tiêu chảy nào, bệnh nhi đều xuất hiện các triệu chứng đi phân lỏng, đôi khi lẫn máu, sau thời gian ủ bệnh từ một đến bảy ngày Nôn và sốt

có thể xảy ra trước hoặc sau tiêu chảy, hoặc hoàn toàn không có, các biểu hiện khác phụ thuộc vào mức độ mất nước và điện giải, tức là mức độ mất nước [29]

Tiêu chảy xảy ra đột ngột, phân lỏng, nhiều nước, nhiều lần 10 - 15 lần/ngày, mùi chua có thể lầy nhầy, trường hợp lỵ phân có lẫn máu Tiêu chảy

là triệu chứng bắt buộc có khi chẩn đoán tiêu chảy cấp, tuy nhiên thời điểm xuất hiện triệu chứng, tính chất tiêu chảy và số lần tiêu chảy/ngày có thể khác nhau tùy từng nguyên nhân gây bệnh Nghiên cứu của Đỗ Phương Thảo Đặng Thúy Hà nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Trung Ương nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus ở trẻ dưới 5 tuổi, trẻ mắc chủng Rotavirus G2P4 có số lần đi ngoài từ 10-20 lần/ngày là phổ biến nhất chiếm 47,4%, số ngày tiêu chảy trung bình là 6,8 ± 2,5ngày [18] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Xuân về đặc điểm bệnh tiêu

Trang 18

chảy nhiễm trùng do echerichia coli thấy số lần tiêu chảy trong đợt bệnh thay đổi từ vài lần (17,1%) đến hơn 10 lần trong ngày (23,4%) Triệu chứng sốt phổ biến (84,7%) [20] Trong khi đó Lê Anh Phong khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tiêu chảy cấp ở bệnh nhi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp, tại bệnh viện nhi đồng 2, số lần tiêu chảy trung bình là 6,5 lần [10] Số lần tiêu chảy khác nhau của các nghiên cứu phụ thuộc vào tác nhân vi sinh gây nhiễm khuẩn đường ruột Theo tác giả Lương Cao Đồng tại khoa nhi Bệnh viện 103:

tỉ lệ trẻ đi ngoài phân lỏng > 6 lần chiếm 66,7% [4] Theo Đỗ Phương Thảo

và Nguyễn Thị Việt Hà, số lần tiêu chảy phần lớn dao động từ 10 - 20 lần (57%), kéo dài 4 - 10 ngày với tính chất phân tóe nước (86%) Trong đó, tỉ lệ tiêu phân nhầy chiếm nhiều nhất (42,62%), kế đến là tiêu đàm máu (31,97%), lỏng nhiều nước (14,75%) và có thể nói triệu chứng đi phân nhầy máu trong vòng 24 giờ trước nhập viện khiến cho các bà mẹ lo lắng đưa con đi khám bệnh Tỉ lệ mất nước vừa chiếm đa số (76,7%) [17]

Nôn thường xuất hiện đầu tiên trong trường hợp tiêu chảy do Rota hoặc

do tụ cầu, nôn liên tục hoặc nôn vài lần một ngày làm trẻ mất nước và điện giải Nghiên cứu tổng quan tài liệu nhận thấy rằng nôn và sốt có thể xảy ra trước hoặc sau tiêu chảy, hoặc hoàn toàn không có Các biểu hiện khác phụ thuộc vào mức độ mất nước và điện giải, tức là mức độ mất nước [29] Nghiên cứu tiêu chảy cấp do Rotavirus chủng G2P4 ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương cho kết quả : có 70,2% trẻ có biểu hiện nôn, tần suất nôn dưới 10 lần/ngày chiếm 87,5% và thời gian nôn < 3 ngày là 82,5% Trong số trẻ tiêu chảy do Rotavirus có 78,9% trẻ có biểu hiện sốt trong đó phần lớn sốt nhẹ dưới 380C (66,7%) và thời gian sốt thường ≤ 2 ngày (77,8%) [18] Triệu chứng lâm sàng thường gặp ở trẻ mắc tiêu chảy do nhiễm Norovirut là nôn, sốt, trong đó triệu chứng nôn nổi bật với 95% [11]

Các triệu chứng tiêu chảy, nôn, sốt thường phối hợp với nhau, mức độ

Trang 19

nặng nhẹ tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, giai đoạn bệnh và một số yếu

tố ảnh hưởng Theo Đỗ Phương Thảo và Nguyễn Thị Việt Hà: Triệu chứng khởi phát hay gặp nhất là tiêu chảy (33,3%); nôn, tiêu chảy (22,8%) và nôn (21,1%) Triệu chứng trong giai đoạn toàn phát phổ biến nhất là nôn, sốt, tiêu chảy (61,4%); sốt, tiêu chảy (15,8%); tiêu chảy đơn thuần (12,3%) và nôn+tiêu chảy (10,5%) [18] Lê Tấn Giàu và cộng sự nghiên cứu trên 123 trẻ nhập viện vì tiêu chảy cho thấy: Triệu chứng đi kèm thường gặp nhất là nôn

ói (36,6%), sốt (22,8%), triệu chứng hô hấp (20,3%) và sốt co giật (9,7%) [6] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa và cộng sự tại bệnh viện Nhi Đồng 1 cho kết quả: Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là tiêu chảy (80,2%) phân

có máu (31,5%) hay có đàm (27,9%), sốt (84,7%) và nôn ói (73,9%) [20]

* Triệu chứng mất nước

Triệu chứng nổi bật và quan trọng nhất của tiêu chảy cấp là mất nước Mất nước làm giảm lưu lượng tuần hoàn và mau chóng dẫn đến trụy mạch, tử vong Ngoài ra mất nước bao giờ cũng kèm theo mất điện giải, gây rối loạn nước điện giải và thăng bằng kiềm toan, làm cho bệnh trở nên nặng hơn Khi trẻ bị tiêu chảy, cần phải tiến hành ngay đánh giá tình trạng mất nước để quyết định tiến hành bù nước

Bảng 1.1 Đánh giá tình trạng mất nước của bệnh nhân tiêu chảy cấp [2]

Trang 20

da * nhanh chậm < 2 giây >2 giây

Chẩn đoán Bệnh nhi không có

Nếu có 2 dấu hiệu trở lên, trong đó có ít nhất

1 dấu hiệu * là mất nước nặng

Phác đồ ĐT Phác đồ A Phác đồ B Phác đồ C

Dấu * là những dấu hiệu quan trọng

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ tiêu chảy mất nước và mức dộ mất nước khác nhau ở mỗi nguyên nhân và một số yếu tố liên quan khác Nghiên cứu của Đỗ Phương Thảo và Nguyễn Thị Việt Hà, tỉ lệ mất nước vừa chiếm đa số (76,7%) trên trẻ tiêu chảy cấp do Rotavirus chủng G1P8 [17] Nghiên cứu của Nguyễn Viết Thịnh và cộng sự tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, tỉ lệ bệnh nhân mất nước độ 1 là 54,9%, độ 2 là 26,0%, độ 3 là 8,7%, đa số ở độ tuổi > 60 [19] Nghiên cứu của Bùi Thị Mai Linh và cộng sự

về tiêu chảy cấp do Norovirus, có mất nước 25%, mất nước nặng 15% [11] Một số nghiên cứu có tỉ lệ trẻ mất thấp, nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hà ghi nhận 2 trường hợp có mất nước (1,64%), có thể là do trẻ đã được điều trị trước khi nhập viện, mẹ có kiến thức bù nước ORS cho trẻ thích hợp Khi trẻ

bị tiêu chảy kéo dài, gia đình bù nước cho trẻ dễ dàng [7]

Mất nước trong tiêu chảy cấp do Rotavirus phụ thuộc vào triệu chứng tiêu chảy, nôn, sốt, tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp bồi phụ nước của bệnh nhân Để đánh giá mức độ mất nước dựa vào các triệu chứng: toàn trạng, mắt, nước nắt, khát, thóp, nếp véo da,… Khảo sát trên 86 bệnh nhi tiêu chảy cấp có toan chuyển hóa, Huỳnh Thị Kim Thanh và cộng sự thấy rằng: Lúc nhập viện, phần lớn trẻ tiêu chảy có mất nước (70,9%), triệu chứng giúp đánh giá mất nước thường gặp là: vật vã, kích thích (64%), uống háo hức (77,9%)

Trang 21

Sau điều trị 24 – 36 giờ, các triệu chứng thần kinh (tỉnh, kích thích, li bì), triệu chứng hô hấp (thở co kéo, thở nhanh sâu), chướng bụng, nôn ói, mất nước có cải thiện rõ rệt [16] Một trẻ tiêu chảy cấp có dấu hiệu uống háo hức thì nghĩ nhiều là trẻ tiêu chảy có mất nước và tìm thêm các triệu chứng khác

để đánh giá mất nước Nếu trẻ tiêu chảy cấp có kèm theo các biểu hiện thần kinh vật vã kích thích hay thở nhanh sâu thì nghĩ đến tình trạng toan chuyển hóa và nhanh chóng làm khí máu động mạch xác định chẩn đoán để có giải pháp bù dịch và bù toan kịp thời

1.2.2 Cận lâm sàng bệnh tiêu chảy cấp

Điện giải đồ để xác định tình trạng rối loạn điện giải Mối quan tâm

quan trọng nhất trong xử trí tiêu chảy cấp là sự mất cân bằng chất lỏng và điện giải và điều trị nhiễm trùng cơ bản Nó bao gồm, ổn định ban đầu (xác định và điều trị sốc), đánh giá liệu pháp bù nước và bù nước, nhận biết và điều trị mất cân bằng điện giải và sử dụng kháng sinh thích hợp [34] Mức độ thiếu hụt điện giải tương đương với mức độ mất nước Chiếm tỷ lệ cao nhất là

hạ natri máu Do cơ chế bù trừ, ở hầu hết trẻ em tiêu chảy mất nước là thiếu natri huyết (85%) và hiếm hơn là tăng natri huyết (5– 15%) hoặc hạ natri máu (5–10%) Do phân tiêu chảy chứa số lượng lớn Na+, Cl-, K+ và bicacbonat nên hậu quả cấp tính của tiêu chảy phân nước là rối loạn điện giải Các rối loạn này gây ra các triệu chứng nghiêm trọng sốc do giảm khối lượng tuần hoàn, trẻ kích thích, khát nước dữ dội, co giật, chướng bụng, liệt ruột cơ năng, loạn nhịp tim thở mạnh và sâu, môi đỏ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa và cộng sự nhận thấy bệnh cảnh thường nặng, 23,4% có mất nước lúc nhập viện, toan máu (2,7%), hạ đường huyết (27,9%), rối lọan điện giải (9%) là những biến chứng xảy ra trong quá trình điều trị [20]

Công thức bạch cầu trong tiêu chảy cấp có bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao trong bệnh nhiễm khuẩn Nghiên cứu của Nguyễn Viết Thịnh và

Trang 22

cộng sự tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho kết quả: Tăng bạch cầu chiếm tỉ lệ cao 59,0%, trong đó bạch cầu đa nhân trung tính > 80% chiếm

tỉ lệ 59,0% Hematocrit tăng chiếm tỉ lệ 22,0% [19] Theo Lê Tấn Giàu và các cộng sự, cận lâm sàng của trẻ nhập viện vì tiêu chảy cấp: bạch cầu máu trung bình 10,477 ± 4216 /mm3 [6]

Soi phân tươi: tìm hồng cầu, bạch cầu trong trường hợp tiêu chảy xâm nhập hoặc lị, tìm kí sinh trùng, tìm vi khuẩn di động nhanh Nghiên cứu của

Phạm Thị Ngọc Tuyết cho thấy tỉ lệ tiêu chảy nhiễm khuẩn thấp (10,8%) và

có sự tương thích giữa chẩn đoán trên lâm sàng với sự hiện diện của bạch cầu trong phân [21] Theo Lê Tấn Giàu nhận thấy tỉ lệ soi phân có bạch cầu là 19,5%, hồng cầu là 4,9% [6] Khảo sát đặc điểm bệnh tiêu chảy kéo dài ở trẻ

em, Vũ Thị Thu Hà thấy kết quả cận lâm sàng bao gồm: thiếu máu (18,9%), bạch cầu trong phân (71,31%), hạt mỡ và sợi cơ trong phân (30,33%) [7] Tỉ

lệ hạt mỡ, sợi cơ trong phân xuất hiện nhiều trong các trường hợp tiêu chảy kéo dài gợi ý một tình trạng tiêu chảy do kém hấp thu Tiêu chảy cấp kéo dài khiến đường ruột bị tổn thương, kèm theo sử dụng kháng sinh dài ngày làm rối loạn hấp thu của đường ruột, điều này dễ dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng Qua nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hà, ghi nhận có một số yếu tố liên quan đến tiêu chảy có dấu nhiễm trùng là tiêu phân nhầy xanh (31,03%), sốt lúc nhập viện (51,72%), bạch cầu (BC) trong phân (67,24%), với BC nhiều trong phân (≥+++) chiếm 36,21% Nhóm không nhiễm trùng tỉ lệ BC ≥+++ chỉ chiếm

Trang 23

đồ khá cao Đặc biệt, Shigella và E coli kháng với Ceftriaxone lần lượt là

80% và 100% trên kháng sinh đồ háng sinh được sử dụng nhiều nhất là Ciprofloxacin (82,5%) [3]

Nghiên cứu của Đỗ Phương Thảo, Trong số 840 mẫu phân của trẻ mắc tiêu chảy cấp vào khám và điều trị tại khoa Tiêu hoá Bệnh viện Nhi Trung ương, có 346 bệnh nhân có ELISA với Rotavirus dương tính chiếm tỷ lệ 41,2% Trong số 162 mẫu phân được làm PCR xác định chủng Rotavirus, G2P4 là chủng Rotavirus gây bệnh phổ biến thứ 2chiếm tỷ lệ 35,2% sau chủng G1P8 chiếm 53,1% Trong 57 bệnh nhân mắc tiêu chảy cấp do Rotavirus chủng G2P4 có 33 trẻ nam chiếm 57,9% [17] Một nghiên cứu khác của Vũ Thị Thu Hà, cho thấy rằng trẻ điều trị kháng sinh trước đó cao (79,51%) do kháng sinh sử dụng rất rộng rãi và không cần thiết, vì vậy trẻ tiêu chảy cấp kéo dài khi nhập viện rất khó phân lập tác nhân gây bệnh, gây rối loạn hệ vi khuẩn ruột, trong nghiên cứu chỉ có 3/122 trường hợp cấy phân dương tính [7]

1.3 Điều trị bệnh tiêu chảy cấp

1.3.1 Mục tiêu điều trị

- Dự phòng mất nước nếu chưa có dấu hiệu mất nước

- Điều trị mất nước khi có dấu hiệu mất nước

- Đối với trẻ không mất nước, lựa chọn phác đồ A

- Đối với trẻ có mất nước, lựa chọn phác đồ B

Trang 24

- Đối với trẻ mất nước nặng, lựa chọn phác đồ C

- Nếu phân có máu (lỵ) cần điều trị kháng sinh

- Nếu trẻ sốt, hướng dẫn bà mẹ làm hạ nhiệt bằng khăn ướt hoặc quạt cho trẻ, sau đó mới xem xét và điều trị các nguyên nhân khác (chẳng hạn như sốt rét) [24]

1.3.3 Một số khuyến cáo mới trong điều trị tiêu chảy

- Tầm quan trọng của bổ sung kẽm trong điều trị tiêu chảy

ẽm là một vi chất rất quan trọng cho sức khoẻ và sự phát triển của trẻ

em ẽm có vai trò rất quan trọng cho hệ thống miễn dịch của trẻ Trẻ tiêu chảy bị mất một lượng lớn kẽm trong quá trình bị bệnh Bù lại lượng kẽm bị mất do tiêu chảy rất quan trọng để giúp trẻ sớm hồi phục bệnh (giảm thời gian, mức độ nặng của tiêu chảy), đồng thời tăng cường sức khỏe và giảm nguy cơ mắc đợt tiêu chảy mới trong những tháng tiếp theo sau tiêu chảy [31]

Bổ sung kẽm (với liều lượng thấp) được cả UNICEF và WHO khuyến cáo như một biện pháp điều trị phổ biến cho bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em [46] Trong những năm gần đây, phân tích tổng hợp hơn 10000 trường hợp, cho thấy bổ sung kẽm làm giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng và thời gian của tiêu chảy cấp và dai dẳng ở trẻ em <5 tuổi [45] Tuy nhiên, hầu hết các bằng chứng hiện có đều dựa trên trẻ em sống ở các nước đang phát triển, nơi thiếu kẽm là tình trạng phổ biến Bổ sung kẽm theo tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhập viện cho thấy hiệu quả ở trẻ suy dinh dưỡng nặng hơn so với trẻ không

bị suy dinh dưỡng nặng [45]

Các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng so sánh việc bổ sung kẽm bằng đường uống ở trẻ em từ 1 tháng đến 5 tuổi bị tiêu chảy cấp tính hoặc dai dẳng, ở trẻ em bị tiêu chảy dai dẳng bổ sung kẽm có thể rút ngắn thời gian tiêu chảy khoảng 16 giờ Tuy nhiên, chưa có bằng chứng về bổ sung kẽm làm giảm tử vong hoặc nhập viện Các bằng chứng hiện tại không ủng hộ việc bổ

Trang 25

sung kẽm ở trẻ dưới sáu tháng tuổi [31]

- Sử dụng ORS có độ thẩm thấu thấp trong điều trị tiêu chảy

ORS nồng độ thẩm thấu thấp: Hiệu quả điều trị đối với trẻ em sẽ tốt hơn nếu giảm nồng độ của natri, glucose và độ thẩm thấu toàn phần xuống thấp hơn so với ORS chuẩn trước đây ORS chuẩn trước đây có độ thẩm thấu cao so với huyết tương nên có thể gây tăng natri máu, đồng thời gia tăng khối lượng phân thải ra, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [36]

Một nghiên cứu trên 129 trẻ em bị tiêu chảy cấp tính và mất nước vừa được uống ORS và được quan sát tại hoa Cấp cứu Trẻ em trong khoảng thời gian 2-4 giờ Trong đó có 61,2% bệnh nhân dung nạp tốt ORS, uống bình là 24,4 ml/kg (12,5– 28,8) và đã được xuất viện tiếp tục điều trị bù nước bằng đường uống tại nhà Tại thời điểm theo dõi vào ngày 2 và ngày 5 có 79,7% trẻ

đã cải thiện, được uống đủ nước và giảm tiêu chảy Còn lại 20,3% điều trị tại nhà không thành công, với tiêu chảy kéo dài, nôn mửa, hạ kali máu và suy nhược [36]

Ưu điểm của ORS nồng độ thẩm thấu thấp làm giảm khối lượng tiêu chảy và nôn An toàn, hiệu quả trong điều trị và phòng mất nước bất kể nguyên nhân gì ORS mới khi sử dụng tại các bệnh viện đã làm giảm nhu cầu truyền dịch không theo phác đồ, giảm khối lượng phân thải ra và ít nôn hơn hông thấy có sự nguy hiểm khi có giảm natri máu khi so sánh với ORS chuẩn trước đây Việc bổ sung kết hợp kẽm và prebiotics vào ORS hạn chế thời gian tiêu chảy ở trẻ em [25] Khảo sát đặc điểm bệnh tiêu chảy kéo dài ở trẻ em, Vũ Thị Thu Hà và cộng sự thấy về điều trị: đa số được bù kẽm, bù nước bằng đường uống (ORS), men vi sinh [7] Điều trị trẻ tiêu chảy di nhiễm Norovirus theo nghiên cứu của Bùi Thị Mai Linh, tất cả các trường hợp bù dịch bằng đường uống (ORS) và hầu như không sử dụng kháng sinh, thời gian điều trị hầu hết dưới 7 ngày [11]

Trang 26

Qua khảo sát 341 bà mẹ có con < 5 tuổi, ghi nhận thực hành: 75,4% bà

mẹ biết cách pha ORS Tỉ lệ các bà mẹ biết cách xử trí trẻ bị ói khi uống ORS còn thấp chiếm 48,1% iến thức về dung dịch ORS, dấu hiệu phát hiện bệnh nặng và dấu hiệu mất nước có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với trình độ học vấn của mẹ [5] Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi vì đây là người trực tiếp chăm sóc cho con mình Việc bồi dưỡng kiến thức, thái độ và hướng dẫn thực hành về phòng chống bệnh tiêu chảy vô cùng cần thiết đối với những đối tượng này Bởi vì với kiến thức, thái độ và thực hành đúng để phòng ngừa tiêu chảy cấp trẻ em là yếu tố quan trọng nhất để giảm tỷ lệ tiêu chảy trẻ em

và giảm thiểu mức độ tử vong trẻ em do tiêu chảy Một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của dung dịch bù nước đường uống (ORS) có chứa kẽm và prebiotics trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em, cho thấy việc bổ sung kẽm và prebiotics vào ORS hạn chế thời gian tiêu chảy ở trẻ em Triệu chứng tiêu chảy ở nhóm có sử dụng ORS có độ thẩm thấu thấp chứa kẽm và prebiotics giảm 50%, còn nhóm dùng ORS chuẩn tỷ lệ tiêu chảy 72,9% [25]

- Sử dụng kháng sinh

Chỉ sử dụng kháng sinh trong những trường hợp tiêu chảy phân máu,

nghi ngờ tả có mất nước nặng và có xét nghiệm xác định nhiễm Giardia

duoedenalis Các tác giả không khuyến cáo kê đơn thường quy kháng sinh

cho trẻ em, vì nhiều đợt tiêu chảy là do virut hoặc đơn bào hoặc ngay cả với loại vi khuẩn mà kháng sinh không có hiệu lực [35], [28] Mặc dù các hướng dẫn của WHO không khuyến khích sử dụng kháng sinh để điều trị tiêu chảy cấp, tuy nhiên vẫn có việc sử dụng kháng sinh để điều trị tiêu chảy ở trẻ em Nghiên cứu trên trẻ <5 tuổi mắc tiêu chảy cấp ở Abakaliki, Nigeria hầu hết trẻ

em được điều trị hỗ trợ bằng dung dịch bù nước và truyền dịch tĩnh mạch tại nhà và tại cơ sở y tế, hơn 15% được dùng thuốc chống tiêu chảy tại nhà Hơn 85% được điều trị bằng kháng sinh, mặc dù không có cơ sở chẩn đoán cũng

Trang 27

như dịch tễ học rõ ràng rằng trẻ đang bị nhiễm trùng Về kháng sinh được sử dụng, ciprofloxacin được sử dụng trong hầu hết các trường hợp 72,4%, metronidazole là 30,2% và gentamycin là 15,1% Có 22% trẻ em được sử dụng kết hợp ciprofloxacin và metronidazole [28]

Nghiên cứu của Trần Thị Minh Châu và Nguyễn Anh Tuấn tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 thấy rằng: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh trên kháng sinh đồ khá cao

Đặc biệt, Shigella và E coli kháng với Ceftriaxone lần lượt là 80% và 100%

trên kháng sinh đồ háng sinh được sử dụng nhiều nhất là Ciprofloxacin (82,5%) [3] Khảo sát đặc điểm bệnh tiêu chảy kéo dài ở trẻ em, Vũ Thị Thu

Hà và cộng sự thấy về điều trị: Tỉ lệ bổ sung vi khoáng còn thấp, việc bổ sung các vitamin khác đặc biệt là vitamin A còn thấp chỉ mới chú trọng vào trẻ tiêu chảy cấp kèo dài bị suy dinh dưỡng (26,23%) Kháng sinh chủ yếu Ciprofloxacin (70,21%), Cephalosporin uống (21,28%) và thời gian điều trị trung bình 7,04 ± 3,31 ngày Tình trạng sử dụng kháng sinh trước khi nhập viện cao (79,51%) [7] Nghiên cứu của Nguyễn Viết Thịnh và các cộng sự cho kết quả: kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là Ciprofloxacin 74,0%, 45,7% trường hợp phối hợp loại kháng sinh khác Có 83,7% bệnh nhân không

có biến chứng Sau điều trị 100% bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị [19] Nghiên cứu của Lê Tấn Giàu, có 65,9% trẻ được sử dụng kháng sinh, nhiều nhất là Ceftriaxone (38,2%), Ciprofloxacin (24,7%) Thời gian điều nằm viện trung bình 4,62 2 ngày [6]

- Sử dụng Vắc xin Rotavirus trong phòng bệnh

Nghiên cứu của Nguyễn Diệu Chi Mai và các cộng sự tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn cho kết quả: nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus ở nhóm trẻ chưa uống vắc xin phòng Rotavirus cao gấp 7,2 lần so với những trẻ

đã được uống vắc xin này [12] Theo Nguyễn Minh, trong số những trẻ nhập viện vì tiêu chảy cấp, có tới 67 trẻ chiếm 55,4% trường hợp tiêu chảy cấp do

Trang 28

vi rút Rota và chỉ có 23,1% được uống vắc xin phòng vi rút này Có 116 trẻ nhập viện với triệu chứng lâm sàng nặng chiếm 95,9% Nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ tiêu chảy cấp do vi rút rota cao, cần cho trẻ uống vắc xin phòng vi rút Rota đầy đủ [14]

- Racecadotril:

Racecadotril, còn gọi là acetorphan, là một loại thuốc điều trị tiêu chảy

hoạt động như một chất ức chế enkephalinase, bảo tồn vai trò chống xuất tiết của enkephalins tại ruột, do đó làm giảm lượng phân bài xuất, giảm nguy cơ mất nước mà không ảnh hưởng đến nhu động ruột, không gây táo bón thứ phát, không ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương Hiệu quả và độ an toàn của racecadotril được so sánh với giả dược hoặc không điều trị Racecadotril

có thể làm giảm nguy cơ mất bù nước (RR 0,41, TC 95% 0,13-1,23) [43] Racecadotril đã làm giảm đáng kể thời gian và khối lượng của tiêu chảy ở trẻ

em mất nước khi đưa ra điều trị hỗ trợ bù nước uống Racecadotril được sử dụng rộng rãi để điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em tại các nước Châu Âu và một

số nước khác (kết hợp với liệu pháp bù dịch đường uống) [32]

Tại Việt Nam, các nhà Nhi khoa đầu ngành đã áp dụng điều trị hỗ trợ tiêu chảy bằng Racecadotril (Hidrasec) cho trẻ em nhiều năm nay và được đánh giá có hiệu quả rõ rệt Nghiên cứu của Lương Cao Đồng ở bệnh nhi dưới

6 tuổi thấy: số lần tiêu chảy trung bình/ngày sau 24 giờ, 48 giờ ở nhóm dùng Racecadotril giảm so với nhóm chứng Thời gian tiêu chảy trong cả đợt của nhóm dùng Racecadotril ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng Sau 24 giờ và 48 giờ điều trị, ở nhóm điều trị bằng Racecadotril, tỉ lệ bệnh nhân hết mất nước hoặc chỉ còn mất nước nhẹ tăng có ý nghĩa so với nhóm chứng [4]

Trang 29

1.4 Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy

1.4.1 Tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy

- Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Cho trẻ ăn bột sớm, trẻ chưa có men tiêu hóa tinh bột nên dễ mắc tiêu chảy Trong 6 tháng đầu đời, trẻ cần được bú mẹ hoàn toàn, có nghĩa là một đứa trẻ khoẻ mạnh cần được bú sữa mẹ và không phải ăn hoặc uống thêm thứ gì khác như nước, các loại nước chè, nước hoa quả, nước cháo, sữa động vật hoặc thức ăn nhân tạo, Trẻ được bú mẹ hoàn toàn sẽ ít mắc bệnh tiêu chảy và tỉ lệ tử vong thấp hơn so với trẻ không được bú mẹ hoặc không được bú mẹ hoàn toàn Bú mẹ cũng làm giảm nguy cơ dị ứng sớm, đồng thời cũng tăng sức đề kháng chống lại các bệnh nhiễm trùng, làm giảm các đợt nhiễm trùng khác

Bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu chiếm tỉ lệ (84,18%) [9], nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hà trên trẻ tiêu chảy cấp kéo dài tỷ lệ này là 36,07% [7] huynh hướng gia tăng bú sữa mẹ có lẽ do các bà mẹ đã nhận thức được tầm quan trọng của sữa mẹ trong vòng hai năm đầu của trẻ trong sự phát triển toàn diện và sức đề kháng của trẻ nhỏ Trẻ bú mẹ giảm được nguy

cơ tiêu chảy cấp kéo dài gấp 8 lần so với trẻ đã cai sữa

- Cho trẻ bú bình: Bình sữa dễ bị ô nhiễm bởi các vi khuẩn đường ruột, khó đánh rửa, cho sữa vào bình không sạch sẽ bị ô nhiễm, nếu trẻ ăn không hết sữa ngay vi khuẩn sẽ phát triển gây bệnh tiêu chảy

- Ăn sam: Cho trẻ ăn thức ăn đặc nấu chín để lâu ở nhiệt độ phòng dễ bị

ô nhiễm hoặc vi khuẩn phát triển nhanh, lên men Thực hành ăn sam tốt bao gồm lựa chọn thức ăn giầu chất dinh dưỡng và chế biến hợp vệ sinh Lựa chọn thức ăn bổ sung dựa vào chế độ ăn và thực phẩm an toàn sẵn có tại địa phương Cùng với sữa mẹ hoặc sữa khác, phải cho trẻ ăn thức ăn nghiền nhỏ

và bổ sung thêm trứng, thịt, cá và hoa quả Những thức ăn khác phải nấu nhừ,

có rau và cho thêm dầu ăn (5 -10ml/bữa)

Trang 30

- Nước uống bị nhiễm bẩn do nguồn cung cấp nước bị ô nhiễm hoặc dụng cụ chứa nước bị nhiễm bẩn Có thể giảm nguy cơ tiêu chảy bằng sử dụng nước sạch, cần: Chọn nguồn nước sạch nhất có thể hông được tắm, giặt và đại tiện gần nguồn nước Xây hố xí cách nguồn nước ít nhất 10 mét ở phía đất thấp hơn hông cho động vật đến gần nguồn nước Số bà mẹ sử dụng nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh thì con của họ mắc tiêu chảy chiếm 66,67% Trong khi đó những bà mẹ sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp

vệ sinh thì con của họ mắc tiêu chảy chỉ chiếm 30,28%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 [13] Hầu hết các tác nhân gây bệnh tiêu chảy lây qua đường phân-miệng, nếu sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm sẽ tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy Cho nên việc cung cấp đủ nước sạch trong sinh hoạt sẽ làm giảm sự lây truyền các tác nhân gây tiêu chảy ở trẻ em

- hông xử lý phân (đặc biệt là phân trẻ nhỏ) một cách hợp vệ sinh, phân trẻ nhỏ bị tiêu chảy, phân súc vật cũng chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh cho người Xử lý phân đúng hạn chế lây nhiễm tiêu chảy cấp Những trẻ sống trong gia đình có hố xí không hợp vệ sinh hoặc không có hố xí, thì con của họ hiện mắc tiêu chảy chiếm 40,84%, còn những trẻ sống trong gia đình có hố xí hợp vệ sinh chỉ chiếm 25,16% [13] Việc sử dụng hố xí hợp vệ sinh góp phần làm sạch môi trường xung quanh, hạn chế việc lây lan các bệnh truyền nhiễm, làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy cho trẻ Tác giả Bửu Hạnh và các cộng

sự khảo sát trên 215 bà mẹ có con bị tiêu chảy ghi nhận: Bà mẹ có kiến thức

xử lý phân đúng cách còn chưa cao (56,27%), chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận thức được phân là nguồn lây và truyền bệnh tiêu chảy [9]

- Không rửa tay sau khi đi ngoài, dọn phân, giặt rửa cho trẻ hoặc trước khi chuẩn bị thức ăn, không xử lý phân một cách hợp vệ sinh Tất cả các nguyên nhân gây tiêu chảy được truyền bằng tay khi bị nhiễm bẩn phân Nguy

cơ của tiêu chảy giảm đi khi thành viên gia đình thực hành rửa tay Tất cả

Trang 31

thành viên trong gia đình cần phải rửa tay của họ thật kỹ sau khi đi ngoài, sau khi vệ sinh cho trẻ đi ngoài, sau khi dọn phân cho trẻ, trước khi chuẩn bị thức

ăn và trước khi ăn Rửa tay sạch đòi hỏi phải sử dụng xà phòng hoặc chất thay thế sẵn có trong vùng như tro, có đủ nước để rửa tay thật kỹ Các bà mẹ không có thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi cầu thì con mắc tiêu chảy chiếm 40,58%, còn con của của bà mẹ rửa tay chỉ chiếm 23,78% [13] Nghiên cứu của Khan M.U tại Bangladesh cho thấy việc rửa tay bằng nước và

xà phòng sẽ làm giảm tần suất lây lan của các trường hợp tiêu chảy tại nhà xuống 7 lần Cần tư vấn cho các bà mẹ có thói quen rửa tay là việc làm cần thiết để hạn chế mắc bệnh tiêu chảy

Khảo sát các yếu tố liên quan đến tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi tại tỉnh Tiền Giang, Đỗ Quang Thành và các cộng sự thấy rằng: Các yếu tố như: nghề nghiệp mẹ, trình độ học vấn mẹ, yếu tố địa dư, hố xí, thói quen rửa tay của trẻ, cách thức mẹ cho trẻ uống nước khi bị tiêu chảy đều có liên quan đến tiêu chảy của trẻ [15]

1.4.2 Các yếu tố làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy

- Tuổi: hầu hết các đợt tiêu chảy xảy ra trong hai năm đầu của trẻ Chỉ

số mắc bệnh cao nhất là ở nhóm trẻ 6 - 11 tháng tuổi, khi trẻ bắt đầu ăn sam Điều này phù hợp với một số nghiên cứu của các tác giả cũng cho kết quả tương tự, hầu hết các đợt tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi điều xảy ra trong 2 năm đầu của cuộc sống, chỉ số mắc tiêu chảy cao nhất ở nhóm trẻ từ 6-11 tháng tuổi Nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi hiện mắc tiêu chảy cao nhất chiếm 70,97%, rồi đến nhóm trẻ từ 12 tháng đến dưới 24 tháng tuổi chiếm 41,67% [13] Nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Thanh trên bệnh nhi từ 2 tháng đến 15 tuổi thấy rằng bệnh thường gặp nhóm tuổi dưới 24 tháng tuổi (91,9%) và tỉ lệ nam mắc nhiều hơn nữ [16] Một nghiên cứu khác của Nguyễn Minh Sơn tại khoa Nhi Bệnh viện Xanh Pôn, kết quả cho thấy 121 trẻ nhập viện vì tiêu

Trang 32

chảy cấp thì nam mắc bệnh nhiều hơn trẻ nữ với tỉ lệ tương ứng là 69,4% và 30,6% Độ tuổi nhập viện do tiêu chảy cấp thường gặp là 6-12 tháng tuổi với 63,6% [14]

- Tình trạng suy dinh dưỡng: trẻ bị suy dinh dưỡng dễ mắc tiêu chảy, các đợt tiêu chảy kéo dài hơn, và dễ bị tử vong Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Ngọc, những trẻ có cân nặng bình thường hiện mắc tiêu chảy chiếm 25,98%, những trẻ bị suy dinh dưỡng hiện mắc tiêu chảy chiếm 65,22%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Vì vậy cần tư vấn cho các

bà mẹ biết cách chăm sóc trẻ trước, trong và sau khi trẻ bị tiêu chảy để tránh tiêu chảy dẫn đến suy dinh dưỡng và ngược lại [13] Nghiên cứu của

Vũ Thị Thu Hà trên tiêu chảy kéo dài ở trẻ em, thấy rằng, trẻ suy dinh dưỡng chiếm 26,23%, trong đó 1/2 là suy dinh dưỡng thể gầy còm [7] Nghiên cứu của Lê Tấn Giàu, trong số 123 trẻ tiêu chảy cấp có 20,3% trẻ suy dinh dưỡng, 4,1% trẻ béo phì [6] Suy dinh dưỡng vừa là yếu tố nguy

cơ vừa là hậu quả của tiêu chảy cấp kéo dài, suy dinh dưỡng làm giảm sức

đề kháng của trẻ đối với các tác nhân đường ruột gây tiêu chảy kéo dài và

Trang 33

cholerae và một số ký sinh trùng như các loại giun hoặc amip cũng gây nên tiêu chảy cho trẻ

Nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Tuyết trên 632 bệnh nhi cho kết quả: Tiêu chảy cấp xảy ra ở nam nhiều hơn nữ, đa số dưới 4 tuổi và bệnh thường xảy ra vào mùa lễ hội, từ 2 tháng cuối năm trước qua tháng đầy năm sau [21] Nghiên cứu của Nguyễn Diệu Chi Mai và các cộng sự tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn cho kết quả: Tỉ lệ phân bố các ca tiêu chảy cấp do Rotavirus cao nhất vào mùa đông (46,4%), giảm dần ở mùa xuân (37,1%) và thấp nhất vào mùa hè (16,5%) Tỉ lệ phân bố các ca tiêu chảy cấp do căn nguyên khác thấp nhất vào mùa đông (27,8%) [12]

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhi từ 2 tháng - 5 tuổi được chẩn đoán là tiêu chảy cấp và điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa

Cha mẹ hoặc người chăm sóc của bệnh nhi từ 2 tháng - 5 tuổi lựa chọn vào nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân được chẩn đoán tiêu chảy cấp theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế [2]: Trẻ bị tiêu chảy cấp, phân lỏng, nước trên 3 lần/ngày và dưới 14 ngày

- Điều trị nội trú ban đầu tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa

- Độ tuổi từ 2 tháng - 5 tuổi

- Cha mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Tiêu chảy mạn tính

- Cha mẹ trẻ từ chối cho con họ tham gia vào nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: tháng 6/2020 đến 6/2021

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang, tiến cứu

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu mô tả [8]

Trang 35

n = Z2(1 -  /2) 2

)1(

d

p

Trong đó:

n: số bệnh nhi cần điều tra

Z(1 - /2): hệ số giới hạn tin cậy, mức tin cậy 95% → Z(1 -  /2) = 1,96 p: tỉ lệ triệu chứng ước lượng từ nghiên cứu trước, p = 0,927 (Tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi nhập viện vì tiêu chảy cấp có mất nước là 92,7% theo Lê Tấn Giàu và cs (2017)) [6]

d: độ chính xác mong muốn, chọn d = 0,05

Thay vào công thức trên ta được n = 103 Trên thực tế điều tra 135 đối tượng đưa vào nghiên cứu

2.4 Chỉ số nghiên cứu

* Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:

- Phân bố trẻ mắc TCC theo tuổi và giới

- Phân bố trẻ TCC theo địa dư và dân tộc

- Phân bố trình độ học vấn và nghề nghiệp của mẹ trẻ

* Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của trẻ bị TCC:

- Đặc điểm đi ngoài phân lỏng của trẻ bị tiêu chảy cấp

- Tiền sử được mẹ cho uống thuốc tây không biết tên/ thuốc nam trước khi vào viện

- Tỷ lệ các triệu chứng cơ năng của trẻ khi nhập viện

- Phân bố triệu chứng cơ năng theo nhóm tuổi của trẻ

- Phân loại mức độ mất nước của trẻ bị tiêu chảy cấp

- Tỷ lệ rối loạn Kali và Natri của trẻ bị tiêu chảy cấp

- Tỷ lệ rối loạn điện giải ở trẻ bị tiêu chảy cấp

- Phân bố thời gian điều trị tại viện và thời gian từ lúc bị bệnh đến hết

Trang 36

tiêu chảy

- Số lượng dịch bù của trẻ bị tiêu chảy cấp

* Một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tiêu chảy cấp:

 Các yếu tố làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy

- Liên quan giữa tuổi và giới tính của trẻ với mức độ mất nước

- Liên quan giữa một số yếu tố cá nhân đến thời gian khỏi bệnh của trẻ

- Liên quan giữa tuổi và các triệu chứng lâm sàng của trẻ

- Liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và mức độ tiêu chảy của trẻ

- Liên quan giữa số lần tiêu chảy/ ngày trước khi nhập viện và mức độ tiêu chảy của trẻ

- Liên quan giữa tỷ lệ rối loạn Natri và mức độ mất nước của trẻ

- Liên quan giữa tỷ lệ rối loạn Kali và mức độ mất nước của trẻ

Các yếu tố đặc điểm chung của mẹ trẻ và tập quán chăm sóc trẻ của bà

mẹ liên quan đến tiêu chảy cấp.

- Liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học của mẹ trẻ đến mức độ

2.5 Tiêu chuẩn đánh giá các biến số nghiên cứu

- Tuổi: Tuổi của trẻ (tính theo dương lịch) được tính theo quy ước chia

làm 2 nhóm tuổi như sau:

Tuổi = (ngày/tháng/năm vào viện) - (ngày/tháng/năm sinh)

Tháng tuổi = 30 ngày tuổi Tuổi được phân thành các nhóm:

+ Từ 2 tháng đến < 12 tháng

+ 12 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi

Trang 37

+ 24 tháng đến 5 tuổi

- Địa dư: Chia thành hai nhóm: Thành thị và nông thôn

+ Thành thị: bao gồm các phường nội thành, nội thị và thị trấn

+ Nông thôn: phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã

- Tiêu chảy: Là đi ngoài phân lỏng bất thường 3 lần trở lên trong 24 giờ

(thông qua hỏi bệnh hoặc chứng kiến của cán bộ y tế)

Nếp véo da mất chậm < 2 giây

Nếu có 2 dấu hiệu trở lên, trong đó có ít nhất 1 dấu hiệu * là mất nước nặng

Phác đồ ĐT Phác đồ A Phác đồ B Phác đồ C

Trang 38

- Rối loạn điện giải:

+ Mất nước ưu trương: trẻ sốt cao, kích thích vật vã, khát nước, môi, niêm mạc khô, độ chun giãn da bình thường Trẻ có thể co giật Chẩn đoán: Điện giải đồ Na > 150mEq/l

+ Mất nước nhược trương: trẻ li bì, không sốt, niêm mạc ẩm, độ chun giãn da giảm, Casper (+) Mắt trũng, thóp lõm, nếu trẻ nặng hôn mê, co giật do phù não Chấn đoán: Điện giải đồ Na < 130mEq/l

+ Mất nước đẳng trương: Trẻ khát nước, độ chun giãn da (+), mắt trũng, không sốt Chẩn đoán: Điện giải đồ Na 130 - 150 mEq/l

2.6 Kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu

* Thăm khám lâm sàng

Bệnh nhân được điều tra thăm khám trong quá trình nằm viện và ghi đầy

đủ các triệu chứng thông qua hỏi, khám bệnh và số liệu được ghi theo mẫu bệnh án nghiên cứu

Trang 39

2.7 Sai số và khống chế sai số

* Nghiên cứu có thể gặp các sai số hệ thống:

- Trong quá trình thu thập thông tin (hỏi về triệu chứng, tiền sử …)

- Thiếu sót trong quá trình hỏi thông tin, nhập số liệu

* Cách khắc phục sai số:

- Hỏi kỹ các tiền sử, triệu chứng của gia đình trẻ được nghiên cứu

- Nhập số liệu cẩn thận, chi tiết, tránh nhầm lẫn

2.8 Phân tích số liệu

Các phiếu phỏng vấn được kiểm tra đầy đủ các thông tin trước khi nhập

số liệu Số liệu được mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 Các

số liệu nghiên cứu được xử lý bằng các thuật toán thống kê y học dựa trên phần mềm SPSS 22.0

Thống kê mô tả: số lượng, tỉ lệ % cho biến định tính; giá trị trung bình

độ lệch chuẩn cho biến định lượng

Tìm mối liên quan giữa 2 biến định tính thông qua Chi-square test Mối liên quan có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

2.9 Đạo đức trong nhiên cứu

- Đề tài nghiên cứu tiến hành sau khi được thông qua Hội đồng đạo đức

- Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, được sự chấp thuận của lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa

- Đối tượng nghiên cứu (ở đây là cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ) hiểu

rõ mục tiêu nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu, có quyền rút lui khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào

- Thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu được bảo mật Nghiên cứu này chỉ nhằm phục vụ cho việc nâng cao khám chữa bệnh cho bệnh nhân, ngoài ra không có mục đích nào khác

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm của trẻ bị TCC theo giới và tuổi

Nhận xét: Trong toàn bộ số trẻ TCC trong nghiên cứu, tỉ lệ trẻ nam là 58,5%,

nữ giới là 41,5% Nhóm tuổi 2-12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó tỉ lệ trẻ

nam là 36,3%, trẻ nữ là 20,0% Tỉ lệ trẻ nam trong nhóm 13-24 tháng là 20,0%, trẻ nữ là 17,0%

Bảng 3.2 Đặc điểm của trẻ TCC theo dân tộc và địa dư

Nhận xét: Tỉ lệ trẻ ở nông thôn chiếm đa số 82,2%, thành thị là 17,8% Dân tộc

Mông ở địa bàn nghiên cứu chiếm tỉ lệ cao nhất, trong đó 82,4% ở nông thôn

Ngày đăng: 18/07/2023, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN